Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, September 29, 2013

HOA HỌC TRÒ - truyện ngắn Trần Hữu Thuần - Kỳ 3



Tôi cầm que tre như  cọng tăm đầu có gắn một túm bông cỏ nhỏ  lòa xòa cọ cọ vào hàm con dế than đen nhánh, thân mình nhỉnh hơn hạt đậu phụng một chút, chú dế Nguyệt vừa túm được cho tôi hôm qua, chưa được “luyện.” Để dùng làm que chọc dế, bọn trẻ chúng tôi có khi cắm cái đầu một con dế đã chết lên đầu một cọng tre nhỏ, có khi cột lên đó một túm nhỏ bông cỏ,  khi khác chỉ cần bứt mấy cọng tóc gấp lại.  Con dế than chẳng biết vì bị nhột hoặc vì nổi giận tưởng túm bông cỏ là con dế khác đang khiêu khích nên nhe hai càng nhọn hoắt, cúi gầm đầu hích vào túm bông cỏ, giương hai cánh gáy rinh rích. Mãi mê nhìn con dế chạy loanh quanh trong cái hộp giấy nhỏ rồi cười thích thú khi nghe tiếng dế gáy rinh rích, Nguyệt bảo tôi:
“Con dế than ni coi bộ hung ghê.”

Tôi cười, bảo Nguyệt:

“Nó hung là tại em đó?”

Nguyệt nhìn tôi chưng hửng:

“Răng mà tại em?”

“Tại em hung nên nó cũng hung. Chị nào em nấy.”

Nguyệt vung tay đấm lên lưng tôi nghe cai huỵch, nhăn mặt nói:

“Anh ni, em hung khi mô mô? Có anh hung ăn hiếp em thì có.”

Tôi làm bộ nói trớ:

“Đứa mô dám ăn hiếp em? Nói đi, anh quất cho nó một trận.”

Nguyệt cười:

“Đưa mô mô? Đứa anh đó, anh quất anh đi.”

Câu nói đùa của tôi đã có kết quả, Nguyệt không còn để đến việc tôi trêu Nguyệt nữa. Nguyệt chẳng bao giờ hung dữ, rất hiền lành là khác. Tôi chưa từng nghe thấy Nguyệt lớn tiếng cãi vã với bất kì ai. Gặp chuyện không vừa ý, Nguyệt nói qua nói lại rồi nếu người kia vẫn không chịu nhận sai lầm, Nguyệt bỏ đi, tức lắm thì tìm đến khóc lóc kể lễ với tôi. Nếu tôi nóng lòng muốn can thiệp, Nguyệt chận lại ngay, vội vàng nói:
“Em hết khóc rồi nè, mặc kệ nó đi anh.”

Không phải Nguyệt sợ tôi không đủ sức chống cự lại đứa sinh chuyện với Nguyệt mà chỉ tại không muốn sinh chuyện ồn ào. Nguyệt thường bảo tôi:

“Mạ nói một nhịn chín lành, bỏ qua cho xong chuyện.”

Tôi cắc cớ hỏi ngược lại:

“Lỡ mình bỏ mà người ta không bỏ thì răng?”

Nguyệt cúi đầu nói:

“Em chưa chộ lần mô như rứa. Mình nhịn bỏ đi rồi, người ta có muốn sinh sự cũng mô có mình đó nữa.”
Nói chày cối với Nguyệt vậy thôi, tôi bao giờ cũng nghe lời Nguyệt. Nết hiền của Nguyệt đã nhiều lần làm dịu cơn hung hăng nóng giận của tôi. Một lần tôi trốn học theo chúng bạn cỡi trâu lội qua bên kia sông. Hôm sau, tôi đi học lại, thầy giáo bắt tôi nằm dài lên bục, quất cho năm sáu roi đau điếng sưng cả mông. Thời đó, phương châm giáo dục là “thương cho roi cho vọt” nên ở nhà thì cha mẹ đánh, ở trường thì thầy cô cho ăn đòn. Cha mẹ khi đưa con đến trường còn “gửi gắm” thầy cô:

“Nhờ thầy cô dạy dỗ nó, đánh cho đau vào nếu nó không nghe lời!”


Thầy giáo đánh đau lắm, tôi khóc suốt buổi học, tối về nhà còn khóc. Chị tôi giận nhưng thấy tôi bị nhiều đòn nên không mắng mỏ gì thêm nữa. Riêng Nguyệt ngồi sát bên tôi, khóc nhiều vì thấy tôi khóc và xót xa cho cái mông sưng vù của tôi. Theo kinh nghiệm dân gian, chị kế tôi pha chén nước muối loãng bảo Nguyệt xoa lên mông tôi để bớt sưng. Bớt sưng đâu chưa thấy, nước muối thấm qua da rát rạt làm tôi bật khóc rưng rức. Nghe tôi khóc, cả chị tôi cả Nguyệt cuống cuồng chẳng biết phải làm gì. Thấy vậy, tôi bặm gan không khóc nữa vì thương chị và thương Nguyệt. Tôi nhìn chị rồi nhìn Nguyệt, nói

“Chị và Nguyệt đừng khóc nữa, không răng mô.”

Để chị và Nguyệt thêm tin tưởng, tôi cười lớn:

“Không răng mô, thầy đánh hôm qua cũng như gãi chỗ ngứa dính mồ hôi trâu lúc cỡi nó hôm qua, nhằm nhò gì.”

Nguyệt cười méo xẹo:

“Gãi ngứa mà anh khóc hu hu từ sáng tới chừ.”

Tôi giả vờ cười:

“Anh khóc cho em sợ chơi thôi.”

Nguyệt xí một tiếng rồi nói:”

“Rứa thì anh khóc tiếp đi, em đi chơi đây.”

“Đi mô?”

“Ra doi bắt dế.”

Nguyệt gãi đúng chỗ ngứa của tôi, chuyện gì có dế là tôi chịu liền. Tôi bảo Nguyệt:

“Ừa, thì đi.”

Doi là bãi đất phù sa tức đất bồi nằm dọc bờ sông Thạch Hãn. Từ nhà anh em chúng tôi đến bờ sông phải băng qua một ruộng bắp với những thân cây cao hơn người lớn, đầu ngọn lất phất hoa bắp uốn mình trong gió, nách lá trổ những quả bắp tròn lẳng lủng lẳng chùm râu bắp ở đầu. Qua khỏi ruộng bắp, chúng tôi phải vượt qua một con đường đất hẹp gồ ghề gập ghềnh, mùa mưa nhếch nhác, mùa hè bụi bặm. Những năm 1930, chưa có xe hơi xe đạp, phương tiện chuyên chở quê tôi chỉ có xe bò xe trâu mà họa hoằn chúng tôi mới được chủ xe cho lên ngồi ké đi một đoạn đường ngắn. Mỗi lần được ngồi vắt vẻo trên xe chạy lộc cộc lệch kệch nghiêng qua xô lại trên con đường gồ ghề là một lần chúng tôi cười hớn hở. Ngồi chồm hổm trên thùng xe thường chất đầy khoai sắn bắp đậu vào mùa thu hoạch, rơm rạ vào cuối mùa, hoặc phân trâu phân bò lúc đầu mùa, tôi nhìn trời nhìn đất hể hả còn hơn được ngồi trên xe Jeep nhà binh sau này, hoặc ngồi trên xe Honda Toyota như ở Mĩ hiện thời. Ngồi xe trâu lúc đó sao mà oai phong lẫm liệt đến thế!

Ai bảo chăn trâu là khổ
Chăn trâu sướng lắm chứ…ư…ứ!

Qua khỏi đường đất là đến doi, mấp mô các vồng trồng một loại dưa người địa phương gọi là dưa quả, nơi khác gọi là dưa hồng, cùng họ với dưa hấu, trái thuôn thuôn lớn bằng một hai nắm tay người lớn. Không loại cây trồng nào ở vùng này phù hợp với đất phù sa hơn dưa quả. Dưa hồng dưa quả không ăn chín. Người ta thu hoạch khi dưa vừa độ không quá non không quá già để nấu canh, kho cá, “bằm” thành sợi nhỏ ăn sống chấm với nước cá nước mắm, hoặc xắt mỏng phơi khô để dành kho chung với cá. Tôi thường mê mẩn với dưa bằm chan nước cá, hoặc dưa phơi khô kho cá. Với trẻ thích dế như tôi, doi đất còn là “kho tàng” dế. Doi nhiều dế trước hết vì là đất phù sa dế dễ đào hang, hai là vì dưa quả là thức ăn dế có sẵn. Nhiều khi bắt được dế, tôi chỉ cần nhìn ngang nhìn ngữa hái vội một trái dưa, khoét lỗ vừa rộng cho chú dế vào trong đó. Trái dưa vừa là hang trú ẩn vừa là thức ăn cho dế, tiện cả đôi đường. Đến bờ sông. Nguyệt nheo mắt nhìn trời rồi bảo tôi:

“Nắng quá, bắt dế không được mô, phơi nắng về bệnh mạ la chết.”

“Rứa thì làm chi? Tắm không được, mạ còn la nhiều nữa vì đi không xin phép.”

Nguyệt nằn nì:

“Có hai anh em mình thôi, em tắm truồng.”

Tôi lắc đầu:

“Không được mô. Một là chưa xin phép mạ, hai là em không đem theo quần áo để thay, mặc đồ ướt bệnh chết.”

Ở tuổi tôi với Nguyệt thời đó, trần truồng trước mặt nhau chẳng có gì là chuyện đáng thẹn thuồng hoặc tội lỗi. Trời mưa, con trái con gái kéo nhau cả bầy trần truồng tắm mưa là chuyện bình thường. Nhưng đàn bà con gái An Đôn khác với đàn bà con gái nơi khác khi đi tắm sông. Nơi khác, đàn ông ở truồng nhào xuống nước, đàn bà con gái tắm với nguyên quần áo rồi lên bờ đợi khô mới về. An Đôn, đàn bà con gái vẫn tắm sông với nguyên quần áo nhưng đem sẵn quần áo để thay đổi. Nguyệt bảo tôi:

“Tắm không quần áo, bắt dế thì nắng quá. Chừ mần chi?”

Ngẫm nghĩ một chút, nguyệt nói tiếp:

“Hay hai đứa mình chui vô vòm cây ni cho mát rồi anh lấy dế ra ‘luyện’?”

“Nhưng anh mô đem dế theo?”

“Không đem thì mình bắt.”

“Em vừa nói nắng quá, phơi nắng bắt dế về mạ la.”

Nguyệt lúng túng nhìn tôi:

“Ừ hé. Chừ mần răng hè?”

“Chừ em ngồi đây dọn chỗ cho mình ngồi khỏi nắng, anh đi bắt dế về chơi.”

“Em đi với anh, anh bắt không lại em mô.”

Tôi nghiêm mặt nhìn Nguyệt:

“Không được, lỡ em bệnh về mạ la chết.”

Tôi bỏ đi không để cho Nguyệt kịp vòi vĩnh mà tôi biết khó từ chối được. Hình như tôi chưa hề từ chối điều gì Nguyệt đòi hỏi mà tôi có thể làm được. Bước mấy bước quay nhìn lại, tôi mỉm cười an tâm thấy Nguyệt đang chăm chú bẻ cành bẻ cây mở rộng vòm cung của bụi cây rồi lót cành là vừa bẻ được xuống đất làm chỗ ngồi. Men tới vồng dưa, lắng tai nghe tiếng dế gáy vọng lại, có theo kinh nghiệm phân tích tiếng dế gáy để đoán vóc dáng tài năng của chú dế dưới hang. Quanh qua một vồng dưa, tôi khựng lại nghe tiếng dế rổn rảng từ dưới hang vọng lên, thầm nghĩ:

“Chắc là dế lửa. Dế lửa gáy rổn rảng, dế than rinh rích. Con này chắc to nên gáy nghe mạnh mẽ lắm.”
Tôi thở nhẹ bước nhẹ để không “động” mất dấu hang dế, trí hình dung ra đôi càng to khỏe chơm chởm sắc cạnh, chém là đứt, dứt là chết của con dế, bụng mừng thầm tôi đang gặp may. Bỗng, có tiếng cười khanh khách từ dưới sông vọng lên. Tôi lật đật bỏ hang dế, chạy vội về lại vòm cây chỗ Nguyệt đang ngồi xem ai đang cười dưới sông liệu có gì nguy hiểm cho Nguyệt không. Chạy được mấy bước, tôi chợt nhận ra tiếng Nguyệt đang cười, tiếng cười trong như ngọc nói theo bài học thuộc lòng tôi đã học cho dẫu chẳng biết là trong như thế nào. Một viên ngọc nhỏ tôi còn chưa được nhìn thấy, nói chi nghe được tiếng ngọc reo trong đục ra sao. Tôi tự nhủ:

“Nguyệt đang làm trò. Cười kiểu nớ là hắn biểu mình tới coi. Tới không kịp, hắn giận, đố mà dỗ được.”
Tôi chẳng lạ lùng gì trò chơi đó của Nguyệt, nhưng mỗi lần đều phải khen nức nở như mới thấy lần đầu nếu không muốn thấy Nguyệt xìu mặt xuống. Con gái vốn thế, hay giận hay hờn, chẳng cần lí do để giận mà giận cũng chẳng cần giải thích lí do. Người ta nói đàn ông con trai sống bằng cái đầu, đàn bà con gái sống bằng con tim, càng lớn lên thêm hiểu biết tôi càng cho là đúng, ít nữa qua ngày tháng tôi sống bên Nguyệt cho dẫu chẳng kéo dàđược lâu.

Quả như tôi nghĩ. Giữa sông không mấy xa bờ, Nguyệt đang khom người úp mặt xuống dòng nước chảy xuôi để mái tóc dài nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Rồi đột nhiên, chẳng nói chẳng rằng chẳng hề báo trước, Nguyệt đứng phắt dậy hất ngược mái tóc ra đàng sau. Mái tóc mây đen nhánh ướt sũng rơi xuống sau lưng nằm gọn trên chiếc áo bà ba trắng cũng ướt sũng thấp thoáng những mảng da hồng. Nếu mái tóc hất lên gọn gàng, Nguyệt cười khánh khách vì đã biểu diễn thành công. Và đó chính là lúc tôi phải vỗ tay khen. Không thành công, Nguyệt lại úp mặt, lại hất ngược, làm đi làm lại cho đến khi thành công, cho đến khi tôi lên tiếng khen. Nói cho thật đúng, Nguyệt thường không kiên nhẫn được nữa sau ba lần. Sau lần thứ ba vẫn không được như ý muốn, Nguyệt vùng vằng bỏ lên bờ rồi làm bộ hờn dỗi như thể đó là do lỗi của tôi. Biết thế cho nên vừa chạy hồng hộc đến bờ sông, đợi Nguyệt hất mái tóc nằm gọn gàng trên vai dù chưa được hoàn toàn, tôi vội vàng khen lấy khen để:

“Hay thiệt, lần nào em hất tóc anh cũng thấy đẹp. Anh có tóc dài như em, muốn bắt chước em cũng không được.”

Chẳng hiểu do đâu, khác với bản tính nhiều lúc nghịch ngợm ngang ngược của tôi đồi với người khác, tôi lúc nào cũng dịu dàng với Nguyệt, tìm mọi cách làm Nguyệt vui lòng nữa là khác. Nghe tôi khen, dù không phải mới nghe lần đầu, Nguyệt tỏ vẻ vui ra mặt, cười trong đôi mắt:

“Anh lại phỉnh em. Có cái chi anh làm không được mô?”

Tôi cười:

“Đúng là cái chi anh cũng làm được trừ cái hất tóc đó. Mà thôi, em lên đi kẻo lạnh. Đã bảo không được đi tắm vì chưa xin phép mạ và không có quần áo thay đổi, răng em xuống tắm?”

Nguyệt  chầm chậm đi lên bờ, đứng dưới nắng chiều trong gió phần phật đợi khô áo quần, bướng bĩnh cãi lại:
“Em tắm mô? Em gội tóc thôi mà?”

Tôi bảo Nguyệt:

“Gội thì cũng lội xuống sông, lỡ có chi thì mần răng, nhất là khi anh không biết em dưới đó?”

“Rứa mấy lần có anh, anh cũng mô có tắm chung chỗ với em? Bọn con gái em tắm riêng mà.”

Quả  như lời Nguyệt nói. Không biết do ai đặt ra thành lệ từ bao giờ mà con gái tắm một bến xa bến con trai một đỗi khá xa, tiếng cười đùa chỉ thoang thoảng vọng lại. Tôi im lặng vì biết không cãi lại Nguyệt được, mà thực lòng cũng chẳng muốn cãi lại Nguyệt, không muốn làm bất cứ điều gì để Nguyệt phiền lòng. Tôi hạ giọng nói:

“Không tắm chung với anh nhưng với bạn em. Lỡ chuyện gì có tụi nó báo.”

Nghe tôi nói có lí, Nguyệt thinh lặng. Sực nhớ lại tôi đã không có mặt ngay khi lần biểu diễn đầu tiên, Nguyệt Nguyệt phụng phịu bảo tôi:

“Rứa nãy chừ anh đi mô em không chộ?”

Tôi ngẫn người, con gái sao mà khó hiểu. Chẳng phải hai đứa đã thỏa thuận, Nguyệt sử lại chỗ  ngồi chơi cho mát còn tôi đi bắt dế sao? Dẫu nghĩ vậy, tôi vẫn ôn tồn trả lời:

“Thì  em biểu anh đi bắt dế tê.”

Nguyệt phụng phịu:

“Lúc mô cũng dế, bỏ em một chắc hoài.”

Một chắc nghĩa là một mình, kiều nói của người Bình Trị Thiên.Tôi đấu dịu, nói:

“Tại em biểu, mô phải tự nhiên anh đi.”

“Bộ anh bắt chỗ mô xa lắm răng em kêu hai ba lần anh chưa nghe?”

“Sau bụi cây nớ.”

Tôi chỉ tay về bụi cây mơ hồ phía sau lưng. Sau lưng tôi không phải chỉ một bụi cây mà cả dãy dài bụi cây. Nguyệt nhìn theo tay tôi chỉ rồi nhìn lại tôi, lắc đầu:

“Cả  đống rứa, em biết anh sau bụi nào?”

Lãng tránh phải trả lời thêm nữa, tôi nói:

“Mà em mô kêu anh. Nghe em cười, anh biết em đang gội tóc nên chạy lẹ về thôi.”

Nguyệt làm mặt giận:

“Em cười như rứa là kêu anh rồi. Mà ai biểu anh bỏ em đi bắt dế?”

“Em biểu chơ ai. Anh tưởng bữa ni em thích chơi dế.”

“Không mô, không hề. Em dòm tụi hắn là để anh vui thôi. Tụi hắn đá nhau sứt đầu gãy gọng, em sợ lắm. Ai bắt mấy anh sứt đầu gãy cẳng mà mấy anh hại tụi hắn như rứa?”

Chẳng biết trả lời sao cho phải, tôi cười trừ:

“Tại trời sinh tụi hắn ra để đá chắc. Với lại, em coi, anh không bắt, tụi hắn cắn hư hết dưa hết rau thì lấy chi mà ăn?”

“Anh nói xà óa. Mô phải trời sinh tụi hắn để đá chắc? ai nói rứa? Sách vở mô dạy rứa?”

Nói xà óa là nói bừa, nói cho qua chuyện. Đến đây thì tôi cứng họng không còn ngụy biện gì được nữa, đành lái sang chuyện khác:

“Không chơi dế thì làm chi? Mô có trò chi khác, ngồi không buồn chết.”

Nguyệt làm bộ giận quay mặt đi:

“Rứa đó, ngồi bên em mà kêu buồn. Bộ không thích em răng?”

“Mô phải. Ngồi bên em vui một chuyện, mà chơi dế là chuyện khác. Rõ ràng, em ngồi một chắc sinh buồn nên mới xuống sông gội tóc, phải rứa không?”

“Mô phải em buồn vì ngồi bên anh mà tại anh bỏ em một mình. Có anh, em ngồi tới tối tới khuya cũng được.”

Tôi trêu Nguyệt:

“Rứa thì chừ anh ngồi chỗ ni, em chỗ nớ, hai đứa ngồi tới khuya luôn. Chịu không?”

Nguyệt phụng phịu:

“Anh lại chọc em, anh làm nư chi rứa?”

“Rõ ràng chưa, mô phải ngồi hoài là được, phải có cái gì để chơi cho vui, phải không?”

“Rừa chừ mần chi? Không có dế, tắm cũng không được.”

Tôi cười:

“Thì  đuổi nhau chạy.”

Không đợi Nguyệt trả lời, tôi vụt chạy chầm chậm vòng vòng đợi Nguyệt đuổi theo tôi. Hai chúng tôitheo nhau chạy dọc bờ sông rồi ngược lên phía doi dưa. Chừng năm phút sau, Nguyệt ngồi phịch xuống một vồng dưa, thở hồng hộc:

“Em không đuổi nữa. Răng em đuổi mà anh không chịu đứng lại?”

Tôi trố mắt kinh ngạc:

“Răng lạ rứa? Em đuổi mà không cho anh chạy, bắt phải đứng lại là nghĩa lí mần răng?”

Nguyệt nguýt tôi:

“Có rứa cũng hỏi. Em đuổi, anh phải đứng lại cho em bắt mới đúng.”

Tôi chẳng hiểu được đúng là đúng thế  nào. Con gái thật kì lạ, đuổi chạy thì bắt  đứng lại cho bắt, bảo đi bắt dế rồi vắng mặt thì giận hờn. Chẳng trách, anh tôi bảo tôi:

“Mi lớn lên, coi chừng bọn con gái. Con gái nói rứa mà không phải rứa mô.”

Tôi chẳng hiểu anh muốn nói gì. Nhưng, khi đủ khôn lớn, tôi thấm thía với câu nói con gái không bao giờ nói đúng, nói có, mà lúc nào cũng chỉ nói có lẽ, có thể. Người con trai hỏi con gái:

“Em có thương anh không?”

Con gái trả lời:

“Không biết nữa.”

“Chiều nay đi chơi với anh nghe?”

  “Có lẽ.”

Thế  nhưng, đến giờ hẹn người con trai không ra là  có chuyện to. Tôi cười:

“Thì chừ anh đứng lại rồi nè.”

Nguyệt phụng phịu:

“Chừ mới đứng. Em mệt muốn chết rồi đây nì.”

Tôi  đùa:

“Em đừng chết. Em chết bỏ anh một mình, anh chơi với ai?”

Nguyệt đưa tay bụm miệng tôi:

“Đừng nói rứa, không nên mô.”

“Nói chi không nên?”

“Nói chết.”

“Em nói chết trước, mô phải anh?”

“Em nói là nói thuận miệng, ai cũng nói rứa mô phải em nói rứa?”

“Nói rứa mà mô phải nói rứa, là nói răng?”

Nguyệt nhăn mặt:

“Không cãi nữa, đừng nói xui xẻo là được. Mạ nói có kiêng có lành.”

Tôi nói nghiêm trang như người lớn:

“Có  đạo mà tin dị đoan. Kinh nghĩa dạy đến kì Chúa định chúng ta đều phải chết, sống chết là do Chúa định, mô phải do mình?”

Nguyệt vùng vằng:

“Kinh chẳng kinh cũng được, chỉ cần anh đừng nói xui nữa.”

Biết không cách nào cãi lại, tôi lại ngẫn người không hiểu được tâm tình con gái. Mơ hồ, tôi nghĩ có một điều gì Nguyệt đã cảm thấy mà tôi thì chưa. Trời sinh ra con trai con gái khác nhau không chỉ cơ thể mà cả tâm hồn. Con trai hùng hổ, bộc trực, tưởng cái gì cũng biết mà thực sự chẳng biết gì. Con gái thẹn thuồng, kín đáo, tưởng cái gì cũng không biết mà thực sự biết hết mọi chuyện. Người ta chẳng nói con gái mau khôn hơn con trai là gì? Nữ thập tam, nam thập lục, con gái mới ít tuổi đã thắc mắc em bé từ bụng mẹ sinh ra cách nào trong khi con trai chẳng hề quan tâm đến.

(Còn tiếp)

Trần Hữu Thuần

READ MORE - HOA HỌC TRÒ - truyện ngắn Trần Hữu Thuần - Kỳ 3

Truyện ngắn NHỮNG TỜ ĐƠN LY HÔN - Trạch An Trần Hữu Hội





Ngồi trong căn phòng tập thể dành cho giáo viên độc thân của trường, Khiên trầm ngâm nhìn ra ngoài hiên, chén nước trà vẫn còn nóng, hờ hững đưa lên môi nhấp một ngụm, anh tằng hắng rồi bổng như ý thức ra cái thực tại : Mình đang cô đơn , nhưng là một cảm giác cô đơn dễ chịu, pha chút thanh thản, yên bình, vào cái tuổi năm mươi lăm !

Muộn màng duyên nợ. Khiên học Đại học sư phạm Huế, ra trường, anh xin vào Nam, về dạy môn Sinh cấp 3 tới chín năm nơi cái trường cấp 2 và 3 này, anh mới lập gia đình. Chị cũng là giáo viên, nhưng là giáo viên cấp 1. Hiệu trưởng Thành thấy anh một thân một mình., tuổi cũng đã lớn nên mai mối …

Ngày cưới nhau, anh Khiên ba mươi mốt tuổi, còn chị kém anh năm tuổi, hai mươi sáu.

 oOo

Chuyện mai mối của thầy hiệu trưởng Thành chưa chắc đã có kết quả nếu cô Tuyến không chủ động …Bởi lúc này Khiên cũng đang có một giáo viên cùng bộ môn, mới ra trường ba năm, mến cái hiền của Khiên. Nghiệt cái là cô Lành cũng là người kín đáo, cả trường không ai hay biết gì về tình cảm mới chớm trong lòng họ!

Là một người chân chất, Khiên không đẹp trai nhưng thuộc loại nhìn được, anh cao ráo, vừa người, hiền và ít nói. Ngay sau khi thầy Thành giới thiệu hai người với nhau, cô Tuyến thân mật như đã yêu nhau từ lâu. Nào ghé nhà tập thể, nào mua trái cây, nào đi chợ và làm bếp giúp… Những chiêu trò “phổ thông”, cho Khiên cảm tưởng đây chính là “môt người vợ hiền ngoan” .

Nhưng ngoạn mục nhất là chiêu chót, với chiêu này, cô Tuyến hạ gục một lúc cả cô Lành và thầy Khiên, đạt mục đích thật nhanh chóng !

Tối hôm đó có chiếu phim ở sân bóng xã. Nghe thông báo là thanh niên nam nữ trong xã xôn xao! Nghe cái tên phim cũng đã thấy lãng mạn: “Xô- nát bên hồ” ! Thời này, mọi người đều khát khao một đêm giải trí ! Một dịp hẹn hò…

Cô Tuyến đến nhà tập thể để rủ Khiên đi xem phim, đã thấy Lành ở đó ! Lành trẻ và đẹp hơn hẳn Tuyến ! Khiên vui vẻ, vô tình, mời cả hai đi coi phim! Hai cô gái cũng chị chị em em thật lịch sự. Phim hay và lãng mạn. Nỗi khát khao của tuổi trẻ với nghệ thuật phim ảnh làm cả sân bãi im phăng phắc, chỉ còn tiếng thuyết minh lập bập, câu trước lộn ra câu sau, nhưng họ vẫn hiểu được mạch phim. Đúng vào lúc cảnh phim hai người dang thong thả bơi thuyền trên hồ…Tuyến mượn chiếc bấm móng tay của Khiên. Đang mê mải theo dõi phim, Khiên móc túi đưa cho Tuyến.

Phim hết , mọi người trầm trồ tiếc rẻ, cả hai người, Khiên và Lành không thấy Tuyến đâu, tưởng là Tuyến đã về nhà cô ấy trước vì có việc gì đó.

Có thể cái lãng mạn trong phim làm Lành mạnh dạn thêm một chút, cô cùng Khiên về nhà Tập thể. Cửa khép nhưng không khóa và có đèn ! Khiên đẩy cửa, trố mắt, còn Lành thì hét lên thất thanh rồi chạy ngược trở ra đường !

Tuyến nằm gần như trần truồng với tấm đắp mỏng, đắp ngang phần giữa thân, như đang ngủ , da thịt của phần còn lại lồ lộ dưới ngọn đèn điện !

Lành vừa chạy vừa khóc. “Thì ra anh chàng Khiên này không vừa ! Con gái vào nằm trong phòng tự nhiên như thế thì chắc cũng đã lắm lần, lắm cô ! Lại có cả chìa khóa phòng nữa chứ !”

Tuyến vờ như hốt hoảng, cô kéo chăn lên cao một chút, phần ngực và hai đùi vẫn lồ lộ trước mắt Khiên.
-Ôi , Thầy về rồi à…Đang xem phim em tự nhiên chóng mặt, mượn chìa khóa về phòng thầy định nằm một lúc, rồi ngủ quên !

-Cô Tuyến có sao không, tôi chở cô về nhà nhé ?

-Em nhức đầu, người nóng lắm! Đây này, thầy xem, thầy xem…

Tuyến cầm tay Khiên đặt lên trán, lên bụng và ngực, rồi vòng tay ôm ngang lưng Khiên. Người Khiên cũng nóng ran, hơi thở anh dồn dập, mùi thơm da thịt của Tuyến đưa anh chơi vơi trong nổi thèm muốn khát khao…Anh mơ hồ nhớ đến một cảm giác như thế từ rất lâu…Hồi ở quê, khi anh học cấp hai, chơi trốn tìm với cô bạn cùng xóm, vô tình tay anh chạm vào ngực, cả hai ngây ngất nơi đống rơm sau nhà. Lần đó anh còn bé dại, chỉ là cảm xúc của sự gần gũi khác giống phái. Bây giờ, ba mươi mốt tuổi, với nổi rạo rực của thằng đàn ông, anh không cần gì phải kìm giữ…

Nhưng lần đó, đêm đó, lại đem đến cho anh nổi hối hận dày vò hai mươi bốn năm !

Ông trời cho Khiên cái trí nhớ không bền, hay tại anh cũng không muốn lưu lại trong ký ức những nỗi đắng xót của mười mấy năm đầu sống đời hôn nhân với Tuyến. Khi anh thấy cuộc hôn nhân càng ngày càng tệ hại. Cách suy nghĩ, cách cư xử, lời ăn tiếng nói của Tuyến…Hôn nhân trở thành một sự đọa đày!

Năm tháng qua dần, khi anh mất hết kiên nhẫn để chịu dựng, có ý định ly hôn thì đã hai đứa con! Trai đầu mười tuổi và bé gái bảy tuổi ! Chính chúng là niềm vui , hạnh phúc và hy vọng…mà anh có được trong cuộc hôn nhân này !

 oOo

- Ôi trời ơi, hơn mười một giờ rồi mà ông còn ngồi xem “phim séc” à ? Tôi họp hội đồng giờ mới xong mà ông không chợ không búa thì trưa nay ăn cái gì? Đàn ông người ta sao hay ho, đàn ông mình thật chán hết chổ nói, ai đời đi dạy hơn hai chục năm mà chỉ được cái chức tổ trưởng bộ môn. Thật xấu hổ !

Cô Tuyến túm sợi dây điện giựt một phát, chiếc máy vi tính tắt phụp, ba cái đề thi học kỳ hai của khối 10, 11, 12 anh soạn cả buổi sáng chưa kịp “save”, biến luôn !

Cô Tuyến lên chức thật nhanh, mới ngày nào chân ướt chân ráo từ ngoài Nghệ An vào với cái bằng 9+1, Hai đợt học Bổ túc và Đại học từ xa, cô đã có bằng Đại Học, mức lương cao hơn Khiên nhờ chức vụ , cô làm Hiệu Trưởng trường phổ thông cơ sở mười hai năm nay rồi ! Đang mon men cái chức phó phòng Giáo Dục ! Cô thường đi họp với lão Tân, Thường trực huyện, có khi gần sáng mới về đến nhà !

-Dạy với dỗ, ngày nhà giáo mà chẵng ai thèm quan tâm cho cục xà bông đừng nói chi đến cái áo sơ mi ! Không có tôi thì cái nhà này chết đói !

-Đi dạy không xong thì làm kinh doanh buôn bán đi cho vợ con nhờ. Thằng Thạnh không có chữ đui nào, học không hết lớp ba mà buôn gỗ giàu có, xe này xế nọ. Con vợ cứ phổng phao càng ngày càng trẻ đẹp…Ông không nhìn qua cho tui nhờ !

Không biết họp Hội đồng sáng nay có chuyện gì không! Nhưng những khi không họp, cũng đều thế cả…Về nhà thấy chồng là la hét!

Hôm nay thứ năm, sáng nay anh đã đưa hai con về ngoại từ sớm, tranh thủ ra đề thi.

-Hai đứa về ngoại rồi, ăn tạm cái gì cũng được mà !

-Ăn tạm, ăn tạm cái gì là cái gì ? Tui mệt ăn không nổi. Kiểm tra với kiểm trẻ, phòng với phiếc, cứ quay như con vụ… Anh đi mua cho tôi bát phở !

Khiên mặc áo, dắt xe đi…

 oOo

Chuyện chức quyền của Khiên kể ra cũng chậm thiệt ! Bản tính anh không biết nịnh nọt, không ngang bướng nhưng lại chuộng cái trung thực. Cái cửa thăng quan tiến chức là phải đảng viên mà anh cứ cảm tình đảng hoài, không kết nạp được. Nghe đâu khi về địa phương của anh sưu tra lý lịch. Cán bộ địa phương cho biết cha anh ngày xưa là Việt gian, đi dạy cho Tây. Gia đình có hai anh là lính ngụy chết trận !

Khiên nhớ tới chuyện của bố mà ngày còn bé anh thường nghe kể. Ông đánh thằng Tây Thanh tra sở học chánh khi hắn về thanh tra trường, thấy một giáo viên bệnh, gục mặt xuống bàn, hắn cho là ngủ gục rồi mắng: “ Các anh là một lũ heo, chỉ ăn và ngủ !”.

Đập thằng Tây xong ông trốn lên Ba Lòng theo Việt Minh . Cái cung cách nhà giáo làm ông không sống nỗi. Bị cho là Trí thức tiểu tư sản, phê bình kiểm thảo thường xuyên… Ông bỏ về lại, bị lính Tây bắt, đập dập phổi, nằm nhà lao hai năm ! Chứng hen suyển theo ông cho đến khi chết. Ngày ông mất, Khiên học lớp sáu, lớp đầu bậc trung học!

Giáo viên toàn trường đều mến anh, học sinh nào cũng quý cũng thương …Khiên vừa giỏi chuyên môn vừa giỏi kiến thức, lại tận tình.

20 tháng 11 hằng năm, từ cái thời bao cấp, còn độc thân, các em đến thăm mang theo quà , khi thì bột ngọt, khi thì mét vãi…Anh đều bắt đem về, không nhận:

-Nhà em nào cũng khổ, đem về, thầy một thân một mình, có tiêu chuẩn rồi…Em nào thương thì cho thầy chậu bông, cây hoa…thầy chưng cho vui mắt, vậy là thầy vui rồi!

Buôn bán ! Những ngày kham khổ vì đã lập gia đình, bao nhiêu đêm anh trằn trọc với ý nghỉ bỏ nghề dạy học, đi buôn gỗ lậu như nhiều người. Nhưng cứ nhớ tới cái cảnh lén lút, bắt bớ, đối đầu với Quản lý thị trường, Thuế vụ, Kiểm lâm…anh ngao ngán ! Họ ngang ngược và hách dịch quá anh không chịu nổi ! Có thầy vừa dạy, vừa buôn gỗ , giàu lên trông thấy. Cũng nhờ cái “mác” Giáo viên , họ năn nỉ ỉ ôi, anh không làm được !

Thời bao cấp qua, anh mua cái máy vi tính, mở cái photocopy. Nào ngờ Công An hoạnh họe ngày đêm. Anh đâu biết in ấn là thuộc quản lý của an ninh ! Chịu nhục nuốt giận, khi cho năm chục ngàn, khi cho trăm ngàn…Gắng gổ vì vốn mua máy móc còn mắc nợ ! Khi nhà trường bắt đầu in ấn các đề thi, bài tập, tài liệu, giáo án …Anh mừng thầm .

Nhưng cái gì cũng có phe có cánh. Thầy Toản phụ trách Công đoàn trường mua ngay cái máy “photo” mới cứng ! In nhanh và đẹp, in luôn cả tài liệu thu nhỏ cho học sinh quay cóp ! Vợ thầy Toản đon đã miệng mồm…Kinh tế nhà thầy Toản lên phới phới. Vừa rồi thay mực thế nào lại bị kẹt giấy, tháo ra thì hư mấy cái “ru lô”. Khiên chẳng buồn sửa ! Thợ Nha Trang vào thay , bét cũng mất triệu bạc !

Cô Tuyến lại có dịp chì chiết anh !

-Sao anh không học nơi người ta mà làm cho tui nhờ, đồ hậu đậu !

 oOo

Từ ngày sự quá quắt của cô Tuyến “leo thang”. Khiên có một cách “trả thù” sau mỗi lần cãi cọ. Nói là trả thù nhưng thực ra, chỉ là trấn an bản thân, xoa dịu cái uất ức trong lòng. Cũng chỉ như cái anh A. Q. của Lỗ Tấn, nhiều lần anh nghỉ vậy ! Cách đó là: Ngồi vào máy thảo đơn ly dị !

Hơn mười năm nay, anh đã viết không biết bao nhiêu tờ…Mỗi lần viết, anh như được bộc bạch cùng ai đó, như tâm sự cùng trang nhật ký ! Mỗi lần viết anh thêm một vài ý, một vài câu chì chiết cho hả dạ. Viết xong , anh đọc đi đọc lại vài lần, có khi để đến cả tuần , chừng nào cơn giận nguôi nguôi anh mới xóa. Xóa chứ không xóa thì làm sao mà gởi cho được, hai đứa con còn dại quá, mỗi lần nghỉ đến chúng, anh rươm rướm nước mắt ! Bấm “đề lét” !

Nhưng rồi cái ngày in tờ đơn ấy ra cũng đến. Cách nay sáu tháng, đứa con út tốt nghiệp Cao đẳng, việc làm tạm ổn nhờ một người bạn sắp xếp dùm…

Trước mặt hai con và cô Tuyến, anh nói ra ý nguyện của mình:

-Ba nói ra với hai con đều này chắc hai con cũng không ngạc nhiên , các con giờ đã lớn, hiểu tất cả những gì các con đã thấy, những gì mà hơn hai chục năm nay ba phải chịu đựng. Giờ hai đứa đã ổn, chuyện vợ chuyện chồng hai con sau này tính sau, ba hết nhẫn nại rồi. Ba ly hôn !

Cả ba sửng sốt.Họ tưởng Khiên sau bấy nhiêu năm chịu đựng, đã thành kẻ nhu nhược, khiếp hãi trước cô Tuyến !

Hôm ra tòa,chánh án là một học trò cũ , Nghiêm giọng hỏi:

- Cô có muốn hòa giải không ?

- Tôi không muốn , thưa tòa !

- Thầy thì sao?

- Em ạ… ( những người có mặt tại tòa hôm đó cùng cười ồ khi Khiên cứ như nói với học trò!) Tôi xin lỗi !Thưa tòa, tòa hãy giải thoát dùm tôi. Không, tôi đã cố gắng hơn hai mươi năm nay, quá đủ rồi thưa tòa !

Tòa xử thật nhanh vì anh không màng gì đến tài sản.

Nhớ đền giờ phút tòa tuyên bố, “Thuận theo đơn ly hôn của hai người…Chiếu theo luật…” Anh sung sướng đến không còn nghe gì nữa!

Ánh nắng mai vừa xuyên qua giàn bông giấy, lọt xuống làm lỗ chỗ khoảng hiên, nơi căn phòng ngày xưa anh từng ở. Khiên nhấp thêm ngụm trà, anh vẫn đang trong cảm giác lâng lâng, thanh thản, yên bình .

 Ninh Thuận, 06 tháng VII, năm 2013.


TRẠCH AN TRẦN HỮU HỘI
READ MORE - Truyện ngắn NHỮNG TỜ ĐƠN LY HÔN - Trạch An Trần Hữu Hội

THUYỀN ĐÀ ĐẬU BẾN SÔNG HƯU - Trường Hải Lê Văn Đông






THUYỀN ĐÀ ĐẬU BẾN SÔNG HƯU
( Viết nhân ngày Người cao tuổi 1/10/2013)


Đời người qua mấy chặng rồi,
Vui thời thơ ấu, đẹp thời thanh niên!
Tuổi trẻ học hành cần chuyên,
Trải dài năm tháng giáo viên giữ nghề!
Ba lăm năm niềm say mê,
Sáu mươi tuổi đến, được về nghỉ ngơi!
Hội Người cao tuổi chào mời,
Sinh hoạt các cụ để đời vui hơn!
Hết thời vượt biển, trèo non,
Tuổi già đậu bến, thuyền con gác chèo!


Đỉnh Sơn, 1/10/2013
Trường Hải Lê Văn Đông
READ MORE - THUYỀN ĐÀ ĐẬU BẾN SÔNG HƯU - Trường Hải Lê Văn Đông

Saturday, September 28, 2013

HOA HỌC TRÒ - Truyện ngắn Trần Hữu Thuần - Kỳ 2

Tác giả Trần Hữu Thuần


(Kỳ 2)

Cha tôi mất rồi, tôi lớn thêm và bắt đầu thắc mắc tại sao cha tôi không ở nhà lo lắng cho mạ  và anh em tôi như cha mấy đứa khác mà  đi đâu ở đâu rồi đột ngột quay về  bệnh hoạn liệt giường để chết mấy tuần sau đó. Thêm vào đó, tại sao mỗi khi không vui, mạ tôi  đều nhìn xa xôi về phía đồng bằng, ôm tôi rồi thủ thỉ vào tai tôi rằng An Đôn không phải là  quê hương chúng tôi mà là tận Phúc Lộc  đâu đó ở hướng mặt trời mọc, ở “dưới đó.” Tôi hỏi tại sao lại lên ở đây, mạ tôi nói đã dìu dắt anh chị tôi và bế tôi lên An Đôn này sau trận lụt “Mậu Thìn” khi tôi mới được ba tháng tuổi. Lúc đó, tôi nghĩ lí do đưa chúng tôi đến đây chính tại quê tôi bị lụt tàn phá. Khi lớn hơn một chút, tôi tìm hiểu và biết lụt Mậu Thìn năm 1928 triều Bảo Đại thứ ba, cũng là năm tôi chào đời, chẳng phải là trận lụt gây thiệt hại miền Trung nhiều đến độ cha mạ tôi phải bỏ xứ ra đi. So với các trận lụt năm Thìn trước đó như Giáp Thìn 1844, Giáp Thìn 1904, và sau đó Nhâm Thìn 1952, và Giáp Thìn 1964, lụt Mậu Thìn 1928 tàn phá khủng khiếp ở Miền Nam nhưng vẫn chỉ là trận lụt như bao nhiêu trận lụt khác hàng năm ở quê hương tôi. Vùng đồng bằng miền Trung dọc bờ biển, mỗi năm hứng chịu năm sáu trận bão lụt là chuyện bình thường. Lí do nào ở đàng sau để cha mạ tôi phải bồng bế anh chị em tôi bỏ đồng bằng Phúc Lộc lên đất An Đôn rừng rú này? Mỗi khi tôi hỏi đến, mạ tôi đều tìm cách né tránh không trả lời. Một hôm, dẫn tôi ra đầu hè, chị đầu của tôi bảo tôi:

“Mi muốn biết cha đi mô và tại răng gia đình mình lên chỗ ni lắm, phải không?”

Tôi nhìn chị:

“Bộ chị biết?”

Chị cười:

“Trong nhà ni, tau không biết thì ai biết? Tau lớn hơn mi hơn chục tuổi.”

“Biết răng lâu ni chị không cho em biết?”

Chị  cười:

“Mi nhỏ chút xíu mần răng mà nói cho mi hiểu được?”

“Rứa chừ em hiểu được chưa?”

“Được rồi, mi hiểu răng thì hiểu. Quê mình ở Phúc Lộc, Triệu Phong, mi biết chỗ mô không?”

“Không, răng mà em biết được? Chị biết?”

“Tau biết, tau lớn lên dưới đó.”

Cha tôi gốc Phúc Lộc, mạ tôi gốc Nhu Lí. Cha mạ  tôi sở dĩ bồng bế anh chị tôi và  tôi lên An Đôn này chẳng phải để tránh lụt Mậu Thìn mà chỉ là cái cớ để ra đi không gây chú ý. Cha tôi phải trốn chạy vì đang theo một “hội kín” mà cả mạ cả anh chị tôi đều chẳng biết là hội gì, ngoại trừ đó là một tổ chức chống Tây thời đó. Đến tuổi trưởng thành, tôi nghĩ cha tôi theo Việt Minh. Thời đó, người yêu nước muốn quê hương thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp đều theo một tổ chức chống Pháp nào đó, của Phan Bội Châu, của Cường Để, của Phan Châu Trinh, của Huỳnh Thúc Kháng. Cuối cùng, nhiều người theo Việt Minh vì đó là tổ chức duy nhất có lực lượng vũ trang để chống Pháp. Có người đã tố cáo cha tôi nhưng Pháp chưa bắt mà chỉ cho người theo dõi, có lẽ để tìm đủ bằng chứng hoặc cũng có lẽ để tóm trọn ổ. Thêm vào đó, cha tôi còn “phạm” tội nấu rượu lậu. Thời đó, thực dân Pháp cho phép hãng Sica độc quyền nấu rượu, ai nấu rượu lậu sẽ bị gán tội chính trị, bị tù đày tan nhà nát cửa. Tuần tra lí trưởng chỉ cần bắt được ngoài ruộng ngoài vườn của ai đó một hũ “hèm” tức gạo đang ủ men là đủ bằng chứng buộc chủ ruộng chủ vườn phải chạy chọt tan nhà nát cửa hoặc phải đi tù mọt gông mà chẳng cần xét đến lí lẽ ngoài ruộng ngoài vườn ai vào ai ra cũng được. Biết đã bị lộ, cha tôi muốn đã nuôi ý nghĩ bỏ làng ra đi và trận lụt là lí do chính đáng để cha tôi thực hiện ý định. Sau trận lụt, cha tôi hái các trái bí rất to mà ông đã trồng chia cho bà con, rồi dắt díu vợ con lên An Đôn tá túc gần người chị của mạ tôi, viện cớ An Đôn là vùng rừng núi đất cao không còn sợ lụt lội. Lên An Đôn, gia đình tôi tiếp tục nghề nấu rượu lậu. Tránh bị phát giác, cha mạ tôi nấu rượu ban đêm trong rừng và trữ rượu trong các hang hốc. Chẳng may, không làm sao che đậy hết được ánh lửa bập bùng ban đêm, cha tôi bị phát giác và bị bắt. Tại nhà tù, cha tôi bị phát giác thêm tội đã theo “hội kín” nên bị đày đi Lao Bảo, một trại tù ở ngã ba biên giới, nơi hùm beo và muỗi sốt rét đầy tràn. Cha tôi được tha về để chết mấy tuần sau đó là do đã bị bệnh “nước độc” tức sốt rét rừng, sau thời gian nằm nhà thương điều trị không kết quả.

Cái không may đó của cha tôi và của gia đình tôi lại là cơ duyên đưa tôi đến với Nguyệt, đến với tình bạn và tình cảm thơ dại để lại dấu ấn suốt đời tôi. Vườn nhà tôi liền với vườn nhà Nguyệt. Nói là vườn nhà tôi nhưng không thực sự là của gia đình tôi mà của chủ vườn. Mạ tôi không hề cho tôi biết vì lí do nào, chủ vườn cho gia đình tôi cất một ngôi nhà nhỏ trong vườn để ở tạm với nhiệm vụ trông coi vườn cho ông ấy. Phần vườn mênh mông được trồng đủ loại cây ăn trái mà gia đình tôi được phép ăn hoặc biếu hàng xóm chút ít nhưng không được phép bán. Khi cần, chủ vườn mướn người đến chăm sóc vườn cây. Đến mùa, ông cho người thu hoạch trái đem bán. Phần đất trống chung quanh nhà chúng tôi, mạ và các anh chị lớn của tôi đã trồng thêm rau ráng và vài loại cây quen thuộc mà hầu như bất cứ gia đình thôn quê nào thời đó cũng trồng chung quanh nhà. Bên phải nhà, cạnh bếp là một cây trà. Hàng ngày, mạ hoặc các chị tôi ra hái một nắm lá đem vào rửa sơ rồi khoanh lại cho vào nồi đất nấu sôi thành nước “chè.” Nước mới nấu rót ra tô, loại tô đựng canh hoặc ăn phở bây giờ, màu vàng nhạt đậm một chút hơn màu rượu chát trắng, gần với màu mật ong hoặc màu hổ phách, thơm phưng phức. Có người khi rót nâng cao vòi ấm cho nước chảy mạnh xuống tô sủi bọt, bọt “đứng” càng lâu, nước trà càng đậm càng ngon. Sáng thức dậy, đàn ông thường uống một tô lớn như vậy trước hoặc sau bữa ăn sáng, thêm chút đường phèn là tuyệt vời. Đàn bà, con gái, và trẻ em chỉ uống bằng chén, sau khi ăn cơm, không mấy ai uống sáng sớm như đàn ông. Nước chè nấu đi nấu lại trong nồi không còn màu vàng trong như nước đầu nữa mà đã biến thành màu vàng nâu. Sát bên cây trà là cây chanh cho trái để pha nước mắm, làm nước chanh, cho lá để gói thịt gà khi thích, con gà cục tác lá chanh. Sau nhà là bụi chuối Mốc, chuối Xanh, chuối Sứ. Chuối Sứ trái nhiều hột, chỉ ăn non làm rau ghém với khế, lá dùng gói bánh chưng bánh tét, gói nem, gói tré. Cạnh bụi chuối thế nào cũng phải có mấy luống thơm mà có nơi gọi là dứa hoặc khóm, mấy bụi ớt, mấy bụi rau húng quế, một vạt húng đất, mấy cây cà trắng, cá tím, và cà chua theo mùa.

Nhưng, không cây nào hấp dẫn trẻ con nói chung, Nguyệt và  tôi nói riêng, cho bằng mấy cây ổi. Miền Trung thời  đó chưa thấy có loại ổi xá lị trái to như trái đu đủ ở miền Nam mà  chỉ có loại ổi sẻ, cây mọc cao vút lên với cành tỏa vươn dài ra. Cây ổi sẻ ít lá nhưng sai trái khi đến mùa. Ổi có hai loại, ổi “nếp” và ỏi “tẻ.” Ổi “nếp” vỏ mỏng trơn tru, cơm màu trắng, ít hột. Ổi “tẻ” vỏ sần sù, cơm màu đỏ, nhiều hột. Cả hai loại, hột đều rất cứng, khó tiêu hóa được. Nhiều vườn ổi chẳng do người trồng mà mọc lên từ hột do chim phóng uế ra. Đến mùa, hương ổi chín thơm ngát mời mọc trẻ em và lũ chim chóc dơi chuột. Mùa không trái, cành ổi dẻo dai là nơi cho đám con trai bạo dạn như tôi trèo lên cành làm “xiếc.” Tôi men cành ra chỗ xa nhất, ngồi vắt vẻo đù đưa theo gió, rồi nhún nhẩy cho cành đong đưa “bay” từ phía này sang phía khác giống như loài khỉ loài vượn, chỉ khác không buông cành này bay qua cành khác. Dưới gốc cây, Nguyệt hoảng hốt la lớn:
“Coi chừng anh, gãy cành bây chừ.”

Cành ổi chưa lần nào gảy để gây tai nạn cho tôi, không biết vì may mắn hoặc vì tôi chẳng nặng nề gì đáng kể so với độ dẻo dai của nó. Dẫu vậy, thấy tôi càng “bay” càng hăng, Nguyệt gắt lên:

“Anh có xuống liền không? Em về đây nè.”

Thấy Nguyệt đang long lanh nước mắt, tôi vội vàng tụt cây leo xuống, không phải vì sợ nguy hiểm mà vì không đành lòng nhìn thấy những giọt nước mắt trên đôi mắt Nguyệt. Tôi không hiểu sợi dây vô hình nào cột chặt hai đứa chúng tôi vào nhau như hình với bóng. Vắng tôi, Nguyệt đi tìm. Vắng Nguyệt, tôi buồn chẳng thiết làm điều gì khác kể cả đá dế, trò chơi mà tôi có thể lao theo quên ăn quên ngủ. Bạn gọi đi đá dế, không có Nguyệt, tôi không đi. Bạn gọi đi bắt dế, không có Nguyệt, tôi không đi. Ngược lại, để tôi vui, dù không thích chơi dế, Nguyệt sẵn sàng bắt dế cho tôi vì nhanh nhẹn hơn tôi rất nhiều. Có lần, chẳng biết do ai thách đố, tôi xuống tận thị xã Quảng Trị đá dế thi. Nguyệt theo tôi đi bộ từ An Đôn xuống thị xã. Đường đất xa tít mù. Từ An Đôn, hai đứa lội bộ mấy cây số xuống đến cầu Ga. Quốc lộ 1 lúc đó chưa phát triển vì chưa có nhiều nhu cầu cho xe cộ lưu thông. Xe trên đường phần lớn là “công-voa” nhà binh Pháp, mỗi tháng vài lần xe tải của hãng Trương Công Huynh đệ chở hàng từ Huế ra Quảng Trị Quảng Bình. Vì thế, mặc dù xe vẫn chạy qua cầu Ga, cầu chủ yếu dành cho xe lửa nên ván sàn được lót thưa nhau. Xe đạp phải dắt qua. Đi bộ phải nhìn chằm chặp xuống chân, sợ lọt chân rơi xuống sông. Con trai bặm trợn như tôi không thấy gì, con gái nhát gan như Nguyệt, bước hân lọng cọng, mặt mày tái mét. Qua khỏi cầu rẽ trái lội bộ thêm một đỗi xa nữa là đến thị xã. Tôi tinh nghịch hỏi nguyệt:

“Em theo anh đi xa như ri vì thích đá dế rồi phải không?”

Nguyệt ngúng nguẩy trả lời:

“Không thích, em vẫn không thích.”

“Không thích răng theo anh làm chi cho mỏi chân?”

Nguyệt hứ một tiếng:

“Thì em nói rồi, em muốn gần anh cho anh vui.”

(Còn tiếp)

Trần Hữu Thuần


READ MORE - HOA HỌC TRÒ - Truyện ngắn Trần Hữu Thuần - Kỳ 2