Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, April 27, 2012

Huy Uyên - GỞI TÌNH VỀ Ô LÂU


Khi bỏ sông đi chiều tê tái
Em ngồi soi bóng nước qua mau
Tình anh nở rộ theo lòng rạch
Để lại riêng em ngẩn ngơ sầu

Thôi đò buồn bả quay về xóm
Với dáng tay ai vẫy hẹn hò
Mưa tháng mười giăng mù trên tóc
Em hai mắt buồn như se xưa

Ra đi một không lời quay lại
Giữa đoạn sông chiều tim vấn vương
Gặp nhau để một đời nuối tiếc
Để lạnh hơi người bước chân sương

Thôi Huyền xưa Huyền xưa yêu dấu
Giữa trưa vẽ hai má em hồng
Tình anh chín tím mùa hoa gạo
Gió lạnh qua hồn mãi vấn vương

Thôi Huyền xưa Huyền xưa yêu dấu
Anh gởi về lòng hạ-lý xưa
Bao năm phiêu lảng đời dâu bể
Dễ biết khi nao buổi quay về.

Huy Uyên

lesinh.lesinh@yahoo.com
0903 583 673 

Ảnh: Một cảnh bên sông Ô Lâu
READ MORE - Huy Uyên - GỞI TÌNH VỀ Ô LÂU

NGỤP LẶN TRONG CƠ CỰC - Truyện ngắn Trương Nguyễn

Sáng nay cũng như mọi khi, sau lúc tập thể dục xong, tôi  ra quán cà phê cùng với một số bạn bè quen thuộc, nhưng vừa nhấp một ngụm tôi đã rùng mình khi chợt nhớ đến một người đã ám ảnh tôi suốt một thời gian dài, cho mãi tới giờ này...

Ông ấy người cao to, da ngăm đen, đôi mắt đỏ ngầu như những người thường uống rượu. Ông ta là một kẻ cho vay nặng lãi, hầu hết những ai khó khăn trong thị trấn này cũng có một lần qua tay ông. Có kẻ mất nhà, mất đất vì “sổ đỏ” vào tay ông quá lâu, tiền lãi ngập lên tiền vốn. Số phận của tôi cũng đang nằm trong tay người đàn ông này: Hôm qua bà xã tôi chạy mượn được một triệu đồng đem trả bớt cho ông ấy nhưng vì không đồng tình nên cãi vã nhau một trận không kết thúc.


Trước đây con tôi phải nằm Bệnh viện Chợ Rẫy ở thành phố, chỉ nằm chữa chạy trong một tháng mà đã tốn hết năm mươi triệu đồng. Từ đó gia đình tôi lâm vào cảnh nghèo túng, nợ nần. Nhờ có người giới thiệu, tôi đến nhà ông ấy vay mượn bốn mươi triệu đồng với lãi suất 5%. Sau bốn tháng rưỡi tôi trả ông ấy hết 9 triệu tiền lãi và đồng thời phải bán miếng đất cạnh nhà để thanh toán, nhưng thời vận càng xui xẻo, thị trường bất động sản bị “giậm chân tại chỗ”, nên đành bán đổ bán tháo. Tôi mượn được của chủ chịu mua miếng đất của tôi 35 triệu đem lên trả cho ông ấy và còn thiếu lại 6 triệu, mục đích để lấy lại được thẻ chủ quyền đất về giao cho chủ mua; nhưng ông ấy không chịu, bắt tôi làm giấy mượn 6 triệu mới trả thẻ chủ quyền.


Cứ thế, hơn hai mươi năm qua tôi như một kẻ mộng du giữa thực tại đau buồn. Người ta nhìn bề ngoài thì thấy tôi là một thầy giáo, nhưng thực ra cả đời tôi chỉ là một trang thơ viết dở, mang tâm sự u buồn của một kẻ nửa thầy nửa thợ, cam chịu mọi nỗi đau mà cuộc sống đã mang đến cho tôi.


Cả thị trấn này ai cũng rùng mình khi nghe những tai ương luôn trút xuống gia đình tôi, lúc nghe người này tai nạn, lúc kẻ kia ốm đau, đề bảng bán nhà hoặc sang quán... Đến bây giờ gia đình tôi chỉ còn 113m2 đất và một căn nhà, thì Nhà nước lại cấp nhầm vào một thẻ chủ quyền của nhà kế bên! Đã nhiều lần làm đơn cứu xét gởi lên Ủy ban thị trấn, hơn 5 năm trôi qua mà chẳng có chút tin tức gì. Tôi đành âm thầm chịu đựng, bởi “đồng tiền nợ cắt cổ” là một bóng mây đen luôn phủ chụp xuống gia đình tôi như một cơn đại dịch.


Tôi cứ coi đó là một thứ nghiệp báo mà từ kiếp trước nào đó đã gây ra. Tôi chỉ biết lao vào cuộc sống như một mũi tên, đi làm công tác từ thiện, làm người dẫn chương trình, làm báo, làm thơ..., làm bất cứ việc nào run rủi tới với tôi; và luôn trong tâm tưởng cứ ước mơ một ngày nào đó gia đình tôi mỗi lúc một nhẹ nhàng hơn…


Thực ra đã 50 năm trôi qua, tôi cứ tự vấn trong mỗi ngày, đời “mình đi đâu, làm gì?”, kiếp nhân sinh mãi mãi là một ẩn ngữ chưa có lời giải đáp. Đôi khi nhìn mọi người xung quanh, tôi vô cùng hổ thẹn. Duy chỉ có điều tôi vẫn hãnh diện là thủy chung tôi chưa từng mở miệng nói ra một lời cay độc nào đối với ai. Vậy nên gia đình tôi vẫn có những ngày đằm thắm yêu thương. Tôi có một người vợ dịu dàng, mấy đứa con biết yêu cha, mến mẹ và cảm thông cho sự thiếu thốn của gia đình nên chẳng đứa nào vòi vĩnh, mà đứa nào cũng lao vào công ăn việc làm nuôi sống gia đình. Thực ra giữa thời buổi kinh tế thị trường này, sức vóc tài năng của chúng cũng có hạn, chỉ vừa đủ trang trải cho đời sống riêng tư của chúng, chứ thường xuyên có đâu mà bao đồng lo cho cha cho mẹ?


Tôi đã trả dần cho ông ấy được 3 triệu đồng. Hôm qua vợ tôi lên thưa chuyện, thì vợ chồng ông ấy trả lời: Anh ấy mượn tôi 6 triệu đến bây giờ là hơn một năm, tiền lãi là 6,2 triệu, và cộng lại tất cả là mười hai triệu hai trăm ngàn. Vợ tôi choáng váng mặt mày, ú ớ không nói gì thêm được nữa. Lúc ấy trong tay vợ tôi chỉ cầm đi có 1 triệu mà hai lần trước đã trả hết được 2 triệu.


Vợ tôi lên tiếng: “cháo húp quanh, nợ trả lần”, gia đình tôi khó khăn nên thiếu anh chị giờ chưa có đủ thì xin trả tiền vốn, còn tiền lãi sau này làm ăn có gì thì trả thêm. Ông ấy lắc đầu nguầy nguậy: Chị về lấy thêm 3 triệu lên trả hết cho tôi, không có tiền lời cũng được.


Tôi cay đắng khi nhận ra rằng: Trong xã hội đối với những người sa cơ thất thế lâm vào cảnh túng thiếu như tôi thì, “nơi dễ vay lại là nơi khó trả nhất”. Nhưng tôi vẫn tâm nguyện là mình phải luôn đứng lên trên đôi chân của mình, tự vươn tới bằng những ước mơ thầm lặng, làm một điều gì đó, dù nhỏ nhặt nhất, chính là đem niềm vui tới cho mọi người.

 TRƯƠNG NGUYỄN


READ MORE - NGỤP LẶN TRONG CƠ CỰC - Truyện ngắn Trương Nguyễn

Thursday, April 26, 2012

Tìm hiểu về bộ máy điều hành làng Hưng Nhơn thời kỳ vua Bảo Đại - Nguyễn Thanh Xuân

Lễ Thanh Minh tại đền Âm Hồn làng Hưng Nhơn - Ảnh Nguyễn Như Khoa

Theo văn bản của Khâm sứ Trung kỳ và vua Bảo Đại qui định bộ máy chức sắc ở làng gồm có:

* Ủy ban Thường trực Hội đồng Kỳ mục: Thành viên ủy ban Thường trực do quy mô của xã mà quy định, với 1 chủ tịch, 1 phó chủ tịch và từ 2 đến 4 uỷ viên cố vấn nếu là xã nhỏ, từ 4 đến 7 uỷ viên nếu là xã vừa, từ 7 đến 10 uỷ viên nếu là xã lớn. Số lượng này do quan tỉnh ấn định sau khi có sự đồng ý của Công sứ Pháp.

Uy ban Thường trực bao gồm Lý trưởng và những nhân vật có chức danh cao nhất trong Hội đồng Kỳ mục, song các viên chức đang làm việc tại công sở của chính quyền bảo hộ và quan lại đương chức của Nam triều không được tham gia ủy ban. Quyền hạn của ủy ban Thường trực là hoạch định mọi công việc của làng xã, như lập ngân sách hành xã, lập sổ thuế thân, thuế điền, tổ chức phân chia công điền công thổ, chỉ đạo việc xây dựng các công trình công ích, xét xử các vụ vi phạm nhỏ về hương ước, kiểm soát hoạt động của các chức dịch, lý hương... ủy ban họp ít nhất mỗi tháng một lần, nguyên tắc và thể thức giống như Hội đồng Kỳ mục.

* Ngũ hương: Về đội ngũ giúp việc ở xã, ủy ban Thường trực Hội đồng Kỳ mục chỉ định người giúp việc cho Lý trưởng, gọi là Ngũ Hương. Đội ngũ Ngũ Hương bao gồm 5 chức vụ: Hương bộ, Hương bản, Hương kiểm, Hương mục và Hương dịch. Mỗi chức đó thi hành một nhiệm vụ nhất định do ủy ban thường trực Hội đồng Kỳ mục xã phân công và giám sát.

- Hương bộ chủ yếu nắm giữ sổ hộ tịch của xã, nắm giữ sổ sách những người phải đóng thuế thân và thuế ruộng đất, sổ sách về công điền, công thổ của xã. Đối với những thôn, ấp, giáp hoặc xóm mà chính quyền cấp tỉnh cho phép lập sổ hộ tịch riêng, chính quyền cấp tỉnh cũng cho phép những nơi đó đặt chức Phó Hương bộ để nắm giữ những việc đó. Phó Hương bộ có thể thay Hương bộ khi người này vắng mặt.


- Hương bản phụ trách về tài chính và tài sản của xã, chịu trách nhiệm việc điều hành thu chi của ngân sách hàng xã và trông nom những tài sản vật chất của xã. Hương bản chỉ được phép quản lý một số tiền mặt không quá 30 đồng (tiền Đông Dương lúc ấy). Nếu quỹ tiền mặt lớn hơn 30 đồng thì số dư đó phải giao cho các nhà giàu có trong xã giữ hộ, những người này do Hội đồng Kỳ mục xã chỉ định, tối thiểu sáu tháng một lần. ủy ban thường trực Hội đồng Kỳ mục không thể giao phó cùng một lúc vào tay những cặp có quan hệ thân tộc như: Chú - cháu, anh - em ruột, cha - con, ông - cháu...

- Hương kiểm chịu trách nhiệm về trật tự, trị an trong xã (dưới quyền Hương kiểm có Trương tuần và Tuần đinh).

- Hương mục phụ trách việc trông nom, bảo vệ xây đắp và sửa chữa các loại đường nằm trong phạm vi xã như đường bộ, đường sông, đường sắt... Do đó Hương mục là người trực tiếp phụ trách việc tuyển người, điều động nhân công đi làm xâu.

- Hương dịch phụ trách việc thông báo cho toàn thể xã dân biết những quyết định của chính quyền cấp trên, những ngày mở hội làng... Ngoài ra Hương dịch còn chịu trách nhiệm về mặt vệ sinh công cộng của xã, về tình trạng sức khỏe của súc vật trong xã.

Đối với Ngũ Hương, Hội đồng Kỳ mục xã lựa chọn trong số dân đinh của xã, tuổi từ 25 đến 50, chưa hề bị can án, và giới thiệu lên chính quyền cấp phủ hoặc huyện. Riêng chức Hương bản phải lựa chọn trong số những người giàu có. Quan phủ hoặc huyện sẽ là người xét duyệt, bổ sung và sau đó phải báo cáo lên quan tỉnh, quan tỉnh sẽ báo cáo lên công sứ Pháp. Trích…

      Ở làng ta, tôi không biết tổ chức Hội đồng kỳ mục chỉ biết lý trưởng và các ông hương (quê ta thường gọi trống không là: chức đến tên) như Lý Sung, kiểm Thâm, bộ Hoàng…

Bộ máy chức sắc làng ta đến năm 1945

Lý trưởng: Nguyễn Đức Sung Thường gọi Lý Sung
Hương bộ: Trần văn Hoàng, thường gọi Bộ Hoàng
Hương kiểm: Nguyễn Đức Thâm, thường gọi Kiểm Thâm
Hương dịch : Lê ngọc Ký, thường gọi Hương Ký
Chức Hương bản, hương mục tôi không nghe là ai. Có thể do làng ta nhỏ nên những phần việc ấy do bốn vị trên kiêm nhiệm, Ai phụ trách đội tuần đinh, đội này mạnh lắm!

Nhìn vào cơ cấu chỉ chừng đó mà đâu vào đấy, xóm làng yên ả. Tôi kể một chuyện: ngày hè nóng nực, ban trưa khoảng 10 giờ đến 2 giờ chiều, có tiếng thanh la đi từng đường trôn: phèng và cứ đều đều mươi bước lại phèng, mươi bước lại phèng, tiếng phèng nhắc dân đề phòng cháy, tuy đã qui định bắt buộc nấu ăn xong phải tưới nước dập tắt lửa. Thật là chu đáo ! Ai phụ trách “văn xã” mà Tết nào cũng đánh đu, cũng dựng rạp cờ chòi bài tới. Trẻ con theo không khí đó và có nhiều trò chơi riêng nữa nên cũng vui hết cỡ.

Lại một chuyện thú vị giửa các vị chức sắc: Hôm đó quan phủ vào làng làm việc xong, các vị tiễn quan đến cuối làng ta để quan về làng An thơ. Trở lại các vị vào quán mụ Càng (mệ Chớ) uống nước. Bọn nhỏ chúng tôi chạy theo xem quan, sau đó cũng theo đứng quanh quán. Ông Kiểm (bố Triều) nói “răng lại nói chuyện tui sai trước mặt quan phủ” Một vị khác trả lời: Để cho quan phủ tin rằng có chuyện sai nho nhỏ mà cũng nói ra. Quan cho là ta không giấu giếm cái sai,mà tui cũng chỉ nói là có một buổi trưa không đánh thanh la.Mà mùa rồi làng ta không có cháy chiếc chi, và bửa ni cũng hết mùa nắng. Các vị cười vui vẽ hể hả. Mụ Càng có vẽ thích và đưa trầu mời tíu tít. Làng xóm thật thanh bình chẳng mấy ai kiện tụng và tù tội. Lúc đó có người dân nào đi “hối lộ” các chức sắc? Xin các bạn thử tìm? E không!

Tôi nhớ được chừng đó là các vị đương chức, còn những vị có chức danh nhưng làm ở thời kỳ nào tôi không rỏ là các ông: Chánh Cử (có phải chánh Tổng), lý Thuỵ, lý Hà (tôi biết nhiệm kỳ ông Lý Thuỵ đến ông Lý Hà đến ông Lý Sung), bộ Thạnh, hương Ngạn, phó Diệu, phó Học (không rỏ Phó Tổng hay phó Lý) …còn hàng thất bát cửu phẩm khá nhiều: Văn giai hay bá hộ tôi cũng không rỏ chỉ nghe người đân gọi: thất Chiểu, thất Cẩn…bát Kế, bát Bệ…cửu Liên (bố tôi), cửu Thái, cửu Trử, cửu Khảm (anh tôi) Cửu Viển, cửu Ký, cửu Kiến, cửu Liễn còn nữa nhưng tôi không nhớ hết…(Quan lại của triều đình được xếp từ nhất phẩm đến cửu phẩm).

Có hai ông: Ông Phòng (võ) Ông Lại (văn), làm đến chức gì, làm ở đâu tôi không rỏ nhưng có bề thế lắm.

Trở lại nói về bộ máy cai trị : đành rằng thời bây giờ “đẻ ra” nhiều việc hơn, bù lại máy móc thiết bị văn phòng, thời đại vi tính, phương tiện đi lại v. v… hiện đại nhưng sao mà nhiều thế, gấp hằng chục lần! Từ Trung ương đến Huyên nơi nào cũng có bộ máy nghiên cứu cải cách hành chính, càng nghiên cứu bộ máy càng cồng kềnh .

*****
(+) Đến năm 1945, người có tên tuổi hơn cả là Tiên chỉ làng ta Trần Văn Lý, nghe đâu ông làm Tổng đốc ba tỉnh ở Nam kỳ.Tôi chưa biết mặt. Năm bà mẹ ông mất (mụ Thừa), đưa thi hài bà từ trong Nam ra, các chức sắc và dân làng lên rước từ trên đường quốc lộ 1, chắc ông có về. Lúc đó tôi chưa ý thức là cần phải biết nên không chú ý tìm. Thế là sau này không có dịp nào nữa.

(+) Không rỏ là ông Trần Văn Lý làm Tổng đốc sao lại còn “ăn ruộng” ở làng với vị trí tiên chỉ ?

Ông Nguyễn Thanh Xuân và ông Lê Diễn - Ảnh Nguyễn Như Khoa

Nguyễn Thanh Xuân
                                            nhuxuan29@gmail.com



READ MORE - Tìm hiểu về bộ máy điều hành làng Hưng Nhơn thời kỳ vua Bảo Đại - Nguyễn Thanh Xuân

Nguyễn Nguyên An - TẶNG HẰNG


Em khắc khoải
Nỗi buồn im nín
Chong ngày đi đơn lẻ một mình
Đêm

Trăng
Một cõi
Một trời
Mênh mông quá
Gió cứ về khuấy động phong ba

Hằng
Gánh mưa
Quẫy ngày đông đi mãi
Nhiêu khê mùa, vụn vỡ yêu thương

Thắp
Trong tim
Lời cầu kinh
Tịnh độ
Nở sen hồng
Xanh thắm
Nửa đời sau

Đốt tháng ngày
Mùa trăng vẫn tỏ
Nghiêng xuống đời hé nụ tình
Bay…



Huế, 25/09/2010
N.N.A

Email: nguyenan009@gmail.
 Tel: 01688971486
READ MORE - Nguyễn Nguyên An - TẶNG HẰNG

40 NĂM RỒI THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ ƠI! - Nguyễn Hồng Trân

Thành cổ Quảng Trị 2008 - Ảnh PhạmVăn Lộc

Ôi quá đau thương khôn xiết!
Mỗi lần nhìn thành cổ Quảng Trị thân yêu.
40 năm rồi bao nhiêu chiến sĩ đã về cõi âm,
Như đang thì thầm trong lòng đất yêu quý.
Và cũng hàng nghìn binh sĩ đang còn sống,
Vẫn dai dẳng mang thương tật đầy mình.
Họ trở về đây gặp nhau thân tình xúc động,
Nước mắt cứ tuôn trào…
Quá thương tiếc đồng đội đã hy sinh.
Nơi miền Trung ác liệt của chiến trường,
Thời nóng bỏng với mưa bom lửa đạn.
Tuổi thanh xuân đã hăng hái lên đường,
Chiến đấu kiên cường đánh giặc Mỹ xâm lăng.
Quyết hy sinh cho dân tộc Việt Nam,
Nối tiếp lửa vinh quang cho Tổ quốc.
Để núi sông đất Việt càng tỏa sáng,
Mãi rạng soi vào tâm khảm thanh niên.
Nhớ 81 ngày đêm thành cổ Quảng Trị kiên cường.
Không ai tiếc máu xương nơi chiến trận.
Để tô thắm màu cờ thiêng liêng của Tổ quốc.
Chúng ta nhớ lời Bác Hồ đã kết đúc:
“Không có gì quý hơn độc lập tự do!”
Cả nước phất cao cờ quyết chiến đấu hy sinh,
Cho đất nước được hòa bình thống nhất.
                            

Dòng Thạch Hãn giờ đây thuyền ghe tấp nập,
Cuộc sống thanh bình vẫn nhớ mãi thời đạn bom.
Từng mảnh đất, khúc sông,
còn thấm máu xương bao anh hùng liệt sĩ.
Cả nước luôn nhớ về chiến trường Quảng Trị,
Nơi vong hồn các chiến sĩ được tôn vinh,
Ánh lửa nến hoa đăng lung linh trên dòng sông lịch sử.
Thắp sáng lên tinh thần bất tử của quân dân mình,
Cho giang sơn đất Việt được hồi sinh vĩnh viễn…
                          
            Phước Vĩnh Huế, năm 2012
READ MORE - 40 NĂM RỒI THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ ƠI! - Nguyễn Hồng Trân

Wednesday, April 25, 2012

QUẢNG TRỊ XƯA: HÌNH ẢNH KHÓ PHAI - Độc Hành


Sáu mốt tuổi đời nhớ chuyện xa
Ôn về QUẢNG TRỊ quê hương ta
Con đường HƯNG ĐẠO ngay lòng phố
Tiệm ảnh LI ĐÔ cạnh chợ nhà
MỸ PHÁT đêm ngày cấp nước đá
LY LY khuya sớm phát kem ra
Quán chè MỸ THỦY bờ sông HÃN
ĐẮC LẬP lò mì cạnh ngã ba.




Quê tôi QUẢNG TRỊ có cầu GA
Sông HÃN đêm trăng quyện ánh ngà
THẤT HOÁN dược tây - từ PHÁP đến
CHƠN THƯỜNG thuốc bắc - nhập TRUNG qua
MỸ HƯƠNG chớp ảnh vang danh phố
NHUẬN KÝ quán ăn nổi tiếng xa
Cỏ nội hương đồng vương vấn mãi
Đời đời vẫn nhớ những nét hoa.




Dấu son QUẢNG TRỊ khắc tim ta
Phố thị ngày xưa năm sáu ba
Giáo lý La Vang cầu thịnh nước
Pháp kinh Tỉnh Hội nguyện an nhà
Bồ Đề ngọn nến - rạng soi rộng
Cây đuốc Nguyễn Hoàng – tỏa sáng xa
Ấn tượng khó phai góc phố cũ
Tuổi thơ nhớ mãi – đến về già.


ĐH
dochanh75@gmail.com
READ MORE - QUẢNG TRỊ XƯA: HÌNH ẢNH KHÓ PHAI - Độc Hành

TẮC ĐƯỜNG - Truyện ngắn Phan Trang Hy

    
      - A lô! Tôi sẽ đến ngay!... Khoảng một giờ nữa, được không?... Ừ, thế nhé!...
      Bỏ điện thoại vào túi quần, hắn nhìn đồng hồ thầm nghĩ: Đi tới chỗ hẹn, khoảng 15 phút là cùng.
      Lại  có tiếng nhạc điện thoại. Nghe điệu nhạc, hắn  biết là vợ đang gọi. Hắn mở máy. “ A lô! ... Ừ! Tối anh sẽ về... Anh biết hôm nay là sinh nhật của em mà! ... Ừ! Sẽ có quà cho vợ yêu của anh”.
      Hắn lại bỏ điện thoại vào túi quần, mỉm cười. Có vợ thì có đủ thứ quan hệ, nhưng cũng thích. Hắn nhẩm tính, trưa nay về, hắn sẽ hôn vợ  mới được. Hơn cả tháng trời tất bật công việc làm ăn, hắn không còn một chút thời gian bên vợ, âu yếm vợ, hắn thấy tội vợ chi lạ. Nhưng, biết làm sao được. Hắn trù tính, nếu sáng nay xong việc, trưa về ăn cơm cùng vợ, sẽ chiều cô ta hết cỡ mới được. Nghĩ vẩn nghĩ vơ thế nào, hắn chạy xe vào chỗ đông người lúc nào chẳng hay. Lại tắc đường. Hắn tự trách mình. Nhưng quay đầu xe lại không được, mà cho xe chạy lên cũng chẳng được. Lại trễ hẹn với đối tác rồi. Hắn lấy điện thoại gọi: “A lô!... Xin lỗi, tôi không thể đến được!... Bị kẹt đường!... 6 giờ chiều ư?... Cũng được”. Hắn vẫn mắc kẹt giữa dòng xe. Nghĩ tức thật. Tự dưng lại vào cái dòng xe mà không có lối đi. Hắn gọi về vợ: “A lô!... Em thông cảm cho anh... Không về được... Bị kẹt xe... Tắc đường... Không có lối ra... Thôi! Tối về, anh đền!...”. Hắn chép miệng, mặt mày bỗng ủ rủ. Vợ hắn đang trách hắn.
      Hắn không ngờ lại tiếp tục lọt vào vòng người. Người trước mặt, người sau lưng. Người bao vây hắn. Hắn cho xe nhích lên từng cm. Chỉ từng cm một. Dù chiếc xe đời mới nổ dòn, êm ru, nhưng dẫu có lên ga cũng chẳng nhích thêm cm nào. Từng bánh xe như muốn dính kết vào nhau. Kể cả người hắn cũng muốn dính vào người trước người sau, kể cả người bên cạnh.
      Từ ngày sắm được chiếc xe mới, hắn những tưởng sẽ đi làm đúng giờ, tưởng sẽ ra người sang trọng. Nhưng, giờ đi làm vẫn trễ. Và trong cái hỗn độn người và xe, xe và người chen chúc, dính kết, hắn cũng chẳng là người sang trọng được. Hắn cũng như mọi người. Cũng lầm rầm chửi đổng. Mà cái miệng muốn chửi thiên hạ thì là người sang được sao? Hắn biết vậy, nhưng không muốn chửi cũng không được.
      Xe vẫn nổ dòn đều, và vận tốc xe vẫn đứng yên trong cơn tắc nghẽn giao thông. Không phải là sự tất bật của nền công nghiệp, cũng không phải là sự tất bật của kẻ đói mưu sinh. Chỉ có những tiếng nổ dòn của những xe, lâu lâu có tiếng còi vu vơ hoà trong tiếng làu bàu bực tức của kẻ trễ việc.
      Có tiếng người. Có tiếng của cô gái nào đó đang gọi điện thoại. Hắn không muốn nghe cũng không được. “Em đang bị kẹt đường. Chờ em tí!... Cứ tắm rửa trước đi!”. Nó quay lại nhìn thử ai đang nói. Chẳng thấy mặt ngắn mặt dài ra sao. Chỉ có chiếc khăn trùm mặt, với đôi kính đen. Trên đầu một chiếc mũ bảo hiểm đúng kiểu. Chẳng biết ai là ai. Giả dụ, người đó là người thân, hắn cũng khó nhận ra.
      Cái thời buổi cũng là lạ. Ra đường, không ai dám chường mặt mình ra cả. Không lẽ không khí ô nhiễm? Hay cái gì đó ô nhiễm? Hay họ sợ nắng, sợ mưa? Sợ cả cái nhìn của người khác? Nhìn ai cũng na ná như nhau. Đột nhiên, hắn nghe tiếng chuông điện thoại. Hắn lấy điện thoại ra nghe. Một bài hát gợi tình. Rồi tiếng nhạc tắt. Hắn nghe bao lần bài nhạc đó. Nhưng chẳng đâu vào đâu. Một thoáng mỉm cười với ý nghĩ thèm tình, thèm đàn bà như thể hắn đang nhấp rượu có chứa chất kích dục. Nhiều lần dự đám cưới, hắn uống chút bia. Hắn có cái cảm giác vững tâm và rồi hắn bô bô cái miệng nói với mấy thằng bạn là hắn rất thích, rất thèm cái khoản ấy. Nói là nói vậy, chứ hắn có dám léng phéng với ai đâu vì sợ để lại hậu quả. Cũng tội cho hắn. Nghĩ tới cái tình trong lúc tắc đường, hắn cho là có vậy để đỡ tức giận vu vơ. Đột nhiên, hắn nghe nhiều tiếng nói ở chung quanh. Nào là giọng lè nhè của một anh chàng có chút cồn trong lời nói: “Đù mẹ! Tắc đường rồi. Tao chẳng về kịp đâu. Mày ở nhà lo cơm nước, đón con chưa?”. Nào là giọng chát chua của một ai đó: “ Mày kẹt đường ở đâu? Bộ mình mày bị tắc đường chắc?”. Và có tiếng phẫn nộ của một thằng: “Mẹ kiếp! Vợ với con!”. Và có tiếng bóp còi, rú ga. Cả đám đông cũng bóp còi, rú ga, và giữ thắng. Tiếng còi, tiếng xe nổ to, nhưng chẳng có chiếc xe nào nhích lên được một tí nào cả. Lần đầu tiên, hắn tức mình và chửi: “Đù mẹ!”. Và bên cạnh hắn vang lên những tiếng chửi đù mẹ, đù má tiên sư thằng chó chết nào làm tắc đường. Đủ giọng chửi. Bắc có, Trung có, Nam có. Đàn ông, đàn bà, con trai, con gái đều chửi cho hả cơn tức tối vì bị tắc đường.
      Tiếng còi ti toe, toe toe, toe toé vang lên. Người càng đông thêm, xe càng đông thêm. Không xe nào chịu nhường cho xe nào. Chỉ có những chiếc xe lấn nhau. Muốn không chen lấn, muốn nhường nhau, cũng chẳng có chỗ tránh để nhường. Chỉ khổ cho những chiếc xe đang bị chủ nhân rồ ga, bóp phanh, đạp thắng, cứ đứng yên một chỗ.
      Hắn lại nhìn đồng hồ. Đã trễ 5 phút. Hắn phải đến nơi hẹn đúng giờ để bàn kế hoạch phát triển, xây dựng công ty. Hắn nghĩ sẽ làm như thế nào đó để đối tác giúp đỡ hắn, cho hắn vay để cứu vãn công ty của hắn. Thường ngày, nếu hắn trễ thì đối tác đã điện rồi. Thế nhưng, lần này trễ 5 phút mà đối tác chẳng điện. Hắn lấy điện thoại gọi bên đối tác: “Tôi chưa đến kịp. Đang bị tắc đường tại ngả tư Lý Thái Tổ - Nguyễn Huệ”. Chỉ cần chạy bộ khoảng 10 phút là hắn có mặt tại nơi hẹn. Thế nhưng, giờ này chạy bộ cũng không được. Trước hắn xe là xe, sau hắn xe là xe, bên phải, bên trái cũng xe là xe. Hắn bị lọt vào cái vòng xe. Hắn gọi tiếp: “ A lô! Tôi đang tìm cách đến đó... Hoãn lại à!... Được thôi... Thế nhé!...”. May mà đối tác của hắn cũng bị tắc đường. Ơ hay! Trong chuyện tắc đường lần này lại may cho hắn. Đối tác lại xin lỗi hắn trước, hẹn gặp hắn ngày kia, và hứa là sẽ giúp hắn đủ tiền nong để thanh toán cuối năm.
      Hắn lại nhìn đồng hồ. Tắc đường hơn cả tiếng đồng hồ rồi. Lạ thật! Không biết cớ sự làm sao mà tắc đường thế? Hắn nhìn quanh xem có chỗ nào trống để nhích xe lên. Không còn một chút chỗ trống nào cả. Kể cả trên vỉa hè cũng đầy xe. Tiếng chửi bới, tiếng còi xe cùng tấu lên khúc nhạc tắc đường. Xe hắn cũng vẫn không nhích lên tí nào.
      Hắn từng dốc tướng với bạn bè là chưa bao giờ hắn trễ hẹn với bất cứ một ai. Chẳng khi nào hắn bị tắc đường quá 15 phút. Bạn bè khen hắn chỉ là kẻ gặp may mới không bị tắc đường. Hắn không chịu là hắn có số may. Hắn chỉ cho hắn là thông minh. Hắn luôn áp dụng cái câu như là phương châm sống của một số người “Đi tắt đón đầu”. Và hắn áp dụng phương châm ấy trong những lúc kẹt xe. Thấy phía trước đông người là hắn tìm đường đi tắt, dù đó là đường kiệt, đường hẽm, dù đó là vỉa hè, hoặc một lối của nhà ai đó.
      Nhiều lần đi cái kiểu chụp giựt đi tắt đón đầu như vậy mà lại trót lọt. Thế là hắn thích thú, nghe sướng cả bụng mỗi khi có ai đó đưa ra cái phương châm “đi tắt đón đầu” trong cuộc sống. Hắn cho những kẻ ấy là bậc trí giả, là kẻ biết thời biết thế, là kẻ xứng tầm vĩ mô v.v...
      Trời lại bắt đầu đổ mưa. Vẫn kẹt xe, vẫn tắc đường. Xe vẫn nổ máy và hắn vẫn giữ ga. Nhìn quanh, hắn thấy mọi người đang chịu trận như hắn. Lại có tiếng chửi thề. Lại có tiếng chép miệng. Rồi tiếng mưa lấn át tất cả. Nước mưa làm cho mọi người bớt bực dọc. Ai cũng lấy tay che đầu, vuốt mặt. Mưa lại mưa...
      Hắn cũng về tới nhà. Trễ hơn ngày thường hơn tiếng rưỡi. May mà vợ hắn thông cảm. Tối hôm đó, hắn tỉ tê cùng vợ chuyện tắc đường, rồi chuyển sang chuyện yêu đương. Cả hai cười nắc nẻ, mừng quýnh. Cớ là vợ hắn tắt kinh hơn 20 ngày. Hắn rờ tay trên bụng vợ. Rồi xoa xoa đầy âu yếm.
      Sau một đêm ngủ bìu bên vợ, hắn cảm thấy thoải mái chi lạ. Sau khi vệ sinh xong, hắn gọi điện bạn hắn. Bạn hắn trả lời vội như mọi khi. Hắn hẹn bạn uống cà phê buổi sáng. Hắn đến quán đúng hẹn. Bạn hắn vẫn chưa đến. Hắn ngẫm nghĩ lại mình. Rất ít khi hắn trễ hẹn. Nhưng cũng có lúc hắn bị trễ vì tắc đường, kẹt xe. Rồi trễ hẹn. Ở cái xứ sở này, việc trễ giờ trở thành điều không thể tránh. Ban đầu thấy ai đó trễ giờ là hắn thấy bực bội trong lòng. Nhưng rồi hắn phải chấp nhận, như người bị bệnh không có thuốc chữa. Và rồi hắn trở thành kẻ lạc lỏng khi là người đi đúng giờ trong các cuộc họp, cũng như trong những lần hẹn với ai đó. Đôi khi hắn cố tình đến trễ trong các cuộc họp, nhưng mọi người chẳng nói gì vì họ chẳng hơn gì hắn trong việc đảm bảo giờ giấc. Hoặc giả, hắn lấy lí do tắc đường ra phân trần thì mọi người cười ra chiều thông cảm.
      Đang thưởng thức li cà phê nóng. Hắn nhìn phố xá. Qua cơn mưa khi hôm, cảnh hôm nay như được lau sạch những bụi bặm, những ồn ào. Chỉ có làn gió dịu nhẹ, cây lá như muốn làm duyên trong ngày mới. Hắn thấy bình yên chi lạ! Ước gì cuộc sống yên bình như sáng nay thì tuyệt biết mấy! Đang thả hồn theo mơ mộng, hắn nghe tiếng chào của bạn. Hắn cười, đưa mắt nhìn đồng hồ như ngầm báo cho bạn hắn biết đã trễ hơn 15 phút.
      Cô chủ quán mang cà phê đặt lên bàn. Bạn hắn bưng li cà phê uống nhè nhẹ. Hắn cùng bạn nói đủ chuyện. Rồi đến chuyện tắc đường hôm qua. Bạn hắn nhếch môi, bực tức: “Dễ gì hết nạn tắc đường”. Nghe bạn nói thế, hắn không tranh cãi. Bạn hắn nói chuyện thực kia mà. Bỗng bên tai hắn có tiếng mời mua báo. Sau khi trả tiền mua báo xong, hắn lật lật từng trang  báo. Hắn có cái tật thường coi những tít. Còn nội dung thì hắn không xem. Trừ những tin đặc biệt nóng sốt. Vì quanh đi quẩn lại cũng từng ấy thứ, cũng từng ấy tin, từ tin trong nước đến tin quốc tế. Hắn mua báo để tỏ vẻ ta đây là người biết quan tâm thời cuộc, để trang sức cho gương mặt có chữ của hắn.
      Đang lật lật tờ báo, có một tít báo đập vào mắt hắn. Bạn hắn cũng đang xem ké. Cả hai không thể không xem. Vì bài báo đưa tin chuyện tắc đường hôm qua ở thành phố hắn ở. Cả hai cùng thốt lên sau khi đọc xong: “Trời ơi! Chỉ tại cái đám ma quan lớn!”.
      Hắn nhìn ra đường. Hôm nay, đường phố thông thoáng thật.
     
Tháng 2 – 2012
Phan Trang Hy
phantranghy@gmail.com
Đt: 0935484482 
READ MORE - TẮC ĐƯỜNG - Truyện ngắn Phan Trang Hy

Tuesday, April 24, 2012

MAI ANH VỀ - Thơ Nguyễn Quý

Đồng lúa làng Lệ Xuyên - Ảnh Lê Đức Dục

mai anh về Bồ Bản
gió lạnh tái tê người
mùa xuân kìa: đến rồi
sao vẫn còn băng giá
những đoạn đường anh qua
em vương hồn trong gió
anh ngẫn ngơ ngẫn ngơ
em ở đâu đợi chờ
sao em không lên tiếng...

mai anh về Lệ Xuyên
tìm em mà ngã nghiêng
đông vẫn còn xào xạc
mắt buồn nghe lác đác
lá rơi chiều úa tàn
em còn ở xa ngàn
tình anh chưa với được.

mai anh về sơn cước
ghé phố núi Khe Sanh
ghé thăm em nhỏ hiền
nhìn anh đôi mắt biếc
tình tưởng còn vẹn nguyên...

mai anh ghé Quảng Điền
em đẹp thuở trinh nguyên
một thời tim anh đã
theo em trọn lời nguyền...

rồi anh ghé Lưỡng Kim
đêm lặng câm lặng câm
sông còn chảy âm thầm
trôi về đâu biển cả
để tình không bến ngả
thế nên đã chia xa.

mai anh ghé Đông Hà
em giữa phố thiết tha
chiếc áo dài trắng xoá
em cười rất mặn mà
anh đi xa đi xa
tình còn không hay đã
về với kiếp băng hà...

thôi anh ghé về nhà
quê anh làng Vĩnh Lại
tìm em em là ai?
đừng để Xuân tê tái
anh xin yêu miệt mài
em cô gái đôi mươi
trong hư vô em cười
anh biết đời thôi đã
dừng chân suốt từ đây??? 

Nguyễn Quý 
quycali@gmail.com
READ MORE - MAI ANH VỀ - Thơ Nguyễn Quý

TÌNH VÀ NGHĨA: CHẤT KEO GẮN CHẶT HÔN NHÂN - Trần Hữu Thuần


Nếu định nghĩa rộng, có lẽ không ai trên cõi đời thoát khỏi hai chữ tình yêu. Đặt định nghĩa tình yêu trong phạm vi rung động giới tính, có lẽ cách này cách khác người nào cũng vướng lưới tình ngay cả các bậc chân tu. Nếu bậc chân tu nào lỡ vướng mà vượt thắng thì thành chân chân tu, còn thua ngã thì thành giả chân tu. Nếu thua cuộc luôn thì từ biệt nhà Chúa nhà Phật, “con về cõi tục con theo tiếng đời.”

Tình yêu giới tính gồm một chủ thể và một khách thể, hoặc có khi nhiều khách thể. Nếu khách thể không biết chủ thể đang để ý đến mình thì gọi là tình đơn phương. Dĩ nhiên đã là đơn phương thì không mong có đáp trả. Nếu không đơn phương, nghĩa là chủ thể cách nào đó cho khách thể biết mình đang “ngắm nghía” đối tượng thì khách thể sẽ có hai thái độ, hoặc chấp nhận hoặc không chấp nhận. Nếu tự ý không chấp nhận, hoặc không thể chấp nhận do trở lực bên ngoài, thì mối tình của hai người thành tình tuyệt vọng:

                Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu
                Mà người gieo thảm như hầu không hay.
(Khái Hưng, Tình tuyệt vọng)

Hai thứ tình đơn phương và tuyệt vọng thường gây đau đớn cho chủ thể, lắm khi đến chủ thể tự hủy hoại bản thân. Tình không thể chấp nhận do trở lực bên ngoài còn gây đau đớn nhiều hơn, cho cả đôi bên chủ cũng như khách thể. Thứ tình đau đớn này thường lại là chủ đề của biết bao bài thơ sầu cảm.

                Em ơi lửa tắt bình khô rượu
                Đời vắng em rồi say với ai.
                (Vũ Hoàng Chương, Đời vắng em rồi say với ai)
                Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
                Ngàn năm chưa dễ đã ai quên.
                 (Thế Lữ, Lời than thở của nàng mĩ thuật)
                Chị ba con
                 Em tìm thấy lá
                Xòe tay phủ mặt chị không nhìn
                Từ thuở ấy
                 Em cầm chiếc lá
                 Đi đầu non cuối bể.
               (Hoàng Cầm, Lá diêu bông)

Nhạc sĩ Vũ Thành An trước khi bước chân lên bàn Thánh lãnh nhận chức Phó tế vĩnh viễn đã sửa lại lời một ca khúc của ông, từ “Con đường em đi đó … đúng hay sai em ơi?” thành “Con đường em đi đó … đúng đấy em ơi!” Điều kỳ lạ không thấy ai bàn tới là, nếu “con đường” “người ấy” đi là đúng thì đâu cần nhạc sĩ phải vất vả ca hát lên làm gì! Phải có cái gì “không đúng” thì nhạc sĩ mới phải đau buồn nhỏ lệ than khóc. Do đó, dù sửa hay không, tâm sự của nhạc sĩ cũng đã quá rõ ràng. Và việc sửa chữa lời ca khúc sau bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống chứng tỏ tận đáy lòng, nhạc sĩ vẫn chưa quên được chuyện cũ người xưa, vẫn “cầm chiếc lá đi đầu non cuối bể” như thi sĩ Hoàng Cầm. Đồng thời, người thưởng ngoạn vẫn không cho chuyện sửa lại là đúng, vì sửa làm sao được một cuộc tình đã đổ vỡ, hốt làm sao được chén nước đã đổ đi? 

Nếu giữa chủ thể và khách thể, hay nhiều khách thể như trường hợp của ông già sáng lập báo Playboy với ba cô tình nhân chưa đáng tuổi con ông, rồi với hai cô khác chỉ đáng tuổi cháu, thỏa thuận trao đổi tình yêu và đi đến hòa hợp chung sống, lại xẩy ra hai trường hợp: chung sống hạnh phúc và không hạnh phúc. Chẳng có vấn đề gì để thảo luận khi cuộc tình chung sống hạnh phúc đến đầu bạc răng long. Có vấn đề để nói đến là ở chỗ tại sao cuộc tình thỏa thuận đến chung sống lại không có hạnh phúc để phải chia tay tan vỡ? Thống kê cho thấy con số li dị của xã hội Mỹ khá cao. Theo tạp chí divorcemagazine.com trên mạng, năm 2005 tại Mĩ đã có 2.230.000 người li dị, tức là 3,6% dân số. Tỉ lệ này giảm xuống so với trước đó, có thể vì tỉ lệ hôn nhân cũng giảm từ 7,8% theo mỗi ngàn người xuống còn 7,5% trong năm đó. Những vụ li dị ầm ĩ nhất thường xẩy ra trong giới tài tử ca sĩ tại Holywood gọi chung là giới celebrities (tài danh), như vụ của Britney Spears, hoặc trong giới chính trị có danh phận, gần đây nhất là của cựu Thống đốc California Schwarzenegger. Tại sao những người tài danh này yêu nhau đắm say đến thế mà khi chia tay nhau cũng đau đớn đến thế? 

Không phải chỉ trong cuộc sống có văn minh mới có tình yêu. Một chương trình về một bộ lạc Nam Mỹ Amazon trên kênh Discovery trình bày một cô dâu tóc xoắn da màu đồng đất mười sáu tuổi cho biết cô bị mẹ cô buộc phải lấy một người anh em con bạn dì ruột ở làng kế cận, trong khi cô đã có người yêu “có thể xem như là chồng” tại quê quán cô. Anh chồng tương lai mười bảy tuổi của cô dâu đó, chẳng yêu thương gì cô em họ anh ta sắp cưới, cũng nói, “Cứ nghe lời mẹ lấy cô ta đi rồi sau này hẵng kiếm người yêu khác!” Như thế cho thấy chuyện yêu đương không phải chỉ là sản phẩm của thế giới văn minh mà có lẽ là căn tính của con người. Khi đến tuổi, hai người khác phái nào đó gặp nhau tự nhiên cảm thấy rung động muốn xáp lại gần nhau. Đó cũng là một đặc tính phân biệt tình yêu con người với việc truyền giống của các loài khác. Tình yêu của con người không hoàn toàn chỉ để truyền giống. Nó là một sự rung động mà không ai định nghĩa được, như câu thơ của Xuân Diệu, quen thuộc trở thành gần như ca dao, Làm sao định nghĩa được tình yêu.

Trong các ngôn ngữ mà tôi được biết, có lẽ không có từ ngữ nào nói đến sự tương quan giữa hai người yêu nhau và chung sống với nhau chứa đựng nhiều ý nghĩa cho bằng cụm từ tình nghĩa vợ chồng của tiếng Việt chúng ta. Tình là tình yêu đôi lứa; nghĩa là nghĩa vợ chồng. Hai thứ tình và nghĩa trộn lẫn lại làm thành phân bón, làm thành lương thực nuôi sống cuộc sống hôn nhân. Hôn nhân không tình yêu không thực sự là hôn nhân vì đã thiếu yếu tố không thể thay thế khi tuyên lời hôn ước: yếu tố tự do. Nếu có tự do, không hai người nào chẳng hề có chút tình ý với nhau lại có thể thành hôn với nhau. Nếu thành hôn không vì tình yêu, chắc chắn cuộc hôn phối đó chỉ vì một lí do nào khác: tư lợi, tiền bạc, cưỡng bức vv. Những cuộc hôn nhân cưỡng ép ngày xưa, và bây giờ thỉnh thoảng vẫn còn, có thể tồn tại vì những ràng buộc khác: tai tiếng như khi có thai với nhau ngoài chủ ý, uy thế của gia đình đôi bên, uy lực của xóm làng vv. Không có những ràng buộc ngoại tại đó, chắc chắn người ở phía bị cưỡng bức sẽ vùng thoát khỏi cuộc hôn nhân ngay từ lúc ban đầu. 

Hôn nhân giữa đối thể và khách thể trong văn hóa Việt Nam chúng ta như thế khởi đầu bằng “tình” và gắn bó bằng “nghĩa.” Nàng Kiều khi phải bán mình chuộc cha biết “tình” nàng với chàng Kim giờ đây đã dứt, chỉ còn lại chút “nghĩa” cũng phải phụ phàng, nên đã nhờ cha nàng trả nghĩa:

                Lậy thôi, nàng lại thưa chiềng,
Nhờ cha trả được nghĩa chàng cho xuôi.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Chút “nghĩa” đó chính là nét đặc trưng trong nền văn hóa dân tộc chúng ta. Cha mẹ chúng ta thường khuyên bảo con cái, “Vợ chồng sống với nhau phải có tình có nghĩa.” Khi bình thường, an vui cũng như sầu khổ, vợ chồng sống với nhau bằng “tình.” Khi một trong hai người bệnh hoạn tai ương, hoặc gây nên lầm lỗi, nếu tình yêu phôi pha hoặc không còn nữa, vợ chồng vẫn sống bên nhau bằng “nghĩa.” Nói cách khác, tình là phần việc của con tim, nghĩa là phần việc của lí trí. Con tim và lí trí đi chung với nhau để cuộc sống vợ chồng bền chặt. Cũng vì thế, mức độ li dị ngày trước trong hôn nhân Việt Nam gần như không có. Người chồng có thể hời hợt khi gặp người vợ không như ý bằng cách chung chạ với người khác, vợ lẽ nàng hầu, nhưng vẫn không bỏ bê người vợ đang làm buồn lòng mình. Người vợ khi gặp phải chồng không ưng ý, vẫn sống chung trong một mái nhà, cho dẫu nhiều khi không còn chung chăn chung gối, để gia đình không bị đổ vỡ, nhờ vào chút “nghĩa phu thê.”

                Chàng ơi phụ thiếp làm chi,
                Thiếp là cơm nguội để khi đói lòng.
(Ca dao)

Tình nghĩa vợ chồng Việt Nam là thế đó. Người vợ bị chồng bỏ bê, mang lấy chút nghĩa cùng chồng, đành cam chịu số phận làm “cơm nguội” chỉ để chờ khi chồng “đói lòng” ngó ngàng đến. Dĩ nhiên, trong thời đại nam nữ bình quyền này, không còn ai chấp nhận cực đoan “chồng chúa vợ tôi” này nữa. Thay vào đó, người ta dùng sách lược “ông ăn chả, bà ăn nem,” cũng là một cực đoan khác. Khi một trong hai người của một đôi vợ chồng gây nên bất cứ điều gì không thuận ý cho người kia, hai người hết “tình” nhưng lại không chút ràng buộc nào về “nghĩa” để cùng nhau tìm một bài thuốc dù tạm bợ hầu nuôi dưỡng cuộc sống gia đình. Mà cho dẫu hai người có muốn hòa giải để sống với nhau vì “nghĩa,” xã hội cũng không cho họ có thì giờ suy nghĩ để giải quyết với nhau. Xem trường hợp gần nhất của gia đình vợ chồng Schwarzenegger thì rõ. Khi đổ bể chuyện lăng nhăng của người chồng, truyền thông không để cho người vợ, bà Maria Shriver, kịp thì giờ tính toán chuyện gia đình riêng tư. Báo chí, truyền thanh, truyền hình đã nhao nhao đặt “cày trước trâu,” thi nhau đưa ra câu hỏi liệu họ có đem nhau ra tòa li dị hay không? Chẳng một ai thắc mắc  liệu họ có làm hòa với nhau được không, có tha thứ lỗi lầm cho nhau được không, có giữ với nhau chút “nghĩa” dù nay “tình” có thể đã hết rồi không? Cùng một hoàn cảnh như vậy với vụ việc hai vợ chồng Dân biểu Weiner. 

Khác biệt giữa văn hóa Tây và Đông một phần ở chỗ đó. Cha mẹ chúng ta phần lớn đều hết sức ngăn chặn các cuộc tình đổ vỡ bằng lời khuyên, “Thôi thì một sự nhịn, chín sự lành, nhường nhịn nhau đôi chút để phúc lại cho con cho cháu.” Con cháu chúng ta sống tại quê hương thứ hai này ngày nay chỉ biết chữ “tình” mà không hề biết đến chữ “nghĩa.” Vì thế, khi không còn vui vẻ chung sống với nhau, họ li dị nhau dễ dàng không một chút xót xa. Văn hóa Việt Nam không nằm ở chỗ gặp khi con gái gốc Việt lập gia đình với con trai gốc Mĩ hay ngược lại, cha mẹ người gốc Việt buộc phía bên kia phải mặc trang phục Việt cũng áo thụng khăn đóng, mang lễ vật kiểu Việt mâm lớn mâm nhỏ, cau trầu, trà rượu, heo quay. Văn hóa cũng không nằm ở chỗ buộc phía bên kia phải “lạy giàng thờ” để chứng tỏ phía bên kia đã thuận lấy phía Việt làm mực thước. Nó nằm ở chỗ làm sao cho cả đôi bên biết được hôn nhân theo văn hóa Việt Nam chúng ta là vợ chồng lấy nhau vì “tình,” chung sống vì “nghĩa.” Hiểu được hai chữ này theo ý nghĩa thâm sâu của nó là sống trọn vẹn tình vợ chồng theo văn hóa chúng ta. Một khi đã có “tình” và có “nghĩa,” các cuộc hôn nhân sẽ không bao giờ “hết thuốc chữa” đến nỗi phải chia tay không hề quay mặt lại. Mà cho dẫu tệ hại đến chỗ phải chia tay, hai người đã một thời chung chăn chung gối chắc chắn cũng không đến nỗi trở nên hai kẻ thù “không đội trời chung,” “nhìn mặt nhau không thẳng,” mà vẫn còn giữ với nhau một chút “nghĩa” nào đó, không thể “cạn tàu ráo máng” với nhau.

                Tay bưng đĩa muối chấm gừng,
                Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau.
                                                                (Ca dao)

Thế đấy, vợ chồng như “gừng cay muối mặn” luôn luôn khắng khít bên nhau, như chim với rừng không thể có bên này không có bên kia:

                Chim xa rừng thương cây nhớ cội,
                Người xa người tội lắm người ơi,
                Thà rằng không biết thì thôi,
                Biết nhau mỗi đứa một nơi sao đành.
                                                                (Ca dao)

Chất keo gắn bó cuộc sống vợ chồng trong nền văn hóa Việt Nam chúng ta chính là hỗn hợp “tình” và “nghĩa.” “Tình” để yêu thương nhau và “nghĩa” để chịu đựng nhau. Mất đi một hợp chất, keo không còn dính nữa, khác gì xi măng không có nước. 

Nhưng, làm sao giải thích được ý nghĩa thâm sâu của hai chữ “tình” và “nghĩa” cho thế hệ trẻ đang quay cuồng như thác đổ trong bão tố của chủ thuyết vật chất và thế tục đang tìm cách chế ngự mọi ngóc ngách của cuộc sống ngày nay trên toàn thế giới, cách riêng trên đất nước Mĩ quê hương thứ hai này?


Trần Hữu Thuần 
jbtranthuan@hotmail.com
READ MORE - TÌNH VÀ NGHĨA: CHẤT KEO GẮN CHẶT HÔN NHÂN - Trần Hữu Thuần