Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, October 26, 2014

Lê Đức Diệu đọc thơ Võ Văn Hoa: LÀNG RÀO - BÀI THƠ VỀ VẺ ĐẸP TÂM HỒN CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG SÔNG NƯỚC




Lê Đức Diệu đọc thơ Võ Văn Hoa: 
LÀNG RÀO - BÀI THƠ VỀ VẺ ĐẸP TÂM HỒN 
CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG SÔNG NƯỚC

Nhạy bén trong cách nhìn, cách cảm- đó là cảm nhận của bản thân tôi khi đọc thơ của thầy giáo- nhà thơ Võ Văn Hoa. Mỗi bước đường thầy đi đều gắn liền với những bài thơ rất đời thường mà lắng đọng. Có một chút gì rất đằm sâu và da diết khi ta gặp lại bài thơ “Làng Rào” của thầy. Có thể nói rằng: “Làng Rào”- bài thơ về vẻ đẹp tâm hồn của người dân vùng sông nước.
Cuối nguồn Ô Lâu
Có một làng Rào mênh mông nước
Ở góc thuyền chài
Người cất vó tung hê con cá vượt!
*
Từ quán Cây Bàng
Nơi xuôi về phá Tam Giang
Bạn tôi dẫn chuyện:
“Chầm làng Rào*, trào Phú Kinh*”
Tên làng ngày xưa quá đỗi ân tình !
*
Người dân làng Rào
Chân chất, thật thà, bến quê neo đậu
Lươn, ốc, chuột đồng… thơm mùi xào nấu
Thết khách miền xa.
*
Người dân làng Rào
Khách khí mần chi cho mệt !
Sống tung tẩy cho đời vui
Như giăng lưới bắt chim trời.
*
Tôi cảm nhận lần đầu tiên đến
Gọi tên làng như gọi mối tình xa…

(Trích từ tâp thơ "Gió Cuối Mặt Sông", Võ Văn Hoa, NXB Thuận Hóa, 2008)

Mở đầu bài thơ là những dòng tự sự rất đỗi thân quen:
Cuối nguồn Ô Lâu
Có một làng Rào mênh mông nước
Ở góc thuyền chài
Người cất vó tung hê con cá vượt!
Tự sự về một làng nhỏ cuối nguồn Ô Lâu, nghề nghiệp chính là nghề chài lưới. Cũng như bao ngôi làng vùng sông nước, chiếc vó là dụng cụ để đánh bắt cá tôm. Một chút thoáng đãng được hé ra cùng với không gian mênh mông nước ấy, động từ “tung hê” đã nói lên được sự khí khái của tâm hồn.
Theo dòng tự sự, cùng với bạn đường nhà thơ hiểu thêm về làng quê:
Từ quán Cây Bàng
Nơi xuôi về phá Tam Giang
Bạn tôi dẫn chuyện:
“Chầm làng Rào*, trào Phú Kinh*”
Tên làng ngày xưa quá đỗi ân tình!
Cùng với chuyến công tác, nhà thơ ghé quán để cùng nghe kể về làng. Hai địa danh xuất hiện: Làng Rào (Tức làng Vân Trình, thuộc xã Phong Bình, Phong Điền, Thừa Thiên- Huế ngày nay) và Phú Kinh (Thuộc xã Hải Hòa, huyện Hải Lăng, Quảng Trị). Lời kể chỉ ngắn gọn thế thôi mà khiến cho khách thơ ngưỡng mộ để rồi chợt thốt ra: “Tên làng ngày xưa quá đỗi ân tình!”
Cái ân tình ấy được cảm nhận bằng những lời thơ hết sức mộc mạc, chân chất như tâm hồn của người dân làm nghề chài lưới nơi đây:
Người dân làng Rào
Chân chất, thật thà, bến quê neo đậu
Lươn, ốc, chuột đồng… thơm mùi xào nấu
Thết khách miền xa
Họ sống giữa vùng sông nước, họ mang tâm hồn của người dân sông nước: thật thà, phóng khoáng. Đặc sản quê hương làng Rào là lươn, ốc, chuột đồng…những sản vật bình dị thế thôi mà thơm tho cái nghĩa, cái tình, cái thủy, cái chung! Thết khách theo kiểu “cây nhà lá vườn”. Được nếm vị lươn xào, được thưởng thức món ốc nhồi, được thả hồn trong mùi thơm của món chuột đồng với chén rượu nồng cay nghe sao mà ấm cúng và da diết. Ấm cúng và da diết vì tấm lòng thơm thảo của người dân bản địa.
Người dân làng Rào
Khách khí mần chi cho mệt!
Sống tung tẩy cho đời vui
Như giăng lưới bắt chim trời.
Dòng thơ được lặp lại như một ngụ ý. Nếu như ở khổ trên nói chuyện thết đãi khách miền xa bằng những gì mình có thì đến khổ thơ này tác giả lại chú ý nhiều đến lời nói: Đến đây, cứ tự nhiên, khách khí mần chi cho mệt, đứng câu nệ, đừng giữ khoảng cách, hãy thân thiện với nhau, hòa đồng với nhau! Lời nói là một nét tâm hồn, tâm hồn họ vô tư như sông nước quê hương, tự do tung tẩy giữa thiên nhiên cao rộng, không gò bó, không ràng buộc. Chính điều này làm cho đời vui và đáng sống.
Lần đầu tiên đến làng Rào, được gặp người dân sông nước, được chứng kiến và tham gia sinh hoạt cùng họ, nhà thơ đã chia sẻ:
Tôi cảm nhận lần đầu tiên đến
Gọi tên làng như gọi mối tình xa…
“Gió Cuối Mặt Sông” là tập thơ có nhiều bài súc tích, cô đọng, chất chứa nhiều nỗi niềm, chất chứa những bước đường tư tưởng của tác giả. Những bài thơ đến với người đọc rất tự nhiên bởi nó gần gũi, dung dị, ai soi mình vào đó cũng thấy có nét gì đó giống mình, giống cảnh quê, người quê, tình quê của mình. Cảm ơn thi sĩ đã đem đến cho độc giả một bài thơ hay. Và người ta sẽ mãi nhớ đến một “Làng Rào” như nhớ đến mối tình sâu lắng trong tâm hồn mình./.
                                                       Lê Đức Diệu



READ MORE - Lê Đức Diệu đọc thơ Võ Văn Hoa: LÀNG RÀO - BÀI THƠ VỀ VẺ ĐẸP TÂM HỒN CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG SÔNG NƯỚC

GỬI NGƯỜI CÀ MAU - thơ Hồng Tâm



Gửi Người Cà Mau

Từ ngày giã biệt Cà Mau
Đêm đêm tôi trút mơ vào trang thơ
Bao nhiêu con sóng xô bờ
Là tôi vẫn biết giấc mơ còn dài


Thế là... Sắp ngữa bàn tay
Hắt hiu nỗi nhớ hao gầy niềm yêu
Tôi đi trong gió mưa chiều
Cà Mau nơi ấy mưa nhiều không anh?

Thế là... Lỡ một tuổi xanh
Lời thề hẹn ước phai dần tháng năm
Cà Mau thật quá xa xăm
Trong tim tôi vẫn là anh trọn đời

Tôi tìm Cà Mau trong tôi
Trái tim khao khát bao lời yêu xưa
Vẫn là tôi thuở mộng mơ
Và Cà Mau mãi là thơ gửi người

Lý Thị Minh Tâm
Bút danh: Hồng Tâm
Số nhà 46 ấp Rừng Dầu xã Tiên Thuận huyện Bến Cầu
Tình Tây Ninh.
Điện Thoại 01285990757
lyminhly456@gmail.com


READ MORE - GỬI NGƯỜI CÀ MAU - thơ Hồng Tâm

Thơ Trường Hải Lê Văn Đông: LÀM THÂN CON TÀU, BÊN SÔNG TAM KỲ, NHỚ

                   



 LÀM THÂN CON TÀU

            Tàu đi qua phố, qua làng,
            Qua sông qua núi quê hương hữu tình.
            Qua hoàng hôn
                           tới bình minh
            Mênh mang cảm xúc
                           tâm tình người đi
            Tàu nghe đất trở ầm ì,
            Âm âm cuộc sống thầm thì động lay...
            Cung đường
                                lên
                                     xuống
                                               khách li
            Thủy chung phút chót
                                               tàu đi
                                                         tàu về...

                              Vinh – Tam Kỳ, 17/10/2014
            

            BÊN SÔNG TAM KỲ

            Sông Tam Kỳ
            Lục bình trôi
            In bóng mây trời
            Chiều cuối thu
            Mơn man gió biển se buồn
            Đường Bạch Đằng tĩnh lặng
            Thành phố trẻ hôm nay
            Thị xã ngày xưa
            Một thời gợi nhớ
            Vạn ngày binh lửa
            Dòng sông máu ứa
            Đôi bờ cách trở
            Nhiều người vĩnh viễn không về
            Nước sông trôi nặng nề
            Trầm tích đáy sông
            Phù sa vùi ước vọng
            Gió vẫn thì thào
            Người bên sông
            Bồi hồi
            Khắc khoải
                                 
                              Tam Kỳ, 20/10/2014
                             


            NHỚ

            Thấy bầy vịt lội chạy đồng
            Nhớ đàn cò trắng ven sông thuở nào.
            Nghe con cá quẫy bờ ao
            Nhớ chiều quăng lưới xôn xao làng chài...

                          Tam Kỳ - Vinh, 21/10/2014

                          Trường Hải Lê Văn Đông
READ MORE - Thơ Trường Hải Lê Văn Đông: LÀM THÂN CON TÀU, BÊN SÔNG TAM KỲ, NHỚ

EM CHỈ LÀ … - thơ Kha Tiệm Ly





EM CHỈ LÀ …

Em không đẹp như anh tưởng đâu anh.
Rất bình thường, chỉ vì em… là người Đà Lạt.
Em chẳng kiêu sa như THỦY TIÊN đài các,
Mà như PENSEÉ ấp ủ mộng duyên lành.

Em cũng chẳng là MẪU ĐƠN vương giả
Hay PHÙ DUNG, CẨM CHƯỚNG đắm say người.
Em đơn sơ như HOA NGÂU, HOA BƯỞI.
Có chút bâng khuâng như SIM tím lưng đồi.

Cũng chẳng được như QUỲNH HOA, PHONG LỮ
Chẳng ngất ngây người như nàng DẠ LÝ HƯƠNG.
Em mộc mạc như LỤC BÌNH, TRINH NỮ,
Như LUU LY* nguyền trọn kiếp yêu thương.

Em quê mùa chẳng quen đánh phấn
Nên má chỉ hồng thoảng chút Ô MÔI.
Củng chẳng tiện dùng màu son tô vẽ,
Nên màu môi như cánh PHƯỢNG mà thôi!

Cũng chẳng tiện dùng hương hoa thời đại,
Nên tóc mượt mà chỉ thoảng chút HOÀNG LAN.
Chẳng lóng lánh dìm hồn người ngây dại,
Mà mắt em như ANH THẢO mơ màng

Dẫu VÔ ƯU trắng trong thời con gái,
Cũng nhờ HƯỚNG DƯƠNG mà tìm một hướng đi.
Có thương em thì ai kia hãy đợi,
Ngày TÚ CẦU nở trước cổng vu quy.

Kha Tiệm Ly
(Đà Lạt 24. 10. 1014)



*Hoa lưu ly thường gọi là hoa forget me not (đừng quên anh)
READ MORE - EM CHỈ LÀ … - thơ Kha Tiệm Ly

TRĂNG RU ĐIỆU NHỚ - thơ Trúc Thanh Tâm



TRĂNG RU ĐIỆU NHỚ

Gió đàn oằn ngọn tre cong
Cầu ngang qua xóm bão giông sập rồi
Cuối trời vạt nắng rong chơi
Bến xưa còn đó bóng người xưa đâu

Sông dài chở mấy bể dâu
Trang đời sót lại bao câu thệ nguyền
Còn gì để nhớ mà quên
Bởi đâu còn đất tổ tiên tìm về

Khói đồng bàng bạc hồn quê
Trong tay hạnh phúc cận kề mấy khi
Cái đau rồi sẽ qua đi
Cái chưa đau sớm muộn gì cũng đau

Phong trần tỉnh giấc chiêm bao
Biển khơi từng đợt sóng trào bờ xa
Trăng ru điệu nhớ đêm qua
Lệ nào chảy xuống lòng ta ngậm ngùi !

                Châu Đốc, 22. 10. 2014

                TRÚC THANH TÂM
READ MORE - TRĂNG RU ĐIỆU NHỚ - thơ Trúc Thanh Tâm

Saturday, October 25, 2014

THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH: VŨ TÔNG PHAN - Phạm Đình Nhân dịch - Dịch giả Ngọc Châu giới thiệu

 Phần 10 "108 bài thơ Đường chọn dịch"

(Tiếp theo kỳ trước)

19. VŨ TÔNG PHAN
      (1800 – 1851)

Vũ Tông Phan, người xã Hoa Đường, huyện Đường An nay là thôn Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, Bình Giang, Hải Dương. Đỗ tiến sĩ năm 1826, làm quan bảy năm, sau cáo bệnh về hưu dạy học. Là một nhà thơ bạn xướng họa với Thần Siêu, Thánh Quát. Ông để lại nhiều thơ văn.


76. HƯƠNG GIANG TẾ NGUYỆT

Nguyên tác: 香  江  霽  月

姮  娥  推  出  广  寒  窗
一  片  银  河  落  帝  邦
不  夜  乾  坤  青  見  底
無  窮  舟  舰  影  成  双
延  新  渔  火  星  疏  淡
隔  岸  樵  歌  笛  幾  腔
触  境  友  人  冀  記  問
余  晖  曾  抚  到  泸  江


Phiên âm: Hương giang tế nguyệt

Hằng Nga thôi xuất Quảng Hàn song,
Nhất phiến Ngân Hà lạc đế bang.
Bất dạ càn khôn thanh kiến để,
Vô cùng chu hạm ảnh thành song.
Duyên tân ngư hỏa tinh sơ đạm,
Cách ngạn tiều ca địch kỷ xoang.
Xúc cảnh hữu nhân liêu ký vấn,
Dư huy tằng phủ đáo Lô giang.


Dịch giả Phạm Đình Nhân


Dịch thơ: 
Trăng sông Hương sau tạnh mưa
                          Phạm Đình Nhân
                          Dịch 2005

Hằng Nga từ chốn cung Hàn,
Tung dòng Ngân xuống đế bang kinh thành.
Đất trời trong xuốt đáy xanh,
Thuyền về soi bóng nước thành hóa hai.
Sao chiều mờ ánh lửa chài,
Ven sông vọng khúc sáo dài tiều phu.
Cảnh tiên khiến kẻ muốn thu,
Ánh trăng thừa để chiếu bù Lô Giang(1)


 (1) Lô Giang, một tên cổ của sông Hồng.

Dịch giả Ngọc Châu

Trăng sông Hương sau mưa
                         Ngọc Châu
                         Dịch 2014

Hằng Nga tựa đứng chốn cung Hàn
Quăng xuống dòng Ngân tặng đế bang
Đất lặng đáy xanh thành dải ngọc
Thuyền soi bóng nước hóa đôi hàng
Sao chiều mờ nhạt soi chài vạn
Sáo quyện mơ hồ dỡn thạch trang
Tiên cảnh khiến người sinh ước muốn
Thu trăng vàng sáng rọi Lô Giang
  

77.    ĐỀ TÂY HỒ

Nguyên tác: 题  西  湖

湖  中  境  色  不  胜  题
秋  肆  還  添  壹  色  迷
牛  渚  月  波  金  潋  琰
鳳  頹  雲  影  碧  高  低
漁  村  棹  月  城  楼  北
鎭  宇  敲  鐘  寺  館  西
独  立  秾  山  山  上  望
河  蒼  蒼  處  数  鸥  栖


Phiên âm: Đề Tây hồ

Hồ trung cảnh sắc bất thăng đề,
Thu tứ hoàn thiêm nhất sắc mê.
Ngưu chử  nguyệt ba kim liễm diễm,
Phượng đồi  vân ảnh bích cao đê.
Ngư thôn trạo nguyệt thành lâu bắc,
Trấn Vũ xao chung tự quán tê (tây).
Độc lập Nùng sơn sơn thượng vọng,
Hà thương thương xứ sổ âu thê.


Dịch thơ: Đề thơ cảnh Tây hồ
                            Phạm Đình Nhân
                            Dịch 2007

Hồ Tây cảnh sắc đẹp như mơ,
Thêm sắc thu về gợi ý  thơ.
Ngưu chử [1] trăng vàng soi lấp lánh,
Phượng đồi [2] mây biếc lượn lưng bờ.
Thôn chài trăng phủ trên lầu bắc,
Trấn Vũ chuông thờ dội quán chờ.
Đơn độc núi Nùng ta ngắm mãi,
Đầm sen đôi cánh lượn bên bờ.

                        
Thơ viết ở Tây hồ    
                           Ngọc Châu
                           Dịch 2014

Tây hồ cảnh sắc như mơ
Sắc thu mời gợi ý thơ ngọt ngào
Bãi Trâu lấp lánh trăng sao
Phượng Đồi mây biếc nghiêng chào bờ xa
Thôn chài trăng phủ lầu hoa
Tiếng chuông Trấn Vũ ngân nga quán chờ
Đơn độc núi Nùng ngẩn ngơ
Đầm sen cánh nhạn lượn bờ xa xa.

[1]  Ngưu chử : Gò Kim Ngưu (Bãi Trâu)

[2] Phượng đồi : Gò Phượng Hoàng (đồi chim Phượng hoàng) từ Thuỵ Khuê nhìn ra, nay không còn nữa.

(Còn tiếp)




READ MORE - THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH: VŨ TÔNG PHAN - Phạm Đình Nhân dịch - Dịch giả Ngọc Châu giới thiệu

BÃO KHÔNG MÙA - truyện ngắn Đức Tiên



BÃO KHÔNG MÙA  

Nhà giáo sư Vũ Tuấn ở Láng Hạ, một căn biệt thự hạng trung có nhiều cây xanh quanh năm mát lạnh. Bà Hà vợ giáo sư là con nhà trâm gia thế phiệt, ăn nói dịu dàng, đi đứng khoan thai, mới nhìn qua ai cũng đoán biết là cô giáo hiền thục, có tiếng một thời. Bà thường mặc chiếc áo the lụa Hà Đông màu cánh gián để lộ làn da trắng hồng, hai cánh tay nòn nã, ngực còn căng như thời con gái. Khuôn mặt thanh tú, mũi thẳng, đôi mắt nâu đen nhìn xa xăm, ươn ướt đôi mi. Người ta nói, miếng ăn nuôi cơ thể cũng đúng lắm. Nhà bác lúc nào cũng đủ món, ngoài ra, trái cây không bao giờ thiếu trong tủ lạnh, ăn xong bác thường uống một cốc cam tươi nên da dẻ hồng hào phơn phớt. Bà không dùng son phấn cầu kỳ mà chỉ điểm lên môi chút son đỏ thẳm nên dáng người ra vẻ quyền quý, sang trọng lắm. Phải nói là bà đẹp! Đi ngang qua bà, mùi thơm từ cơ thể toát ra quyến rũ lạ thường.
Giáo sư Tuấn thì trái lại, ở nhà ông thường mặc bộ pi-gia-ma màu tro xám, hai tay xắn lên quá khuỷu, vầng trán cao hói hết tóc chỉ còn mấy sợi lơ thơ nằm vắt ngang như cố che đi phần hói của vầng trán đĩnh ngộ. Suốt ngày, khi không có giờ đến lớp, ông say sưa bên những mẫu vật vừa mới sưu tầm về như chiếc thố của người Ba Na, chiếc cồng Tây Nguyên hay chiếc A chói người Vân Kiều.
Nhà có hai anh em, cậu Trung đang du học ở Nhật, cô em gái là Hồng Nhung, năm cuối Đại học xã hội nhân văn Hà Nội. Nhung giống mẹ như đúc, da trắng, mắt xanh biếc, mái tóc loăn xoăn bên bờ vai thon thả, đúng mẫu người Hà Nội gốc. Nhung được bố Tuấn cưng chiều hết cỡ. Nhà có miếng ngon vật lạ là bố để dành khi Nhung đi vắng. Chiếc Atlanta đời mới, màu trứng sữa mới cóng là quà sinh nhật mà bố mua tặng.
Cùng giảng dạy đại học nhưng ở bách khoa là giáo sư Phục Hưng. Ông người cao lớn, mái tóc đen kịt, cặp kính cận có gọng đồi mồi, đúng mẫu người trí thức Hà Nội.
Ông có hai người con. Một ở Viện khoa học còn cậu em đang làm luận án tiến sĩ ở Học viện ngoại giao tên là Tú. Hai nhà giáo sư đi lại với nhau như anh em. Tú thường sang chơi nhà bác Tuấn vì rất thích chiếc đàn tơ rưng đặt ở đầu hồi. Anh chơi thành thạo bài cô gái vót chông theo nhịp điệu Tây Nguyên.
Mỗi lần anh gỏ nhịp là Hồng Nhung cất tiếng hát. Tiếng hát và tiếng đàn quyện vào nhau nghe hoang dã và âm u như núi rừng tây nguyên vậy. Mỗi lần như thế, bà Hà lại gọi con làm việc này việc nọ ý chừng không muốn con gái ủy mị mà đâm ra hư hỏng.
Lại một tháng phải lên Tây Nguyên đưa đoàn sinh viên đi điền dã, nghiên cứu những tập tục của vùng đất sử thi đầy huyền thoại. Một tháng xa nhà, bao nhiêu việc phải làm nhưng giáo sư cứ giao hết cho vợ. Đến mấy bộ quần áo mà ông cũng không thèm xếp lại chờ đến ngày là vác ba lô lên đường.
Hà nội về đêm. Ánh đèn đường bật sáng bên những hàng cây sấu sần sùi và hoang dại. Đường thanh niên, con đường hạnh phúc, những đôi tình nhân ngồi chéo chân nhau tình tự như không biết còn ai. Tú và Hồng Nhung đan tay nhau, vừa đi vừa chuyện trò thầm thỉ. Hình như tình yêu đến với họ sau những lần gỏ đàn và cất giọng hát. Gió từ hồ Tây thổi nhẹ, mấy chiếc thuyền hình con ngổng bơi khoan thai, sóng vỗ lan man bên chân thuyền.  Tú nói với Hồng Nhung bao nhiêu dự định cho tương lai, một tương lai sáng đẹp đang ở phía trước, hạnh phúc chứa chan của đôi bạn trẻ đang phôi thai khi bước vào đời. Hồng Nhung dừng lại, bàn tay ấm dần rồi nóng ran, cơ thể của cô như có một dòng điện vô hình chạy qua làm sởn lên gai ốc.
Anh Tú ạ! Có lẽ đã đến lúc anh phải thưa chuyện với bố em  rồi. 
Tú chân thật. Anh buồn lắm! Không hiểu vì sao bố anh không muốn anh làm quen với em. Có lần anh thưa chuyện, ông cứ gạt phăng đi, mày không thiếu người mà sao phải lấy con gái bác Vũ Tuấn, tao không chấp nhận. Ông nói mà không cần giải thích.
Hồng Nhung cũng có cảm giác đó trong một lần qua nhà Tú chơi. Hai đưa yêu nhau bằng trái tim mẫn cảm và trong sáng. Tú nhớ lắm mỗi khi hai đứa xa nhau. Trong Tú bây giờ chỉ có Hồng Nhung, Hồng Nhung là đóa hoa thanh tú và kiều diễm mà tạo hóa ban tặng. Lẽ nào mà sao người lớn không hiểu được, không cảm nhận nỗi rạo rực khi tình yêu đã đến độ vô bờ. Hồng Nhung còn hơn thế. Không thể sống thiếu anh Tú. Là những thanh niên có học, họ nhận thức và nâng niu tình cảm như gìn giữ cánh hoa thắm sắc nở bên vườn vô ưu, hoang dại và thanh khiết.
Đêm ấy, mãi tới gần mười giờ đêm Hồng Nhung mới về nhà. Bà Hà ngồi soạn giáo án cho ngày mai, thấy Nhung, bà đã nhẹ nhàng, con đi đâu mà về khuya thế, con gái phải biết giữ gìn chứ!
Một tháng đối với giáo sư Vũ Tuấn như một tuần lễ. Ông về mang theo chum vại và mấy cuốn sử thi Tây Nguyên. Tắm rửa xong, ngồi mày mò ghi chép lại những điều thu hoạch được, ông khoái trá tục đổi vợ của  dân tộc K'ho mà ngày nay không còn. Tục ấy kể rằng sau khi cưới vợ những chàng trai có thể đổi vợ cho nhau mà cô vợ nào cũng thuận chiều không hề trách cứ. Rồi ông cười, một nụ cười xa xăm, huyền bí. Suốt ba hôm liền ông về nhà mà không hề đoái hoài gì đến người vợ lúc nào cũng hừng hực lửa tình, bà Hà cũng ngán ông lắm. Mỗi lần, một mình trong buồng tắm, cơ thể đẫy đà và trắng ngồn ngộn, đôi vú của người đàn bà gần năm mươi tuổi vẫn săn tròn, tuy có chảy xệ một ít nhưng vẫn hấp dẫn không thua gì con gái. Mỗi lần kỳ cọ lên đôi vú, bà có cảm giác tê mê hứng thú như hồi mới yêu ông, cảm giác ấy cứ  chảy mãi, chảy mãi trong cơ thể một con người sinh lực dồi dào và rạo rực.
Tuần này, giáo sư Phục Hưng chuẩn bị đi dự hội thảo toán học tại Labenhaghen, đất nước thần tiên có nàng tiên cá nỗi danh. Bác Vũ Tuấn nói với bà Hà chuẩn bị làm cơm thiết đãi. Nghe thế, Hồng Nhung tươi ra mặt. Hai mẹ con ra chợ Bưỡi mua sắm chuẩn bị cho bữa tiệc.
Trên bàn tiệc, giáo sư Vũ Tuấn rót chai whisky mời Giáo sư Phục Hưng, hai người nói chuyện khoa học say sưa. Không thấy anh Tú đến, Hồng Nhung buồn rười rượi, cô không lên ngồi cùng bàn tiệc, mặc dầu bác Tuấn đã gọi mấy lần. Trong thâm tâm, Hồng Nhung đoán chắc bác Hưng không muốn cho Tú đến gặp cô . Nỗi buồn sâu thẳm và cồn cào khó tả. Có ai hiểu được cho Hồng Nhung lúc này không, không một ai hiểu được tình yêu mà mình đã dành trọn vẹn cho anh Tú, người thanh niên hai bốn tuổi đầu có mái tóc xanh đen, đôi mày rậm toát lên vẽ nghiêm trang và chuẩn mực.
Đêm ấy, cô nghĩ ngợi nhiều lắm, hình như có cảm giác gì là lạ, người cứ rời rợi, buồn nôn nhưng không nôn được. Đã đến ngày “nguyệt kỵ”  nhưng sao không thấy… Hay mình đã có thai. Cô suy nghĩ lao lung rồi quyết định phải nói với mẹ.
Cô lấy máy di động điện cho Tú và nói chuyện gì đó rất lâu. Đoạn cô đến phòng mẹ, nhẹ nhàng mở cánh cửa bước vào.
Bà Hà giật mình khi thấy Hồng Nhung bước vào. Cô ôm mẹ rồi khóc nức lên.
Con có thai rồi mẹ ạ!
Bà Hà giật bắn người, bà không tin vào lời con nói.
Trời ơi! Sao con biết có thai? Có thai với ai, thằng nào? thằng nào?
Hồng Nhung buột miệng, Anh Tú, anh Tú con bác Phục Hưng. Bà Hà ngất lịm, cơ thể bà mềm nhủn, hai tay níu lấy vai con như cầu cứu. Chết mẹ rồi con ơi! Mẹ đã nói nhiều lần với con là không được chơi với thằng Tú. Con là con của bác Phục Hưng, mẹ không thể nói cho con biết.  Con có thương ba con không? Con có thương cả nhà này không? Trời ơi! Ba con mà biết chuyện này thì nhà ta tan hoang hết con ơi!
Hồng Nhung không hiểu hết câu chuyện mà mẹ vừa nói, chỉ biết tất cả đã sụp đổ, sụp đổ như bất thần cơn bão kéo qua, cả ngôi nhà ba tầng rung chuyển rồi đổ ầm xuống, chỉ còn lại một đống ngổn ngang gạch vữa nằm chơ vơ trên mảnh vườn xác xơ cây lá.

                                                       ĐỨC TIÊN



READ MORE - BÃO KHÔNG MÙA - truyện ngắn Đức Tiên

Wednesday, October 22, 2014

MÙA TRÔI VÀ SƯƠNG KHÓI TRÔI - thơ Ngưng Thu




MÙA TRÔI VÀ SƯƠNG KHÓI TRÔI

Chiều chậm trôi trên lênh đênh con sóng
ngọn sóng cong miền hư vô
anh đã từng nghe thanh âm lòng phố
phố mùa ngập ánh trăng xô
tóc thề bay bay
gió oà mây vỡ
và khói
và sương
và cả cánh hồng nhung hiền ngoan
từ độ yêu người
yêu nỗi thương mong.


Thời gian rơi rơi chạm tiếng tơ lòng
lời trăm năm năm cổ độ?
lối trăng mòng mọng thơ
và em
và cả tình cờ
yêu như xưa lắm
tự bao giờ bâng khuâng?


Vừa long lanh màu mắt xuân
hạ đi thao thiết in hằng dấu mê
vàng thu chiếc lá vụng về
nghe đông trắng
gọi bốn bề hương trôi.


Là mây
là sương khói thôi
ta dìu nhau bước
dẫu đời chênh vênh.

                              Ngưng Thu


READ MORE - MÙA TRÔI VÀ SƯƠNG KHÓI TRÔI - thơ Ngưng Thu

LÂU KHÔNG GẶP TA MỜI NGƯƠI CHÉN NỮA - thơ Phan Minh Châu




LÂU KHÔNG GẶP
TA MỜI NGƯƠI CHÉN NỮA

Lâu  không gặp tao mời mầy một chén
Rượu nghĩa tình không phải rượu lưu linh
Lâu không gặp tao mời mầy một miếng
Mồi tao chài... không phải để mưu sinh .

Đừng nhắm mắt đừng trề môi tao sợ
Hãy nín hơi mà cạn nốt ly này
Gắp miếng nữa đưa cay vào cuống họng
Sợ nỗi gì mà mầy phải run tay.

Dù cho chó có ăn chè cũng kệ
Dù mai kia... dập nát lá lan này .
Không thể khướt bởi mầy là bè bạn
Qua buổi này mai gió thoảng mây bay.

Mầy sợ uống còn gì là hảo hán
Phận làm trai  hồ tửu gánh trong đầu
Say khật khưởng thật thà tình tri bỉ
Còn hơn là lừa dối vật vờ nhau

Nhớ năm tháng dưới lằn tên mũi đạn
Mầy không run tao có sợ đâu nào
Dẫu pháo dội, dẫu bom gào đạn xé
Chui xuống mồ tao thấy có đau đâu.

Mầy gởi lại chiến trường dăm cốc máu
Ta bàn chân khập khiễng bỏ không đành
Bạn bè ta một thời say trận mạc
Đã bao thằng được sử sách vinh danh

Ta khốn đốn bởi đời ta mạt vận
Những vết đau năm tháng mục trong đầu
Thêm ly nữa cho những điều vớ vẩn
Hơn lọc lừ ghim gút hại đời nhau

Lâu không gặp ta mời ngươi chén nữa
Rượu dẫu cay, dẫu đắng đến nao lòng
Thêm chén nữa nếu coi ta là bạn
Không gì bằng cạn nốt chén tri âm.

                        PHAN MINH CHÂU
                                        3b Âu Cơ, Nha Trang, Khánh Hòa
READ MORE - LÂU KHÔNG GẶP TA MỜI NGƯƠI CHÉN NỮA - thơ Phan Minh Châu