Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, October 13, 2025

GIỮA HOANG MẠC TINH THẦN, TÌM LẠI TÂM KINH - Trần Kiêm Đoàn




GIỮA HOANG MẠC TINH THẦN 

TÌM LẠI TÂM KINH 

  

Mùa Nobel đang nở rộ với các giải thưởng danh giá nhất trong nhiều lĩnh vực chuyên môn như Vật Lý, Hóa Học, Y Khoa, Văn Chương, Hòa Bình đang lần lượt được công bố. Sự thú vị tuyệt vời trong mùa phát giải Nobel là hầu hết người trúng giải đều thật sự xứng đáng là những nhân vật tinh hoa thời đại. Giải Nobel Văn Chương năm nay đang xoáy vào đề tài “hoang mạc tinh thần” hay “sa mạc vô tâm”... nói đến thân phận con người giữa vòng xoáy của sự cô độc trong cơn tuyệt vọng gần như tận thế của tâm hồn. Trước nỗi tuyệt vọng đầy cuồng nộ của phương Tây và nhẹ nhàng hơn ở phương Đông mình thử làm người cưỡi ngựa xem hoa, đi tìm vài giọt sương Thu trong cơn khát cháy... 

 

 Ảnh của Janos Marjai/EPA. (https://www.upi.com/Top_News/World-News/2025/10/09/stockholm-hungarian-laszlo-Krasznahorkai-nobel-prize-literature/3631760015489/)

Khôi nguyên Nobel Văn chương 2025  

Giải thưởng văn chương cao quý nhất thế giới – giải Nobel Văn học – năm 2025 đã được viện Hàn lâm Thụy Điển công bố. Người thắng giải là nhà văn Hungary László Krasznahorkai (LK).  Anders Olsson, chủ tịch Ủy ban Nobel, đã đưa ra lời nhận định về tầm nhìn tiên tri của nghệ thuật: 

“Vì sự nghiệp sáng tác đầy sức cuốn hút và mang tầm nhìn tiên tri của ông – ngay giữa cơn kinh hoàng tận thế, vẫn khẳng định sức mạnh cứu rỗi của nghệ thuật.” 

 

Và Olsson nhìn về khía cạnh văn chương: 

László Krasznahorkai là một đại văn hào mang phong cách sử thi của truyền thống Trung Âu, nối dài từ Kafka đến Thomas Bernhard, đặc trưng bởi chủ nghĩa phi lý và sự phóng đại mang tính bi hài. Tuy nhiên, ông không chỉ dừng ở đó; ông còn hướng về phương Đông, tiếp thu một giọng văn tĩnh lặng, chiêm nghiệm và tinh tế hơn, thể hiện chiều sâu của tâm linh và suy tưởng trong thế giới hỗn loạn.

Tác phẩm xuất bản đầu tay của Krasznahorkai là  The Melancholy of Resistance (phản kháng trầm luân).  Tác phẩm này, ra đời năm 1989, là một ẩn dụ về xã hội Đông Âu tan rã, nơi niềm tin tập thể mất dần, người dân rơi vào một sự hoang vu tâm hồn với tinh thần trống vắng tột cùng như viễn khách trên chính quê hương của mình giữa cõi đi về không định hướng. 

Khái niệm “hoang mạc tinh thần” (spiritual dessert) lan tỏa trong suốt cả bốn tác phẩm đưa tác giả lên đài danh vọng văn chương. Krasznahorkai viết nó như hành giả tụng kinh thiền hành giữa tận thế: ngôn từ dài, xoắn, tối, nhưng mang sức gợi về khả năng hồi sinh của tâm hồn – rất gần với tinh thần “vô minh dẫn tới giác ngộ” trong Phật học.

Tuy Krasznahorkai có lối hành văn rất khác thường so với văn chương truyền thống với câu văn có cấu trúc rắc rối, dài lê thê, dồn dập và nội dung diễn đạt đen tối, u sầu, nhưng Anders Olsson - Chủ tịch Ủy ban Nobel – đã ca ngợi “ Văn xuôi của Krasznahorkai đã phát triển theo hướng cú pháp trôi chảy. Các câu dài, quanh co không có dấu chấm tạo nên thương hiệu của ông. Krasznahorkai là nhà văn sử thi vĩ đại..." Và cũng chính László Krasznahorkai từng nói với Guardian: "Nếu có độc giả nào chưa đọc sách của tôi, tôi không thể gợi ý cho họ bất cứ điều gì để đọc. Thay vào đó, tôi khuyên họ hãy ra ngoài, ngồi xuống đâu đó, chỉ im lặng như đá. Rồi họ sẽ gặp được người đã đọc sách của tôi". Lời tự bạch “tâm vô sở trụ” nầy làm người ta nhớ thi hào Nguyễn Du với kinh Kim Cang trong lần đi sứ cuối đời: Ngã độc Kim Cang thiên biến linh. Kim Cang vô tự thị chân kinh – (Kim Cang ta đọc nghìn lần. Kim Cang thật sự tự thân không lời.)


Hoang mạc tinh thần và một thoáng Tâm Kinh

Sự “hoang mạc tinh thần” là hậu quả của văn minh lý trí bởi con người biết rất nhiều cách sống, nhưng quên mất ý nghĩa của sự sống. Sự tuyệt đối hóa lý trí khiến con người cô độc, hoài nghi và lạc hướng giữa vô vàn thông tin nhưng thiếu minh triết. Đây là bối cảnh mà Kafka, Beckett, Bernhard và nay Krasznahorkai đã diễn tả cái trống rỗng của hiện hữu trong thế giới mù Tâm. Khuynh hướng tìm về Phật lý là con đường trở lại “Tâm nguyên”.

Khi con người ý thức rằng mọi nỗ lực bên ngoài không còn cứu rỗi được sự bế tắc bên trong, họ quay về tìm đạo lý nội tâm. Phật lý – với nguyên lý Duyên khởi, Vô ngã, Vô thường và Trung đạo –  chính là phản đề của hoang mạc tinh thần:

Duyên khởi chỉ ra rằng mọi hiện tượng tương liên, phá vỡ cô đơn của “cái tôi biệt lập”.

Vô ngã giúp ta thoát khỏi chấp thủ, cái gốc của khổ đau. 

Trung đạo mở lối quân bình giữa hư vô và cực đoan, giữa cảm xúc và lý trí.

Từ đó, Phật lý trở thành “dòng suối mát” tưới tẩm hoang mạc tâm linh, giúp con người nhận ra rằng: cứu rỗi không đến từ bên ngoài mà từ sự tỉnh thức nội tâm.

 

Khi nghệ thuật trở thành con đường giác ngộ

Với Krasznahorkai, nghệ thuật không chỉ là phản ánh hiện thực mà là phương tiện để trở về với im lặng là gốc của chính mình, nơi con người chiêm nghiệm sự tan rã của thế giới và sự tồn sinh của Tâm. Giữa khi đó, trong “hoang mạc tinh thần”, người nghệ sĩ đi tìm thể tánh – bản lai diện mục chính mình – là hành trình trở về với bản thể của sáng tạo, nơi chữ nghĩa chỉ còn là hơi thở và tư tưởng trở thành vắng lặng vô ngôn.

Để so sánh “sự chiêm nghiệm về tâm lý hoang mạc” và cách “giải quyết” (nếu có) bằng thiền định hay quan niệm nhân sinh giữa hai thế giới Đông Tây, trước hết ta cần làm rõ cách hiểu “tâm lý hoang mạc” (desert psychology / desert mind) trong ngữ cảnh triết học, tâm lý, rồi xem mỗi tác giả hoặc tư tưởng mà ta so sánh diễn đạt nó ra sao và họ có giải pháp hay hướng đi nào để tự mỗi người hướng tâm, khai trí.

 

1. “Tâm lý hoang mạc” –  khái niệm và hình ảnh

Khái niệm “hoang mạc” (desert, emptiness, wasteland) thường mang tính biểu tượng: cô lập, khô cằn, mất chiều sâu gắn kết, nơi mọi cấu trúc quen thuộc bị bóc trần.  Trong tâm lý học, nó cũng có thể ám chỉ trạng thái nội tâm rỗng không, hoang mang, tuyệt vọng, mất mát liên kết tinh thần, nơi “không có chỗ bám”. 

Nếu xem “tâm lý hoang mạc” là hình ảnh hay ẩn dụ cho trạng thái tinh thần nơi con người hoang mang đối diện với vô nghĩa, thì ta có thể xem thử có chăng một giải pháp để “cứu chữa” tâm lý bế tắc cùng cực này.

Thử tìm một nhân vật đối ứng với nhà văn Krasznahorkai trong hai thế giới Đông – Tây; có lẽ Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một trong những hình ảnh tiêu biểu.

Trong văn chương hiện đại, László Krasznahorkai, là kẻ lữ hành lang thang giữa hoang mạc ấy.

Trong đời sống tâm linh hiện đại, Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người gieo hạt trên cánh đồng khô cằn, chỉ ra con đường trở về.

 

2. Thích Nhất Hạnh: từ “hoang mạc” đến chánh niệm và giao cảm

Mặc dù Thầy Nhất Hạnh không dùng cụm từ “tâm lý hoang mạc” thường xuyên như một khái niệm chính thống, nhưng trong nhiều bài giảng và sách viết, ta thấy rõ Thầy nhìn thấy những vùng “cằn cỗi” nội tâm – những tâm lý sợ hãi, cô đơn, tổn thương – và dẫn dắt con người ra khỏi nó bằng chánh niệm, thiền định, lòng từ bi và “interbeing” (tương thuộc).

Thầy nhấn mạnh rằng, nhiều khổ đau nội tại không đến từ hoàn cảnh bên ngoài mà từ cách mình không lắng nghe, không hiểu mình là chính. Do vậy, nếu biết lắng nghe và hiểu được cảm xúc nội tại của chính mình sẽ làm vơi đi niềm đau nỗi khổ đang đè nặng trong ta (Listening to and understanding our inner sufferings will resolve most of the problems we encounter.)

Tức thị rằng vùng đất “hoang mạc” (nỗi khổ, sầu muộn, cảm giác bị bỏ rơi) cần được lắng nghe hơn là đàn áp, tự áp chế.

Thầy Nhất Hạnh nói về chánh niệm (mindfulness) như một năng lượng, một con đường, không chỉ một phương tiện: (Mindfulness is not a tool … True mindfulness is a path, an ethical way of living.)

Chánh niệm giúp người ta “ở với” khổ đau, nhìn rõ chúng mà không phản ứng tự động, từ đó có thể chuyển hóa.

Lắng nghe, nói lời thương yêu – ái ngữ – (deep listening, compassionate speech) là một phần của nghệ thuật chữa lành: vấn đề nội tâm không tách rời cộng đồng – để vượt hoang mạc, người ta cũng cần trà trộn, giao cảm, lắng nghe người khác.

Quan niệm “interbeing” (tương thuộc) là mấu chốt: mọi sự sống liên đới, không có cái tôi độc lập tuyệt đối. Khi ta cảm thấy “cô độc trong hoang mạc”, Thầy Nhất Hạnh sẽ nhắc nhở rằng cái tôi cô độc đó vốn là ảo tưởng; trong khi ta thực sự “liên-hữu” với mọi người và mọi sự vật.

Và trong thực hành: tâm nằm trong hơi thở, bước đi, ăn uống – mọi hành động đời thường đều là dịp để thực tập chánh niệm – khơi lại tương thuộc và chữa lành những vùng “cằn cỗi” trong lòng.

Vậy, “giải quyết hoang mạc tâm linh” theo Thầy Nhất Hạnh không phải bằng việc thoát khỏi nó ngay lập tức, mà bằng cách bước vào nó trong chánh niệm, lắng nghe, mở rộng lòng từ bi để nhận ra rằng ta không thực sự đơn độc, đó là tiến trình dần hồi sinh mạch kết nối với mình, với người, với sự sống.

 

3. Krasznahorkai: cái hoang mạc nhân sinh và hư vô kéo dài bất tận

Khác với nhà thiền, Krasznahorkai là nhà văn hiện đại/ hậu hiện đại và cách “chiêm nghiệm” của ông là thông qua văn chương – mô tả trạng thái, giọng nói, cấu trúc câu – chứ không đề xuất một phương pháp giải quyết rõ ràng. Ở ông, ta dễ thấy “tâm lý hoang mạc” ở cấp độ nhân sinh: sự kiệt quệ của ý nghĩa, sự cạn kiệt của thời gian, sự căng thẳng giữa khát vọng và thực tại bất định. 

Có thể nói: Thích Nhất Hạnh là người chữa lành hoang mạc; Krasznahorkai là người làm cho ta thấy nó rõ mồn một và để ta tự mang nó trong mình. 

Thích Nhất Hạnh là tâm ảnh phương Đông – mở đường thoát khỏi “sa mạc” bằng việc buông bỏ, hòa tan, an trú. 

Krasznahorkai là ảo ảnh của phương Tây – dấn thân vào “sa mạc” để nhìn tận cùng vô nghĩa, để nghệ thuật còn lại như “bằng chứng con người từng tồn tại”. 

Tuy hai hướng khác nhau, cả hai gặp nhau ở điểm cốt lõi: 

“Không ai có thể thật sự thoát khỏi hoang mạc nếu chưa đi xuyên qua nó.” 

Thích Nhất Hạnh đi qua bằng hơi thở; Krasznahorkai đi qua bằng chữ nghĩa.

Một người “đem nước từ bi tưới mát”, người kia “giữ lại tro than của nhân loại để soi vào đó ánh sáng.” 

Có chăng ánh sáng của Krasznahorkai là ánh sáng của trí tuệ và nghệ thuật phát ra từ bóng tối của tuyệt vọng. Sự giao thoa đầy lý tính của phương Tây về trí tuệ và nghệ thuật là một hứa hẹn “giải phóng hoang mạc tinh thần” thấp thoáng đâu đó cuối đường hầm. Mong rằng, thế hệ Trí tuệ Nhân tạo và khoa học công nghệ sẽ giúp phát ra tia sáng. 

Sacramento mùa Thu 2025 

Trần Kiêm Đoàn

trankiemdoan@gmail.com

READ MORE - GIỮA HOANG MẠC TINH THẦN, TÌM LẠI TÂM KINH - Trần Kiêm Đoàn

Sunday, October 12, 2025

CHỜ - Sông Ngàn (Lê Thi)

 


CHỜ 

 

Tôi gửi tặng Em một chữ Chờ 

Bao mùa mưa nắng đẹp tình thơ 

Chia tay đêm ấy trăng đầu ngõ 

Hai đứa lồng nhau  một bóng mờ

Sông Ngàn

READ MORE - CHỜ - Sông Ngàn (Lê Thi)

Saturday, October 11, 2025

CHÚT HƯƠNG THU TRONG NẮNG MỚI ĐANG VỀ - Nguyễn Văn Trình giới thiệu tập thơ HƯƠNG THẠCH THẢO, tác giả HOÀNG PHƯƠNG BẮC

 



LỜI GIỚI THIỆU:


       Gửi chút hương thu trong nắng mới đang về (*)


       Tôi đang cầm trên tay bản thảo tập thơ: “Hương Thạch Thảo” của Hoàng Phương Bắc. Tập thơ khá dày dặn có khoảng trên 100 bài thơ, gói trọn cả hồn thơ đầy nữ tính của chị. Tôi thật sự bồi hồi, xúc động khi bắt gặp một hồn thơ dịu dàng, nồng ấm, và đầy ắp những ký ức, hoài niệm về những gì đã qua, về những gì đã từng trải trong cuộc sống, trong công tác của chị. Tôi cũng được biết Hoàng Phương Bắc làm thơ khá sớm, từ thời còn cắp sách đến trường, nhưng chị ít khi đăng thơ lên mạng xã hội, rải rác chị mới gửi thơ đăng trên một số báo và tạp chí. Bởi theo tâm nguyện của chị, làm thơ chỉ để cho riêng mình, cho những người thân yêu ruột thịt, cho quê hương và bạn bè thân thuộc… nhằm tấu lên những khúc nhạc tâm hồn đầy rung cảm của chị. Nói như Voltair:“ Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm”... 


Nhà thơ Hoàng Phương Bắc


       Hoàng Phương Bắc sinh ra và lớn lên ở miền quê chân sóng, một miền quê nghèo, hiếu học và giàu truyền thống cách mạng. Quê hương, gia đình và tư chất văn chương vốn có sẵn từ nhỏ, là học sinh giỏi văn từ thời cấp 2, tất cả những yếu tố đó đã hun đúc nên hồn thơ của Hoàng Phương Bắc. 

       Đọc “Hương Thạch Thảo” của Hoàng Phương Bắc, ta mới cảm nhận hết hồn thơ của chị, một hồn thơ tinh tế, nhẹ nhàng, nhạy cảm mà lắng đọng sâu xa qua mỗi vần thơ chị viết. Hoàng Phương Bắc viết khá nhiều, khá phong phú và cũng rất đa dạng về nhiều nội dung chủ đề, như: Viết riêng cho mình (Tự bạch), Viết về quê hương - đất nước, Viết về gia đình - bạn bè - đồng nghiệp, Viết về hình ảnh người lính. Đặc biệt là chủ đề về tình yêu thời tuổi trẻ sôi nổi, đầy thơ mộng. Mảng thơ này chị viết tuy không nhiều, nhưng đã để lại khá ấn tượng khó quên trong lòng người đọc. Trong bài thơ “Tự bạch”, bài thơ này dường như đã gói trọn toàn bộ nội dung của tập thơ, chị bộc bạch tâm sự:“Gửi chút hương thu trong nắng mới đang về/ cho trang thơ lấp lánh/ miền thanh xuân đã qua từ lâu lắm/ hiện hữu mùa đông đời người”. Gửi chút hương thu cũng chính là gửi chút hương của hoa thạch thảo. Bởi hoa thạch thảo nở và tỏa hương vào mỗi mùa thu trong năm. Mùa thu cũng là mùa mà chị đã cất tiếng khóc chào đời nơi miềm quê chân sóng, nên mùa thu và hoa thạch thảo luôn là nguồn cảm hứng rất dạt dào trong thơ chị. Hoa thạch thảo biểu tượng của nét đẹp mỏng manh, thanh tú, thủy chung và đầy nữ tính. Hoa thạch thảo dẫu gợi lên vẻ mỏng manh, nhưng trong mình lại mang ý nghĩa chính chắn, sang trọng và quý phái. Hoàng Phương Bắc chọn nhan đề cho tập thơ:“ Hương Thạch Thảo” với đầy đủ ý nghĩa đó, và cũng là thông điệp tập thơ của chị muốn gửi đến bạn đọc để cùng chia sẻ, cùng đồng cảm. Trong bài thơ “ Hương thạch thảo” bài thơ lấy làm nhan đề cho tập thơ, chị đã trải lòng: “Ta viết bài thơ tháng mười/ khi mùa thu đã sang quá nửa/ tìm ngọn heo may ẩn mình phía sau cánh cửa/ chờ đưa hương thạch thảo vào đêm”.

         Mảng thơ Viết riêng cho mình là một mảng thơ được chị viết khá nhiều bài trong tập thơ này. Nói như Nhà thơ Tố Hữu:“Thơ là tiếng lòng” của người thơ. Hãy lắng nghe tiếng lòng của Hoàng Phương Bắc qua một số bài thơ tiêu biểu của chủ đề này, như các bài:“ Viết cho mình, Chiều cuối năm, dở hơi, gió lạnh đầu đông, Lục bát tuổi thơ tôi…”. Trong bài thơ “Viết cho mình” Hoàng Phương Bắc chia sẻ:“Người đàn bà ngót bảy mươi năm, vẫn còn nhiều mơ mộng/…/ tìm niềm vui mỗi sớm mai lên/ người đàn bà ấy phải biết vượt khó khăn/ chấp nhận những khổ đau hy sinh cho con cái…”. Trong tiếng lòng sâu thẳm, mình đối diện mình, ai bảo chị chỉ là một người đàn bà nhiều mơ mộng, mà chị còn là một người mẹ tần tảo, đảm đang chịu nhiều gian khổ hy sinh để nuôi dạy con cái mình khôn lớn trưởng thành. Cũng với tiếng lòng nức nở ấy trong bài “ Chiều cuối năm” chị quặn lòng bật ra lời thơ đầy thao thức:“Chiều cuối năm sao ta thấy quặn lòng/ một nỗi nhớ chơi vơi ngày xuân cũ/ làn gió đông chiều nay như trốn ngủ/ để đêm về thao thức nỗi nhớ mong”. Hoàng Phương Bắc là một người thơ có vẻ bề ngoài hồn nhiên, yêu đời, đôi khi nhiều mơ mộng, nhưng đêm về khi chỉ còn mình đối diện mình, lòng chị quặn thắt, thao thức về một nỗi nhớ mơ hồ trong ký ức, hoài niệm xa xưa như còn đang hiện hữu đâu đây.

       Hoàng Phương Bắc không chỉ viết thơ riêng cho mình, chị còn dành cả một mảng thơ đáng quý, đáng trân trọng, đó là mảng thơ chị viết về quê hương - đất nước, bạn bè - đồng nghiệp và gia đình nhỏ thân yêu của chị.

Quê hương - đất nước luôn có một vị trí đặc biệt trong lòng của mỗi người. Ai cũng có một miền quê để thương để nhớ, để gắn bó và để đi về. Viết về quê hương - đất nước cảm xúc của Hoàng Phương Bắc luôn căng đầy những ký ức, hoài niệm, và lòng biết ơn về nguồn cội, về nơi chôn rau cắt rốn của mình. Quê hương trong thơ chị là miền quê chân sóng, là đất mẹ dịu hiền, yêu thương đến lạ:“Tôi lớn lên nơi miền quê chân sóng/có ngọn gió nồm những chiều lặng biển êm/ nghe sóng biển xa vỗ gềnh đá đêm đêm/ đất mẹ dịu hiền yêu đến lạ” (Thăm nghĩa trang quê). Quê hương trong hồn thơ Hoàng Phương Bắc đôi khi chỉ là một nỗi nhớ quay quắt, sâu nặng về một ngày đông lạnh của quê nhà:“Những ngày này quê mình đã sang đông/ trời đất vẫn oi nồng, không thấy lạnh” (Nhớ ngày đông lạnh). Có khi trong thơ chị hiện lên những mảng màu quê hương chứa đựng một hồn quê thương nhớ, trong dáng mẹ hao gầy, đôi quang gánh quặn lòng trên bờ đê:“Ta tìm về ký ức xưa/ quê hương ngày hạ nắng trưa đỏ đồng/ gió nồm chiều dạt bến sông/ thương đôi quang gánh quặn lòng bờ đê”(Hồn quê)

      Trong mảng thơ chị viết về gia đình, bạn bè - đồng nghiệp cũng đầy xúc cảm, đã làm xao xuyến biết bao trái tim người đọc. Hoàng Phương Bắc viết về hình ảnh người mẹ của mình giàu lòng nhân từ, tần tảo chịu thương chịu khó nuôi con khôn lớn trưởng thành, với một giọng thơ đằm thắm, yêu thương và đầy lòng biết ơn:“Chiếc đòn gánh miền trung gánh hai đầu đất nước/ mẹ gánh trên vai các cháu các con/ mấy tháng qua con biết mẹ mỏi mòn/ ngóng vô miềm Nam, lại thương ra miền Bắc.”(Thư gửi mẹ). Công cha nghĩa mẹ cũng là nỗi nhớ nhung day dứt khôn nguôi, là nghe chát mặn giọt mồ hôi tần tảo của mẹ, của cha trong thơ chị:“Xót bát cơm mùa vừa mới gặt/ nghe nôn nao hương đất quê nhà/ ruộng cha cày phơi ải bữa qua/ nghe chát mặn giọt mồ hôi của mẹ”(Mùi hương gạo mới). Hoàng Phương Bắc cũng dành khá nhiều tình cảm, tâm sự với con, bằng một giọng thơ trầm ấm, da diết yêu thương và đầy tự hào về con mình:“Mẹ sinh con vào một ngày đầu hạ/ nắng trải vàng khắp mọi nẻo đường quê/ …/ mong mai sau đời con bớt khó khăn/ chim Vàng Anh quyết tìm đường thoát đói/ dù cuộc đời có bao nhiêu đắng đót/ mẹ vẫn tự hào… nghe tiếng hót Vàng Anh”(Viết cho chim Vàng Anh) và chị cũng luôn mong mỏi con mình vượt qua mọi thác ghềnh của cuộc sống để luôn cất cao “tiếng hót” giữa cuộc đời này:“ Mẹ lại viết cho con bài thơ mừng sinh nhật/ giữa những tháng ngày này trên mảnh đất quê hương/ …/ mong ước con mỗi sớn mỗi chiều/ là chim Vàng Anh luôn cất cao tiếng hót”(Gửi cánh chim ở phương Nan). Tình bạn - tình đồng nghiệp cũng là nguồn cảm hứng chân thành, trước sau như một, thủy chung trong hồn thơ của chị. Bởi mỗi hành trang trong cuộc sống, ai cũng cần có những người bạn thân thiết, yêu thương để cùng đồng hành, cùng sẻ chia niềm vui nỗi buồn:“Ta hạnh phúc được về bên bạn/ ngày đầu đông mưa gió bủa tứ bề/ vượt dặm xa để thỏa những đam mê/ Thanh Tân ấy nơi ta về hội ngộ”(Ngày vui bên bạn). Viết về tình cô trò, tình đồng nghiệp chị cũng có những vần thơ rưng rưng niềm nhớ về những kỷ niệm đẹp, về mái trường xưa thân thương:“Tạm biệt mái trường bên dòng Kiến Giang năm ấy/ trải bốn mươi bảy năm rồi, biết mấy yêu thương/ ngày hôm nay cô được trở về trường/ nhắc kỷ niệm thân thương cùng trò yêu và đồng nghiệp”(Ngày trở về mái trường xưa).

      Những vần thơ Hoàng Phương Bắc viết về hình ảnh người lính, dưới góc nhìn của một cô giáo dạy Văn, đã một thời từng bình những bài thơ hay về người lính, với tâm trạng sẻ chia đồng hành của một người vợ lính và với cảm quan của một người từng tham gia công tác chính trị, từng giữ các chức vụ trọng yếu trong chính quyền cấp tỉnh, thì hình ảnh người lính trong thơ chị luôn hiện lên thật đáng yêu, tươi trẻ, hồn nhiên, lạc quan yêu đời. Họ sẵn sàng hiến dâng cả tuổi thanh xuân và máu xương của mình cho Tổ quốc, để Tổ quốc ta có được hòa bình, được vẹn tròn to lớn và được thống nhất độc lập như ngày nay:“Những người con sinh ra ở muôn quê/ giờ yên nghỉ nơi đất thiêng Thành Cổ/ sông Thạch Hãn ráng chiều in sắc đỏ/ như máu đào còn quyện giữa dòng xanh”(Về bên Thành Cổ). Trong những người lính ấy, có những người thân yêu của chị vốn là sinh viên sư phạm đang ngày đêm miệt mài học tập, rèn luyện trên giảng đường đại học. Nhưng theo tiếng gọi của non sông đất nước, họ đã gác lại giấc mơ trở thành thầy cô giáo trong tương lai, để sẵn sàng lên đường ra trận đánh đuổi giặc thù:“Ngày ấy có những chàng sinh viên sư phạm/ rời Vĩnh Linh ra học tận Thủ đô/ …/ rồi một ngày rợp trời hoa phượng đỏ/ anh lên đường trở lại quê hương/chẳng phải tìm về gặp lại người thương/ mà cùng với ngàn sinh viên ra trận”(Nửa thế kỷ tình yêu)

          Hoàng Phương Bắc mặc dù đã bước qua tuổi “Thất thập cổ lai hy”, nhưng hồn thơ của chị trong“ Hương thạch thảo” vẫn chan chứa một tình yêu nồng cháy của thời tuổi trẻ, một tình yêu hồn nhiên, chân thật và với một niềm tin tuyệt đối vào tình yêu của mình:“ Em yêu anh thật nhiều/ nhưng chẳng hề lo sợ/ tình yêu luôn là thế/ khi lòng tin trao nhau”(Tình yêu và niềm tin). Tình yêu trong thơ của chị cũng luôn kết thúc có hậu, có sự đắp bồi, có sự kết duyên giữa mùa hoa cau nở:“Anh nào biết trái tim nàng đau nhói/ nỗi niềm thương như được đắp bồi thêm/ rồi ước mơ giản dị đã gọi tên/ họ kết duyên giữa mùa hoa cau nở…”(Nửa thế kỷ tình yêu)

        Có thể khẳng định rằng: Đọc những vần thơ trong:“ Hương Thạch Thảo” của Hoàng Phương Bắc, ta mới cảm nhận hết được những vần thơ chị viết trong tập thơ này thực sự là những “tiếng lòng” của chị được chưng cất lên từ một hồn thơ dịu dàng, tha thiết yêu thương cùng bắt nhịp nồng cháy, bền bỉ với đất mẹ, với quê hương, và với tình yêu cuộc đời. Hồn thơ ấy đã làm nên cái khắc khoải, cái đau đáu trong mỗi bài thơ chị viết trong tập thơ này để gửi đến bạn đọc. Trong bài thơ:“ Viết cho mình” chị tâm sự với “ cõi vắng xa xăm” nơi ấy hình như đang có ai đó, như mơ hồ như ảo ảnh đang chở che phù hộ, đang dỏi theo từng hành trình thơ của chị:“ Nếu được viết bài thơ trên chặng đường đi tiếp/ vẫn nguyện viết về mùa thu ấy hàng năm/ gửi đến phương trời nơi cõi vắng xa xăm…”. Với khuôn khổ giới hạn của một bài viết giới thiệu tập thơ, tôi cũng chỉ chọn thẩm qua một số bài thơ tiêu biểu cho các chủ đề của tập thơ, mong gửi đến quý độc giả gần xa cùng chia sẻ, cùng đồng cảm với hồn thơ của Hoàng Phương Bắc, một hồn thơ đầy nữ tính, dịu dàng và đa cảm. Tôi rất hy vọng:“Hương Thạch Thảo” của chị sẽ tạo được dấu ấn, sẽ có chỗ đứng vững chắc trong lòng người yêu thơ trên khắp mọi miền đất nước và hồn thơ ấy sẽ còn vọng mãi cùng trời xanh mây trắng… 


                             Viết tại Đông Hà, Ngày 12 tháng 8 Năm 2025

                                          Nhà thơ NGUYỄN VĂN TRÌNH

                                                Hội VHNT tỉnh Quảng Trị















 


READ MORE - CHÚT HƯƠNG THU TRONG NẮNG MỚI ĐANG VỀ - Nguyễn Văn Trình giới thiệu tập thơ HƯƠNG THẠCH THẢO, tác giả HOÀNG PHƯƠNG BẮC

Ca khúc KHÁT VỌNG... - Lyrics: Mai Hoài Thu - Music & vocal: AI - By: AI & Mai H...


Mời quý ACE yêu Thơ Nhạc cùng lắng nghe sáng tác mới, một trải nghiệm thú vị với AI. Không ngờ lần đầu cộng tác với AI mang lại nhiều cảm xúc đến thế!

Thế là từ đây trở đi, mình khỏi tốn tiền làm hòa âm & mướn ca sĩ thu âm rồi hỉ!  Kiểu này Ns sáng tác, Ns hòa âm & ca sĩ ế là cái chắc rồi!




KHÁT VỌNG ...

Lyrics: Mai Hoài Thu


Người hãy uống, cùng ta ly rượu đắng,

Để đêm nay bớt lạnh, bớt u sầu,

Hồn ta đây, xin hãy cứ tìm nhau,

Đừng oán hận, đừng căm hờn tê tái...

 

Hãy xoa dịu lên vùng sâu ân ái,

Ta thèm thuồng những giây phút yêu đương,

Chỉ hai ta hạnh phúc chốn thiên đường,

Thú đau thương, ta ôm niềm khổ luỵ!

 

Thân xác rã rời bao ngày tiều tuỵ,

Dấu vết cuộc tình chua xót bão giông,

Giọt lệ sầu kết chuỗi ngọc nhớ mong,

Trải thảm nhung, người bước lên danh vọng!

 

Người hãy đến cùng ta trong khổ não,

Tim ta đau quằn quại tới cuồng điên,

Ôi phận mình bạc bẽo đến vô duyên!

Ta ngất ngư ghì chặt, lòng rên siết...

 

Người ở đâu sao chẳng hề hay biết?

Gió trăng ơi! Hồn chới với trào dâng,

Mắt đen sâu thăm thẳm dấu thâm quầng,

Ta vò nát tâm can, người vô cảm!

 

Thơ ta đây, xin người cứ uống,

Hãy ru ta bằng khúc nhạc nghê thường,

Thịt da mềm, mát rũ rượi làn hương,

Ôi run rẩy ngạt ngào yêu khao khát...

 

San Jose, Đêm Tàn Thu,  11/24/2011

Mai Hoài Thu

maihoaithu999@yahoo.com

READ MORE - Ca khúc KHÁT VỌNG... - Lyrics: Mai Hoài Thu - Music & vocal: AI - By: AI & Mai H...

Thursday, October 9, 2025

CHÙM THƠ VĂN ĐOÀN - Trường Nguyễn Hoàng – Một Thời Nhớ Mãi / Trường Hải Lăng mến yêu / Đặc sản Hải Lăng -

 

Nhà thơ Văn Đoàn


Trường Nguyễn Hoàng – Một Thời Nhớ Mãi

 

Nguyễn Hoàng đó một thời vang bóng,

Dưới mái trường lưu dấu yêu thương.

Dẫu năm tháng đổi thay vận nước,

Vẫn trong lòng kỷ niệm còn vương.

 

Thành lập gần bảy mươi năm trước

Nơi quê nghèo gieo hạt tương lai.

Bao thế hệ bước chân từ đó,

Góp công mình xây dựng ngày mai.

 

Trường đã mất nhưng tình còn mãi,

Thầy trò xưa khắp chốn sum vầy.

Dẫu cách biệt muôn nơi vạn nẻo,

Tết về đây vẫn nhớ nhau hoài.

 

Nơi đất mẹ bao mùa bão tố,

Tình nghĩa này còn đó chẳng phai.

Nền giáo dục  nhân bản, khai phóng

Hồn dân tộc thấm đẫm vòng tay.

 

Dẫu năm tháng phôi pha cuộc thế,

Cựu học sinh vẫn sống rạng ngời.

Luôn hội ngộ chuyện trò thân thiết,

Giữ tình thâm cho đến cuối đời.

 

Xuân lại đến lòng vui náo nức,

Nhớ thầy xưa, bạn cũ hôm nào.

Xin chúc hết thầy cô, bè bạn,

Tết yên bình, năm mới vui sao!

 

 

Trường Hải Lăng mến yêu

 

Hải Lăng một thuở hoang vu

Bụi mờ cát trắng, gió lùa đồng sâu.

Chiến tranh bom đạn dãi dầu

Thầy trò vẫn cứ bền lâu học hành.

 

Tên trường đã đổi mấy lần

Mái lầu xưa cũ chòng chành gió mưa.

Cơm chưa đủ, áo chẳng thừa

Vẫn gieo con chữ, vẫn chờ tương lai.

 

Trồng cây, thủy lợi miệt mài

Gây công, góp sức tháng ngày dựng xây.

Đường xa mấy dặm chân dày

Mưa phùn rét buốt, lòng này chẳng lay.

 

Thầy cô làm đủ nghề tay

Vẫn lên bục giảng những ngày khó khăn.

Trò xưa nay đã vững vàng

Xây đời, dựng nước, vẻ vang quê nhà.

 

Tinh thần hiếu học bao la

Vượt qua gian khó, nở hoa giữa trời.

Hải Lăng Vững Bước Tương Lai

Giờ đây rạng rỡ mỗi ngày đẹp hơn.

 

Trường cao rộng, đủ phòng môn

Khang trang mấy dãy sáng dòn niềm vui.

Thầy trò cùng bước chung đôi

Chuyên môn vững chãi, rạng ngời ước mơ.

 

Giờ đây học giỏi, chăm lo

Siêng năng sáng tạo, hồn thơ dạt dào.

Nhật Minh vang tiếng tự hào

Thần đồng trí tuệ, vươn cao tài tình

 

Năm mươi năm bước đăng trình

Lập danh, lập nghiệp quê mình vẻ vang.

Thầy cô tận tụy sẵn sàng

Chắp đôi cánh lớn bay ngang trời hồng.

 

Học trò hiếu học, chuyên công

Nối dòng truyền thống sáng trong bao đời.

Hải Lăng tỏa sáng muôn nơi

Quê hương đổi mới, rạng ngời ngày mai...



Đặc sản Hải Lăng

 

Hải Lăng đặc sản đậm đà,

Ai qua một bận nhớ mà ghé thăm.

Diên Sanh cháo bột  hương thơm

Bánh canh sánh mịn, một lần nhớ luôn.

 

Cá lóc đồng béo, thịt ngon

Ướp cùng gia vị, tỏa hương nồng nàn.

Sáng ra dùng bát điểm tâm

Thêm tiêu, lá ném, ấm làn hơi sương.

 

Canh ám đặc sản quê hương,

Làng Lam Thủy nức tiếng vang bao đời.

Lá soon chua chát một thời,

Cá um nồi lẩu, cơm mời anh em.

 

Ăn cùng bắp chuối non mềm,

Rau xanh điểm chút, càng thêm mặn nồng.

Chén rượu cay, cạn tấm lòng

Ai đi xa xứ vẫn mong trở về.

 

Mời nhau thưởng thức bánh quê,

Bột lọc tôm thắm hãy về quê anh

Bánh thơm dẻo, bột tinh thanh,

Nhân tôm đỏ rực, thịt lành trắng trong.

 

Mở ra lá chuối thơm nồng,

Hơi bay nghi ngút, ấm lòng khách xa.

Chấm cùng nước mắm mặn mà,

Vị quê chân chất, đậm đà khó quên.

 

Rượu Kim Long, đã nhớ tên,

Hải Quế chưng cất giữ nền cổ xưa.

Hớp đầu thơm ngát đưa đưa,

Xuân về nhấp chén ấm vừa chẳng say.

 

Ngọt êm chẳng nhức đầu ai,

Uống xong chỉ thấy hồn bay lưng chừng.

Quê hương đặc sản thơm lừng,

Mời nhau thưởng thức, nhớ đừng quên quê!i


Văn Đoàn

(Nguyễn Văn Doà)


READ MORE - CHÙM THƠ VĂN ĐOÀN - Trường Nguyễn Hoàng – Một Thời Nhớ Mãi / Trường Hải Lăng mến yêu / Đặc sản Hải Lăng -

HAI BÀI THƠ ĐẠO - Châu Thạch


   
             Tác giả Châu Thạch


TRÊN ĐỈNH SIN SUỐI HỒ
 
Đỉnh núi cao hơn trên đỉnh mây
Bài tôn vinh Chúa thật là hay
Cả bản H'Mong đều nên thánh
Một góc Thiên Đàng ngay chốn đây
 
Tôi đã cùng em đến một ngày
Rừng thiên nước độc lại lành thay
Tưởng đâu như có nhiều thiên sứ
Đi lại trên trời như bướm bay
 
Mới biết niềm tin hạnh phúc thay
Đại ngàn bình tịnh ánh trăng đầy
Mặt trời qua núi như ru võng
Đêm ngủ cùng ta giấc mộng say!
 
 
DƯỚI CHÂN LẦU CHUÔNG
 
Dưới chân lầu chuông ngày Chúa nhật
Hai ta chuẩn bị lễ tôn thờ
Đầu tháng, hôm nay là tiệc Thánh
Trong lòng thanh thoát tựa như mơ
 
Thơm ngát trong ta bông trái nở
Thánh Linh tràn ngập cả hồn thơ
Trên cao chuông vọng lời muôn thuở
Chúa gọi nhân gian đến phụng thờ
 
Ta sẽ vào trong ngôi Thánh Đường
Nghe bài rao giảng những yêu thương
Thánh ca huyền nhiệm ban êm ái
Tiệc thánh năng quyền thân Thánh Vương
 
Dưới chân lầu chuông ngày Chúa Nhật
Mượn màu hoa đỏ trọn màu yêu
Cầm tay xin nguyện lời chân thật
Trung tín thờ Cha đến xế chiều!
                    
                                          Châu Thạch

READ MORE - HAI BÀI THƠ ĐẠO - Châu Thạch

TÌNH ĐẤT – Thơ Lê Kim Thượng




 
Tình Đất   
 
1.
Đường về xa lắm người ơi
Quê hương hai tiếng gọi mời trong anh…
Cổng làng đã phủ rêu xanh
Đón người ngày ấy đã thành…  Người xưa
Sông dài biết mấy đò đưa
Thương đời Cha Mẹ nắng mưa dãi dầu
Sông xưa giờ đã bắc cầu
Bâng khuâng nhung nhớ một câu gọi đò
Đất cằn sỏi đá âu lo
Gom tùng hạt thóc đắn đo vụ mùa
Bến sông sóng vỗ gió đùa
Lời ru Đất Mẹ sớm trưa nặng tình
Chợ quê họp cạnh sân đình
Quà quê thấm đậm nghĩa tình chân quê
Trăm năm một cõi đi về
Người trăm năm vẫn bộn bề truân chuyên…
 
2.
Bến quê còn đợi con thuyền
Đưa người viễn khách về miền lãng quên
Lời ru sóng nước mông mênh
Dòng đời chảy mãi, tuổi tên quên rồi
Đường xưa lạnh dấu chân người
Chờ ai viễn xứ, chân trời về quê…
Gia đình là mái chở che
Đông về rét buốt, trưa hè tỏa hương
Gia đình là bến yêu thương
Chờ người xa xứ, muôn phương, nghìn trùng
Mẹ - Cha dạy nghĩa Hiếu – Trung
Gia đình là gốc thủy chung mãi còn
Đất nghèo trọn nghĩa sắt sonThật thà, chất phát, vuông tròn trước sau
Tình người, tình đất đậm sâu
Quê hương làng xóm một màu thân thương…
      
Nha Trang, tháng 10. 2025
Lê Kim Thượng

READ MORE - TÌNH ĐẤT – Thơ Lê Kim Thượng