Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, December 15, 2010

VÕ VĂN LUYẾN – VẦN THÁNG GIÊNG



Tháng giêng vào ta, gió lộng trăng ngà đồng xanh sương trắng.

Cúc áo nở bông bèo vẫn trên sông mẹ ta lưng còng gậy cong tay nải.

Này người em gái mà mắt thị thành mà áo phong phanh ngó sen ngơ ngác.


Tháng giêng vào ta, cò ơi bay xa tìm về với mẹ.

Tuổi thơ thỏ thẻ, chuyền năm chuyền ba, cỏ gấu cỏ gà chơi trò đánh bắt,

mượn thuyền khoan nhặt câu hát vu vơ, mượn chuyện sông hồ hồn thơ ngụp lặn.


Tháng giêng vào ta, mắt ướt mi ngoan xúng xính đỏ vàng đồng tiền một lúm.

Mấy nụ tươi thắm nở giữa trong veo buồn chi giàu nghèo xuân cho tất cả.


Tháng giêng vào ta, có mẹ có cha có ông có bà có con cá bống.

Có vườn ươm nắng nhả ngọc bầu trời có cả chuỗi cười kết thành tràng hạt.

Câu kinh lạc mất ở phía niết bàn, người gánh đa đoan chất miền trần thế.


Tháng giêng vào ta, bão gần bão xa triều cường lũ cuốn.

Tháng giêng vào ta, hoa cưới phố làng.

Tháng giêng vào ta, lúa cóng bên sông.

Tháng giêng vào ta, mơ ước đòng đòng...



READ MORE - VÕ VĂN LUYẾN – VẦN THÁNG GIÊNG

Tuesday, December 14, 2010

Trần Kiêm Đoàn - THƠ GIỮA ĐỜI



Nhà văn là nhà thơ không thành!

Chiều trên thành phố cổ Sacramento, Nguyễn Đỗ – làm thơ, dịch giả – đã vẽ chân dung nhà thơ như thế bên dòng sông American River. Không biết sóng nước có đồng tình không, còn Hoàng Hưng và tôi thì im lặng. Im lặng thường mang ý nghĩa đồng tình, đồng ý. Nhưng cũng có khi im lặng vì hai bờ đối đãi đúng sai cũng chỉ là một, vì cả hai đều không có lời giải đáp.

Đỗ Phủ nhìn trời, rồi kêu lên: “Thiên thượng phù vân như bạch y. Tu du hốt biến vi thương cẩu…” (Mây nổi trên trời như áo trắng. Thoắt biến thành hình con chó xanh). Đời thường như mây trắng và thơ như con chó xanh trên trời. Bạch vân – Thương cẩu là chuyện đời của Thực và Hư tương tác, tương sinh. Thực đến từ hư và hư đến từ thực. Cho nên, chân trời thi ca không có điểm khởi đầu mà cũng chẳng có điểm kết thúc.

Thơ không có một thực tại nắm bắt được. Và, thơ cũng chẳng có điểm kết thúc tận cùng nào cả.

Đoạn trường tân thanh có một kết cấu và một kết thúc về câu chuyện. Kiều có nhảy xuống sông Tiền Đường hay Kim Kiều tái hợp; nhưng cái hồn thi ca chẳng đi về đâu mà cũng chẳng đến từ chốn nào. Đó là trường thơ lục bát của Nguyễn Du có ánh sáng riêng của một dải Ngân Hà thi ca tư tưởng. Khách yêu thơ đành im lặng vì không biết nói sao, bởi xưa nay… “văn chương tự cổ vô bằng cớ” nên dẫu có nói rằng, nhà thơ là nhà văn không thành – hoặc thiền sư là thi sĩ không thành – thì cũng thế thôi! Duyên khi nào cũng sinh; lửa lúc nào cũng đỏ nhưng duyên có hợp, lửa có bén mới thành cơ sự.

Thi sĩ là người sáng tác những vần thơ, nhưng không phải là người khai sáng ra thơ. Thơ có trước con người. Sự im lặng thâm viễn và miên trường ẩn dấu của vũ trụ là thơ không lời trước khi con người sinh ra. Ánh sáng, bóng tối, núi xanh và mây trắng là những ấn tượng thi ca trước khi con người có mặt. Thi ca là sản phẩm hồn nhiên và tinh túy nhất của sinh vật địa cầu có tư tưởng và cảm xúc. Rồi những lời nói chắt lọc, những ý tưởng gợi hình tròn trịa phát khởi từ nhu cầu ca ngợi, tôn xưng và chia sẻ là những câu thơ, bài thơ sớm nhất. Nó là Kinh Thi, là Áo Ngữ của Vệ Đà; là ba đào một thời đã lặng, ghi dấu tâm thức của con người đã xuất hiện cả vạn, cả nghìn năm trước khi có ký hiệu thành văn gọi là chữ viết. Con người đem thơ ra giữa dòng sống rất lâu trước khi các đấng giáo chủ, thần linh, thị hiện giữa đời để tạo ra ý, ra lời thành kinh, thành thuyết giáo tiên tri. Rốt cuộc, thơ giữa đời không là thơ của ai cả; mà chỉ là… nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!

Thơ từ đâu tới?

Chẳng từ đâu tới hay về đâu cả. Thể tánh của thơ là như như vắng lặng.
Ai có duyên với thơ thì nắm bắt và cảm nhận được thơ ngay trong lòng mình. Kẻ không duyên với thơ thì thơ vắng bóng trong toàn vũ trụ. Ngôn từ thi ca đích thật nhất là một loại mật ngữ cảm nhận chứ chẳng bao giờ hiện hữu để ca ngâm. Cho nên, tinh túy của Thơ là sự im lặng tuyệt vời và những câu thơ tuyệt bút.

Nó là những cơ duyên, có điều kiện tự phát khởi, níu kéo, hòa quyện, kết hợp nhau mà thành. Không thời, không hạn; chẳng từ vô trước, chẳng tới vô sau:

Quan quan thư cưu
Tại Hà chi châu
Yểu điệu thục nữ
Quân tử hảo cầu.

Kinh – kinh Thi – có trước khi Phật và Chúa ra đời.

Văn tự hội ý của Trung Hoa thời cổ đã quan niệm rằng, Thi = Ngôn + Tự (Thơ = Lời + Chùa).

Thơ có từ khi thơ là cảm xúc dâng trào từ suối nguồn cuộc sống. Thơ là ngôn tự, là tiếng nói, là âm hưởng phát ra từ chốn thâm nghiêm thờ tự. Thơ là lời kinh. Thơ là tiếng tâm kinh. Thơ vang vọng từ chốn thiền môn rỗng lặng của những “con chim đến từ núi lạ ngứa cổ hát chơi”. Và sứ mệnh cao viễn nhất của thơ cũng chỉ là “thơ thẩn” vì kẻ tạo ra thơ coi nghìn thế giới như hạt cát và hạt cát như nghìn thế giới; một sát na tâm có khi là vĩnh cửu:

To see a world in a grain of sand,
And a heaven in a wild flower,
Hold infinity in the palm of your hand,
And eternity in an hour.
(William Blake)

Thấy thế giới từ trong lòng hạt cát
Và thiên cung trong một nụ hoa đồng
Nắm vô hạn trong lòng tay của bạn
Và vĩnh hằng trong một thoáng hư không

Và có lần, tôi băng đồng chỉ sá đi tìm một vang vọng của thơ. Thơ không phải chỉ nỗi buồn mà còn là một sự phản kháng – như nhà thơ Lê Đạt : “Chết là hết, hết đau hết khổ. Nhưng cũng hết vầng trăng soi sáng trên đầu…”

*

Mùa Hè năm 2007, từ Huế chúng tôi chuẩn bị ra thăm Hà Nội lần đầu. Trên ga Huế, chờ chuyến Tàu Đỏ xuyên Việt buổi chiều, nghe một người bạn chưa bao giờ gặp là anh Văn Thanh nói trong điện thoại: “Cậu hên quá! Mình phải gọi báo ngay cho cậu một tin vui. Hà Nội đang nắng gắt bỗng dưng hôm qua lại có gió mùa Đông Bắc. Bây giờ Hà Nội như mùa Thu.” Nhìn mái tóc trắng phau của thằng bạn cùng lớp thời sư phạm Huế giờ đã về hưu, vẫy tay trên sân ga khi tàu chuyển bánh, tôi mường tượng một hình ảnh mùa Thu tuổi đời, mùa Thu trong lòng người và mùa Thu cảm xúc thi ca. Tôi gần gũi với một Hà Nội băm sáu phố phường qua thơ văn nhiều hơn là sử sách. Nhẹ nhàng thì có nỗi nhớ u ẩn của Bà Huyện Thanh Quan. Hiện thực xã hội thì có nhóm Tự Lực Văn Đoàn và các nhà văn Tiền Chiến. Nhưng ấn tượng sâu về một Hà Nội đậm lửa và thơ với dư âm nhân sĩ Bắc Hà đã ghi dấu trong riêng tôi phải đợi đến những ngày lộng gió thi ca của Nhân Văn-Giai Phẩm.

Sau một đêm thức trắng, nói chuyện mưa nắng và kinh nghiệm du lịch đó đây với cặp vợ chồng người Anh cùng ở chung khoang tàu tới du lịch Việt Nam lần đầu, tôi không nghe mệt mỏi khi tàu tới bến ở ga Hàng Cỏ mà cảm thấy vui vui vì nghe người xứ khác nói những điều ưu ái về cảnh thiên nhiên tươi đẹp của đất nước mình.

Rời tàu, tới Cửa Bắc đợi chuyến đi “tua” thăm vịnh Hạ Long khi trời mới mờ mờ sáng, chúng tôi ăn tô phở Hà Nội đầu tiên nơi quán phở đầu hẻm. Tô phở nước trong, không rau, không giá, thoát lớp điểm trang bởi tiêu hành ớt tỏi. Tô phở nhỏ xíu so với tô phở xe lửa Bolsa ở Cali, thường to gấp ba, bốn lần. Quán hẻm vô danh nhưng phở lại thơm, ngọt và tươi tắn bất ngờ. Tôi cười một mình khi cô hàng phở, chìa tô phở đầu nước nhỏ nhắn cho khách, răn đe một cách dễ mến với giọng nữ Hà Nội dẻo mềm như luyến láy: “Các bác đừng ham của lớn Hà Nội. Nhỏ như cháu thế mới ngon!” Tự xét mình, tôi chẳng ham “của to” bao giờ, nên cũng tạm yên tâm.

Đêm đầu tiên, gặp người bạn Hà Nội đầu tiên là Văn Thanh. Anh là thư ký ban biên tập báo Tia Sáng. Mấy năm trước một người bạn văn cho biết, Tia Sáng là một tờ báo nhỏ nhưng được xem là có tiếng nói trung thực nhất của giới trí thức trong nước. Bởi vậy, tờ báo thường xuyên đứng giữa phong ba. Thỉnh thoảng tôi đóng góp bài vở trong mục “góc nhìn trí thức” cùng với các cây bút trong và ngoài nước. Đây là nơi quy tụ phần lớn là những tay bút tự trọng, can đảm, khéo léo nói lên quan điểm khai phóng của mình về chính trị, xã hội, khoa học, kỹ thuật và văn học nghệ thuật. Tôi không ngạc nhiên khi được tin Tia Sáng đã bị đóng cửa.

Hẹn gặp ở quán nước lộ thiên bên bờ hồ Hoàn Kiếm, hai chàng cùng lứa tuổi lục tuần nhâm nhi chai bia bên dĩa đậu phụng. Mới mỗi người một chai mà khí phách nam tử hán đã lâng lâng. Nắng vừa tắt, mặt hồ đã chờn vờn sương khói. Hỏi ý kiến riêng của Văn Thanh những gì mà anh thích nhất khi giới thiệu về Hà Nội, câu trả lời bất ngờ của anh làm tôi ngạc nhiên. Anh nói, điều anh thích nhất là màn sương mù buổi sớm và buổi chiều quanh hồ Hoàn Kiếm. Điều anh thích thứ hai là Hà Nội nhỏ; khi cần, bạn bè hú nhau một tiếng, cưỡi xe máy loanh quanh tìm nhau năm mười phút là gặp được nhau liền. Nếu anh nói là thích những gì mà báo chí và loa công cộng ra rả khen vùi thì có lẽ anh không phụ trách Tia Sáng và cũng chẳng đèo tôi trên xe gắn máy đến nhà Lê Đạt.
Mấy năm gần đây, tôi có được chút duyên văn nghệ với một trong những hảo hớn của Nhân Văn-Giai Phẩm, qua sinh hoạt cùng viết lách trên báo Tia Sáng. Anh là thi sĩ Lê Đạt. Khi chưa gặp, tôi hình dung nhà thơ Lê Đạt có một dáng người khắc khổ, một cung cách ngang tàng, một ngôn ngữ đầy bạo liệt như thơ của anh thời Nhân Văn-Giai Phẩm. Đến nơi, tôi gặp một ông cụ chưa già như tôi nghĩ, dáng vẻ phương phi đẹp lão và cười vui dễ dãi. Đó là nhà thơ Lê Đạt. Cả buổi tối, nói chuyện văn chương, nhắc lại chuyện làm báo đầy sóng gió một thời trong lịch sử văn học cận đại; những hương hoa và gai góc về tình bạn văn nghệ; cuối cùng tôi hỏi anh về một lời khuyên cho thế hệ văn bút đàn em. Anh nói: “Nên chơi với người tử tế!”

Chỉ đơn giản thế thôi sao? Tôi tự hỏi mình và đưa mắt ngầm hỏi người đối diện. Anh quàng vai tôi, cười hề hề và kể rằng, có một một người nữ phóng viên nổi tiếng (mà anh quên tên) gặp Henry Miller phỏng vấn. Miller chỉ trả lời đơn giản: “Cô đã gặp tôi rồi. Cô muốn viết gì thì viết.” Sau đó, đọc lại nội dung bài phỏng vấn, Miller phải kêu là ý nghĩ của cô phóng viên còn hay hơn là điều ông nghĩ được. Tiếc thay, tôi không có tài để “đối diện đàm tâm!” Nhưng sau khi gặp nhà thơ Lê Đạt, chẳng biết vì đâu tôi liên tưởng đến thiền sư Huyền Giác trong Chứng Đạo Ca (Bài ca của người đã được chứng đạo). Tư tưởng mà tôi cho là nổi bật nhất của Huyền Giác là thổi nâng ý nghĩa sâu thẳm của đời người bay bỗng nhẹ nhàng trong khái niệm về “chơi”: Sống chơi, tu chơi, làm thơ chơi và đến một ngày nào đó: Cũng “chết chơi” luôn! Phải chăng đó cũng là ý nghĩ “chơi với người tử tế” của Lê Đạt?! Thiền sư chứng đạo và thi sĩ thành danh có một điểm đứng và điểm nhìn tương tự là nhìn đời “như chính nó”. Có chăng hướng nhìn từ chân tâm rỗng lặng. Không dính mắc hay dính mà không mắc mới mong còn được một không gian nội tâm để thiền định và làm thơ.

Chiều hôm sau, anh Văn Thanh mời Lê và tôi đến quán chả cá Lã Vọng dùng bữa chiều với hai anh Lê Đạt và Nguyên Ngọc. Tuy cùng thế hệ, nhưng trong dòng văn học trải dài theo cuộc chiến dài 30 năm, nhà thơ Lê Đạt nổi tiếng trong phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm giữa thập niên 50 và nhà văn Nguyên Ngọc, được giới văn bút kính trọng với khuynh hướng phản kháng sự cột trói của nhà cầm quyền đối với nghệ sĩ và trí thức thời hiện tại.

Trong bữa ăn, nhìn quanh, thấy nhiều khách da trắng chẳng rõ là gốc Tây hay Mỹ, không chấm cuốn gỏi cá vào chén mắm nêm điệu nghệ như dân ta mà húp những chén mắm nêm đã pha ấy với vẻ mặt hân hoan đầy khoái trá. Tôi nắm hai tay mình lại. Mấy anh em đưa mắt dò hỏi. Tôi trả lời: “Cầu cho mắm ruốc đừng dính vào mấy chùm râu rậm rạp của những người bạn dễ thương ấy!” Suốt bữa ăn, các anh nhắc chuyện những tâm hồn ăn uống sành điệu đã đến quán nầy trong những thời điểm quá khác nhau của mảng lịch sử hơn trăm năm sau cùng của Hà Nội. Dĩ nhiên nhà văn Nguyễn Tuân vẫn đứng đầu sổ “vang bóng một thời” về nghệ thuật ăn uống. Khi nói đến các loại thịt cá làm gỏi chả ở Lã Vọng, người thì nói cá anh vũ, người nói cá lăng, cá nheo, cá ngạnh, cá quả… nhưng không ai quyết đoán được loại cá nào là ngon nhất. Anh Lê Đạt kết luận: “Cái này thì phải tìm hỏi Nguyễn Tuân mới được.” Tưởng nói chơi, thế mà năm sau, Lê Đạt đã bươn bả đi tìm Nguyễn Tuân thật, mang theo lời hứa đãi người anh em phương xa tô phở Bát Đàn.

Năm sau, chưa quên lời của nhà thơ Lê Đạt hứa đãi tô phở Bát Đàn cho biết miếng ngon Hà Nội, chúng tôi trở lại nơi nầy. Thực lòng, Lê và tôi chưa đủ lãng mạn… bạt mạng kiểu Hollywood để đi từ San Francisco về Hà Nội mất 17 giờ bay mà ăn một tô phở Bát Đàn. Nhưng nhân dịp về lo việc gia đình ở Huế, chúng tôi rủ nhau về Trúc Lâm Yên Tử. Khi vừa ra khỏi phi trường Nội Bài thì nghe tin nhà thơ Lê Đạt vừa mất. Chúng tôi lặng người trước cảnh vô thường và chẳng còn muốn gọi ai. Sớm từ giã Hà Nội, chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa là đến giờ bay, tôi giục người lái taxi: “Anh cho chúng tôi đến quán phở Bát Đàn càng nhanh càng tốt. Vui lòng đợi cho chúng tôi ăn xong tô phở rồi chở ngay lên phi trường cho kịp giờ.”

Trước quán phở số 49 phố Bát Đàn, sau chuyến xếp hàng mồ hôi nhễ nhại, chúng tôi mới tới được bếp phở lửa nóng rần rật. Khi bưng tô phở Bát Đàn trên tay, mùi thơm lạ lùng mà thân quen bốc khói. Nhưng cảm giác thèm ăn lắng xuống khi nỗi nhớ về một người bạn quý vừa mất dâng lên.

Silverton, Đông 2009
© 2010 Trần Kiêm Đoàn
READ MORE - Trần Kiêm Đoàn - THƠ GIỮA ĐỜI

HOÀNG CÔNG DANH - XUÂN QUÊ




Lá ôm mùa than thở
Trăng nghiêng vai trở mình
Gánh hàng rong mẹ quẩy
Ra chợ đón mùa xuân.

Hạt mầm gieo đồng xanh

Son môi em hồng đỏ
Đường làng như kẻ chỉ
Nếp nhà xếp bánh chưng.

Cha nhâm nhát mứt gừng

Tháng năm còn cay đắng!
Trâu nằm im phơi nắng
Thương ôi kiếp nhà nông.

Cái kén kết tơ tằm

Giêng hai quây tròn nống
Áo quần ai xống xếnh
Cả làng đi chơi xuân.


2007

HCD
READ MORE - HOÀNG CÔNG DANH - XUÂN QUÊ

Sunday, December 12, 2010

HỒ SĨ BÌNH: CÀ PHÊ - MỘT ĐỜI


Tạp bút

Đã có một văn hoá cà phê Việt, nghĩa là đã hình thành, lưu giữ những giá trị tinh thần và thói quen đặc trưng, từ quy trình sản xuất, chế biến cho đến phong cách nề nếp, thưởng thức cà phê trong đời sống người Việt, một xứ sở sản xuất Cà phê đứng vào hạng thứ hai trên thế giới chỉ sau Brasil. Và mỗi người, mỗi thời, mỗi thế hệ đều có những thói quen thưởng thức cà phê theo phong vị khác nhau. Dấu ấn của thời gian bao giờ cũng mang theo một không gian tâm cảm ở mỗi người để góp phần tạo nên giá trị chung của văn hoá trên con đường cà phê Việt.

Tôi là người nghiện uống cà phê mấy chục năm, từ cái thời còn học trung học cứ tính sơ sơ mỗi ngày một cử mà nhân lên thì không biết bao nhiêu mà tính. Mỗi giai đoạn trong đời người nghiệm ra có một nhu cầu và cái thú, cái cách thưởng thức cũng khác nhau. Thời còn trẻ nhiều khi cà phê như một liều thuốc kích thích hưng phấn cho đỡ buồn ngủ để học thi. Thời sinh viên thì cà phê như một không gian lãng mạn tình tự của trai gái hay cái kiểu nghĩ suy cà phê một mình, thích đếm từng giọt đắng ở cái tuổi còn mơ mộng đầy trời. Thời trước người ta thích uống cà phê phin chứ không như bây giờ, do cuộc sống hối hả, cuốn hút hơn với công việc nên nhiều người thích chọn lối pha sẵn, nhanh mà tiện lợi. Bởi thế mới có cái từ “nhâm nhi”,cũng do cái thú nhìn và đợi từng giọt rơi xuống đáy cốc thích dây dưa tâm tình, cũng như thích mùi thơm bốc ra từ cái phin.

Thời ở Huế trước năm 1975, bọn sinh viên chúng tôi vẫn thường tụ họp, túm tụm ở quán chị Giang sau lưng Tổng Hội sinh viên Huế. Nơi ấy có giàn hoa giấy cao lớn toả bóng mát cả một khoảng sân sau. Nhiều người đến ngồi đây thời gian còn nhiều hơn ngồi ở thư viện, giảng đường

Nhưng chính trong một không gian chật hẹp của giới trẻ thời đó, theo từng nhóm đặc biệt là nhóm văn khoa anh em được tiếp thu nhiều điều không có trong sách vở nhà trường mà chỉ có trên cái bàn vuông vức đủ mấy người ngồi với những câu chuyện văn chương nghệ thuật đầy hơi thở ngột ngạt cuộc sống của một đô thị vùng tạm chiếm. Thời đó, thỉnh thoảng tôi mò đến mấy nơi mà một số danh sĩ Huế thường có mặt như Trịnh Công Sơn, Ngô Kha, Đinh Cường, Lê Thành Nhơn, Lê Khắc Cầm, Bửu Ý..nào là quán cà phê Dung, quán trước Đại Nội trước trường Mỹ thuật, quán mệ Tôn, Lạc Sơn… Thời đó giới nhà giáo và văn nghệ sĩ là những người thích ngồi quán nhất. Những câu chuyện thời cuộc , văn chương sáng tác cả những chuyện trên trời dưới đất, mình đến cũng chỉ ngồi nghe lóm để học thêm một vài điều. Huế là vùng đất của cà phê nên cái thú ngồi quán là một thói quen không thể thiếu. Nhiều đêm mất ngủ, lang thang một chặp lại mò ra bến xe nơi vẫn còn hiu hắt, chập chờn suốt đêm mấy ngọn đèn hàng quán.

Thói quen ấy mang theo vào Đà Nẵng, những đêm mơ về sáng lại lọ mọ vào chợ Cồn ngồi cà phê Xướng nhìn xem chợ búa tinh mơ khởi động. Người ta nói đúng, muốn tìm hiểu văn hoá của một vùng đất, trước tiên cứ đến cái chợ. Ở chợ Cồn trước khi vào cà phê Xướng, bạn đã ngửi thấy mùi của hải sản được tập kết vào chợ khi mọi người chưa nhìn rõ mặt nhau, cái mùi tanh của tôm cá còn tươi ròng hơi hướng của trùng khơi chỉ có ở một thành phố biển. Lên Ban Mê thuột cũng thế, trời chưa sáng ngồi thu lu bên chợ nhìn những chiếc xe thồ chở đầy cây trái, đồ lơ ghim còn thơm mùi đất đai cây cỏ. Hình ảnh những người phụ nữ Ê Đê, Mơ Nông gùi măng rừng, chuối, bắp đứng túm tụm một góc chợ tạo nên nét hoang dã của núi rừng. Cái cảm giác đó được mang theo vào Sài Gòn, chao ôi ngồi ở ngã tư Bảy Hiền nhìn những chiếc xe ngựa thồ cuối năm mang theo những sản phẩm từ đất đai Nam bộ lọc cọc tiếng lạc ngựa trên đường về trung tâm thành phố.

Sau này vì nghề nghiệp hay xuôi ngược đây đó, cứ đến một nơi lạ, trời chưa sáng đã vùng dậy bay ra khỏi khách sạn tìm cho được một quán cóc để ngồi để cảm nhận cái cảm giác tinh khôi bàng bạc mơ hồ nơi thành phố lạ như một khám phá bước đầu. Bởi thế đôi khi khó chịu, nhất là ở các tỉnh ở miền Bắc (từ Quảng Bình trở ra) gần khách sạn ít khi có quán nào mở sớm, chỉ biết lang thang chờ người ta mở cửa.

Lên Đà Lạt, mê một bài thơ của Phạm Công Thiện mà phải đi bộ lên dốc đến cà phê Tùng và có lần đêm mưa nằng nặc với người bạn học Chính trị kinh doanh Đà Lạt vào cho được Lục Huyền Cầm của Lê Uyên và Phương. Ở xứ ngàn hoa, trong sương lạnh những ông già ăn bận theo kiểu công chức thời thuộc địa còn sót lại , mũ phớt với áo blouson, áo vest mang dày láng ngồi yên lặng ở một góc quán, ta như gặp lại ký ức của một thời xưa cũ. Lần đầu vào Sài Gòn cũng mon men tìm đến La Pagode, Brodard, Givral chiêm ngưỡng mấy nhà văn học đòi các nhà văn Pháp như Jean Paul Sartre, Andre Gide.. ngồi viết tiểu thuyết ở cafeteria; hay lên cà phê Nắng Mới ở dốc cầu Trương Minh Giảng, nơi ngồi đồng của sinh viên Vạn Hạnh cùng các thi sĩ trẻ mới nổi ở Sài Gòn quần cư tụ hội. Mới đây lên Blao cũng bắt đứa bạn cùng khoá ở Huế đưa đến nơi mà ngày xưa Trịnh Công Sơn ngồi ở quán ông già Tây nhìn đàn bò vào thành phố. Bạn cười mày là thằng lãng mạn lỡ thời, bây giờ còn đâu, thôi đi nhậu đi…

Từng dạy học ở Tây nguyên những năm đầu mới Giải phóng. Nói nghe buồn cười, vương quốc, thủ phủ của cà phê mà quán xá lại ít, mấy cửa hàng quốc doanh thì bán gì gì toàn đậu xanh bắp rang pha tạp chẳng có mùi vị gì cả. Thời bao cấp, cà phê được gọi là vàng đen là hàng quốc cấm dành để xuất khẩu . Nhưng đúng vào thời điểm khó khăn đó tôi lại được uống những tách cà phê ngon nhất trong đời. Lúc ở Buôn Hồ, vào mấy nhà phụ huynh có rẫy cà phê, từng làm việc với mấy chủ đồn điền Pháp thời trước chiêu đãi. Ly cà phê được pha chế một cách nhà nghề thơm phưng phức. Hương đậm đà lan toả cả không gian đủ làm thức dậy những nỗi niềm. Cà phê cũng như trà đạo, có những người sành điệu thưởng thức cà phê như một cái đạo. Quy trình pha chế công phu đến từng công đoạn. Cà phê hạt phải thuộc loại nhất ( loại chín đỏ đều khi hái), đem rang trên một cái chảo nhỏ, mỗi khi chỉ một nhúm, lửa phải đỏ rực, tay phải trộn đều cho đến khi 2 cổ tay nóng bỏng mới thôi. Phải biết canh lửa thật kỹ. Khi cà phê chín toả mùi hương mới đổ bơ và một ít rượu chát khuâý đều. Hạ chảo xuống đổ ngay vào một tấm vải hoặc giấy báo ủ lại, theo kiểu ém mùi thơm. Muốn cà phê ngon thì chỉ khi nào uống mới đem xay rồi mới pha chế. Chén, tách phải là đồ gốm sứ, sau khi bỏ cà phê vào phin tráng qua một chút nước sôi cho đủ ngấm, lúc đó mới chế nước sôi vào, chế đầy mặp phin để giữ độ nóng vì thế chỉ cần lượng cà phê lọc ra vừa đủ là uống. Dân ghiền coi cái thứ vàng đen là đạo rồi thì họ còn muốn nghe cái ẩm thanh nhỏ giọt lóc bóc trong tách, thi thoảng mở nắp phin để nghe dậy ngát lên mùi thơm. Nghe nói cà phê trước Bưu điện Huế, người ta còn trộn xay thêm xác cau cho đậm đà, một số nơi khác người ta trộn thêm vơ ni cho thơm, có nơi lại trộn thêm nước mắm nhĩ để tăng mùi, hay muối, đậu xanh để cho ra những hương vị khác nhau. Nhưng những ai đã coi là đạo rồi thì cà phê nhất định phải thuần hương vị tự nhiên nên họ không chịu nổi. Lần đầu nếm cà phê chồn mới biết con chồn là loại siêu hạng, sành điệu hơn mọi thứ sành điệu. Đơn giản là mùa cà phê chín, chồn tinh ranh leo lên cây và chọn những quả chín nhất, ngọt nhất để ăn rồi tiêu hoá thành một sản phẩm hảo hạng mà thôi. Nhiều buổi sáng mờ sương ở Tây nguyên, ngồi trên chòi nhìn xuống đồi cà phê, cứ theo dõi mấy con chồn chạy nhảy trên cành cây tức thì sau đó chạy xuống tìm dưới gốc cây là có cà phê chồn. Những lần về xuôi trong ba lô luôn có những món quà đặc sản này để mời với bạn bè. Sau này khi cà phê trở thành đại trà, chế biến theo kiểu hàng loạt, đến quán chỉ như một thói quen, thèm một không gian quen, một chỗ ngồi thân thuộc. Có người bạn, mấy chục năm chỉ quen một chỗ ngồi ở quán cóc đầu ngõ, không chịu di dời đi một chỗ nào khác. Thế mà định cư ở nước ngoài, lạ ghê có bao điều để nhớ lại thắc thỏm bồi hồi về cái chỗ ngồi thường nhật ấy.

Đã thành thường lệ, chiều 30 cuối năm, sau khi sắp xếp xong công việc chuẩn bị Tết nhất trong nhà , một mình kiếm góc cà phê nhâm nhi nghĩ ngợi mông lung, chuyện được mất của một năm. Có khi trống vắng quá, chạy ra bến xe ngồi uống cà phê nhìn người ta nôn nao hối hả lên xe về quê rồi bỗng dưng như Đỗ Trung Quân lại bùi ngùi phản tỉnh mình quê quán đâu mà trở về…

Cà phê Việt Nam chủ yếu có 2 loại chính : Abubica và Robusta. Thổ nhưỡng, khí hậu của Buôn Mê Thuột phù hợp để gieo tròng giống thứ hai này.Và cà phê Buôn Mê Thuột chiếm tới 90 % tổng sản lượng của cả nước. Ngay nay vì phát triển thương hiệu cà phê Việt phù hợp với cuộc sống hiện đại và xuất khẩu nhiều công ty sản xuất cho ra nhiều thứ cà phê uống nhanh, đóng lon chế sẵn. Dù chưa dễ để hội nhập thi thoảng tôi vẫn dùng loại cà phê pha sẵn này, uống từ một mặc cảm bởi từ trước đến giờ thứ vàng đen của xứ sở đã bị những doanh nghiệp nước ngoài xây dựng thương hiệu và kiếm lời bằng thứ nguyên liệu từ công sức lao động của người Việt. Uống, trong nỗi tự hào vì ngày nay trên con đường cà phê Việt, chúng ta đã thực sự xây dựng một thương hiệu mạnh dựng dậy quyết tâm ‘cái gì của Caesar hãy trả lại cho Caesar’ nhưng đôi khi trong vị giác vẫn còn quyến luyến bồi hồi cái không gian tâm cảm từ một hương vị thuần khiết, đậm đà đặc quẹo của cà phê Việt một thời đầy sương khói.


HSB

READ MORE - HỒ SĨ BÌNH: CÀ PHÊ - MỘT ĐỜI

CA SĨ ANH THƯ



Ca sĩ Nguyễn Hoàng Anh Thư

CHỈ CÒN NỤ HÔN NHẠT NHÒA
Nhạc và lời: NGUYỄN AN
Biểu diễn: ANH THƯ


Sinh ngày 26/7
Là ái nữ của nhạc sĩ Nguyễn An
Quê quán: Quảng Trị
Dòng nhạc sở trường: Nhạc Nhẹ

Anh Thư tham gia ngành ca hát từ năm 13 tuổi tại Nhà Thiếu Nhi Q1, là thành viên trong đội Sơn Ca Nhà Thiếu Nhi Q1, Nhóm Tuổi Hồng Đài Truyền Hình TpHCM, đã tốt nghiệp trung cấp thanh nhạc Nhạc Viện TpHCM

Hiện tại đang lưu diễn tại các phòng trà ca nhạc trong TP, các tụ điểm sân khấu...

Anh Thư hát được các thể loại, chuyên về nhạc Trẻ, thể hiện dòng nhạc nhẹ có hồn, và nhạc truyền thống.
Một điểm nổi bật ở Anh Thư mà các nhạc sĩ rất thích là vấn đề nhạy cảm trong âm nhạc, Anh Thư có thể nhìn văn bản để tự xướng âm, cũng có thể tự soạn và hát bè, tiếp thu giai điệu rất nhanh và hát rất chuẩn.
Liên lạc: Email: a_thusinger@yahoo.com
READ MORE - CA SĨ ANH THƯ

Saturday, December 11, 2010

LÊ QUANG THÁI – ÁI TỬ QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ

Chùa Sắc Tứ

Địa danh Ái Tử đã được ghi vào chính sử cho đến nay đã được 577 năm, đánh dấu một cái mốc lịch sử quan trọng trong đấu tranh của người dân từ các tỉnh phía Bắc, kể từ đèo Ngang trở ra, đến đây theo từng triều đại để dựng tỉnh lập nước sau đám cưới của Huyền Trân công chúa năm Bính Ngọ (1306).

Sử chép rằng, năm Mậu Ngọ 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hoá đóng tại gò Phù Sa, xã Ái Tử thuộc huyện Đăng Xương (đời Lê là Võ Xương) tức huyện Triệu Phong ngày nay. Sau đó người bình dân bản địa quen gọi là Ái Tử bằng cái tên sâu lắng tình quê hương là KHO CÂY KHẾ (1).

Năm Giáp Tý, 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng hiệu là Võ Xương, chia xứ Đằng Trong ra làm 12 dinh, Ái Tử trở thành Cựu Dinh và Phú Xuân trở thành Chính Dinh. Địa danh Ái Tử nghiễm nhiên được nâng cấp và gắn liền với tên gọi mới là Dinh Cát, thủ phủ của một đơn vị hành chính thời phong kiến ngang hàng với Phú Xuân. Chắc rằng thời kỳ này là thời hưng dậy, đắt giá của Ái Tử. Dinh Cát mang tên mới Phủ TOÀN THẮNG khi đã dời sang địa điểm ở làng Trà Bát. Nhiều giai thoại mang tính huyền sử đã gắn liền với tên gọi mới này. Biên cương của tổ quốc dưới thời các chúa Nguyễn dần dần đến Cà Mau dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Đất cũ đãi người mới. Tình đất ở đó mà nói theo cách dân giã là Ái Tử có ngạch đất tốt: trung dũng, hiếu học, tảo tần, tu hành,...

Theo sử gia Trần Trọng Kim, năm Canh Ngọ 1570, Thuỵ Quận Công là Nguyễn Phúc Nguyên con trai thứ 6 của Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng dời dinh sở về đóng ở làng Trà Bát, phía đông giáp hai làng Đâu Kinh (nay là Đâu Kênh) và Hoa La (sau đổi thành Bích La). Trà Bát được đổi thành Trà Liên vì kỵ huý, ở đây còn di tích của Phủ cũ TOÀN THẮNG uy nghi một thời gắn liền quyền uy của phủ chúa với những truyền thuyết mang tính chất sử thi. Nhờ nữ thần hoặc nhân dân giúp kế mà chúa Nguyễn đánh tan quân Trịnh. Thời kỳ này các chúa Nguyễn đã dùng chiến thuật tình báo để chống lại đối phương vốn không được lòng dân.

Ngày nay, con cháu của các vị tổ khai canh của các họ Trịnh, họ Bùi vẫn sinh sống, con cháu sây cành sum sê mặc dù cho bom đạn đã trút xuống và những điều kiện khó khăn xã hội bức bách người dân phải tìm đường đi khắp mọi miền đất nước để lập cơ nghiệp mới. Những vị tổ đầu tiên này là những người góc ở Tống Sơn, Thanh Hoá; Nghệ Tĩnh và các tỉnh ở Bắc Hà theo cùng với quân sĩ của Nguyễn Hoàng từ buổi đầu xuôi buồm thuận gió về Nam.

Về cuối đời của chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc Thuần con thứ 16 của Võ Vương mới 12 tuổi lên kế vị, quốc phó Trương Phúc Loan chuyên quyền, lộng hành làm bậy, lòng tham vô đáy cố vơ vét cho đầy túi. Gieo gió gặp bão, tháng 9 năm Giáp Ngọ, 1774, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 34, Trịnh Sâm cử nội thần là Quốc Lão Việp quận công Hoàng Đình Việp tức Hoàng Ngũ Phúc làm Thượng tướng kéo ba vạn tinh binh tiến đánh miền Nam (2).

Trước bức thế của quân Nam triều bàn nhau bắt quốc phó gian ác đóng cũi đưa lên xe, giải đến nơi đóng quân của Hoàng Ngũ Phúc ở Quảng Bình dâng nộp. Quân Trịnh thừa thắng tiến vào đất Thuận Châu một cách dễ dàng, Hoàng Ngũ Phúc đóng quân ở Võ Xá truyền hịch đi khắp miền vào tận Phú Xuân. Lúc đại binh chuyển vào đóng ở đất Ái Tử, có một thầy đồ già, người huyện Đăng Xương tên là Trần Duy Thông đón đường rước quân và dâng thơ rằng:

Cùng truyền đống trập oanh lôi dạ

Mãn địa khô miêu đắc võ thì

Nguyện chỉ Phú Xuân thôi tiến phạt

Binh cơ quý tộc bất nghi trì


Dịch:

Sâu co gặp sấm vừa vang tiếng

Lúa héo chờ mưa đã được thì

Xin thẳng Phú Xuân mà tiến tới

Việc binh nên chóng chớ nên trì (3)

Bản lĩnh chơn chất, tính nết thuần lương của người dân Thuận Châu được bộc lộ rõ nét qua thần khí của tứ thơ. Có thể xem vị đồ già thức thời, vì dân mà đóng đúng vai trò của kẻ sĩ, mạnh dạn đứng lên nói hết thảy tâm tư nguyện vọng chính đáng của người dân đã quá chịu đựng áp bức bấy giờ:

“Quân Nguyễn không quen đánh bộ, chỉ thuỷ quân là giỏi. Đại quân ở xa tới xin đừng tranh ở chỗ sở trường của họ” (4)

Trước thái độ chính trực, căm ghét bạo tàn của vị đồ già, Thượng tướng Hoàng Ngũ Phú đáp lễ bằng cách xin giữ thầy lại ở trong quân ngũ và sau cùng là làm chức Câu kê.

Lê Quí Đôn, chứng nhân thời cuộc một thời, lúc giữ chức Tham hiệp trấn quân cơ trấn Thuận Hoá, bên gác Triêu Dương cạnh bờ sông Hương ở xã Kim Long, đã ghi lại dấu tích còn lại của Ái Tử sau 218 năm ngày Nguyễn Hoàng chon cuộc đất Ái Tử làm điểm dừng chân tiến về Nam:

“Dinh Cát ở đầu núi xã Phúc Toàn do Thuỵ quận công lập ra. Trấn dinh cũ của họ Nguyễn ở phía tây sông Ái Tử, từ dinh mới ra đường cái, sang cầu Ái Tử đi về tay trái nữa khắc là đến nới, nhà quân lính vẫn còn, tức là chỗ dinh của Đoàn quốc công Nguyễn Hoàng khi mới vào trấn. Phía đông sông ấy là hai xã Đâu Kinh và Hoa La...” (5)

Từ giữa thế kỷ 16 trở đi, Ái Tử bắt đầu đi vào thời kỳ xây dựng dinh phủ, các chúa Nguyễn đặt quan chức cai trị theo cơ cấu hành chính riêng biệt khác hẳn với nền hành chính ở phía bắc đèo Ngang.

Nền hành chính đương thời là nên hành chính của một xã hội văn hoá nông nghiệp, quyền lực tập trung về một mối nhưng biên chế dân sự không nặng nề:

“Đoàn quốc công đóng ở Dinh Cát, sau sai quan đóng giữ gọi là Dinh cũ, ở xã Ái Tử, huyện Đăng Xương, chỉ có một lệnh sử, Câu kê, Cai hợp một chức một người, Thủ hợp một người, Lại viên 20 người, giữ viện từ tụng văn án, sổ hộ khẩu và binh suất do một viên Ký lục và viên Thư ký đứng đầu; lại thu tô ruộng hai huyện Hải Lăng, Đăng Xương, xét hỏi việc từ tụng của quân dân” (5)

Thuở ấy ngoài chuyện lo chăm chút công việc đồng áng, chăn nuôi, người dân xã Ái Tử đã biết nấu được đường trắng và đường đen. Công nghiệp bước đầu gắn liền việc trồng mía để lấy mật đường chi dùng và nước đường để trộn với hồ xây dựng thành trì, kho tàng, dinh thự. Các làng bên cạnh bờ sông Thạch Hãn là Xuân Yên, Trung Kiên có lò vô hàu; An Đôn, Thượng Phước cung cấp gỗ từ thượng nguồn sông Thạch Hãn đổ về.

Trên đồi thoai thoải ở phía tây bắc giáp Nại-Cửu thường thuận lợi cho việc chăn nuôi bò. Và bò bê Ái Tử đã nổi tiếng một thời, lai buôn từ phương xa đến bán buôn, trao đổi, chon giống.

Đầu niên hiệu Gia Long, vua đổi Cửu dinh thành dinh (doanh) Quảng Trị và lại chọn đất phường Tiền Kiên (so với thời điểm bấy giờ là một làng mới) để xây dựng thành trì. Năm Gia Long thứ 18, 1809 mới dời tỉnh lỵ về địa điểm mới ở làng Thạch Hãn, huyện Hải Lăng.

Ái Tử trở thành tổng kho chứa lương thực dự trữ. Mục lục châu bản triều Nguyễn còn ghi rõ ràng của kho Ái Tử qua một bản lệnh truyền thời Gia Long , ngày 20 tháng giêng năm thứ 4,1805:

“Công đồng truyền=dinh Quảng Trị đặng rõ: Kho Ái Tử có 5 toà, cộng 126 gian bỏ trống, đổ đầy lúa hết 88 gian, chỉ con 38 gian bỏ trống, nay nên làm thêm hai toà công khố, mỗi toà 22 gian để tiện trữ lúa năm nay” (7)

Ái Tử là trung tâm của dinh Quảng Trị, nơi thuận lợi cho việc tập trung lúa là tổng kho dự trữ. Việc vận chuyển lương thực, hàng hoá về tổng kho theo đường bộ và đường sông khá tiện lợi - bổi lẽ Ái Tử nằm trên đường thiên lý.

Ngày nay trên dãi đất trải dài dọc bờ bắc sông Thạch Hãn vẫn còn những kỳ tích do bàn tay của các nghệ nhân và công sức đóng góp lớn lao của dân chúng vì lòng ngưỡng mộ đạo lý và nghĩa khí của tiền nhân.

Thuở mới vào lập nên xứ Đằng Trong, các chúa Nguyễn đã cho dựng chùa Tịnh Quang ở đất Ái Tử và sau đó chẳng bao lâu được phong là SẮC TỨ TỊNH QUANG TỰ mà ngày nay biển gạch vẫn còn nét vàng son. Dân gian quanh vùng và cả tỉnh quen gọi là chùa SẮC TỨ ( có nghĩa là chùa được vua ban sắc dụ làm Quốc Tự).

Cũng liền theo dãi đất toạ nên cơ cuộc vuông tròn buổi đầu này, chúa Nguyễn cho dựng Văn miếu ở làng An Đôn, năm Gia Long thứ 13,1814 dời đến xã Thạch Hãn, huyện Hải Lăng, năm Minh Mạng thứ 21,1840, lại dời về chốn cũ (8)

Lại có đền thờ thần TRẢO TRẢO LINH THU PHỔ TRẠCH TƯỚNG HỰU PHU NHÂN ( trảo trảo là tiếng nước xao dòng sông). Cứ theo sự tích thì buổi đầu Đoan quận công đến trấn giữ Ái Tử, tướng nhà Mạc là Lập Bảo đem quân đánh đuổi. Năm 1572 Nguyễn Hòang đóng quân trên bờ sông Ái Tử, ban đêm ở dưới sông có tiếng nước động nghe “TRẢO TRẢO”. Đêm ấy Đoan quốc công mộng thấy một người đàn bà đẹp xin định “mỹ kế”. Khi thức giấc, nhớ lời thần bảo lấy “mỹ kế” thì phải chăng khiến dùng mỹ nhân kế để đánh lại. Tức thì có lệnh khiến nàng hầu là Ngô thị qua dụ Lập Bảo mời sang bàn luận giảng hoà. Lập Bảo vốn hiếu sắc thấy nàng có sắc đẹp liền mê say nhận lời nên bị phục binh dàn sẵn giết chết (9)

Hơn 200 năm sau sông nước Ái Tử vọng nghe tiếng dậy sấm: Tháng 5 năm Bính Ngọ niên hiệu Cảnh Hưng 47 (1786), Nguyễn Huệ đánh chếm Phú Xuân, các tướng sĩ đóng ở các đồn Cát Doanh (Ái Tử) và Động Hải (Đồng Hới) điều khiếp sợ và tan rã hàng ngũ.

Đến năm Thiệu Trị thứ 2,1842 vua ngự giá Bắc thành đã đi qua sông Ái Tử có đề thơ, sau này được chạm vào bia đá dựng ở phía tả bờ sông. Tháp tùng đoàn hộ giá, vua Thiệu Trị có cử hai con trai (con thứ 10 và 12 của vua Minh Mạng) là hai nhà thơ lớn Tùng Thiện Vương, Tương An quận vương (quê ngoại huyện Gio Linh, con bà Hồ An Tân) đều đươc sung chức Ngự tiền hộ giá (10)

Đối với lịch sử đạo Công giáo thì Dinh Cát là hạt Dinh Cát Cựu dinh Ái Tử tức tỉnh Quảng Trị sau này, các Linh mục giòng Tên đã đến truyền giáo khoảng đầu thế kỷ 17. Trụ sở hạt Dinh Cát ở gần dinh Ái Tử và Trà Bát. Tháng 12 năm 1689, linh mục Cô sơn cô Lân được chính thức cử làm cha sở hạt này. Trước đó 5 năm, ngày 7-2-1694, Linh mục Lân đã trình với Thánh bộ truyền giáo rằng: “Họ Nhu Lý, xứ Dinh Cát có 50 người Công giáo” (11)

Chỉ riêng Họ Nhu Lý (gần Cửa Việt có 50 dân giáo, không rõ toàn hạt Dinh Cát có bao nhiêu tín đồ Công giáo. Gần Dinh Cát có trụ sở của giáo xứ Đồng Giám. Có thể xem Dinh Cát là trung tâm Công giáo đầu tiên trên đất Quảng Trị.

Cạnh xã Ái Tử về phía thị xã Quảng Trị là làng Nhan Biều có một bãi cát trải dài và rộng lan ra tận bờ sông. Dưới thời nhà Nguyễn, Nhan Biểu là bãi chém, chỗ hành hình tội nhân. Trông qua bờ Nam sông Thạch Hãn là bến Hộ, bến Vườn Hoa thuộc xã Thạch Hãn, đò Nhan Biều sớm hôm đưa khách sang sông đi chợ thị xã Quảng Trị.

Bên cạnh làng Ái Tử là làng Phước Toàn, sau đổi thành Phước Mỹ. Có thuyết nói rằng vì sau giấc mộng được giang thần sông Ái Tử mách kế diệt được tướng nhà Mạc là Lập Bảo nên Phước Toàn được đổi thành Phước Mỹ. Ngày nay vẫn còn duy trì bến đò An Mô đưa dân miệt đồng bằng phủ Triệu sang sông Thạch Hãn để thâu ngắn đường đi Ái Tử, Đông Hà.

Năm Thành Thái thứ 18, 1906 vẫn còn bến đò Ái Tử: tả ngạn là làng Ái Tử, Hữu ngạn là làng Phước Mỹ. Đường xe lửa chạy qua địa phận làng song song với đường bộ quốc lộ I, cầu sắt Ái Tử có trước năm 1906 dài 41 thước 20 thông qua làng Hà Xá tiến ra ga Đông Hà.

Đông Hà - Quảng Trị, hai thị xã, hai tỉnh lỵ, mới và cũ cách nhau chưa đầy 12 cây số nằm trên quốc lộ I. Ái Tử chưa nằm hẳn ở vị trí trung tâm của hai tỉnh lỵ cũ và mới, mà lại nằm chếch hướng và thị xã Quảng Trị, từ trên máy bay trông xuống, Ái Tử và thị xã Quảng Trị chỉ cách nhau một giòng sông, vốn là thủ phủ đầu tiên của xứ Đằng Trong.

Quốc lộ I ngày nay có tiền thân là Thiên lý lộ đời Trần đã vạch đôi làng Ái Tử thành hai phần mất cân đối, phía Đông Nam là cả một bãi cát trải dài ra đến tận bờ sông Thạch Hãn, phía Tây Bắc là khu dân cư ăn thông với triền đồi thoai thoải giáp Nại Cửu phường.

Ái Tử, Đông Hà xưa kia đều là làng xã cả, kéo dài từ phía bên kia bờ Bắc sông Thạch hãn cho đến địa giới giáp ranh với các huyện Cam Lộ, Gio linh thuộc tổng An Đôn nổi tiếng là xứ có núi rú: Rú An Đôn, cồn Bái Thượng. Sau này qua bao biến đổi, xã Đông Hà được tách ra nhập vào huyện Cam Lộ và từ đó cơ ngơi đi lên dần dần. Và trong khoảng 50 năm trở lại, Đông Hà trở thành một đơn vị hành chính nhảy vọt khá nhanh. Từ làng xã lên thị trấn, lên quận, lên thị xã, lên tỉnh lỵ. Đất Đông Hà có cánh đi lên như diều gặp gió nhưng tiếc thay là còn thiếu sân bay theo đúng nghĩa của nó.

Dưới tiêu đề TUẦN LỄ DÀI NHẤT CỦA SƯ ĐOÀN TRỪNG GIỚI, Lê Hiếu Ánh trong báo Tuổi trẻ chủ nhật số 1690 ra ngày 29-4-1990 viêt:

“Năm 1971...Theo lệnh Bộ Quốc phòng, quân đoàn 1 gấp rút hình thành Sư đoàn 3 Bộ binh với thành phần chắp vá. Riêng binh lính đại đa số là lao công đào binh và quân phạm hoặc thuộc thành phần vô kỷ luật. Tất cả được đưa về Ái Tử để sớm thành sư đoàn cuối cùng của quân đội Sài Gòn”.

Cũng trong năm đó, một số binh sĩ trung đoàn 56 (đầu hàng ở cụm căn cứ Tân Lâm) do Trung tá Phạm Văn Đính làm Trung đoàn trưởng đã đào hầm phía sau chùa Ái Tử, gặp hầm chôn xác một con voi. Theo tìm hiểu sơ bộ cho biết xác con voi này được chôn thừ thời chiến tranh Trịnh Nguyễn (1627-1672). Và về sau trung đoàn này lấy quân hiệu VOI TRẮNG.

Từ tháng 3-1972 Ái Tử - Quảng Trị đã sớm được giải phóng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười phụ trách xây dựng đã đến thăm nhân dân Quảng Trị.

Thời đó và tiếp tụ sau này người ta đã “làm thịt” sân bay, căn cứ Ái Tử, phân tán đi bốn phương tám nẻo; chủ thể làm thịt là dân có, bộ đội có, cơ quan nhà nước cũng tham dự chia phần. Nguyễn Quận, người Hải Lăng dưới triều Lê Thánh Tôn vào đánh Chiêm Thành chỉ lấy một cây cờ lớn. Mấy ai nghĩ tới gương sáng của cố nhân lúc chia phần này.

Đau lòng vì thấy những phi đạo có giá trị bị phá, đồng chí Đỗ Mười đã phê phán, đại thể nói rằng: có lẽ các đồng chí và nhân dân cứ đinh đinh rằng không bao giờ ta sử dụng sân bay trên đất Quảng Trị này.

Vâng, ngày nay Quảng Trị đang ở thời kỳ xây dựng tập trung cao điểm, không biết các cấp lãnh đạo có hướng đầu tư lâu dài thiết thực để cho Quảng Trị mang tính cách chiến lược, lịch sử, kinh tế và văn hoá chưa. Lẽ nào bước vào năm 1990 (đã hết quý II) nói chuyện năm du lịch mà không đặt vấn đề cho rõ là QUẢNG TRỊ CẦN CÓ PHI TRƯỜNG (dù là nhỏ đi nữa) một khi công nghiệp du lịch của tỉnh Quảng Trị có thể tạo ra tiền của để xây dựng tỉnh to đẹp hơn, đàng hoàng hơn.

Lẽ nào cứ để vùng đất này thanh bãi cát để “cuốn theo chiều gió.”.

L.Q.T

Nguồn: Tạp chí Cửa Việt.

___________

(1) Trần Trọng Kim, Việt Nam sủ lược, Sài Gòn, Tân Việt (in lần 6) 1958, trang 288.

(2) Bùi Dương Lịch, Lê quí dật sử, Phạm Văn Thắm dịch, nxb KHXH – Hà Nội 1978, trang 28.

(3),(4) Lê Quí Đôn, phủ biên tạp lục nxb KHXH, Hà Nội, 1977, trang 313.

(5) Lê Quí Đôn,sđd, trang 109.

(6) Lê Quí Đôn,sđd, trang 145

(7) Mục lục châu bản triều Nguyễn, tập thứ I, Triều Gia Long, UB phiên dịch sủ liệu viện Đại học Huế, 1960, trang3. Cộng đồng triền là các đạo mệnh lệnh hành chính truyền đi.

(8) Đại Nam nhất thông chí, tỉnh Quảng Trị, tập số 9, Nguyễn Tạo dịnh, Sài Gòn, 1961, trang 49.

(9) Xem Trần Trọng Kim, Sđd tr.288 và Đại Nam nhất thống chí, Sđd tr.49,50. Về sau Nguyễn Hoàng được tôn trọng là Thái Tổ nên mới gọi là vua.

(10) Hoàng Trọng Thược, Hương Bình thi phẩm, Đà Nẵng, 1962 tr.9 và 41.

(11) Nguyễn Văn Ngọc, Lịch sử giáo xứ Như Lý, Huế, 1970, tr.6.

READ MORE - LÊ QUANG THÁI – ÁI TỬ QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ

PHAN VĂN QUANG - KHÔNG DƯNG MÀ RÉT NGỌT




Không dưng mà rét ngọt

Khi trái đất còn quay mặt trời sẽ nhú lên mặt biển - tháng chạp nơi này mưa.

Tháng chạp quay vòng tháng chạp tới, năm cùng tháng tận cõng đi xa...

Giấc mơ chập chờn cơn ngái ngủ, cái rét cuối ngất ngơ màu lá cỏ, ủ mùa se lạnh vào trong.

Tháng chạp choàng mưa, tiếng còi tàu qua ga hốt hoảng, những ngưòi đang yêu nhau hờn dỗi.. Mùa xuân bâng quơ chực chờ hiên vắng ...

Mùa xuân không còn trẻ nữa và không già đi. Mùa xuân đang tới.

Sự trầm tỉnh không dưng mà có, tình yêu không dưng mà xanh, nỗi buồn không dưng mà lắng. Soi gương thời gian tóc bạc trắng trên đầu.

Mùa xuân gọi

Tháng giêng về khoác làn sương mỏng

Cội Mai Đào bung hoa, Đã qua chưa ngày tất tả...

Rét ngọt giêng non, tháng giêng gần. Mùa hoa cải ven sông. Con chim buồn chợt hót. Tình yêu xanh chồi lộc cây. Hoa nẩy mầm nách lá. Mây bồi hồi đứng im.

Sự khôn ngoan cho tâm hồn mình già đi - mỗi ngày thêm một chút.

Hoá giải niềm suy tư qua ngày trắc trở. Gội rửa mình trong trẽo truớc mùa xuân.


PVQ
READ MORE - PHAN VĂN QUANG - KHÔNG DƯNG MÀ RÉT NGỌT

Thursday, December 9, 2010

VÕ THỊ NHƯ MAI – THƠ VIẾT CHO NHỮNG NGƯỜI YÊU ĐƠN PHƯƠNG





Vẫn biết rằng anh chưa từng yêu em
Tại sao em vẫn nhớ
.
Hàng ngày anh đạp xe qua ngõ
Mà quên ngoái lại nhìn
.
Nghe người ta hát khúc yêu một mình
Sẽ chẳng bao giờ anh là của em- đó là điều đâu có gì khó hiểu
.
Bởi anh không yêu em
Cớ gì em cứ mãi băn khoăn- cho cây xiêu, lá đổ
.
Em phải ngưng ngâm nga mấy bài ca cổ
Ngưng lắng nghe mấy điệu nhạc quá nhu mì
.
Tình yêu đơn phương
Đau trong từng ngón tay, ngón chân
Đau trong từng giấc ngủ
.
Đúng và sai chưa rõ để phân trần
.
Em ra ngoài ao múc nước rửa mấy ngón chân
Mà quên rằng mấy ngón tay vẫn ê trong những đêm mất ngủ
.
Yêu một mình có bao giờ đủ
Đất trời cần giao hòa, sao một mình em cứ mãi yêu anh?

VTNM
READ MORE - VÕ THỊ NHƯ MAI – THƠ VIẾT CHO NHỮNG NGƯỜI YÊU ĐƠN PHƯƠNG

Tuesday, December 7, 2010

NGUYỄN AN - XUÂN TÌNH YÊU


Nhạc sĩ Nguyễn An
Sinh: 1953
Quê quán: Quảng Trị
Hiện sinh sống tại TP HCM

CA KHÚC: XUÂN TÌNH YÊU
NHẠC VÀ LỜI: NGUYỄN AN
BIỂU DIỄN: ANH THƯ (ái nữ của nhạc sĩ Nguyễn An)



Ca sĩ Anh Thư
READ MORE - NGUYỄN AN - XUÂN TÌNH YÊU

Sunday, December 5, 2010

LÊ QUANG THÁI - VIỆC HỌC HÀNH THI CỬ DƯỚI THỜI CHÚA NGUYỄN


Phần nhiều các sách viết về xứ Đàng Trong đều chưa làm sáng tỏ về việc học hành và khoa cử dưới thời 9 chúa ở phía Nam. Có nêu chăng là chỉ nhắc đến các khoa thi Chính đồ và Hoa Văn để tuyển chọn nhân tài, ngoài việc tuyển cử người hiền ra giúp nước.
Hiện chúng ta chưa thấy có tài liệu nào xác định rõ đất Triều Sơn được chọn lập Văn Miếu từ năm nào, chỉ nói vào buổi quốc sơ, theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí. Thuở xa xưa, Triều Sơn chưa phải là Xã vì sách Ô Châu Cận Lục không ghi chép tên làng văn hiến này. Sách Phủ Biên Tạp Lục cho biết Triều Sơn xã thuộc Mậu Tài (1), huyện Phú Vang. Cần lưu ý là ranh giới hành chính hoàn toàn khác hẳn với ngày nay. Ngày xưa xã là làng, làng là xã. Một vinh dự lớn cho làng Triều Sơn, là vào tháng 5 năm Giáp Tý, niên hiệu Gia Long thứ 3 (năm 1806), triều đình dựng miếu Hội đồng ở làng văn hiến này và chọn 30 người dân làm miếu phu. Đừng coi thường làng nổi tiếng về nghề thủ công làm nón này. Trước năm 1692, làng Triều Sơn đã có Văn miếu, chúa Nguyễn Phúc Chu thường ra đây xem cảnh vật và có ý định muốn dời miếu này đi nơi khác sao cho có cuộc đất thoáng đãng hơn. Văn miếu này cũng là của Làng và của triều đình xứ Đàng Trong. Năm 1770, chúa Nguyễn Phúc Thuần, hiệu Khánh Phủ Đạo Nhân, cho dời Văn miếu về xã Long Hồ, huyện Hương Trà.
Có Văn miếu tức là nhà chúa đã quan tâm đến việc học và đạo đức. Bởi vì các chúa Nguyễn lấy Tam giáo làm chủ thuyết trong đường lối trị quốc an dân với phương châm mới “Cư Nho mộ Thích”.
Trước khi lập Văn miếu, tại các dinh, trấn Chúa đã cho tổ chức việc học hành và thi cử. Nhà chùa đã đóng vai trò giáo dục sĩ tử, bên cạnh các trường tư do dân làng rước mời các danh nho, khoa mục, thầy đồ dạy học. Ruộng Tam Bảo, học điền của làng xã là nguồn tài trợ chính cho giáo dục.
Năm Nhâm Thân, 1632 chúa Nguyễn Phúc Nguyên tức Sãi Vương hay chúa Phật đã kén chọn kẻ hiền tài bằng con đường tiến cử và khoa cử. Tại các dinh, trấn quan sở tại là Tri phủ, Tri huyện làm quan sơ khảo, Ký lục các dinh trấn làm quan phúc khảo, lấy những người thi trúng cho làm “Nhiêu hoc”, được miễn sai dịch 5 năm. Thí sinh phải làm một bài thơ, một đạo văn sách (văn chính luận), thời hạn trong một ngày phải làm xong. Kỳ thi ấy được gọi là “Thi Quận Vào Mùa Xuân”.
Để chọn kẻ có tài làm việc, chính sách khoa cử quy định người nào đã qua kỳ thi ấy phải thi viết chữ Hoa văn (Hoa văn tự thể). Người nào thi trúng thì được bổ làm việc ở trong Tam ty: Xá Sai, Lệnh Sử, Tướng Thần Lại. Từ đó, việc thi cử dần hồi được cải cách và nâng cấp lên sao cho người đỗ đạt có thực chất cao, có tài năng trong việc kinh bang tế thế.
Tháng 7 năm Bính Tuất, 1646, định phép thi 9 năm một kỳ. Chúa ra lệnh cho các học trò đã qua khoa thi “Nhiêu học” đều đến công phủ để ứng thí.
Chính đô thi 3 ngày. Ngày thứ nhất thi Tứ Lục, ngày thứ 2 thi Thơ phú, ngày thứ 3 thi Văn sách. Lấy Văn sách (sau đổi thành Hàn Lâm) Tri phủ làm quan sơ khảo; Cai bạ, Ký lục (đứng đầu dinh trấn), Nha Úy (sau đổi thành bộ Lễ) làm giám khảo. Giám thí lấy từ các chức Tứ trụ triều đình (có từ năm1638) gồm: Nội tả, Nội hữu, Ngoại tả, Ngoại hữu thay mặt Chúa điều hành và giám sát tại trường thi.





Khoa thi như thế gọi là Thu Vi Hội Thí (thi Hội mùa thu). Người trúng tuyển thì làm danh sách tiến lên, xếp thành 3 hạng: Giáp, Ất và Bính. Hạng Giáp được gọi là Giám sinh (khác với giám sinh học ở Quốc Tử Giám dưới triều Nguyễn) và được bổ dụng làm Tri phủ, Tri huyện. Thiền sư Hương Hải (2) được bổ dụng làm tri phủ Triệu Phong là một điển hình. Phủ Triệu Phong vào thời điểm ấy gồm có 8 huyện (từ bờ nam sông Hiếu ở Đông Hà cho đến bờ bắc sông Thu Bồn, trấn Quảng Nam). Hạng Ất được gọi là Sinh Đồ được bổ làm Huấn Đạo (coi việc học ở cấp huyện). Hạng Bính cũng được gọi là Sinh đồ được bổ làm Lễ sinh (coi việc tế lễ) hoặc Nhiêu học trọn đời.
Cũng thuộc Hội thí, có thi Hoa Văn trong 3 ngày. Mỗi ngày đều viết một bài thơ. Người trúng tuyển được chia làm 3 hạng, bổ làm việc ở 3 ty: Xá sai, Lệnh sử, Tướng thần lại và cho làm Nhiêu học trọn đời.
Thi Hương cũng được nâng cấp sao cho có chất lượng hơn. Chẳng hạn như vào tháng 8 năm Mậu Tý, 176 chúa Nguyễn Phúc Chu cho mở khoa thi Hương tại công phủ. Chúa sai Chưởng cơ lãnh Hình bộ sứ Tôn Thất Dục làm Giám thí. Khoa ấy Lê Chính Việt, Bạch Doãn Triều đỗ đầu, người đương thời cho là xứng danh. Tuy đỗ đầu nhưng không gọi là Thủ khoa hay Hương nguyên. Vì sao? Dưới triều Nguyễn, người đô đầu thi Hương như Nguyễn Hữu Huân ở Nam bộ mới gọi là Thủ khoa Huân, Phan Bội Châu đỗ đầu thi Hương trường Nghệ An năm Canh Tý 1900 được gọi là Thủ khoa. Danh xưng Thủ khoa rất lớn, uy nghi và thiêng liêng lắm. Đỗ đầu kỳ hạch tại tỉnh như cụ Phan trước khi thi Hương gọi là Đầu xứ đã là vinh hạnh lớn. Huỳnh Thúc Kháng lúc còn sĩ tử của xứ Quảng còn có tên là Huỳnh Hanh đã đỗ đầu xứ trong kỳ hạch tại tỉnh. Vậy thì có nên làm cho biến tướng, biến nghĩa hai từ Thủ khoa như ngày nay không? Đó là điều mà chúng ta cần suy nghĩ.


Vậy thì, dưới thời chúa Nguyễn có thi Đình không? Có. Thi Đình còn gọi là Điện thí. Vào năm nào? Năm Ất Hợi, 1695, thời điểm Hòa Thượng Thạch Liêm - Thích Đại Sán được chuas Nguyễn Phúc Chu mời đến Thuận Hóa. Thi vào tháng 3, lấy 5 người trúng cách về Chính Đồ làm Giám sinh, 8 người làm Sinh đồ, 15 người làm Nhiêu học, 22 người trúng cách về Hoa văn, 10 người trúng cách về Thám phỏng. Tổng cộng 60 tân khoa.

Cũng theo quy chế tuyển dụng thì Giám sinh bổ văn chức (Hàn lâm viện) và Tri huyện, Sinh đồ bổ Huấn đạo, Nhiêu học bổ lễ sinh, Hoa văn bổ vào Tướng thần lại ty và Lệnh sử ty, Thám phỏng bổ vào Xá sai ty.
Đòi hỏi của Hoa văn tự thể là phải viết chữ đẹp. Viết đúng quy cách, net trước net sau, kể cả quy cách “ đài chữ” lên cao. Có thể nói rằng văn hay đòi hỏi chữ phải tốt. Hoa văn là suối nguồn của thư pháp. Nhưng thời ấy có ai dám tung bút đâu?


Bút tích của Cao Bá Quát

Tổ tiên ta khiêm nhường lắm. Viết đúng, viết nghệ thuật, viết đẹp theo thần thức. Xuất thần là đằng khác. Chỉ cho chữ khi trọng người. Cao Bá Quát là một điển hình. Nhà văn Nguyễn Tuân khẩu phục, tâm phục tính cách tài tử của Cao Chu Thần bằng lối “kính nhi viễn chi”. Người đời nay nên học gương xưa. Tăng sinh trẻ lại càng phải khiêm nhường mà cầu thị văn chương chữ nghĩa của chư Tổ. Hòa thượng Thích Bích Không (1901-1968) đích thị là người viết chữ Hán trên học hiệu lớn của Hoa kiều ở Chợ Lớn. Trường Thọ Nhơn của người Hoa “sợ luôn” tài viết chữ Hán đầy tính nghệ sĩ cao cường của Hoà Thượng. Gần đây nhất, Thượng toạ Thích Hoằng Thơ, Tọa chủ chùa Từ Ân, năm 1945 -1955, viết chữ Hán sành điệu cả 4 thể: Chân, Thảo, Triện, Lệ trên các bài Minh, bia đá, trụ biểu, tháp Tổ ở Huế. Lắm tài nhưng quý ngài sống rất bình dị. Các nhà thư pháp đời nay nên khiêm nhường để người Hoa qua giao lưu văn hóa tỏ lòng cảm mến người Việt, nễ phục người Việt hơn.
Thi Đình ở thời 9 chúa không đạt trình độ cao như thi Đình dưới thời Hậu Lê hoặc vào thời các vua nhà Nguyễn. Chỉ có thi Đình thời nhà Lê, thời nhà Nguyễn (từ Minh Mạng trở về sau) mới có các danh xưng Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa ở Đệ nhất giáp Tiến sĩ xuất thân, hoặc Hoàng giáp ở bảng Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân. Ở bảng Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân đều là tiến sĩ mà thế gian quen gọi là Ông Nghè có từ thời chúa Trịnh Giang. Nhà Nguyễn không lấy Trạng nguyên theo lệ “tứ bất”.
Đỗ Giám sinh không thể chép là Hương Cống hay Cử nhân được như một số người viết về danh nhân đã sai lầm về danh xưng thi cử thời kỳ này sang thời kỳ khác.
Thành tựu lớn nhất của khoa cử dưới thời 9 chúa là đã tạo ra những vị quan tài giỏi hết lòng vì nước vì dân, như Trần Đình Ân, Nguyễn Khoa Chiêm, Nguyễn Đăng Thịnh, Nguyễn Cửu Tiền, Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Hữu Hào, Hoàng Quang. Các vị quan lớn đều là những bậc có nhân cách tỏa sáng tinh thần “chính đại quang minh” hoặc “cư dân do nghĩa”. Vì vậy mà văn học nghệ thuật, tôn giáo, ngoại giao của thế kỷ 17 đạt được thành quả rực rỡ ở hai xứ Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong. Đây cũng chính là điều giúp chúng ta lý giải vì sao đất nước Đại Việt ở thế kỷ 17 gặp phải nhiều khó khăn do chiến tranh Trịnh - Nguyễn, cảnh đất nước qua phân, đời sống nhân dân còn chưa cao, mà văn hóa lại phát triển, và phát huy đến chừng như vượt trội xa các thế kỷ đi trước.
Dưới thời 9 chúa, nhà chùa ở xứ Đàng Trong còn là nơi đào tạo thế hệ trẻ có vốn kiến thức và một nhân cách kẻ sĩ đích thực là sĩ phu vì có sĩ khí, tiết tháo, không buôn bán danh lợi và chuộng phẩm hàm hư vị.
Ảnh hưởng của khoa cử thời kỳ này còn đọng lại của nền giáo dục Phật Giáo. Ở Nam trung bộ, Nam bộ các trường Gia giáo được gọi là Trường Hương, Trường Trung Cao Cấp được gọi là trường Kỳ. Phật trường là nơi các Tăng Ni trẻ thọ giới để lãnh thọ sứ mạng của Như Lai trao phó. Thọ giới của Tăng Ni ở cấp thấp còn gọi là trúng “Trường thi Hương” ở cấp cao hơn bên trên (thọ Tỳ kheo, Tỳ kheo ni) được gọi là trúng “Trường thi Hội” (3).
Đặc điểm của giáo dục Phật giáo là việc dùng chữ Nho, chữ Nôm để làm chuyển ngữ chính, trường Phật học các cấp không hề ngại gì đến việc bãi bỏ khoa cử chữ Hán ở ngoài thế tục. Việc của ai cứ nấy làm. Phật Giáo đã có phương châm vừa là nguyên lý giáo dục bất di bất dịch muôn đời đó là “Duy Tuệ Thị Nghiệp” và “Giới, Định, Tuệ”.
Ngày nay, các trường Phật học từ Gia giáo cho đến Đại học đều ưu tiên quan tâm vào chương trình Nội điển. Cả cổ văn lẫn kim văn (Trung văn bạch thoại) đều được giảng dạy. Còn chữ Nôm thì dạy ít, Tăng Ni tự hoc là chính yếu. Cái nạn dạy nhiều cổ ngữ đã được cân nhắc. Tăng Ni chuộng học Anh văn và rất ít người chịu học Pháp văn. Đó là hạn chế của thời đại. Phải chăng cần suy tính lại trong việc phân ban ngoại ngữ. Đã là Tăng sinh, tu sĩ trẻ Phật Giáo không thể nào xa rời việc học chữ Hán, dù tân, dù cựu. Nói một cách nghiêm túc là “nhờ vậy” mà làm gương cho cư sĩ, Phật tử biết đường thế nào để thâm nhập kinh tạng để mong cầu có nhân duyên được góp phần tích cực trong việc phụng đạo giúp đời, trong việc sáng tác dịch thuật, diễn giải kinh điển, phát huy tinh thần phê và tự phê của Phật Giáo để càng ngày càng lân mẫn giới tu sĩ trẻ góp phần hoằng hóa lợi sinh có được đời sống hạnh phúc và an lạc.
Chú thích:
1.Tổng Mậu Tài: Làng Mậu Tài, thuộc tổng Mậu Tài xưa có tên là Hoài Tài. Tổng là đơn vị hành chính gồm nhiều làng.
2. Hương Hải thiền sư (1628-1715) còn gọi Tổ Cầu, năm 18 tuổi được bổ làm Văn Chức, năm 1652 được Chúa Nguyễn Phúc Tần bổ làm Tri phủ Triệu Phong, về sau cáo quan xuất gia đầu Phật.
3. Xem Danh Tăng Việt Nam thế kỷ XX, Thích Đồng Bổn chủ biên, Thành hội PG TP. HCM, 1995, tr 117.
- Năm Kỷ Dậu (1909) chùa Long Quang ở Vĩnh Long khai trường Hương.
- Năm Nhâm Tý (1912) Tổ đình Giác Lâm khai trương trường Hương.
- Năm Kỷ Mùi (1919) Hoà Thượng Chánh Hậu ở chùa Vĩnh Tràng (Mỹ Tho) khai trương trường Hương Gia giáo.
Nguồn: www.doxa.com.vn
READ MORE - LÊ QUANG THÁI - VIỆC HỌC HÀNH THI CỬ DƯỚI THỜI CHÚA NGUYỄN

Thursday, December 2, 2010

MINH AN – CA SĨ VÂN KHÁNH: GIA ĐÌNH VẪN LÀ QUAN TRỌNG NHẤT


Ca sĩ Vân Khánh và hai con. Ảnh từ trang mevabe.net

HÌNH BÓNG QUÊ NHÀ
Nhạc và lời: Thanh Sơn - Ca sĩ: Vân Khánh


Không ồn ã như các ca sĩ của dòng nhạc thị trường nhưng gần chục năm qua, Vân Khánh đã tìm được chỗ đứng riêng cho mình. Nhắc đến Vân Khánh, khán giả nhớ ngay đến cô ca sĩ gốc Quảng Trị, tóc xõa ngang vai, áo dài tha thướt, đôi mắt buồn, 'chuyên trị' dòng nhạc trữ tình hay những bài hát mang âm hưởng dân ca, nhất là dân ca miền Trung.

Có cha là nhạc công (sử dụng đờn cò, kìm, tranh,...) và mẹ là ca sĩ (Kim Oanh) – đều là nghệ sĩ của Đoàn Văn công Vĩnh Linh nên năm 12 tuổi, Vân Khánh đã đoạt giải nhất cuộc thi Tiếng hát Hoa phượng đỏ và trở thành thành viên nhỏ nhất của đội ca Đoàn Nghệ thuật Quảng Trị. Học xong lớp 10 THPT, Vân Khánh rời Quảng Trị vào Trường Âm nhạc Huế. Xong trung cấp thanh nhạc, Vân Khánh đến TPHCM tiếp tục theo bậc đại học và chị vừa tốt nghiệp Nhạc viện TPHCM năm 2004.


Đã phát hành sáu CD: Thương mãi câu hò (vol 1 + vol 2), Thương Huế mùa đông, Tưởng như Huế trong lòng, Huế xưa, Một thời Tôn nữ.

Đoạt Giải Mai Vàng của Báo Người Lao Động lần X - 2004.



“Ủa, sao nhìn em thấy giống ca sĩ Vân Khánh quá? Có bà con gì với Vân Khánh không vậy?”. “Dạ, ai cũng nói vậy hết chị à. Chắc em phải về hỏi lại… bố em thử xem”.

Không ít chị em bán hàng đã thắc mắc như thế khi gặp chị sáng sáng xách làn đi chợ. Và chị thường đáp lại bằng câu đùa tinh nghịch. Ngoài đời, trông Vân Khánh bình dị, mộc mạc mà cũng khá lém lỉnh.

Muốn thử thách chính mình

Tự nhận mình là người khá cá tính và tự lập từ rất sớm, Vân Khánh tâm sự, một trong những yếu tố khi quyết định hành phương Nam chính là chị muốn thử thách chính mình. Vân Khánh kể, từ nhỏ chị đã rất mê cải lương. Học xong trung cấp thanh nhạc ở Trường âm nhạc Huế, chị quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp.



“Vừa là cơ hội tìm hiểu thêm một trong những cái nôi của bộ môn cải lương, cũng vừa là dịp để thử thách chính mình, Sài Gòn là chốn “đất lành”, người miền Nam lại chân thành và phóng khoáng, mình nỗ lực phấn đấu, khán giả sẽ không phụ mình” - Vân Khánh chia sẻ.

Lần đầu tiên xuất hiện trước khán giả TPHCM tại quán Nhạc sĩ, cô gái nhỏ nhắn ngọt ngào giọng Huế đã thể hiện rất tự tin bài Huế thương (An Thuyên) và để lại một ấn tượng đẹp trong lòng khán giả… Dịu dàng, đằm thắm như những giai điệu trữ tình quê hương thường thể hiện trên sân khấu nhưng Vân Khánh cũng rất tự tin khi nói về dòng nhạc trữ tình, mang âm hưởng dân ca mà mình đang theo đuổi.

Thừa hưởng gien nghệ sĩ từ bố mẹ, dường như dòng nước trong xanh của dòng Thạch Hãn đã thổi vào hồn chị, những cơn gió Lào khắc nghiệt đã thổi vào chị một giọng hát mặn mà. Dòng nhạc ấy đến với chị như một lẽ tự nhiên mà giờ đây, khi nhìn lại chặng đường đã qua, chị luôn thấy hạnh phúc với những khán giả thầm lặng của mình, hài lòng với sự lựa chọn của mình.

Đôi lần, có người hỏi chị chọn nhạc sao mà buồn, có khi nào muốn thay đổi để hòa nhập với trào lưu nhạc hiện đại, chị chỉ cười: “Dòng nhạc trữ tình dân ca như những dòng sông nhỏ, ngầm chảy mãi và sẽ không bao giờ dứt”. Chị nói, trên thực tế, có rất nhiều ca sĩ theo đuổi, thành danh với dòng nhạc này, bao năm qua vẫn được đông đảo khán giả đón nhận, trân trọng và yêu mến.

Gia đình luôn là quan trọng nhất

Không khó để bắt gặp hình ảnh một Vân Khánh rất đời thường: có lúc người ta thấy chị thư giãn, ngồi nghe nhạc ở quán cà phê gần nhà, khi lại thấy chị lọc cọc dong xe đạp ra chợ. Giản dị, không kiểu cách là tính cách của chị. Bận bịu với công việc là vậy nhưng mỗi khi sắp xếp được thời gian, chị lại tự tay nấu nướng và “thiết kế” các món ruột cho ông xã và gia đình.

Những món khoái khẩu, không thể thiếu của chị và cả nhà là bún bò Huế, bún hến, cơm hến… Sực nhớ ra, chị khoe với tôi mới vừa ngoài quê vào buổi sáng, dù phải mang nhiều đồ đạc lỉnh kỉnh song chị vẫn kịp “tải” cả thùng đặc sản quê hương, nào tôm chua, mắm ruốc, cà pháo, nào mít non, ớt bột…

Gần 3 năm nay, khán giả không thấy chị xuất hiện ở các phòng trà buổi tối như trước, thỉnh thoảng chị tham gia những chương trình ca nhạc lớn hoặc xuất hiện trên truyền hình. Thì ra Vân Khánh đang dành thời gian cho tổ ấm riêng của mình, nhất là chăm sóc cho cậu nhóc thứ hai mới hơn 2 tuổi.

Chị tâm sự: “Cuộc sống đã tạm ổn, mình cảm thấy hạnh phúc vì được khán giả yêu thương, may mắn có được ông xã “hậu thuẫn”, hết lòng yêu thương, lo lắng thông cảm cùng hai đứa con ngoan. Đó chính là niềm hạnh phúc lớn nhất, là tài sản vô giá mà mình có được. Mình nghĩ, với người phụ nữ, dù có nổi tiếng hay thành đạt cỡ nào thì gia đình vẫn là quan trọng nhất”

Theo MINH AN , SGGP Online, thứ bảy, 17/10/2009
READ MORE - MINH AN – CA SĨ VÂN KHÁNH: GIA ĐÌNH VẪN LÀ QUAN TRỌNG NHẤT

Wednesday, December 1, 2010

VÕ CÔNG DIÊN – QUÊ HƯƠNG TUỔI THƠ

CA KHÚC : QUÊ HƯƠNG TUỔI THƠ
Nhạc và lời: Võ Công Diên.
Ca sĩ : Ngọc Quỳnh




1. Tìm lại tuổi thơ đi qua
Nơi tôi sinh ra bên giòng Thạch Hãn
Tìm bóng con đò chiều trôi êm ả
Dong buồm về Cửa Việt chiều nay.

Tìm lại những dấu chân quen
Con đường xưa qua một thời đi học
Hình bóng quê nhà trăng nghiêng thành cổ
Để ta về Quảng trị quê hương.

Tôi tìm về tìm lại tuổi thơ tôi
Đây thôn Lam bên giòng sông Vĩnh Định
Nhớ mỗi chiều về em thường ra sông gánh nước
Dưới cội ngô đồng một dáng nón che nghiêng.

Tôi tìm về tìm lại tuổi thơ tôi
Đây Gio Linh mùa gió Lào cháy bỏng
Nhớ đêm Gia Môn chia tay người ở lại
Để bây giờ tiếc hoài tuổi thơ qua.

2. Tìm lại tuổi thơ đi qua
La Vang nơi đây Thánh Đường chiều buồn
Ta nhớ năm nào dìu em sánh bước
Con nguyện cầu Đức mẹ hiển linh.

Tìm lại một chút hương quê
Nỗi buồn tha phương một đời lưu lạc
Nơi ấy quê nhà em thơ chờ đợi
Ngày anh về thăm lại quê hương.

Tôi tìm về tìm lại tuổi thơ tôi
Bên kia sông những ngày tôi đi học
Ngắm cánh phượng hồng sân trường mỗi trưa im lắng
Đứng đợi anh về vạt áo trắng em bay.

Tôi tìm về tìm lại tuổi thơ tôi
Đây Thi Ông người thương giờ vẫn đợi
Nhớ đêm trăng non chia tay người ước hẹn
Để bây giờ tiếc hoài một vầng trăng.
VCD
READ MORE - VÕ CÔNG DIÊN – QUÊ HƯƠNG TUỔI THƠ