Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, November 21, 2014

Thơ Huy Uyên: THEO EM VỀ NAM-GIANG - EM, MÙA ĐÔNG ĐÀ NẴNG - ĐÀ LẠT, SƠN LA





Theo em về Nam-Giang

Những chiếc cầu treo qua sông Tà Bhing
lối về thác Grăng xa lắm
em con gái bản làng múa xòe bên Gươl
váy thổ-cẩm-chàm tím màu sắc nắng .

Bến Giằng buổi sáng mai thức dậy
thuyền đưa người qua bên kia sông
em một mình chờ ai đầu suối
con rừng chạy theo thao thiết nặng lòng .

Cơn lạnh sắt se ai giữa trời chiều
già làng khề khà bên ché rượu
nai trên đồi từng bước liêu xiêu
bên suối Tà-Vừa tiếng ai gọi mà vui thế !

Em băng rừng cỏng "bòng" ra ruộng
người em thương chừng bắt cá đầu làng
chiều rừng sâu thở đầy hơi ấm
muối-tiêu-rừng có cay mâm cơm không?

Em quanh bếp lửa đẹp váy hoa
mĩm cười với ai
bên mâm cơm "nuôi" khách
hoa chuối đầy vườn nở
đẹp bản Aur
than reo ấm tình người tí tách .

Dòng Đăk-Pring
mấy mùa nương rẩy
Đăk-Tôi ngũ dịu dàng đêm thung sâu
em từ Triêng về bên mâm cơm mới
yếm hoa cài hồng thắm đỏ tim nhau !

Ơi em người con gái Cơ-tu
sao trời bắt chi em đẹp quá
(ước chi hai ta chung một mái nhà)
Nam-Giang quanh năm tỏa bóng sương mù
xin ở lại cùng em không về nữa .

Ơi những Cặp-Năng, Bluông, Bruôt
đẹp tình người rẩy bắp nương dâu
em -con suối làng ngọt thơm sửa mẹ
tiếng đàn Abel tôi nói chuyện ngày sau .

Nắng mai người chạnh nhớ mùa-Sim
má hồng mắt xanh thời thiếu nử
tôi đeo tặng em xanh-trắng chuổi cườm
thề với A-Vương đất trời chồng vợ .

Tôi theo em "ngũ duông" sau mùa lúa
hội về Pơ Ngôt được cầm tay em
mái tranh, màu mây chen mái lá
năm tới bên em "đêm ngũ đường "

Tay rưng bầu vú sửa,môi hôn
sợ lệ làng không đi tiếp nữa
tôi nghèo không đá quí, ché, chiêng
chỉ có con tim tình yêu và nỗi nhớ .

"Sim" là em hay là tên của gió
là trời xanh,cây lá nặng lòng
kể từ theo em ngày đó
thương lắm người chi mấy Nam-Giang .
                                            Huy Uyên


 Em, mùa đông Đà-Nẵng

Em qua sông Hàn cùng gió
hương bưởi ngủ đông trên vòm  lá bay
hiên đời ai hắt bóng sầu bếp lửa
tôi đứng một mình bên sông đêm nay .

Đà-Nẵng bao năm xẻ chia tình đầu
hoa lắt lay dặm chiều in bóng
thôi em mang hoài quá khứ bể dâu
môi thôi hồng xưa sông dài bể rộng

Chiêm bao nơi xứ người lưu lạc
khóc cười chi phiên khúc thế-nhân
đứng nhìn quanh đây chợ chiều trôi dạt
nẻo Ngũ-hành-sơn xa xót cháy lòng .

Em buồn cậm bước sân ga
con tàu kéo hồi còi từ biệt
bỏ Đà-Nẵng đi có không về
có nặng lòng se buồn tưởng tiếc .

Tôi, chiều đông rét quán cà-phê
bổng rưng buồn tháng ngày qua vội
ngoài đường rã rích mưa rơi
thương em  gió sương một đời con gái .

Ai ngoài kia mắt đăm giá buốt
mây trên trời về đâu lang thang
mưa mưa phố đêm rã rích
thư gởi em chỉ có chuyện buồn .

Ngồi gởi sầu ai lên tận cột đèn
hồ dễ mưa và se lạnh
góc phố nào tôi dấu trời sương
ngỡ chiêm bao mà quên rồi quê quán .

Em bên trời khăn quàng mùi bấc
mai kia thôi có phải em về
cầm trong mưa sao không nói hết
mắt muộn màng đổ lệ cay se .

Giữa Đà-Nẳng gởi tình trôi đâu
hè phố xưa chân em vàng lá đổ
dấu tình ai trên nóc nhà thờ
lạy Chúa ngôi ba sao quá tôi nhớ .

Bao năm hoa nở quay về núi
bỏ lại bên trời chút tình nhau
em đi Đà-Nẳng chìm mắt phố
tôi nhớ em dài mãi xưa , sau .
                                  Huy Uyên

           
Đà-lạt, Sơn-la

Người đàn ông ngồi thổi kèn bên đường
đèo cao gió mây trời lơ lửng
âm u Sơn-la núi và rừng
đường biên ải người đi chắc còn xa lắm .

Bao năm rồi vàng phai đá nát
lệ người chảy lấp dòng sông
thầm gọi đời ai từ xa cách
buồn ở đâu khép kín trăm năm .

Sương phai đậu khuất nẻo tôi về
kỷ niệm vàng đời tháng ngãy xưa cũ
hạnh-phúc thơm 
dịu dàng bông hoa mimosa
tóc ai lược cài để đìu hiu thương nhớ  .

"La mort du loup" cả đời chó sói
ơi xa rồi kỹ niệm nhác thêm chi
trời thấp,đục mây chừng mưa đổ
phai tàn rồi cũng từ buổi ra đi .

Quanh xanh xao mắt lệ không ngờ
thủy chung cùng người đem treo đỉnh núi
đợi chờ tôi nhói buốt tim từ lâu
mộng người chín sầu thôi hãy hái .

Em xưa giọng cười không quên được
một lần thôi ngày tháng bên tôi
những đêm đi dưới mưa lất phất
quán L'eau Vive ly rượu bổng chừng say  .

Hoàng hôn tím chạy quanh đồi Cù
dối gian ai bao lời ảo tưởng
vị đắng chát nồng tợ bóng phù du
buồn tênh, xa xăm, trống vắng .

Em một lần để  tim hóa đá
giữa dương gian mật đắng si mê
hồn bổng chơi vơi òa vỡ
em khoảng trời xưa có đợi người về .

Bỏ lại mắt ai khuất chìm bóng tối
về Sơn-la lòng luống mặn cay
mười năm gươm cùn đèn tàn lụi
đem chôn đời với sông núi hôm nay .

Đà-lạt giờ có lạnh hồ Hương
chân ai phai mòn từng dấu đá
đồi thông xưa còn giữ lại buồn
mang theo hết về Sơn-la 
kể cả vầng trăng đã vỡ .

Hoang hoải trên đồi loang mây trắng
những ngôi nhà sàn quạnh quẻ đìu hiu
gió trên đồi chao sầu cùng nắng
tháng năm qua rừng hát khúc ly chiều .

Người một lần gọi tình Sơn-la
hàng thông reo chi lệ buốt
em có mang tình theo chốn phương xa
mấy mươi năm đành sao quên 
rừng đồi Đà-lạt .
                                Huy Uyên

READ MORE - Thơ Huy Uyên: THEO EM VỀ NAM-GIANG - EM, MÙA ĐÔNG ĐÀ NẴNG - ĐÀ LẠT, SƠN LA

Ô LÂU GIANG PHÚ! - Lê Đăng Mành



                   Cảnh chiều trên sông Ô Lâu


Ô LÂU GIANG PHÚ!

Từ Châu Hoan Châu Hóa-thiên di tạm dừng Chân
Đến Châu Rí châu Ô - Lập nghiệp còn tiếp bước
Chim đậu đất lành xứ Ô Lâu
Người nương suối ngọt miền sông nước

Trộm nghe, nên nay!
Kẻ Hậu Bối - Giam thân trích lục cùng miền xuôi
Bậc Tiền Nhân - Gợi ý sao tìm khắp mạn ngược.
Bao bận – Manh nha đứng chờ cung tay để nâng nghiên
Đôi phen -Thắc thỏm ngồi đợi dỏi mắt mong mài mực.

Vẫn còn đó - Cây đa gió gom nghĩa ngày xưa
Mãi lưu đây - Bến cộ trăng gọi tình thuở trước.

Vinh quang thay!
Miền Câu Lãm - Bùi Dục Tài Tiến Sĩ khai khoa   (*1)
Xứ Vân Trình - Trần Văn Kỷ Trung thư phục quốc   (*2)
Làng Vĩnh Cố - Ngyễn Quang Vệ Uý đã tới vinh quang
Quê An Thơ –Lục Sự Hoàng Từ lui về tủi nhục.
Hào hoa Kẻ Vịnh -Thượng quan Nguyễn Đức Trứ giữ dạ thanh liêm
Lịch lãm An Thư - Tuần phủ Nguyễn Đức Hoan gìn lòng chính trực.
Không hẳn Nam tử - Bút tung phượng múa rồng bay
Mà còn Nữ lưu - Chữ động quần là áo lượt
Qua Mỹ Chánh - Lừng danh thứ thiếp (*3)  Quang Trung - một dạ thương nòi
Về Hội Kỳ - Ngát tiếng Cửu Giai  (*4)  Thành Thái - chung lòng yêu nước.
Trang võ tướng - Đôi bờ còn tán tụng giỏi binh thư
Đấng văn quan - Muôn bến mãi biểu dương tài thao lược
Nơi hiểm trở - Quân Tây Sơn không ngại Đá giăng cồn
Chỗ khó khăn - Tướng Nguyễn Huệ chẳng tày Bà Đa vực.*

 Thương kính quá!
Bờ Hà Lỗ - Thể phách Văn Sở Tướng Quân - đất gói oan khiên
Bến Ưu Điềm - Thuyền tang Tài Nhân Thị Ngọt - sóng trào sướt mướt   (*5)

Lẫm liệt thay!

Tráng Liệt Tử - Hồng Lô Tự Khanh vua Minh Mạng tặng phong
Nguyễn Tri Phương - Quân Kỳ Thạc Phụ đời Miên Tông ban tước   (*6) 
Phò Mã - Kết duyên với công chúa Đồng Xuân
Nguyễn Lâm - Tử trận gìn non sông Tổ Quốc
Xã Chánh Lộc - Từ đường Phụ Tử muôn thuở khói bay
Làng Chí Long - Miếu mộ Đệ Huynh nghìn thu bia tạc.

Nghệ nhân Mặc khách - Mỹ Xuyên còn nức tiếng tợ Kế Môn
Quân Tử Trượng phu - Phò Trạch mãi lừng danh như Đại Lược.

Nam Quảng Trị bao kẻ chợ - Mỹ Chánh Hà Lộc Kẻ Lạng Hà Lỗ Câu Nhi,
An Thơ Phú Kinh Kẻ Văn Kẻ Vịnh sử xanh không quên,
Bắc Thừa Thiên bấy làng quê - Phước Tích Mỹ Xuyên Trạch Phổ Ưu Điềm Hòa Viện,Vĩnh An Vân Trình Phú Nông Điền Hương con đỏ còn thuộc.   (*7) 
Thời Minh Mạng – Lừng danh An Thơ Nguyễn Đức Hoạt Thượng Thư Nguyễn Đức Tư Tri Phủ vọng tộc thế phiệt trâm anh,
Thuở Miên Tông- Vang tiếng Kẻ Vịnh Tri Phủ Nguyễn Đức Dĩnh  Viên Ngoại Nguyễn Đức Giãn thế gia vương tôn đài các.
Đất Văn Qũy - công thần Nguyễn Văn Vịnh Tri phủ Viện Sỹ Hàn Lâm
Xứ Câu Nhi - Danh tướng Hoàng Tự Bôi Tam Phẩm Phụng Sắc Triều Mạc.   (*8)
Làng cổ Phước Tích - Họa sư Lê Văn Miến màu đọng lung linh  (*9)
Giáo xứ Kẻ Văn -Thánh đạo Lê Đăng Thị hương bay ngào ngạt (*10)
Đôi bờ Nam bắc - Cử nhân Tiến sĩ như lá lay bay
Hai giải Trị Thiên - Khanh Tướng công hầu tợ sương lác đác.
Uy nghiêm Phạm vũ - Gia trì khuya sớm ngân tiếng u huyền
Lồng lộng Giáo đường - Cầu nguyện chiều hôm lắng lời trầm mặc.
Cội nguồn sông suối - Hợp lưu cùng sóng nước quần tụ mênh mông
Mạng mạch Ô lâu - Chung thủy với Tam giang tương phùng bát ngát.

Ngẫm nay !
Mây vạn thuở - lang thang đổi sắc giữa trời xanh
sóng muôn đời - lãng đãng thay màu bên nước bạc.
Ngày xuống - ngồi đong cuộc có-không
Sáng lên - đứng lường thời được mất.
Thô thiển - Đôi dòng tâm niệm tiếc thương
Bùi ngùi – mấy chữ lòng hoài cảm tác !

                            Mùa đông Giáp Ngọ 2104
                            Lê Đăng Mành phụng bút

GHI CHÚ :

1- Câu Lãm:Bùi Dục Tài người đổ Tiến sỉ thời Vua Lê Hiển Tông, đây là vị tiến sĩ khai  khoa của xứ Đàng Trong, Ông được thăng quan đến chức Tả thị lang Bộ Lại
2- Vân Trình: Trần Văn Kỷ, người làng Vân Trình (tục gọi là làng Rào), tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hóa (nay thuộc xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế). vốn có văn học, là bậc danh sĩ ở Nam Hà Được Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ tin dùng, phong đến chức Trung Thư Phụng Chính, tức chức quan chuyên lo việc dự thảo chính lệnh cho nhà vua.
3-Mỹ Chánh :Nguyễn Thị Bích-người vợ thứ hai của anh hùng Nguyễn Huệ - Hoàng Đế Quang Trung
4- Dương Thị Ngọt ở làng Hội Kỳ, xã Hải Chánh ,Với vẻ đẹp đoan trang và phẩm hạnh cao quý, cô gái Dương Thị Ngọt đã trở thành “cửu giai tài nhân” của vị vua yêu nước Thành Thái. Được vua Thành Thái hết mực yêu thương và sủng ái, bà phi Dương Thị Ngọt đã không tránh khỏi sự ghen ghét, đố kỵ vẫn thường xảy ra ở chốn hậu cung mà kết cục là bà bị giáng tội khi quân và phải lãnh án hình xử chém. Tiếc thương ái phi Dương Thị Ngọt, vua Thành Thái đã cho cử hành tang lễ của bà theo nghi lễ của triều đình đối với một hoàng phi và dùng thuyền rồng đưa Linh cửu bà về Cặp bến Uu Điềm và đưa lên yên nghỉ tại quê nhà thân yêu ở thôn Hội Kỳ bên dòng Ô Lâu.
5- Tướng Ngô Văn Sở, một người có công đối với nhà Tây Sơn, nhưng không may bị tội, phải dìm xuống nước sông Hương cho đến chết, thi hài chôn ở gần chùa Linh Mụ. Sau đó hai năm, ông được triều đình phục chức và cho cải táng đưa ra chôn ở làng Hà Lỗ bên bờ sông Ô Giang.
*Địa danh đoạn  Sông ở Hội Kỳ có tên:vực Bà Đa và Bãi Đá giăng.
6- Nguyễn Tri Phương tên cũ là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu là Đồng Xuyên, sinh ngày 21 tháng 7 năm Canh Thân(1800), quê làng Đường Long (Chí Long), xã Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnhThừa Thiên Huế.
Ông xuất thân trong một gia đình làm ruộng và nghề thợ mộc. Nhà nghèo lại không xuất thân từ khoa bảng nhưng nhờ ý chí tự lập ông đã làm nên công nghiệp lớn.
Năm Quý Mùi (1823), vua Minh Mạng đề bạt ông hàm Điển bộ (Bí thư ở Nội điện), năm sau thăng Tu soạn, rồi Thừa chỉ ở Nội các, hai năm sau thăng Thị độc, Thị giảng học sĩ, năm 1831 thăng Hồng Lô tự khanh.
Tháng 5 năm 1847, ông được triệu về kinh, thăng hàm Chánh Hiệp biện đại học sĩ, lãnh Thượng thư bộ Công đại thần Cơ mật viện, tước Tráng Liệt tử và được ban một Ngọc bài có khắc bốn chữ "Quân kỳ thạc phụ", được chép công trạng vào bia đá ở Võ miếu (Huế)
Con trai Nguyễn Tri Phương là Phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết tại trận Nguyễn Tri Phương cũng bị trọng thương. Ông được lính Pháp cứu chữa, nhưng ông khảng khái từ chối và nói rằng: "Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa Sau đó, ông tuyệt thực gần một tháng và mất vào ngày 20 tháng 12 năm 1873 (1 tháng 11 Âm lịch), thọ 73 tuổi. Thi hài ông và Nguyễn Lâm được đưa về an táng tại quê nhà. Đích thân vua Tự Đức  tự soạn bài văn tế cho ba vị công thần (Nguyễn Duy, Nguyễn Lâm, Nguyễn Tri Phương) và cho lập đền thờ Nguyễn Tri Phương tại quê nhà.
7- Tên làng chữ đậm
8-Hoàng Bôi Người  xã Câu Nhi, thôn Câu Lãm Hải Lăng!Triều Mạc ,được dự vào hàng 5 bậc tước,Quan vào hàng Tam Phẩm
9- Lê Văn Miến (1874-1943) là người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Paris, là hoạ sĩ đầu tiên ở Việt Nam.
10- Giuse Lê Đăng Thị, sinh năm 1825 tại Kẻ Văn, Quảng Trị. Làm Cai Đội dưới thời vua Tự Đức, xử giảo ngày 24-10-1860 tại An Hòa, phong Chân Phước ngày 02-5-1909 do Đức Piô X, phong hiển thánh.
READ MORE - Ô LÂU GIANG PHÚ! - Lê Đăng Mành

Thursday, November 20, 2014

CHẠNH LÒNG HOA CẢI ÚA - Hoài Huyền Thanh đọc bài thơ CHỊ- NGƯỜI CỦA QUÊ của tác giả Nguyễn Đăng Thanh




                           CHỊ - NGƯỜI CỦA QUÊ
                                           


 Thêm chút nữa là mùa xuân đã đến

 Vẫn mùa đông nên gió lạnh se lòng

Trời mù  sương nhuộm bạc một dòng sông

Con én lạc giữa hai mùa quên nhớ



Con sông quê với bao điều trăn trở

Tiễn người đi trên bến  tái tê lòng

Chị nhớ Anh, chị mang áo ra hong

Vắt trên luống, chạnh lòng hoa cải úa



Hạnh phúc ngỡ về mềm như áo lụa

Chị người quê  nên chẳng dám ướm vào

Xuân đã về, xuân trên bến nôn nao

Chị lặng im, mạnh tay vò đống áo

Tưởng bình yên …

Nhưng

Sóng

Bão

… xô vào!!?
                        Nguyễn Đăng Thanh



   Tôi quen Nguyễn Đăng Thanh thật tình cờ, tình cờ như được đọc bài thơ “Chị-Người Của Quê” cho tôi nhiều trăn trở.


   “Thêm chút nữa là muà xuân đã đến

     Vẫn mùa đông nên gió lạnh se lòng

     Trời mù sương nhuộm bạc một dòng sông”


Vì cần thêm chút nữa nên chưa đủ cho nàng xuân ấm áp tràn về; Vì còn là mùa đông nên con én buồn đường về lẻ bạn,


     “Con én lạc giữa hai bờ quên  nhớ”


Tứ thơ thật khéo léo để “trình làng” nỗi nhớ, nhấn nhá thêm cho tâm trạng cô đơn dằn vặt của người phụ nữ chân quê. Chỉ là con én lẻ bạn nên  chưa làm nỗi mùa xuân và nỗi khát khao cháy bỏng của người phụ nữ vẫn còn xa vời lắm! Nỗi nhớ miên man như con nước vỗ bờ tràn về dòng sông kỷ niệm.


     “ Con sông quê vơí bao điều trăn trở

       Tiễn người đi trên bến tái tê lòng

       Chị nhớ Anh chị đem áo ra hong

       Vắt trên luống,chạnh lòng hoa cải úa”


“Chạnh lòng hoa cải úa”, đọc những câu thơ nghe như có tiếng thở dài thấm đẫm nỗi cô đơn, trống vắng mà thiên nhiên cũng cảm động, thấu hiểu, giao hòa với lòng người. Ngày đưa tiễn với bao điều trăn trở nhưng dù tái tê lòng người phụ nữ vẫn chấp nhận cam chịu và hy sinh.


Đâu đó, sự thủy chung son sắt làm cho chị không nguôi thương nhớ.


     “Chị nhớ anh, chị đem áo ra hong

     Vắt trên luống, chạnh lòng hoa cải úa”


Chỉ hai câu đã làm nên“ hồn vía” của bài thơ.


Hai câu thơ như góp thêm cho nét đẹp của quê Việt, gợi nhớ hình ảnh người Mẹ, người Vợ xưa mang áo của chồng ,con ra hong (bằng lửa, nắng) để người đi xa xót dạ mà trở về.Điều đó cũng làm đau đáu dạ tha nhân, níu lòng người viễn xứ…


Và xuân đã về, đất trời như mở hội nhưng vơí chị hạnh phúc vẫn mờ mịt chân mây.


     “Hạnh phúc ngỡ về mềm như áo lụa

     Chị người quê nên chắng dám ướm vào”


Với bao điều trăn trở, người phụ nữ chân quê chất phác, thật thà khi yêu vẫn cho nhiều hơn nhận,vẫn hy sinh thầm lặng dù lòng đắng đót niềm đau. Những từ ngữ mang hình ảnh đối lập "nôn nao”, “lặng im”; động từ “vò” như nhấn mạnh và biểu đạt cảm xúc giằng xé, cam chịu, nhẫn nại!


     “Xuân đã về trên bến nôn nao

      Chị lặng im mạnh tay vò đống áo

      tưởng bình yên…

      nhưng

      són g

      bão

      …   xô vào”.


Bài thơ gợi nhớ một đôi câu thơ rất hay mà tôi có dịp đọc đâu đó,


     “Ra sông giặt áo cho chồng

     Vắt vai vắt cả dòng sông mang về"

                                        (Hồ Anh Tuấn)


“Chị - Người của quê”, với tôi, tứ thơ không mới, viết cho thân phận phụ nữ thì nhiều người đã thể hiện. Tuy nhiên, tác giả đã thả hồn vào bài thơ qua những câu chữ bình dị, chân quê và khéo léo chọn những hình ảnh có sức biểu đạt cao, điều đó dễ “gần” và tìm được sự  đồng điệu trong cảm xúc của người đọc.


Chúc mừng một bài thơ hay của người  viết trẻ đầy triển vọng NGUYỄN ĐĂNG THANH.



                                 HOÀI HUYỀN THANH

                                         Cuối thu 2014
READ MORE - CHẠNH LÒNG HOA CẢI ÚA - Hoài Huyền Thanh đọc bài thơ CHỊ- NGƯỜI CỦA QUÊ của tác giả Nguyễn Đăng Thanh

THẦY TÔI - Nguyễn Như Xuân


 

Hể có chừng 3 học trò cùng khóa gặp nhau là chúng tôi nhớ và nói chuyện về thầy: THẦY TRỢ PHỨC. Thầy tên đầy đủ là Trần văn Phức, quê làng La Chữ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tôi lên bảy được mẹ dắt đến trường Tổng (trường của 4 làng: Văn Quỹ, Hưng Nhơn, An Thơ và Phú Kinh) đóng tại làng  Văn Quỹ, cách nhà khoảng 1,5 km. Mái trường lợp bằng ngói, nền cao, tôi đứng đến ngang cổ, có 6 – 7 bậc tam cấp. Trường dùng để dạy lớp 1, 2 và 3. Học sinh khoảng 60 đứa.

Tôi học lớp 1, học chung với các anh lớn 8-9-10, có anh tôi gọi bằng chú tuổi 14-15 (vì không có trường nên thất học). Niên khóa 1936-1937 chỉ mình thầy, năm sau có thêm thầy giáo Hồng.

Một mình thầy dạy 2 lớp. Ngôi trường mới làm chỉ mấy bộ bàn ghế, cái bảng đen. Thầy có tài huy động khả năng trong các gia đình con em học sinh để sắm đủ các loại học cụ. Tùy loại mà thầy nhờ bố mẹ làm cho thứ đó. Trên tường treo gọn học cụ thu nhỏ. Từ những thứ khó như chiếc xe đạp nước, chày giã gạo bằng chân, bằng tay, đôi quang gánh, cái thúng cái mủng, cái nơm chơm cá, bộ lừ dẹp v.v…nghĩa là công cụ nghề của làng quê. Học môn nào thầy đem học cụ giảng giải chu đáo cặn kẻ.

Mỗi tuần dạy 5 buổi (nghỉ thứ năm chủ nhật), gần như ngày thứ năm nào thầy cũng về thăm hỏi gia đình học sinh và kiểm tra học trò.

Ba năm học thầy dẫn dắt:

Đi tham quan đền thờ Câu Nhi, đền thờ La Chữ cột đình to ba đứa ôm mới khít .

Đi tham quan lò nấu dầu tràm (ở Hải Sơn bây giờ), lá cây tràm nghiêng một bên nên có tên nữa là khuynh diệp, vỏ cây không thấm nước. Tôi đã thấy ở nhà dùng xãm thuyền. Mùi dầu bay ra thơm cả vùng .

Đi đón Hoàng đế Bảo Đại và Nam phương Hoàng Hậu ra Hà Nội.  Chưa kịp hô câu đã thuộc thì xe đã vút đi rồi. Nhìn thầy dáng thầy như không bằng lòng. Ức quá.

Thi bơi lội ở Vực Nước Lụn (An Thơ). Nước chảy xiết. Thầy bố trí nhiều thuyền phía để vớt những ai bị trôi. Thi bơi lội được nhận bằng bơi lội.

Trò nào giỏi môn gi thầy thường gọi lên làm bài mẫu , khen và cho điểm cao tại chỗ. Ví dụ như thằng Ân đọc chữ Tây hay lắm.    

Thầy đi xem đá banh (thi) giữa đội học trò Văn Quý và học trò Hưng Nhơn. Có thầy chúng tôi đá hăng lắm.

Cãi nhau ầm ĩ, thoáng thấy thầy là im re làm hòa nhanh chóng.         Đi thi hêt cấp (lớp 3) tại Diên Sanh, thủ phủ huyện Hải Lăng, cách nhà gần 15 km. Hôm đó thầy mặc quần áo đẹp nghiêm trang. Tôi khoe với  bạn nào đó (trường khác) là Thầy tau đó và lấy làm sướng lắm.  

Thầy hiền lành mà nghiêm nghị, chúng tôi ai cũng trọng thầy pha chút sợ. Ở nhà khi có làm gì sai sợ nhất là câu: ông trợ Phức dạy mi rứa à! Nghe câu ấy là im thin thit và bảo chi làm nấy.

    Thời gian kháng chiến, gặp nhau chúng tôi hỏi về thầy, nghe đâu gia đình bị bom đánh sập và không biết thầy hiện nay ở đâu. Nhớ thầy thương thầy đứa nào cũng rơm rơm nước mắt. Thầy hơn tôi khoảng 30 tuổi. Tôi nhớ thầy có con gái đầu tên là Tiết, 7 tuổi học cùng lớp. Nếu đã về với tổ tiên xin thầy yên giấc.  Chúng con luôn kính trọng thầy, ngưởng mộ thầy.

                                               Học trò

             Lúc học với thầy:  Nguyễn Như Xuân

             Tên bây giờ:          Nguyễn Thanh Xuân

             Địa chỉ : 487/2 đường Cổ Nhuế, phường Cổ Nhuế, quận bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

            Email Nhuxuan29@gmail.com.

READ MORE - THẦY TÔI - Nguyễn Như Xuân