Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, October 27, 2010

TRƯƠNG THỊ PHƯỢNG - CHÙM THƠ


Vương nét mơ huyền

Ai đem Thu về
Thả đáy mắt em
Chút mơ huyền !
Chút mơ huyền!

Ai đem Thu về
Thả lá vàng bay
Lá vàng xoay xoay
Lưu luyến Thu về!

Chiều nay trời Thu
Mây lụa trắng bay
Gọi mưa theo về
Ướt giấc mơ huyền!

Trời Thu- Tình Thu
Mặt nước mờ sương
Em ơi Thu về
Vương nét mơ huyền !



Mùa Thu em đến trường


Nhẹ nhàng và duyên dáng
Mùa Thu đã sang rồi
Ngọt thêm mùa hương bưởi
Trái chín cành vàng ươm .


Mùa Thu của đất trời
Em vào năm học mới
Xôn xao tiếng trống gọi
Cánh cổng dang tay chờ.


Em đón chào Thu sang
Bầu trời quê xanh thắm
Lắng sâu trong ánh mắt
Những ngọt ngào yêu thương !


Mùa thu em đến trường
Giọt sương mai lấp lánh
Con đường em đến lớp
Nắng rải vàng yêu thương !


Mùa thu em đến trường
Nắng tung tăng theo bước
Nắng đùa vui lên lớp
Lắng nghe em học bài


Mùa Thu nào đẹp hơn
Cùng theo em nắng lớn
Nắng vương vương mái tóc
Hôn lên má em hồng.


Mùa Thu của đất trời
Em vào năm học mới
Nắng mừng vui bối rối
Theo em đến giảng đường .


Ôi mùa Thu yêu thương
Mùa Thu em đến trường
Cho em bao mơ ước
Chắp cánh từ mái trường !

Tháng 9/1999



Trăng về bến hẹn


Trăng sáng sân nhà em
Soi đường về bến hẹn
Trăng ơi trăng đến nhé
Nhắn lời dùm em nghe !


Trăng ơi về bến hẹn
Cho anh về bên em
Ngôi sao khuya nhấp nhánh
Phải chăng ánh mắt em !


Trăng ơi về bến hẹn
Cho anh về bên em
Mái chèo khua tiếng sóng
Xôn xao bến hẹn hò .


Đêm nay trăng sáng tỏ
Cho anh về bên em
Trăng nghiêng nghiêng soi bóng
Lấp lánh dòng sông thương !


Ôi dòng sông quê hương
Chở mối tình ta đó
Nơi có dòng sông tỏ
Cho ta bến hẹn hò !

2000




Sao


Sao thương nhớ ai
Mà sao không ngủ
Cứ lấp lánh hoài
Sao ơi nhớ ai !


Em là sao hôm
Em là sao mai
Em làm sao sáng
Thức hoài chờ anh .


Khoảng trời trong xanh
Cũng nghiêng nỗi nhớ
Như mắt của ai
Lấp lánh sao mai .


Em là sao hôm
Em là sao mai
Em làm sao sáng
Sáng giữa trời cao


Sao em lấp lánh
Thức hoài chờ anh !

2010


Phong thư tình


Gió mang phong thư tình
Từ khơi xa biển nhớ
Còn vương mùi nồng mặn
Và tiếng sóng xô bờ!


Em nghe trong tiếng gió
Thầm thì lời yêu thương
Và Nụ hôn anh gửi
Về em, cuối chân trời!


Gió mang lời của sóng
Ngã vào lòng yêu thương
Khát khao và cháy bỏng
Trái tim hát thành lời!


Gió ơi về biển sóng
Nhớ nói lời anh nghe
Nơi đây miền sơn thẳm
nỗi nhớ về bên anh!


Biển xanh nơi sóng hát
Núi thẳm bóng mây ngàn
Dẫu còn xa cách trở
Chớp bể dến mưa nguồn!



Chín nhịp cầu quê

Chín nhịp cầu qua
Chín nhịp yêu thương
Bắc qua dòng sông quê anh đó
Chín mùa hẹn hò
Chín những mùa trăng!
Mong nhớ từng ngày
Hẹn gặp em sang về bên ấy
Anh đứng bên bờ kia
Đợi chờ em từng ngày
Bước nhịp nhàng
Bước nhịp nhàng
Chín nhịp cầu sang!
Anh đón từng ngày
Đợi chờ em sang về bên ấy!
Tay nắm tay mình qua
Nhịp cầu quê đợi chờ
Bước nhịp nhàng
Bước nhịp nhàng
Chín bậc cầu sang!
Bước nhịp nhàng
Bước nhịp nhàng
Chín bậc yêu thương!


TRƯƠNG THỊ PHƯỢNG
READ MORE - TRƯƠNG THỊ PHƯỢNG - CHÙM THƠ

Thursday, October 21, 2010

NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - VỀ QUÊ MÙA BÃO LỤT



Hằng năm con tôi vẫn mua vé giá rẽ cho ba mạ về quê. Không biết trùng hợp hay người ta đã lường trước là mùa này không ai thèm đi du lịch ở xứ sở năm nào cũng bão lụt nên bán vé còn rẽ hơn đi xe đò. Về Huế ở lại một ngày đêm. Trời quang mây tạnh. Cứ ngỡ trời còn thương vợ chồng mình. Được một ngày rong chơi những con đường Huế. Mùa thu se lạnh. Sông Hương nước hơi đục nhưng cũng còn khá thơ mộng.

Tôi về Quảng Trị, vì đi hai vợ chồng nên ngại ngủ lại nhà bà con bạn bè. Chúng tôi chọn một khách sạn trên quốc lộ một. Một đêm mưa gió. Bật TV thấy dự báo bão đã gần kề. Kiểu này không chừng chẳng đi đâu được. Nằm lơ mơ nghe mưa nhớ ngày xưa, những ngày trai tráng lên rừng chặt cây về “Dựng lại người, dựng lại nhà”. Lạ. Mấy chục năm rồi, cả khi ở nhà kiên cố, đêm nghe mưa cũng thao thức sợ “dột”, sợ ngập. Mưa bão quê nhà cứ đeo đẳng, không phải ngoài trời mà trong lòng, trong tim. Cứ cảm giác như là đêm nay bão sẽ về, nước sẽ dâng ngập nhà cửa. Không biết bạn bè ở nước ngoài có vậy không. Mưa Sài Gòn thì lâu nhất cũng chỉ vài tiếng. Mưa quê mình cứ ầm ào cả đêm, tưởng không bao giờ dứt.

Thiếp đi trong ầm ào mưa gió, trạng thái nửa thức nửa ngủ, những thước phim về mưa lụt ngày xưa luẩn khuất miên man. Xa. Gần. Nước và gió. Đói và rét. Có lúc lại thấy đi lạc vào rừng, bốn bề là nước. Chân tay cứng đơ không chạy được. Vợ đánh thức tôi dậy lúc nửa đêm, hỏi anh mơ thấy gì mà hét toáng lên thế. Tôi thẩn thở xâu chuổi những khúc chiêm bao đứt đoạn, câu chuyện nào cũng buồn. Hình ảnh nào cũng ghê rợn. Tôi vẫn còn nghe loáng thoáng lơ mơ những tiếng rú rỡn óc, không biết lính của bên nào, đang chạy rượt nhau trong mưa gió. Ngoài cửa kính lờ mờ, dưới đèn đường vàng vọt, mưa như dội những mãng nước lớn xuống đường nhựa trắng xóa. Nơi đây biết bao oan hồn lẫn khuất đâu đó, trong mưa, hút vào làng xóm. Tôi rùng mình nghĩ về giấc chiêm bao, những tiếng rú kinh hồn cứ váng vất trong đầu, mặn chát trên môi. Tôi nhớ lại cái đêm toán đi rừng của chúng tôi bị lạc một đêm trong rừng vùng Trấm.

Chúng tôi một tổ tám người, thường được cắt cử lên vùng rừng non phía thượng nguồn sông Thạch Hãn để chặt những cây rừng về dựng lán trại. Mỗi ngày không biết bao nhiêu nhóm như thế, không biết bao nhiêu cây rừng non bị đốn hạ. Người ta thường bảo là đi cội trên Trấm.. Hồi nhỏ đã nghe ba kể về nỗi khổ cực của những thợ cội đi tìm cây quý. Hôm nay, những thanh niên chúng tôi lần đầu lên rừng làm thợ cội, gặp chi chặt nấy, để kịp dựng những chòi tranh sau chiến tranh. Rừng non cứ thế lụi tàn. Dụng cụ đơn giản, chỉ có cây rựa và và mo cơm độn sắn. Được nửa đường đói bụng đem cơm ra ăn nhỏ nhẻ vài muỗng, gọi là “đá nhẹ”. Dự trù khi nào đủ gỗ, ra tới bìa rừng sẽ “đá toàn bộ” (ăn hết). Nhiệm vụ khá nặng nề. Phải đem về được một cái “cột mệ” (cột lớn, đường kính trên 20 cm, dài 4,2 m) và bốn cột con. Cột lớn bốn người khiêng như kiểu đưa đám. Cột con một người vác.

Những chuyến đầu chưa quen khá vất vã, quen rồi lại vui.

Mùa thu năm đó mưa đến trễ. Sau rằm tháng tám trời vẫn trong vắt. Những đêm khiêng gỗ về muộn đi dưới trăng có đứa con ngâm thơ nữa.

Hôm đó, như thường lệ chúng tôi đến bìa rừng khoảng mười giờ sáng. Chia thành hai tốp đi tìm cây. Rừng thoạt nhìn rất nhiều cây, nhưng kiếm ra một cây vừa kích cỡ và thẳng thường không dễ. To thì không khiêng nỗi, nhỏ thì bị kỷ luật. Đến 2 giờ chiều mà chúng tôi chưa kiếm ra cây nào. Bụng đói nên rũ nhau “đá toàn bộ”(ăn hết phần cơm mang theo), đến đâu thì đến. Tuổi đôi mươi hay liều kiểu chết người như thế.

Hạ cây xong, đang ngồi tán gẫu thì sấm chớp đâu kéo đến ầm ào. Trời dội mưa như trút nước, gió từng trận rít lên , cây gãy đổ răng rắc trên đầu. Chẳng có đứa nào mang theo áo mưa, ướt bê bết. Lạnh và bắt đầu run. Sợ. Không biết hướng nào mà ra khỏi rừng, đi đâu cũng bị vây với những con suối chảy xiết. Chúng tôi ngồi quay lại, khoác vai nhau im lặng. Mà cũng chẳng biết nói chuyện gì lúc này. Cơn đói bắt đầu, đứa nào cũng run lẩy bẩy. Một đêm ngồi như thế với mưa gió, sáng ra mặt mày tái mét. Cả nhóm bàn tán, chỉ còn một cách liều. Anh C. có kinh nghiêm rừng rú đề nghị, ở đây thế nào cũng chết. Thà chết mà xác trôi về đồng bằng còn có người vớt. Vậy là cùng nhau kiếm cây kết bè. Sáu đứa ôm bè trôi theo suối. Có đứa xỉu gục đầu như xác chết, phải lấy dây cột vào bè. Chúng tôi “trôi” vài tiếng thì đến sông Thạch Hản.

Trôi trên suối nước xiết mà không sợ mấy, lúc ra giữa dòng sông mênh mông mới thấy mình nhỏ bé làm sao. Chúng tôi trôi đi như thế giữa mênh mông nước. Càng về gần biển càng lo. Tưởng tượng bè trôi ra biển thì… Tâm trạng lúc đó như những tử tù đi đến pháp trường.

Khoảng xế trưa may thay tấp vào một bụi tre La Ngà ở một làng gần cửa Việt. Lên bờ, khập khiểng dìu nhau tìm nhà dân. Chúng tôi được một gia đình cho tá túc, được ăn một bữa cháo cá nhớ đời.

Năm năm ở quê cũng vài lần tôi sém chết bởi bão lụt. Mạng sống của người dân quê mình thật mong manh khi đối mặt với mưa lũ. Hồi năm bảy hai vào Nam bộ, thấy nhà cửa trong Nam sao cao ráo, lộng gió. Lại nghĩ sao quê mình nhà nào cũng thấp tè. Sau 1975, về sống ở quê mới biết rằng kinh nghiệm luôn đối mặt với thiên tai nên nhà thấp cũng là một cách chống đỡ hữu hiệu với bão lụt. Vách, cột nhì phổ thông ở quê mình thường khoảng 2,5m, vào nhà thường tối om, nhưng chắc chắn. Gần đây phần nhiều nhà cửa đã được xây dựng kiên cố, an toàn hơn nhưng với bão lụt quê mình cũng không lấy chi bảo đảm.

Tôi lớn lên ở vùng trũng Hải Lăng, nơi năm nào cũng bị lụt. Làng tôi nhà cửa phần nhiều là tranh tre, có khi lụt ngâm cả nửa tháng không thấy ai cứu trợ, vậy mà thời đó rất ít người chết vì bão lụt, vì đói. Lý giải chuyện này sao đây? Tôi nghĩ có nhiều yếu tố:

- Về con người: Nông dân lâu đời đã thích nghi với thiên nhiên. Họ luôn dự trữ lương thực trên tra (Một kho lương thực thường nằm ở nơi cao nhất của căn nhà). Khoai khô, khoai luộc là lương khô không cần nấu nướng. Dù không có dự báo thời tiết chính xác như bây giờ, họ cũng biết được phần nào diễn biến của thời tiết qua kinh nghiêm nhân gian, qua ca dao tục ngữ về bão lụt. Mọi sự đã được sắp sẵn để đón lụt bão, và có thể sống chung với lụt hàng tuần, thậm chí hàng tháng. Chính bản lĩnh, sức chịu đựng dẻo dai cọng với kinh nghiệm đã cho người dân quê mình tồn tại trước thiên nhiên khắc nghiệt hàng thế kỷ.

- Về thiên nhiên: Tôi nhớ thời đó nước lên chậm hơn bây giờ nhiều. Mưa nguồn cả mấy ngày sau mới thấy nước bạc về. Hồi đó rừng đầu nguồn chưa bị tàn sát như bây giờ. Sông suối tự nhiên chảy tạo ra những quy luật nhất định. Chỗ nào nguy hiểm người dân đã biết để tránh. Một yếu tố nữa rất quan trong đó là những thành trì của những lũy tre làng. Nhà nào xung quanh cũng được bao bọc những lũy tre kiên cố. Bờ sông rất nhiều những bụi tre La Ngà giữ đất không bị sạt lở. Những túp lều tranh thấp được tre che chắn lúc giông bão. Người ta không gọi là hàng tre, rừng tre mà gọi là lũy tre có lẽ cũng tự ý nghĩa này.



Về Huế ngày 28 – 9, để sáng 30 vào Sài Gòn như vé khứ hồi đã mua. Chiều 29.9, nhà văn võ sư Nguyễn Văn Dũng mời vợ chồng tôi ăn chay ở Liên Hoa. Trời mưa xối xã. Vợ chồng tôi và anh Dũng ngồi bàn kiểu Nhật, nhâm nhi bia Hu Đa. Nói chuyện văn chương thời sự mà dạ cứ ngoài mưa gió. Khoảng 21 giờ vợ chồng tôi xin kiếu để về khách sạn kẻo chút nữa không về được thì nguy.

Một đêm khó quên. Khách sạn trên đường Nguyễn Tri Phương chỉ có vợ chồng tôi và hai cặp Tây ba lô người Mỹ. Vợ chồng mình thì hoang mang, bồn chồn. Buồn và lo. Còn hai cặp kia thì chơi ghi ta suốt đêm. Họ hát dân ca, flamenco, cổ điển như không thèm để ý về mưa gió. Vậy mà mình cứ trằn trọc về nước và gió, thao thức nghĩ về bao số phận dưới tàn phá của thiên nhiên, xưa và nay. Rồi vùi vào giấc ngủ muộn.

Buổi sáng mở cửa đã thấy một cặp Tây, chàng ở trần mặc quần sọt, nàng thì mỏng mảnh quần lót áo ngực đứng nhìn mưa, và cười vô tư. Lại nghĩ, ở quê họ có bão lụt như mình không nhỉ!

Điện thoại hàng không báo chuyến bay sẽ được dời qua ngày 1.10. Điện cúp. Đường Nguyễn Tri Phương không còn bóng người đi lại. Thỉnh thoảng có chiếc ghe ai đó lặng lẽ trôi dưới mưa. Nước đục ngầu, cảm tưởng như sánh lại đỏ quạch. Đến gần trưa mà chưa tìm được gì để ăn lót dạ. Thôi liều. Lội nước ngang bụng đi mấy trăm mét mới có quán tạp hóa. Mua được mấy hộp thịt, mì gói.

Thêm một ngày đêm tự cầm tù trên khách sạn. Sáng 30.9 chúng tôi quyết định dời qua khách sạn bên đường Đội Cung. Nước rút nhanh. Công nhân vệ sinh hối hả làm việc. Những con đường vừa được tắm tươi mới trở lại. Buổi sáng chúng tôi quyết định đi bộ qua thăm nhà chị Thái Kim Lan bên đường Bạch Đằng. Từ cầu Gia Hội chúng tôi phải đi ghe máy và “cập bến” ngay cửa nhà. Chị Lan từ Đức về Huế đã mấy tháng, ở một mình trong căn nhà cổ. Chị cười bảo “Sướng chưa. Về quê mà lựa mùa mưa gió như ri thì đi chơi mô được. Thôi nấu cơm ăn với tôm chua chị làm ngon lắm”. Mấy ngày không có bữa cơm. Được ăn cơm nóng với tôm chua ngon chi lạ.

Buổi chiều, chị Lan cũng mấy người bạn tranh thủ nước rút để dọn hành lang trước nhà. Dùng chổi khuấy nước cho trôi bùn đi. Chị bảo ngày xưa mỗi lần lụt là vui lắm. Bạn bè trông cho có lụt để đi lội. Hồi đó nước không đục như chừ. Nhìn con đường Bạch Đằng nhầy nhụa, bùn có chỗ ngang đầu gối. Một lượng lớn đất màu mỡ từ rừng đầu nguồn trôi về đây, trôi ra biển. Nước đỏ ngầu, cuồng bạo nhanh chóng mang đi bao tài nguyên, gieo bao thảm họa cho xứ sở miền trung nghèo nàn này. Con người đang trả giá với thiên nhiên.

Xế chiều trời ngớt mưa. Chúng tôi lội bùn ra tới cầu Gia Hội, đi xích lô vào thành nội. Định ghé thăm nhà anh Nguyễn Tư Triệt mà đường còn ngập. Gọi điện thoại nghe ọ i è, có lẽ mấy ngày này bị cúp điện, máy hết pin.

Trước khi về lại khách sạn chúng tôi ghé thăm vợ chồng thầy Cao Hữu Điền. Thầy bảo lụt Quảng Trị đang lên nhanh. Tôi gọi điện thoại cho bạn bè ngoài quê, Lê Thị Dũng la ơi ới, bảo nước trong nhà đã ngang ngực rồi. Kiểu ni chắc dưới Triệu Phong Hải Lăng bị nặng lắm.

Chúng tôi về khách sạn chuẩn bị ngày mai vô sớm. Lại một đêm nóng ruột nghĩ về quê.

Chuyến bay đầu tiên của hãng Jestar sau bão lụt khởi hành lúc 8h. Nhìn qua đám hành khách phần đông là người nghèo qua cách ăn mặc của họ. Những người nghèo không có quyền chọn ngày đi ngày về. Số phận họ bị khuyên lại trong cái vé may bay giá rẽ.

Tôi ngồi cạnh một chị tuổi trung niên. Chị cứ nhìn ra cửa sổ máy bay mà khóc tức tưởi. Khi máy bay cất cánh tôi hỏi chị về hay đi. Chị bảo đi cũng như về, không biết gọi sao cho đúng. Chị đang làm công cho một người bà con trong Sài Gòn, mỗi năm được về quê một lần. Năm nay đứa cháu mua cho cái vé may bay giá rẻ, lần đầu được đi máy bay, những tưởng có một chuyến về thăm mạ thăm quê. Ai dè tới Huế thì đường về Phú Vang ngập không đi được. Ở lại Huế mấy ngày, sáng ni phải vô cho kịp…máy bay.

Máy bay lên cao. Đầm phá như biển nước phía dưới, loáng thoáng lù mù trong mây, làng xóm nhỏ dần, nhỏ dần. Chị ấy lại khóc, bảo có phải đó là làng tui không biết, tui thấy có cái đình như đình làng tui. Mạ tui đang còn ở đó.

Nhìn xuống những tầng mây đen nghị trời, xóm làng khuất hút dưới đó, có bao người trong chuyến bay này đang nhìn xuống quê mình, mang theo bao niềm cay đắng quê nhà trong tâm tưởng.

Báo Sông Hương tháng 9/2009






MẮT HUYỀN TRÂN

Nguyễn Đặng Mừng.



Ra quê gặp lúc trời mưa bão

Cụng trán người xưa tiếng sấm rền

Nửa đêm giật mình tưởng bom nổ

Quê hiền ếch nhái kêu buồn tênh



Xưa bom đạn xé chừ giông bão

Ngập ngụa đời nhau lổ mội* tràn

Mạ kêu trời ơi cơn mưa át

Cha ngâm mình níu một tàn nhang



Gân guốc mặt cha dây thừng cột

Nước mắt mạ khô chỗ em nằm

Dùng dằng ở đi mần răng được

Lăng mộ cha ông từ trăm năm



Chỗ eo ai cột quê mình lại

Ngọc Vạn* – Phương Nam – bão xứ Tần

Đất bạc sự đời trôi ra biển

Hoàng Sa gió tạt mắt Huyền Trân.



* Lỗ mội: :Lỗ nước ngầm khó phát hiện và rất nguy hiểm vì khó nhận ra. Quê mình có câu: Nước chảy ào ào không bằng hao lỗ mội.

* Công nữ Ngọc Vạn: Công nữ Ngọc Vạn là con gái Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Năm Canh Thân 1620, bà được gả cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II và cuộc hôn nhân này đã giúp Chúa Nguyễn mở rộng được lãnh địa thêm về phía Nam.
READ MORE - NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - VỀ QUÊ MÙA BÃO LỤT

Wednesday, October 20, 2010

HOÀNG CÔNG DANH - TÙY BÚT NGÀY LŨ



Cứ đến độ tháng bẩy tháng tám âm lịch, khi vụ lúa hè thu đang ngấp nghé trổ đồng là sấm giật trời. Mưa. Xối xả. Cơn thịnh nộ của chàng Thuỷ Tinh năm xưa đùng đùng giăng lên miền trung quê tôi một trời trắng xoá nước. Trong đó, tôi nghe được sự hân hoan của chàng Sơn Tinh và cái đập thình thịch của Mỵ Nương khi cuộc tân hôn chưa chạm về miền sơn cước. Ai đã khéo dựng lên truyền tích ấy cũng đáo để thật! Cái ghen tình là cái hận đáng sợ nhất, nhà Phật có câu "món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm" âu cũng vậy!

Người làng tôi khấp khởi mừng cơm mới mùa trước chưa xong thì đã phải thột lòng lo sợ thuỷ thần. Thuỷ hoả đạo tặc. Hạn hán và lũ lụt đã choàng lên mảnh đất miền Trung này cái khắc khổ tự bao đời. Mạ đang chạy chợ chiều, con đường mấy hôm mưa dội sục lên bùn dơ lấm vào gót chân. Nhìn cái dáng mạ hấp tấp vừa đi vừa bấm ngón trên đường làng, tôi hiểu một mùa lũ nữa lại về, tuần tự và đúng hẹn mỗi năm.





1. Ngày còn nhỏ, tôi được nghe nhiều cách nhận biết sắp có lũ. Mấy đứa con nít vẫn truyền nhau một bài vè khi nhìn thấy con "lẹm", tức là cái cầu vòng xanh đỏ vàng tím sau mưa. Câu vè rằng "lẹm dài thì lụt, lẹm cụt thì mưa, lẹm bưa bưa thì nắng". Chữ "lẹm" là một từ địa phương quen mồm mà gọi. Cũng có thể nó như cách nói chệch của chữ "lạm", hay là sự ăn phần đám mây, chéo xém một góc trời. Lẹm dài thường là một dải cầu vồng vắt ngang phía đông, đầu và đuôi con lẹm chạm khẽ đường chân trời. Sau những cơn mưa mùa hạ, chúng tôi thường kéo nhau ra xem lẹm và đoán thời tiết.

một điều đặc biệt là lẹm chỉ xuất hiện vào mùa hạ. Ngày xưa tôi không tự mình lí giải được điều đó, cứ đoán đại khái chắc lẹm cũng như lũ học trò chúng mình, đến hè rảnh rổi mới chạy đi chơi. Nhưng giờ thì đã biết một cách có căn cớ hơn, nó là môt hiện tượng quang học vật lý và sự vận dịch trái đất trên quỹ đạo một năm. Từ khi biết câu vè đoán trời đó, mỗi khi thấy có lẹm dài là lại sợ!

Ông nội có nói một câu thế này mà tôi nhớ hình như cũng là một cái tích có lưu truyền trong dân gian, rằng "mưa ba ngày liên tục thì lũ, mưa bảy ngày liên tục thì trời đất tan vỡ". Nghe vậy nên mỗi lần có mưa tôi đều nhẩm đếm. Một, hai, ba, thế là lũ.

Thằng bạn ở làng lại bày cho một cách nhìn tín hiệu lũ thiết thực hơn. Ở quê tôi có một cái cầu tục gọi là cầu Trấu. Ngày còn nhỏ mỗi lần đi học đều phải qua cầu Trấu, đi qua đó thì không quên nhìn những xoáy bọt cuộn lại giống hình chiếc bánh thuẫn. Những ngày thường, nước chảy qua cầu Trấu theo hướng đổ ra con rào của làng Trà Liên. Thằng bạn bảo, khi nào thấy nước chảy ngược lại là sắp có lũ. Cách nhận biết này chúng tôi truyền nhau để mỗi khi đi học mùa đông phải nhớ mà nhìn. Nếu thấy chảy ngược ngày thường thì xách cặp quay về nhà nghỉ. Cách mà thằng bạn chỉ thật hay và luôn luôn đúng vì một điều rất đơn giản: lũ miền trung do nước trên nguồn đổ về nên nước bên rào dâng cao, dĩ tất phải chảy ngược lại về phía làng. Tôi nhớ mãi thằng bạn đó với cái "mẹo" xem lũ rất khôn. Nó đã dạy cho tôi không chỉ một bài học mùa lũ, mà là cả bài học lớn về quê hương yêu thương.

2. Ở làng, kẻng đội là dụng cụ báo tín hiệu phổ biến hơn cả. Kẻng báo đi gieo vụ, kẻng báo trỉa ngô, còn đến mùa này thì kẻng báo lũ. Khi bác trưởng thôn đi ngoài đường rung kẻng tức thì lo liệu sắp xếp đồ đạc để đón lũ. Người đi làm xa xa cuống quýt chạy về kịp ngồi nhìn nước cùng nhau. Mạ chạy chợ bán chưa hết mớ rau, tất tưởi đi về dưới cái nón mê cũ kĩ che cơn mưa đang làm dữ.

Việc cần thiết nhất là đi xay lúa. Ngày lũ lạnh, phải cần có cái ăn vào bụng mới chịu nổi. Hai chiếc máy xát lúa ở làng căng dây cu-roa ra mà chạy. Mạ vừa gánh thúng gạo mới xát xong về tới thì nước cũng chạm ngõ. Cả nhà xúm vào kê đồ đạc. Nhà quê xong mùa thường trữ lúa cất lại ăn khá nhiều nên phải chồng lên thật cao chứ nước vào đụng phải thì ra giêng đói là cái chắc. Khổ nhất là phải bắc chuồng cho lợn và vịt. Thứ nhất vì đó cũng là cơ nghiệp làm ăn, thứ hai không thể để nó chết lạnh được. Thường thì người ta dỡ cửa ra, kê lên ngang cửa sổ rồi thả lợn vào trong. Gà thì không cần phải làm chuồng, tự chúng sẽ đậu trên cái chuồng heo mới dựng đó.

Dọn dẹp vừa xong thì lũ đã mấp mé ngoài sân, bây giờ chỉ còn ngồi đợi xem nước. Khấc báo mức lũ năm trước chưa nhạt đi hết thì lũ năm nay đến. Cái khấc đó cũng như cái khắc khổ của cuộc đời vậy, cứ chồng tiếp lên nhau dìm con người quê tôi vào đắng cay. Làng tôi nằm trong vùng chịu lũ đồng bằng Quảng Trị. Lũ về ngâm khoảng một tuần mới chịu ra hết. Một nửa số nhà dân trong làng được lũ ghé vào nền, cao thì cỡ đầu gối, thấp thì tráng qua đủ để lại một vết báo cuối chân tường.

Ăn uống ngày lũ đơn giản thôi. Như câu cửa miệng người quê tôi hay nói, "ngày lũ ăn chi cũng thấy ngon!". Quả đúng như vậy! Bên ngoài thì nước, gió, lạnh, trong bụng lại thấy đói, chỉ cần nấu nồi cơm lên rồi nhón ít muối trắng với tiêu ăn còn ngon hơn những ngày thường. Ngày lũ, mạ tôi hay làm muối mè. Đậu phộng thu hoạch từ mùa đem ra rang lên, giã nhỏ rồi trộn với muối và đường. Mè đậu ăn với cơm gạo dẻo trong mùa lũ vừa chắc bụng vừa giữ ấm được.

Mùa lũ. Ông nội hay nhen một đống lửa giữa nhà ngồi sưởi ấm. Tôi nhớ mắt ông liu riu nhăn theo làn khói xông lên, hai bàn tay ông huơ ra trước lửa. Trông ông lúc ấy thật đẹp lão và hồn hậu đến lạ. Trên bếp lửa, ông tôi nhủ bắc lên đó một nồi xôi khoai. Cả nhà ngồi quanh nói chuyện chơi đợi xôi chín. Xôi ngày lũ trộn thêm khoai, ăn với muối tiêu. Ông bảo, ăn xôi phải vắt tay mới ngon. Nắm một cục vừa tay rồi nắn cho xôi dẻo, khi những hạt nếp đã bẹ ra sệt lại với nhau dẻo quánh như chiếc bánh giầy ăn thích lắm. Mà xôi, nhất quyết phải nấu lửa củi mới đúng bài. Nước trong nồi vừa cạn xuống là dập lửa ngọn, chỉ còn than hồng ủ ấm để xôi chín hơi. Phần chín hơi rất quan trọng, làm xôi và khoai không bị sượng. Xôi để trên than củi còn có được lớp cháy dính dưới đáy nồi, ăn vừa giòn vừa dẻo. Có năm nhà tôi trồng khoai lang, đến ngày lũ cứ bắc khoai trên lửa ăn suốt ngày. Ăn khoai, uống nước chè, kể chuyện ngày lũ ấm áp lắm!

Ban đêm, lũ chim bay về đậu nhiều trên bãi tha ma. Những ngày ấy đi săn chim rất dễ. Chim trời lạnh rụt cánh nhác bay. Ba tôi cùng mấy chú trong xóm căng vải mùng lên làm bẫy đi đơm Dạt. Dạt là một loài chim thường xuất hiện nhiều vào mùa đông, chúng hay bay dạt về làng vào ngày lũ. Phải vì thế mà người ta đặt tên cho nó là "Dạt"? Đi đơm Dạt cầm thêm cây đèn pin, cái sào dài nối bẫy là đủ. Đi một hồi, ba tôi xách về vài con Dạt vừa kiếm được. Vặt lông nướng lên, chén nước mắm và chai rượu đế trắng. Vậy là có một bữa nhậu thật sang. Trong gian khổ, người Quảng Trị vẫn biết cách làm cho cuộc sống của mình thi vị!




3. Con nít ở làng đến lũ thì mừng rơn vì được nghỉ học và chèo bè. Ký ức trong tôi còn lại về mùa lũ đầu đời cũng gắn với chiếc bè chuối cây ấy. Khi nước về, thêm gió tạt mạnh làm những thân chuối lâu năm bưng gốc mà bổ nhào xuống, chúng tôi đem dao phay ra chặt làm bè. Nếu không có chuối bị bổ thì kiếm mấy cây đã trổ rồi. Cây chuối chỉ cho một lần hoa kết một lần quả. Vậy nên những cây đã trổ rồi chặt đi cũng không phải là tiếc. Thường thường người ta dùng chuối trổ này để thái nhỏ cho lợn ăn.

Kiếm độ năm cây chuối, xếp chúng kề nhau rồi dùng ba thanh tre xuyên ngang là được một chiếc bè. Lắp chuối thì phải so le trở đầu để chiếc bè cân đối. Khi bè vừa vào đai tre xong thì nước cũng vừa quệt mông cái sân phơi. Mấy đứa cùng nhau đẩy chiếc bè ra nước, tìm thêm cái sào chèo và bắt đầu đi du ngoạn. Chèo bè dễ hơn chèo đò vì nó vốn đã cân bằng trên mặt nước rồi, chỉ cần đứng trên đó phải định tâm một tí là ổn cả. Ngày nhỏ thích chèo bè nhưng lại sợ nước, khi đứng trên bè rồi nhìn xung quanh đục ngầu mênh mông lũ thì sợ. Mà chiếc bè kia cũng như con đỉa vậy, ai mà sợ thì nó càng chọc khoé. Đứng trên bè chuối, chân trần rất dễ trượt, nếu không đứng vững là ngã nhào xuống nước ngay. Lũ con nít chúng tôi thường chỉ chèo loanh quanh nhà, hoặc chỗ nào nước lặng chứ không dám lân la tới những vùng nước chảy xiết. Ngày tôi còn nhỏ, ông nội thường đóng bè cho anh em chèo quanh sân. Khi học lên cấp hai rồi thì anh em chúng tôi tự đóng bè mà chơi. Có năm, ba chèo chiếc bè chở tôi băng cánh đồng làng đi kiếm mắm cà. Giữa dòng nước lớn tôi khóc ré lên còn ba thì cười. Ba bảo, con trai làng mà sợ nước lũ thì làm sao lấy được vợ? Và cái cười của ông hoác lên thu lấy cả bầu trời ngày mưa.

Ngoài bè chuối mà lũ con nít hay chơi thì còn có những chiếc đò, chiếc nôốc nhỏ của dân vạn chài. Làng tôi không sông không biển nên không có nghề đánh cá. Tuy nhiên, có một nhà cũng đóng chiếc ghe nhỏ để lũ chèo đi giăng lưới. Trận đại hồng thuỷ cuối thế kỉ (1999), chú tôi mượn chiếc ghe đó chèo qua vũng nước xoáy mạnh nối xóm trên và xóm dưới. Cái vùng trũng ấy chính là bãi tha ma có tên Cồn Sanh. Nhìn chú tôi một mình chèo qua đó mà cả làng phát hoảng, riêng chú vẫn an nhiên không sợ sệt gì. Chú tôi mệnh lớn, người thuộc dạng vạm vỡ giang hồ, những trận nước lớn chưa hề dám đụng đến cái lông chân chú. Vậy mà sau mùa lũ thế kỉ đó, chú tôi mất vì bạo bệnh. Nghĩ, sóng to gió lớn không bằng đau đớn bệnh tật.

4. Lũ miền trung, trắng một màu tang tóc. Cứ mỗi mùa lũ về lại nhấn chìm bao nhiêu nhà cửa phận người. Những nóc nhà ngập trong nước, mái tranh chơm chớp bị tớp bởi lưỡi thuỷ thần. Tôi từng chứng kiến những cái chết lũ đau đớn, mỗi lần mường tượng về cái xác vớt lên bầm dập lại phát sợ. Trận lũ cuối thế kỉ, chính nơi cái bãi trũng cồn Sanh mà chú tôi băng ghe qua đó, ngờ đâu hôm nước sắp rút hết lại xẩy ra một chuyện buồn kinh hãi. Hôm đó nước đã rút gần hết rồi. Ở chỗ đường cái lớn, nước chỉ còn ngang cái thắt lưng quần, mọi người đã có thể lội băng qua mà đi họp chợ. Một cặp trai gái ở làng rủ nhau đi chợ chơi rồi vô tình trượt chân, nước kéo cả hai trôi xuống phía cánh đồng Bàu. Mấy hôm sau, cả làng kéo nhau lội đi tìm xác.

Người chết lũ không đưa về làm đám trong nhà mà phải dựng trại ở ngoài bãi đất cồn. Thầy cúng căng một tấm phan vải trên ngọn tre cao làm lễ gọi hồn về. Theo quan niệm dân gian thì những cô hồn này đang ở một phương nào đó xa xăm, có thể theo con nước trôi ra biển, cần làm lễ để khiển cầu quay về. Sau trận lũ đó, tôi bước sang tuổi mười bốn, lớn hơn một tí. Mỗi lần mùa lũ đến không còn háo hức chèo bè chuối như xưa mà thay vào đó là một nỗi hoang mang lo sợ. Ám ảnh một cái chết mùa cũ.

Đặc trưng địa lí mỗi vùng qui định tính chất con nước lũ và triều cường. Lũ miền trung thường lên chậm và xuống chậm. Mỗi trận lũ nước vào ngâm làng cỡ một tuần lễ. Nước vừa ra, cả nhà lại cầm chổi mà "đuổi" bùn non ra theo. Cái thứ bùn non này mùa lũ nào cũng đóng một lớp trên sân. Rồi còn bèo và rác rưởi mắc kẹt lại quanh nương.

Sau lũ, nhìn vườn rau vườn cải mà thương. Ngọn khoai nhúng trong nước giờ thẫm màu đi, bao nhiêu cải cũng bét nhèo hết. Chính vì thế mà chợ họp là rau cải thành món hàng đắt nhất. Ai dám bảo rau không có giá nào?! Mạ tôi thường đi chợ sớm, là bởi cái tần tảo trong người phụ nữ ấy mấy chục năm chưa biết chồn chân đợi chờ. Ngày họp chợ đầu tiên sau lũ, tôi theo mạ ngúng ngoảy ra chợ, dọc đường có dăm chỗ nước chưa kịp xuống hết, lội bì bõm. Ra tới chợ, bà con ai cũng kêu ở chi quê miềng mà cực như ri. Mạ nói: "Ngó thì cực ri đây. Nhưng ai đi xa rồi cũng muốn về!".

Minsk, những ngày xa quê

HOÀNG CÔNG DANH

READ MORE - HOÀNG CÔNG DANH - TÙY BÚT NGÀY LŨ

VÕ THỊ NHƯ MAI - CHÙM THƠ MƯA



Sài Gòn mưa


Em có thấy mưa vội đến không?

Sao chẳng dừng chân bên mái hiên

sau giờ tan sở

Thành phố chiều thứ năm nhâm nhi nỗi nhớ

Đếm có bao nhiêu người cảm lạnh sau hôm nay?

.

Những giọt mưa bay

rơi li ti vào chiềc cốc

Nhớ em như thế nào là nhiều?

.

Đừng kéo anh vào một thời liêu xiêu

bằng những dòng thơ mặn

lướt trên môi vị đắng

nước mắt một kiếp người không đủ để hòa tan

.

Anh không còn cái thời muốn chạy xe lang thang

với đôi mắt yêu em như say

dấu sau cặp kính râm

phớt tỉnh

Em không còn đùa nghịch

Lấy kính tung lên trời

Để đôi mắt anh rối bời

Lặng lẽ dấu vào em

.

Em có thấy mưa đến rất êm?

Và cũng sẽ ra đi

vội vã như khi

anh tiễn thằng bạn thân đi học

Sài gòn mưa bất thường xin em đừng trách

Nhớ em lúc nào cũng nhiều.

.

08/08/2010

.





Mãnh đời âm u

.

Và thế là mưa

Mưa buồn mưa rơi trên phố

Dáng ai gầy trong hoàng hôn buốt lạnh

Chạnh thương bạn mình dòng thơ rịn mồ hôi

.


Và thế là thôi

Qua rồi những lần bối rối

Hoài cảm như dòng hải lưu

cuốn trôi mỗi người rất vội

Thành phố chập chờn

bất định như rêu

.

Và thế là đêm

Đâu rồi tiếng gà cứ vài canh lại gáy

Bà lưng còng chụm rơm

đun ấm chè xanh

mơ màng khói lùa lau sậy

Tiếng trẻ trở mình

khóc ré đòi mẹ ru

.

Và thế là mảnh đời âm u

Giây leo nào quấn quanh

ngăn hồn đừng bay mất

Nhớ quê là điều rất thật

Gửi gió thanh tao

xin một chút nắng hồng …

VTNM

28/05/2010








Mỹ Chánh qua ký ức tuổi thơ

I.

Đó là trận lụt của năm tám mươi ba

Anh cõng bà nội lên tra

O ngồi co ro trên cái tủ

Người ta đồn

thuyền chở ba mẹ nhấn chìm trong lũ

may mà sau dông

cả hai lạnh, môi thâm, ào ạt vào nhà

Ba ngày đêm bão vần vũ kéo qua

Anh lật thùng phuy nấu một nồi cơm nhão

Chờ khi trời ráo

Đâu thân chuối làm ghe

qua dì dượng xem chừng

Đài phát thanh thị xã rè rẹt không ngừng

Bao kẻ trôi sông, mấy người mất tích

Mỗi năm đến mùa bão cứ dòm lên lịch

Vái ông trời, cho Mỹ Chánh lặng yên

II.

Đó là những ngày thần tiên

Lội sình qua kênh thăm cô giáo ốm

Con Mai ròm

nẹo mình bên hông

tay cầm miếng cốm

sợ rơi tõm xuống bùn

Hình như nó vẫn ròm *

Thằng Chiến tổ trường

Năm nào cũng nhận phần thưởng

Giờ lang thang ca khản cổ khắp làng

Thằng Tân ngày xưa nhút nhát chẳng ai màng

Đang làm giáo sư bên Pháp

Sau những ngày bão táp

Cùng thằng Bửu nhặt me

Ăn có bao nhiêu, ném cả sau hè

Rồi cười như nắc nẻ

III.

Đó là những cô gái đang thời tươi trẻ

Tóc mượt, mắt long lanh, đáo để duyên ngầm

Các chàng trai hàng xóm ngờ nghệch yêu thầm

Không hay mỗi đêm

Dăm người già ra xua tay đuổi chó

“Mấy thằng khỉ gió

Chúng nó lại đi gò”

Đợi hoài thành âu lo

Các cô xuống đò

Ngậm ngùi về làm dâu làng khác

IV.

Đó là một chiều gió bạt

Cậu mượn thuyền chở bé đi chơi

Mê mải vớt lục bình, mưa rơi

Chèo hoài, chưa thấy đâu là bến

V.

Đó là tô canh hến

Là bún bò mụ Rác

Là cháo vạt giường chị Rê

Là chén chè kê

Hay mấy dái mít non

O Hai trộn chung với ruốt

VI.

Đó là những đêm đốt đuốc

Rước chị Hằng xuống quê

Là những lần hội họ, họp nhánh phái, đắp đê

Là khi Chánh –Tiên, Luận – Hà có con trai con gái

Làng quê giờ này xôn xao mùa gặt hái

Càng nao lòng, nẫu ruột nhớ xa xăm



Võ Thị Như Mai

_______________

· Lần rồi về quê, được biết là nó chẳng còn

READ MORE - VÕ THỊ NHƯ MAI - CHÙM THƠ MƯA

Tuesday, October 19, 2010

MAI THANH TỊNH - CHÙM THƠ MƯA



Mưa đầu mùa


Mưa đầu mùa

Trả nợ ngày khô hạn

Ướt gió đêm

Ướt nỗi nhớ đi hoang

Ta lan man mái tình dột hoang tàn

Hồn phiêu lãng gọi bời bời con nắng

Em mù xa ...

Ưng ửng một vầng dương...

Mưa đầu mùa

Ngập lụt ngày yêu đương

Phù sa chan nồng nàn hò hẹn

Hạt mùa nhau mầm sương mơ ủ chín

Đợi bình minh lóng lánh nụ đợi chờ

Nhúm nắng gầy từ phương người bỡ ngỡ

Quà em trao chút hương đời cứu trợ

Đủ cầm hơi qua ngày tháng vật vờ...

Mưa đầu mùa

Anh viết vội vần thơ

Ươn ướt nhớ

Mưa đẫm buồn vô cớ...

10/2010



Trắng mưa thu


Mưa thu lất phất nửa chiều

Lá vàng nuối tiếc mùa yêu thậm thào

Gió lay khe khẽ bờ rào

Mồng tơi tím rụng xuyến xao một thời

Câu thơ vá víu nửa vời

Đan mây lên tóc nỗi đời trắng đen

Mưa chi cho nhớ lên men

Lâng lâng thèm chút môi sen má hường

Mái tôn gõ nhịp vô thường

Ru người ngọt giấc mơ suông lỡ thì

Ngồi câu bong bóng tình si

Lêu bêu tan vỡ còn gì cho nhau

Đưa tay ta vuốt nỗi sầu

Trời xanh đã trắng, trắng phau mưa chiều...

9/2010





Thêm một chiều mưa


Cơn mưa vội vô tình

Ướt nỗi buồn vừa hong

Miền yêu thương hoài vọng

Rũ mềm làn môi cong

Bong bóng nước long đong

Đỉnh hẹn hò gió hú

Cuộc tình trôi sấp ngửa

Tím lục bình ngây ngô

Núi hát lời màu đỏ

Mây ủ hoàng hôn mơ

Lời ru hời cõng gió

Ngậm ngùi khúc đồng dao

Thêm một chiều mưa rơi

Vỡ nốt buồn si trưởng

Tiếng dương cầm nông nỗi

Buông cung trầm xa xôi

Ta vốc nắm tơ đời

Vung lên trời hê hả

Mặc mưa kia suồng sã

Ướt sũng chiều lao đao

8/2010




Đêm trở mùa

Gió vẫn thổi men theo triền nhớ

Tiếng lao xao lá rụng ngõ ơ thờ

Đêm còn lạc đăm đăm vô cớ

Mùa đã sang lầm lũi góc phố mưa

Ngoài mái hiên lách tách giọt lùa thùa

Trái khô rớt màu thời gian hoen úa

Khách trọ khuya tìm hơi miền đất Chúa

Chút heo may lành lạnh bỗng thêm thừa

Hà Nội mưa tiếng rao đêm im ắng

Giấc chập chờn phố cổ mắt rêu phong

Ô cửa nhỏ khép hờ thiu thiu ngủ

Váng buồn lan khẽ níu bóng đêm chùng

Đêm trở mùa se thắt nỗi nhớ nhung...

Hà Nội 10/2009





Điệp khúc mưa


Mưa ngày xưa ngại ngùng bối rối

Áo che chung tim rộn rã bồi hồi

Mưa bất chợt bên nhau bất chợt

Ngây ngất đêm hương bồ kết chơi vơi

Có phải mưa nụ hôn nồng bỗng vội

Tiếng thở rung òa vỡ dấu tình đầu

Tan theo gió hòa vào mây năm tháng

Rớt bên đời từng giọt nhớ mùa ngâu

Rồi mưa đẫm pháo hồng xác phượng

Ngập lối về bì bõm giấc yêu đương

Giông mượn gió bẻ hoa vùi xứ lạ

Trắng mênh mông nhòa nhạt giấc nghê thường

Những cơn mưa rụng vô tình giọt đắng

Tưới bao mùa xa xót nẩy mầm đau

Để mưa nay quầng thâm chiều vắng

Bóng nước lơ ngơ điệp khúc mưa...

10/2009

READ MORE - MAI THANH TỊNH - CHÙM THƠ MƯA

Sunday, October 17, 2010

VÕ QUÊ: LÊ ANH - NGƯỜI KẾT SÓNG TÌNH CA




TẠM BIỆT HUẾ
NHẠC :LÊ ANH
THƠ: THU BỒN
GIỌNG CA: BẢO YẾN



Trong những năm gần đây, công chúng yêu thích âm nhạc vui mừng đón nhận, thưởng thức các đĩa CD giới thiệu những ca khúc được dàn dưng một cách công phu của nhạc sĩ Lê Anh, đó là CD “Chơi vơi”, “Tình Quê”. “Giọng hò thương nhớ” do nhiều ca sĩ tên tuổi trong nước biểu diễn (Nhà xuất bản Âm Nhạc Việt Nam thực hiện). Nhạc sĩ Lê Anh sinh ngày 4.2.1937 tại xã Vĩnh Hiền, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị. Từ thời niên thiếu Lê Anh đã say mê và có năng khiếu bẩm sinh về âm nhạc. Mặc dầu hồn cảnh gia đình lúc bấy giờ tương đối khó khăn, chật vật nhưng Lê Anh cũng được bố mẹ chu cấp cho của Trường Âm Nhạc Việt Nam tại Hà Nội từ năm 1959 đến 1962.
Sau khi tốt nghiệp, Lê Anh trở về công tác tại Ty Văn hóa Thông tin Vĩnh Linh cho đến năm 1972. Đây là một giai đoạn khó khăn gian khổ nhất bởi cuộc kháng chiến chống Mỹ ngày một ác liệt. Vượt lên những thử thách một thời trẻ trai, bằng sở học của mình, Lê Anh tích cực tham gia, lăn lộn vào các hoạt động văn hóa văn nghệ quần chúng ở quê nhà. Phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” của nhân dân miền Bắc đã giúp cho Lê Anh trưởng thành trong nghệ thuật. Khát vọng và ước mơ được sáng tác nên những ca khúc phục vụ chiến đấu, phục vụ chính cuộc sống của nhân dân, thể hiện trang trọng tình yêu lứa đơi, tình yêu quê hương đất nước luơn cháy bỏng trong anh. Năm 1972, lại một lần nữa anh được ra Nhạc viện Hà Nội học khoa sáng tác như điều anh mong muốn. Từ môi trường học tập chính quy này, Lê Anh đã sống những tháng năm quý báu. Các nghệ sĩ bậc thầy trong âm nhạc, các đồng nghiệp, đồng môn đã luôn tạo cho anh những khám mới trong khúc thức, ca từ. Hồn nhạc dân tộc, chất liệu dân ca từ miền Trung quê hương đã tiềm ẩn sinh động trong mạch nguồn sáng tạo của anh.
Năm 1976, rời Hà Nội Lê Anh trở về phụ trách phần âm nhạc của phòng văn nghệ thuộc Sở Văn hóaThông tin Bình Trị Thiên, năm 1985 làm chỉ đạo nghệ thuật rồi Trưởng Đồn Nghệ thuật Ca Múa Nhạc Bình Trị Thiên cho đến 1989 thì ra công tác một năm tại Hội Văn Học Nghệ thuật Quảng Trị. Tuy bề bộn với cơng tác quản lý, Lê Anh vẫn dành nhiều thời gian cho cơng việc tìm hiểu, nghiên cứu các thể loại dân ca, các điệu lý nhằm chuyển tải hồn dân nhạc một cách tinh tế vào trong từng ca khúc. Với phong cách trữ tình, những bài hát của Lê Anh được cơng chúng dễ dàng tiếp nhận bằng những rung động thật, sâu sắc. Trong các hội diễn, liên hoan nghệ thuật trong và ngồi tỉnh, các tác phẩm của Lê Anh luơn được nhiều cơ quan, đơn vị chọn vào dàn dựng trong chuơng trình và được khán giả yêu thích, thuộc lịng, tiêu biểu cĩ các ca khúc “Trên phá Tam Giang em hát”, “Màu xanh yêu thương”, “Thu Bồn ơi”, “Giọng hò thương nhớ”, “Ánh mắt Thành Huế”, “Đi cùng sông Hương” (phổ thơ Lâm Thị Mỹ Dạ)…
Trong những năm gần đây, khi đã nghỉ hưu, so với một số nhạc hữu cùng thời khác, bút lực Lê Anh càng sung mãn, tràn trề sức sống. Niềm say mê được đi và viết luơn thơi thúc Lê Anh làm những chuyến điền dã dài hơi trên nhiều địa phương khác nhau. Từ vốn liếng thực tế phong phú của thời trai trẻ cộng với những gì mà Lê Anh tiếp cận, thâu thập được trong thời gian cơng tác và hưu trí, Lê Anh đã sáng tác thành cơng nhiều ca khúc để đời. Đến thâm nhập thực tế, sáng tác tại Quảng Bình Lê Anh đã cho ra đời CD “Tình Quê” , một công trình nghệ thuật cò giá trị ngợi ca cuộc sống, con người Quảng Bình trong công cuộc đổi mới. xây dựng đất nước. Riêng với Quảng Trị, nơi anh đã được sinh ra và lớn lên; nơi anh từng hạnh phúc và khổ đau cùng người đất Quảng chịu khó chịu thương anh đã tâm huyết gửi đến bà con quê nhà và trong cả nước CD “Giọng Hò Thương Nhớ”. Trong những ca khúc của CD này những địa danh quen thuộc như Đông Hà, Gio Linh, Đa Krơng, Hải Lăng, Thành Cổ, sông Hiếu… được Lê Anh biến thành những ca từ ý vị, tâm huyết, lắng đọng, mượt mà và sâu thẳm một khối tình mong dành tặng quê hương.
Sống với Huế thơ mộng, miền đất Lê Anh đang sống, đã yêu thương, đã hy vọng và khổ đau cũng mang lại cho anh những tứ nhạc mới giúp anh viết lên những giai điệu trữ tình, da diết. Ngoài các ca khúc được giải thưởng của Hội Nhạc Sĩ Việt Nam, của UBTQLHCHVHNT Việt Nam, tại Thừa Thiên Huế nhạc sĩ Lê Anh đã được giải B Giải thưởng VHNT Cố Đô lần thứ II (1993). Với Huế, hiện nay Lê Anh đang mong khi có điều kiện, hoặc được sự quan tâm của Tỉnh và thành phố Huế , anh sẽ thực hiện CD những ca khúc viết về Huế trong những năm qua mà anh rất tâm đắc và người Huế cũng đã biết đến nhiều như “Ánh mắt Thành Huế”, “Qua Lăng Cơ”, “Thành Huế sáng nay”, “Đây thôn Vỹ Dạ” (phổ thơ Hàn Mặc Tử); “Tạm biệt Huế” (phổ thơ Thu Bồn), “Tháng Ba hoa nhãn”… Hiện nay về mặc in ấn ca khúc Lê Anh đã có trong nhiều tuyển tập nhạc thời Bình Trị Thiên, Nhạc viện Hà Nội, tuyển tập “Bài ca đất nước”, “30 năm ca khúc Việt Nam , 1975-2005 (Hội Nhạc Sĩ Việt Nam-NXB Âm Nhạc Việt Nam)… Nhạc sĩ Lê Anh mong cĩ những tuyển ca khúc riêng, những CD chuyên đề riêng cũng là nguyện vọng chính đáng của người nghệ sĩ. Theo nhạc sĩ Lê Anh, dòng sống, dòng tình, dòng nhạc trong Lê Anh cứ đan xen, hòa quyện, vọng ngân thành sóng tình ca hiến tặng đời.
Bài đã đăng trên: www.voque.org
READ MORE - VÕ QUÊ: LÊ ANH - NGƯỜI KẾT SÓNG TÌNH CA

Monday, October 11, 2010

NGUYỄN ĐỨC TÙNG - BILLY COLLINS: MỘT NGÀY NỮA THÔI

Billy Collins, nhà thơ Mỹ, sinh 22/03/1941

Mới đây, có dịp đi qua một bức tượng trong công viên, tôi bất giác nhớ đến bài thơ của Billy Collins. Tôi thầm cảm ơn ông về điều này.
Giữa những khuynh hướng khác nhau của thơ đương đại, hình như ngày càng trở nên khó hiểu đối với đa số người đọc, Billy Collins là một người đi ngược dòng. Thơ ông dễ hiểu. Hơn thế nữa, đó là một nhà thơ của đời sống đương thời, của những chi tiết bình dị hàng ngày. Đọc Collins tôi luôn luôn ngạc nhiên: nhìn quanh mình, ở đâu tôi cũng nhìn thấy những điều mà ông vừa mới chỉ ra, chỉ có điều là trước đó thì tôi không thấy được.
Sinh năm 1941 ở thành phố New York, tốt nghiệp tiến sĩ Anh văn ở Đại học California, Riverside với luận văn về Wordsworth và Coleridge, cặp nhà thơ tri âm tri kỉ, Billy Collins hiện sống ở New York. Hai lần là nhà thơ danh dự (poet laureate) của Hoa Kỳ. Được xem là người được công chúng mến mộ nhất hiện nay (1).
Collins thường trò chuyện với độc giả, không bao giờ quên độc giả trong thơ của ông. Đó là một cuộc trò chuyện không ngớt, bài này qua bài khác, ngày này qua ngày khác, miên man bất tận. Lần nào ông cũng có khả năng làm chúng ta ngạc nhiên.
bạn cảm thấy thế nào đây
nếu bạn biết
tôi viết những dòng này
thay vì bạn
I wonder how you are going to feel
when you find out
that I wrote this instead of you (2)
Hình như từ xưa đến nay, khi sáng tác, trong cơn cảm hứng, khác với các nhà văn, các nhà thơ thường chỉ viết cho mình. Trước hết, họ trò chuyện với chính mình. Billy Collins thì khác, ông đối thoại với người đọc trực tiếp hay kể chuyện cho họ nghe với một ngôn ngữ bình dân như thứ tiếng mà chúng ta vẫn nói mỗi ngày. Có lẽ vì vậy mà ông được nhiều người yêu mến, tìm đọc và đôi khi được gọi là nhà thơ của nhân dân.
Những bức tượng trong công viên
Anh nghĩ về em hôm nay
khi dừng chân trước bức tượng kỵ sĩ này
trong công viên
Em từng chỉ cho anh
những tư thế đẹp ý nghĩa thế nào.
Ngựa chồm hai vó lên cao
là người kỵ sĩ đã chết trên chiến trường
Còn một chân đưa lên:
kẻ ấy đang trúng thương
Nếu cả bốn chân đều chạm đất,
như bức tượng này -
móng đồng bám chặt vào nền đá -
kỵ sĩ vẫn còn trên lưng ngựa
Kẻ đăm đăm nhìn nhà hát đóng cửa bên kia đường
đã chết vì một nguyên nhân nào khác không phải chiến tranh
Trong bóng râm của bức tượng
anh thầm nghĩ về bao người khác
đã giản dị đi qua cuộc đời
không ngựa, không yên, cũng chẳng có gươm
người bộ hành không bao giờ nữa
đặt chân này lên trước chân kia.
Anh hình dung bức tượng
của người bệnh co quắp trên giường đá lạnh,
của kẻ tự tử chạm ngón chân mình lên mép gạch đá vân,
tượng của những nạn nhân
bịt mắt, của kẻ bị giết rồi tay còn che vết thương,
của người chết đuối lặng im trôi nổi trên bầu trời.
Và anh chôn chân ở đó,
trên nền cẩm thạch xám hồng
gần những bụi cây công viên,
tên anh và ngày tháng khắc trên bảng đồng,
Quỳ gối, mắt ngước nhìn lên,
cầu nguyện với mây trời
bay qua, mãi mãi xin thêm một ngày, một ngày nữa thôi.
Statues In The Park (3)
I thought of you today
when I stopped before an equestrian statue
in the middle of a public square.
you who had once instructed me
in the code of these noble poses.
A horse rearing up with two legs raised,
you told me, meant the rider had died in battle.
If only one leg was lifted,
the man had elsewhere succumbed to his wounds;
And if four legs were touching the ground,
as they were in this case –
bronze hooves affixed to a stone base –
It meant that the man on the horse,
this one staring intently
over the closed movie theater across the street,
had died of a cause other than war.
In the shadow of the statue,
I wondered about the others
who had simply walked through life
without a horse, a saddle, or a sword -
pedestrians who could no longer
place one foot in front of the other.
I pictured statues of the sickly
recumbent on their cold stone beds,
the suicides toeing the marble edge,
statues of accident victims covering their eyes,
the murdered covering their wounds,
the drowned silently treading the air.
And there was I,
up on a rosy-gray block of granite
near a cluster of shade trees in the local park,
my name and dates pressed into a plaque,
down on my knees, eyes lifted,
praying to the passing clouds,
forever begging for just one more day.

Hãy xem ông mở đầu như thế nào:
Anh nghĩ về em hôm nay
Cũng có thể là:
Em nghĩ về anh hôm nay
Hay:
Tôi nghĩ về bạn hôm nay
Vân vân.
Đó là điểm thuận lợi của một số ngôn ngữ như tiếng Anh. Điểm thuận lợi nào bao giờ cũng kèm theo nhược điểm. Nhưng đó là chuyện khác.
Câu mở đầu của một bài thơ là câu quan trọng. Vì nó là cánh cửa dành cho người đọc, mở vào thế giới riêng của bài thơ. Nhưng quan trọng hơn cả, cánh cửa ấy hầu như tác giả không tự mình chọn được. Bởi vậy khi lần đầu đọc câu thơ này tôi đã dừng lại một lát: hôm nay có gì lạ? Sao anh lại nghĩ về em hôm nay? Khi mỗi ngày đều nghĩ về em thì hôm nay anh có nghĩ nhiều hơn chăng? Câu mở đầu của Collins là một câu thơ trúng chỗ, không thể di lệch được, nhưng nó lại rất bình thường. Bất cứ một nhà thơ nào cũng có thể làm một câu tương tự.
Vấn đề là vào lúc nào?
Khi dừng chân trước bức tượng kị sỹ này
Chúng ta được dẫn đến trước một bức tượng trong công viên. Tưởng tượng bạn đi dạo chơi một mình, ngẩn ngơ lạc bước, dừng chân trước nó hồi lâu. Rồi bạn làm gì? Đưa máy ảnh lên chụp hình về khoe với bạn chăng? Im lặng thở dài? Hay mua một cây kem vừa mút vừa quay đi?
Ở trên tôi vừa nói thơ Collins dễ hiểu. Đó là nhờ ông dẫn chuyện tài tình. Tôi nhận ra rằng trong hầu hết các bài thơ hay, tiếng Việt hay tiếng nước ngoài, ngôn ngữ của nhà thơ thì dễ hiểu, nhưng chính nhà thơ thì không. Bạn được nghe kể chuyện một cách thong thả, có một khoảng cách giữa người nói và người nghe, nhưng khoảng cách đó không lớn, bao giờ cũng thân mật, nhờ tính hài hước ngấm ngầm bên trong.
Đã chết vì một nguyên nhân nào khác không phải chiến tranh
Té ra một người anh hùng cũng có thể chết vì bệnh viêm phổi chẳng hạn, hay vì một tai nạn xe cộ lãng xẹt, hay vì tuổi giá âm ỉ tới trong nhà dưỡng lão không con không cháu mà trợ cấp hưu trí không đủ sống.
Không ngựa không yên cũng chẳng có gươm
Chúng ta để ý rằng tính hài hước trong thơ Collins nhuốm phong cách u mặc phương Tây, nghĩa là nếu xem nó không phải hài hước thì cũng đúng. Bởi vì đó là sự thật được lật ra một cách thông minh.
Hình ảnh có tính ẩn dụ (metaphors) trong thơ có hai loại: những ẩn dụ mang tính trang trí và những ẩn dụ chức năng. Thơ càng non tay, loại thứ nhất càng nhiều. Thơ già dặn, loại thứ hai nhiều hơn.
Đặt chân này lên trước chân kia
Là một câu thơ chuyển tiếp, là một liên tưởng mạnh mẽ và quyến rũ vì nó liên hệ mật thiết với hình ảnh kỵ sĩ trên lưng ngựa. Nó đưa ta trở về với cuộc đời thường, nơi mà thông điệp của Billy Collins bắt đầu. Đó là một ẩn dụ có tính chức năng.
Chúng ta trở lại với hình ảnh ban đầu. Người kỵ sĩ là biểu hiện của cuộc chiến đấu, nhưng là cuộc chiến đấu nào? Đó là cuộc chiến đấu giữa các quốc gia, giữa con người và thiên nhiên hay giữa con người và con người trong xã hội? Hay là cuộc chiến đấu nội tâm ở mỗi cá nhân?
Kẻ trên yên ngựa đăm đăm nhìn về một nhà hát đóng cửa bên kia đường. Cuộc đời là sân khấu với những trò yêu ghét, say mê, nhầm lẫn, sự thật và giả dối, vinh quang và ảo vọng, như tấm vải nhiều màu dệt nên một đời người, một dân tộc, sự suy tàn của các phẩm chất tưởng như có tính di truyền vĩnh viễn.
Thực ra sự giản dị của Collins là sự giản-dị-hoá. Ông biết chọn những góc nhìn bất ngờ, thậm chí kì quặc, để từ đó tiến đến gần những tính chất quen thuộc hơn của sự vật. Từ một bức tượng đến số phận của người kỵ sĩ, từ người kỵ sĩ đến số phận của con người. Từ kẻ chiến thắng đến người chiến bại, từ anh hùng đến nạn nhân. Đó là đi từ cái riêng đến cái chung, đi từ phía bên này đến phía bên kia của lịch sử.
Kết thúc bài thơ, người kể chuyện bỗng hoá thân vào câu chuyện, biến thành một nhân vật trong bức tranh bao quát. Nhờ sự hoá thân này, anh hùng không đứng cao hơn nạn nhân. Tác giả đã dịu dàng chuyển chúng ta từ tầng sâu suy tư đến hình ảnh gần gũi. Sự dịch chuyển mau lẹ như thế tìm thấy nhiều thí dụ của nó trong thơ Billy Collins. Tuy là thí dụ, chúng không thể bắt chước được.
Tôi nói thí dụ, cũng bởi vì Collins thường dẫn chúng ta quay lại với những hình ảnh cụ thể, hàng ngày, ở cuối mỗi bài thơ của ông. Đọc Collins, không nên dẫn dắt suy luận trừu tượng đi quá xa: ông gần gũi với phương Đông ở điểm này.
Anh thấy gì? Anh thấy mình quỳ xuống, biến thành một bức tượng khác, tên anh và ngày tháng được khắc trên bảng đồng. Sự hi sinh nào đó của anh đã được các nhà viết sử công nhận, đã được một giai đoạn công nhận, thậm chí có hy vọng trở thành vĩnh viễn. Anh bị chôn chặt vào bức tượng của mình, đóng đinh vào cây thập tự thời gian và cây thập tự không gian.
Thì lúc ấy anh ao ước điều gì?
mãi mãi xin thêm một ngày, một ngày nữa thôi
để được sống giữa mọi người, sung sướng một cách tầm thường và phẫn nộ một cách cao cả như chúng ta, chán nản và hi vọng như chúng ta.
© 2009 Nguyễn Đức Tùng
© 2009 talawas blog
________
Chú thích
(1) Tạp chí Poets & Writers, Sep/Oct 2008
(2) Billy Collins, “You, Reader”, The Trouble with Poetry and Other Poems, NXB Random House, 2005
(3) Billy Collins, The Trouble with Poetry and Other Poems, NXB Random House, 2005
READ MORE - NGUYỄN ĐỨC TÙNG - BILLY COLLINS: MỘT NGÀY NỮA THÔI