Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, November 23, 2024

THƠ TRẦN QUANG CHÂU - MỘT GIỌNG THƠ TRỮ TÌNH - Hoàng Thị Bích Hà

 

THƠ TRẦN QUANG CHÂU

 - MỘT GIỌNG THƠ TRỮ TÌNH  

Hoàng Thị Bích Hà

 

    Tôi nhận được những tập thơ của nhà báo, nhà thơ Trần Quang Châu nhân dịp tham dự ra mắt tạp chí Sông Quê số 16 tại quận Phú Nhuận. Ấn tượng về anh là một người cương nghị, ít nói nhưng gương mặt hiền từ và nụ cười ấm áp trong câu chuyện thân tình với bạn hữu thi văn. Thơ của Trần Quang Châu là một giọng thơ trữ tình sâu lắng, giàu chất suy tư về cuộc đời. Thơ anh là thơ “trữ tình tâm tình” và “trữ tình thế sự”. Trong đó thơ trữ tình tâm tình chiếm phần lớn.

    Giới thiệu vài nét về nhà thơ Trần Quang Châu (TQC). Anh sinh năm 1952 tại Quãng Ngãi, sống và làm việc tại Sài Gòn. Năm 1990 đến năm 1994 Trần Quang Châu cùng với Nguyễn Đăng Trình đã thực hiện tập san Thời Văn nội dung rất phong phú với sự tham gia của nhiều cộng tác viên trong và ngoài nước, trong số những cộng tác viên mà tôi được biết có nhà thơ Ngàn Thương đồng hương- sống và viết tại Huế.

     Năm 1996, TQC làm báo nhà nước – tờ báo Yêu Trẻ, trực thuộc UB Dân Số Gia đình và Trẻ em cho đến khi nghỉ hưu vào năm 2012. Sau khi nghỉ hưu anh cũng muốn sống an phận, tiêu dao giữa cõi đời thơ mộng này. Nhưng chỉ được vài năm, rồi máu đam mê Văn Nghệ và “chất làm báo” vẫn cứ đeo đẳng anh. Chính vì vậy mấy năm gần đây, anh cùng với nhà báo, nhà thơ Phạm Ngọc Dũ thực hiện tạp chí Sông Quê. Tính đến quý 1/2023 Tạp chí Sông Quê đã thực hiện được 17 số và cũng đã được các tác giả và công chúng yêu văn học đón nhận.

    Các tác phẩm đã xuất bản của Trần Quang Châu:

    Thơ: Chân Dung (Nxb Thanh Niên – 2005)

    Thơ: Lắng Nghe (Nxb Thanh Niên tháng 5/ năm 2002)

    Thơ: 100 lẻ I Bài Thơ (Nxb Hội nhà văn tháng 5/ năm 2023)

    Khi xuất bản tập thơ Chân Dung (2005) và tập thơ Lắng Nghe (2002) một số báo ở thành phố Hồ Chí Minh đều có bài giới thiệu.

    Tập thơ Lắng Nghe cũng được nhà thơ có tên tuổi được công chúng yêu mến như Đoàn Vị Thượng viết lời tựa và người bạn tài hoa mà khiêm tốn Nguyễn Huyền Thạch (ở hội VHNT Quãng Ngãi) viết lời bạt cho tập thơ Lắng Nghe. Hai nhà thơ nói trên (R.I.P) đều là gốc Huế và là những người bạn tâm giao hiểu anh, hiểu thơ, đối với nhau bằng tấm chân tình tri kỷ.

    Bạn bè anh hiểu anh ra sao, và anh tự họa chân dung mình như thế nào qua thơ? Chúng ta hãy lần lượt đi vào thế giới nội tâm của Trần Quang Châu qua các tập thơ của TQC. Với cảm xúc bồi hồi tha thiết, nhà thơ giới thiệu về quê hương mình:
    “Tôi lớn lên từ miền quê Quãng Ngãi/ Con đường làng quen thuộc bước chân đi” (Vạn An Quê Tôi- trong tập thơ 100 Lẻ 1 bài thơ)

    Qua những vần thơ chúng ta sẽ thấy hiện ra một TQC phong trần, lãng tử và yêu đời, yêu thơ. Khi viết về bản thân, so với thế thái nhân tình, có thể có sự đối lập, tương phản qua các từ ngữ: Đời- diễn, trò chơi xương máu (khốc liệt quá)  ta-khùng- thơ thẩn trong thơ. Ta lãng mạn, ta bất cần và ta vẫn sống có lẽ nhờ biết cân bằng cảm xúc.
    “Đời thì diễn những trò chơi xương máu/ Ta thì khùng nên thơ thẩn trong thơ” (Mộng Đêm Qua- 100 lẻ 1 bài thơ)

    Trần Quang Châu tự nói về mình với những từ: Khùng, thơ thẩn, khờ khạo,…vâng thưa anh: Có “Khùng”có “khờ khạo” thì thi sĩ mới sáng tạo ra thơ. Còn nếu “khôn ngoan”, biết toan tính hơn thua thì người ta đi làm kinh tế chứ cảm xúc đâu mà làm thơ. Nhưng cứ khờ một chút thì mới thơ thẩn cùng thơ được và gửi tiếng lòng qua câu chữ. Anh để lại cho đời những dòng cảm xúc rất đỗi chân thành như thế! Khờ, Khùng,… Đó là cách nói hài hước, trào lộng (tự trào) của người sáng tạo nghệ thuật. Khờ đấy, “trời đày” đấy (chữ dùng của cố thi sĩ Nguyễn Bính: “Mình tôi giời bắt làm thi sĩ/ Mẹ mất khi chưa kịp bạc đầu”,  còn nữ thi sĩ Lệ Khánh: “Vì thượng đế đày tôi làm thi sĩ/Nên tâm tình trào ngọn bút thành thơ”. Đó là cách nói có chút hờn dỗi của người sáng tạo nghệ thuật. Thực ra nêu đem đổi sự đam mê đó lấy những tố chất khác thực tế với cuộc đời hơn chưa chắc các thi nhân đã chịu đổi.
    “Ta khờ khạo giam mình trong cổ tích/ Bước loanh quanh va chạm vết thương dài/ Từng mảnh vụn ghim vào đời dối trá/ Gởi linh hồn trên tuyệt đỉnh tàn phai”
    (Đêm thao thức-100 lẻ 1 bài thơ)

    Thi nhân từ xưa đến nay ít ai không vất vả, cũng bộn bề cơm áo đấy nhưng tâm hồn vẫn lãng mạn như không. TQC không là ngoại lệ. Thơ tình yêu trong thơ anh mang đầy yếu tố lãng mạn, tha thiết và ngọt ngào.

    “Tôi tay trắng bươn vào đời vất vả/ Gánh hai đầu hình bóng của em xưa” …Hỏi thật nhỏ ngại ngần em giận dỗi/Rất giống người…tôi nhớ tuổi mười ba!” 

    (Nhớ em tuổi mười ba- tập thơ: Lắng nghe)

    TQC viết về mối tình dang dở hoặc đơn phương dĩ nhiên không đơm hoa kết trái như ý nguyện. Phải chăng tình đầu thường là vậy. Mối tình đầu bao giờ cũng vậy, rất ngọt ngào nhưng cũng lắm đắng cay. Những câu thơ lục bát mượt mà diễn tả sự dở dang tiếc nuối, trống vắng của một tâm trạng của chủ thể trữ tình khắc khoải, cô đơn trong những câu thơ lục bát mềm mại uyển chuyển.

    “Mà em như thể cánh diều/ Để tôi đứng mỏi giữa chiều mênh mông/ Mà em như thể mùa đông/ Để tôi cơn gió thổi không bến bờ”

    (Thơ viết cho người-Lắng nghe)

    Mối tình đã qua là một kỷ niệm đẹp để lại nhiều bâng khuâng nuối tiếc trong thơ:
    “Còn đâu đôi bím tóc mềm/Thả bay theo gió em hiền như thơ/ Vụng ngày xưa-dại bây giờ/ Thương hai đưa cứ hững hờ người dưng” (Còn đâu-lắng nghe)

    Trần Quang Châu khi làm báo thì mức độ thực tế và chính xác là điều cần có của một nhà báo nhưng khi làm thơ thì tâm hồn lại có đủ lãng mạn của chất thơ: Vì thế anh có những vần thơ đẹp, quyến rũ người đọc bởi cảm xúc mà thơ tạo nên vừa hư vừa thực, lâng lâng mộng ảo. Thi ý “Trộm của trời đôi chút mộng” rất hay. Đó là một hình ảnh sáng tạo đầy chất thơ.

    “Sáng nay trộm của trời đôi chút mộng/ Nằm gối lưng chim bay dạo núi rừng/ Muốn xuống biển đánh đu cùng sóng/ Rất hồn nhiên như thuở mới yêu người”
    Vâng tình yêu làm cho tâm hồn trẻ trung yêu đời, tuy nhiên không phải mối tình nào cũng trọn vẹn. Vì thế trong thơ Trần Quang Châu có những nghịch cảnh, có chút xót xa hụt hẫng và nuối tiếc.

“Hỡi những hoàng hôn khi sụp xuống/ Qua bên kia có nhớ chuyện mỗi ngày/ Nơi ta ở có vườn bông cúc nhỏ/Và trong phòng trơ trọi chiếc bình không”
    (Chiếc bình không-Lắng nghe)

    Tâm hồn thi nhân dạt dào tình thương mến đầy tình đời, tình người. Ngoài mảng thơ ngọt ngào lãng mạn về tình yêu đôi lứa, Trần Quang Châu có những vần thơ thiết tha ân tình dành cho quê hương, gia đình và bè bạn:  

    “Quãng Ngãi quê mình mùa đông thiếu nắng/Đêm dài hơn nên mộng mị lan man”

 

    Anh có những vần thơ viết về mẹ và quê hương đầy xúc động. Đối với anh thì quê hương thiêng liêng lắm vì quê hương có mẹ và mẹ chính là quê hương. Hình ảnh người mẹ tần tảo, giàu đức hi sinh, chịu thương chịu khó như phẩm chất đặc trưng vốn có của những người mẹ Việt Nam.

    “Tháng sáu tôi về thăm quê cũ/Lòng rộn ràng theo những bánh xe lăn/ Mẹ mòn mỏi trông con chiều tất tả/ Áo vai sờn, gánh lúa vượt đồng xa”

    (Quê nhà-Lắng nghe)

    Tiếp tục với vần thơ về mẹ sau đây là một ý thơ đẹp, hàm súc và giàu hình ảnh.
    “Bên ngoài gió trở giọng khan/ Trong lòng mẹ nhóm bếp than lửa hồng/ Ấp iu con suốt mùa đông/ Mẹ cam lòng chịu bao giông tố đời”

    (Thơ viết trong mùa Vu Lan-100 lẻ 1 bài thơ)

 

    Trên bước đường bôn ba xuôi ngược là thế nhưng mỗi khi có dịp đặt chân trở lại quê nhà, cảm giác nao nao, lâng lâng xúc động với bao kỷ niệm ùa về đầy xao động đã trào lên câu chữ thành thơ:

    “Đã xa xa hút cội nguồn/ Hai bàn châm lấm vết thương hội hè”

    Bây giờ đứng giữa ga quê/Lòng không phên liếp bốn bề nổi trôi

    Vô cùng trời đất quanh tôi/ Đâu là khoảnh khắc tôi hồi hộp xưa”

    (Ngày về-Lắng nghe)

 

    Những vần thơ dành cho người cha đã khuất được viết khi tỉnh dậy sau một giấc chiêm bao:

    “Chiêm bao thấy lờ mờ bên liếp cửa/ Một bóng hình vừa thấp thoáng đi qua”
    Con tỉnh giấc giữ vô cùng nuôi tiếc/ Lẫn lộn vui buồn vừa vụt mất…bên kia”
    (Nhớ cha-100 lẻ 1 bài thơ)

 

    Thơ cho em trai có tình yêu thương có nỗi cảm thông và thấu hiểu:     “Buổi em lớn như dòng sông nước chảy/ Trôi vào đời cùng cực nỗi áo cơm”.

 

    Thơ cho em gái của tấm lòng người anh: 

    “Em quá trẻ để nghĩ điều cơm áo/Không ngại ngần làm mẹ dưỡng đàn con” (Bài thơ viết cho em)

 

    Thơ cho bằng hữu:  

\“Mình viết tiếp vài dòng thương nhớ Phước/ ký ức một thời còn sủi bọt nơi đây/ Ly bia cạn chỗ ngồi sao vắng khách/ Ông mặt trời đi trốn suốt chiều nay” (Nhớ bạn- 100 lẻ 1 bài thơ)

 

    Thơ Trần Quang Châu với cảm hứng trữ tình thế sự là những nỗi trăn trở suy tư về nhân tình thế thái, thoáng chút triết luận nhẹ nhàng: “Sá gì chỗ đứng, chỗ ngồi/ Cầm bằng như thể nước trôi qua cầu” “ Ôi địa ngục, ôi thiên đàng/ Có trăm hố thẳm-có ngàn vực sâu/ …Rong chơi giữa cõi phong trần/ Để suy ngẫm lại những lần hoang mang”. Danh lợi, công danh rồi cũng chỉ phù du, thời gian trôi nhanh như gió thoảng. Đời người trăm năm thoáng qua như chớp mắt mà thôi vì thế tranh giành danh lợi mà chi, đời nhiều cạm bẫy, sa hầm sẩy hố, địa ngục hay thiên đường là điều khó lường trước.

    Chính vì thế trong thơ Trần Quang Châu gieo vào lòng người đọc là một chân dung thơ ngọt ngào lãng mạn dù trải qua phong trần và bộn bề cuộc sống. Điều đọng lại sau cùng vẫn là tình yêu:

    “Đã mười năm bài thơ chưa đoạn kết/ Bởi xa em nên mực cũng phai dần/ Sách vở nhà trường bỏ lại sau lưng/ Bởi roi vọt vút qua đời tươm máu”
    (Nhớ em tuổi 13 -100 lẻ 1 bài thơ)

    Và đi qua những phù trầm dâu bể thơ anh vẫn là những vần thơ tình nhẹ nhàng lãng mạn chiếm ưu thế.

    “Nhẹ tay nhón thử tiếng đàn/Là nghe trong gió dịu dàng tiếng em/ Hình như ngày đã qua đêm/ Hình như kỷ niệm đang bồng bềnh trôi”

    (Đôi khi tôi lạ chính tôi- 100 lẻ 1 bài thơ)

    Đời thơ của Trần Quang Châu không nhiều lắm chỉ vài trăm bài thơ được xuất bản trong ba tập thơ như đã nói ở trên. Nhưng bằng tất cả dòng cảm xúc trữ tình tâm tình anh đã ghi lại những vần thơ tha thiết, ngọt ngào và lãng mạn, dành cho tình yêu, tình cảm dành cho quê hương, người thân và bằng hữu,… phác họa được chân dung mình qua thơ, giàu sắc điệu trữ tình. Về trữ tình thế sự anh có những bài thơ để lại nhưng suy tư trăn trở về nhân tình thế thái, có tính triết luận nhẹ nhàng. Trần Quang Châu sáng tác phong phú với nhiều thể loại: Lục bát truyền thống, thơ năm chữ, thơ 6;7;8 chữ, thơ tự do,… với những câu dài ngắn khác nhau. Cuối tập thơ 100 lẻ 1 còn có chùm thơ 10 bài tứ tuyệt. Ngôn từ dung dị, dễ hiểu, giàu hình ảnh và tính nhạc trong thơ.  Anh bảo đây là tập thơ cuối cùng. Người đọc thì vẫn tiếc khi anh không làm thơ nữa. Nhưng như vậy cũng đủ cho một hồn thơ với đầy đủ những gì anh muốn giải bày. Anh dừng lại thơ khi tuổi đời bước sang tuổi thất thập. Bây giờ có lẽ anh chuyên tâm làm tạp chí. Tâm huyết dành cho một sân chơi là tạp chí Sông Quê cùng với nhà thơ, nhà báo Phạm Ngọc Dũ. Chúc cho anh luôn bình an, sức khỏe, làm việc nhiều năng lượng với niềm đam mê văn nghệ chưa bao giờ vơi cạn.


Tôi cũng có bài thơ vui tặng anh:

Đọc thơ của Trần Quang Châu

Bớt chút Quảng Ngãi cộng vào Thừa Thiên

Là ra câu chữ người hiền

Tình người đầy đặn của miền Trung thương

Thơ anh giọng ngọt mía đường

Gom mây nhặt lá của từng mùa trôi

Đùa anh một chút vui thôi

Tôi đang soi chiếu ngọn nguồn thơ anh!

 

Sài Gòn, ngày 21/3/2024

Hoàng Thị Bích Hà 

 

READ MORE - THƠ TRẦN QUANG CHÂU - MỘT GIỌNG THƠ TRỮ TÌNH - Hoàng Thị Bích Hà

ĐỌNG GIỌT SƯƠNG TRONG – Thơ Le Nguyen Thu

 




 

ĐỌNG GIỌT SƯƠNG TRONG 


Sương rơi đầu mùa đông ngơi 

cây đời tạo dáng vòng đời trầm sinh

người đi vàng rơi đầu ghềnh

cuối bãi cồn lạnh nguyên trinh gợn ghì 

ta nằm nghe lời tồn si

mê hoang khấp khểnh bước đi gập ghềnh* 

thiên thu mưa rơi buồn tênh 

một mai còn tiếc nghê thường chiêm bao

đời còn chi đời hư hao 

nghe trong buốt lạnh lao xao thì thầm 

về đâu đây đêm từng đêm 

giã từ mộng mị môi mềm ngực thơm 

ngu ngây ta ngu ngây em 

mùi tinh thể ấy cởi xiêm y tà 

thương hoài ngày xưa... ngày xưa... 

đêm đi còn đọng sương sa bụi hồng 


*

*Đoạn trường thay lúc phân kỳ!

Vó câu khấp khểnh bóng xe gập ghềnh.

(Kiều, Nguyễn Du)

 

Stanton Nov. 14th, 2024 (9:45 am)

Le Nguyen Thu




READ MORE - ĐỌNG GIỌT SƯƠNG TRONG – Thơ Le Nguyen Thu

Friday, November 22, 2024

TẢN VĂN MIÊN MAN – Trần Mai Ngân



Có những ngày qua đi cùng nắng gió, đôi khi là bão giông em vẫn lặng im ở nơi này - nhớ N đầy tràn nhưng vẫn không gọi, không nói… Và cứ thế thời gian trôi đi, trôi đi từ những tháng năm đó.
 
Mùa Thu đã qua. Những con lũ tràn mênh mông về thành phố nhỏ xíu này cũng đã hết, trả lại những sinh hoạt bình thường, trả lại mặt đường khô ráo lặng câm.
 
Dạo này em không làm thơ được. Có lẽ khi quá mức của buồn thương, của nỗi nhớ thì ngòi bút bất lực không miêu tả được, không thành tứ thơ được.
 
Người ta bảo bình thản được trước bão giông là đã đạt được lẽ sống. Em không mạnh mẽ thế đâu. Em nấp vào tường vách kỉ niệm để trốn bão. Ở đó em thấy phẳng lặng và bình yên.
 
Ở đó có tuổi mới lớn đẹp và tinh khôi như trang giấy mới thơm ngày thần tiên.
Đôi lúc, em ước chi được thay đổi. Và em không như em của bây giờ, cũng không gặp N, đừng phải gặp N… Nhưng đã gọi là điều ước thì mấy khi thành hiện thực.
 
Bây giờ, cuộc sống đang thu ngắn lại sau mỗi ngày thức dậy. Em bỗng muốn viết, viết về N, về em về cuộc đời. Viết và để lại mai sau này như một dấu tích chúng ta đã đến cuộc đời này và đã gặp nhau. Em không viết hay như nhà văn nữ Marguerite Duras trong tác phẩm Người Tình - vì em không dám viết hết sự thật ẩn sâu trong trái tim mình. Em sẽ bị lên án chăng hay sẽ được yêu thương thấu hiểu.
 
Thôi, không cần đâu.
Chỉ cần một vài nét phác họa, một vài câu nói thể hiện trong văn phong tự sự đơn giản này N đọc được và thấu đáo được.
 
Hiểu rằng, N quan trọng biết chừng nào.
N giống như một câu kinh thánh “lúc hạnh phúc hay đau khổ, lúc mạnh khỏe hay lúc ốm đau bệnh tật…”  em đều nghĩ đến N, gọi N. Em là một con chiên ngoan đạo nhưng bị Chúa bỏ quên và không cứu rỗi. Em không oán trách Chúa Phật, cũng không oán trách số phận trớ trêu của mình.
Em bằng lòng và trân quý những khoảnh khắc đã có, rất thật và rất đẹp của chúng ta.
 
Trời đã sáng rồi đó N. Em thức giấc và nghĩ và viết những dòng này như một người đang mộng du.
N nơi đó chắc cũng vừa dậy để chuẩn bị cho một ngày mới đã lâu không có em…
 
Mai mốt em sẽ viết tiếp về biển, về những dấu chân chúng ta đã in sâu trên đó…lâu lắm rồi, sóng làm trôi đi không thể tìm và nhớ chính xác ở đâu.
Khi em kể lại, N hãy cố nhớ và nhắc em nha… Chiều hoàng hôn và sóng!
 
Còn bây giờ, em thức dậy đây. Bắt đầu cho ngày mới với những bổn phận và trách nhiệm phải vuông tròn - không vướng bận và nghĩ về N!
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - TẢN VĂN MIÊN MAN – Trần Mai Ngân

TRƯỚC SÂN – Thơ Lê Phước Sinh


 

Người già ngồi phơi nắng
Nắng mới mọc, còn tươi
Sợi vuốt ve an ủi
rồi thủng thẳng lên đồi...
 
            Lê Phước Sinh

READ MORE - TRƯỚC SÂN – Thơ Lê Phước Sinh

Thursday, November 21, 2024

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (Kỳ 10) - Trương Ngọc Bỉnh

 

Giáo sư Lê Quang Thái


NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG

Trương Ngọc Bỉnh

Cựu học sinh, Trường Trung học Hải Lăng,

Khóa 5, 1964 - 1968

 

PHẦN 10:

 

Xin được mến mộ gửi gắm mấy dòng cảm nhận về cố giáo sư Lê Quang Thái, một trong những vị giáo sư đã đồng hành cùng trường Trung học Công Lập Hải Lăng từ những năm đầu trường mới hình thành.

    Tôi phải khẳng định chắc nịch rằng “Thầy là một giáo sư đa hệ!”. Ngoài việc giảng dạy bộ môn chính là Việt Văn (gồm 2 phân môn: Cổ văn và Kim văn), Thầy còn “bao lô” các môn khoa học, xã hội và tự nhiên (Lịch sử, Địa lý, Công dân, Toán) ở các lớp đầu cấp. Ở lớp tôi, Thầy cũng đã được phân công dạy mấy giờ “Hán tự nhập môn” đầu năm Đệ thất, nhưng sau đó đã bị loại khỏi chương trình vì không phù hợp với xu thế. Dù học được mấy giờ, nhưng tôi vẫn còn nhớ kỹ phương pháp Thầy hướng dẫn tự viết các nét của Hán tự: nét ngang, nét sổ, nét phải trái, nét chấm, nét mũi mác…

    Thầy sống rất giản dị - phải nói là rất bình dị nhưng không vì thế mà làm giảm đi tác phong, tư cách của một Thầy giáo cả khi lên lớp cũng như lúc sinh hoạt ở nhà trọ. Hiếm khi chúng tôi thấy Thầy mang một đôi giày da tươm tất để lên lớp qua bao mùa mưa nắng như các Thầy trong trường! Sở trường của Thầy là những đôi dép nhựa (sandal) có quai sau, trong suốt như dép Tiền phong (Hải Phòng) sau 1975.

     Rồi mỗi sáng sớm, mỗi giờ học của Thầy, tổ trực nhật phải chuẩn bị một “món quà” trước lớp, đó là bó cành roi dương liễu để hành xử, răn đe các cô cậu nhác, lười soạn bài, không thuộc bài hoặc nghịch ngợm dù khi Thầy ở vị trí giáo sư bộ môn cũng như giáo sư hướng dẫn.

    Những tháng ngày tập tểnh “tân binh” đầu cấp ấy rồi cũng thoáng qua mau… Đến năm lớp Đệ lục, nhân cách dần phát triển, việc tự giác và ý thức học tập được nâng cao, các mối quan hệ Thầy - Trò, bạn bè bắt đầu dè chừng, đi vào chuẩn mực hơn.

    Vốn sinh ra ở vùng quê, lớn lên bước ra trường tỉnh, nên Thầy Lê Quang Thái rất thấu hiểu một cách chân tình cho đám học trò nghèo mà hiếu học của vùng trũng lúa nước của quận Hải Lăng, được đỗ đạt để bước chân vào trường công lập. Với cơm đùm gạo bới, ăn nhờ ở đậu, sáng sớm cuốc bộ hoặc họa hoằn may mắn con nhà hơi khá có xe đạp, đạp từ các làng xã cách xa >15<cây số để mong kiếm con chữ cho cái thân mai sau. Mặc cho mưa rét, nắng gió, bão lũ …, thách thức cũng như cuộc chiến xảy ra ngày càng ác liệt trên quê hương.

    Thầy Lê Quang Thái không chỉ là một tấm gương sáng về phong cách sống: giản dị, thực tế, thẳng thắn, tôn trọng sự thật mà còn là một tấm gương tự học, tự nghiên cứu cho các thế hệ học sinh chúng tôi noi theo.

    Thầy có trí nhớ phải nói là vượt trội như một quyển từ điển sống để nghe lại và “tra cứu” về nhiều nhân vật, biến cố lịch sử; xâu chuỗi có hệ thống lô gích về ngày tháng, niên đại, địa điểm… mà Thầy đã chứng kiến. Những sự kiện này đã cuốn hút tôi vào chuyện kể của Thầy! Tôi nghĩ không còn ai ngoài tầm kiến thức uyên bác như Thầy để mà tranh thủ “tham khảo”!.

    “Thầy như con tằm mãi miết nhả tơ, dệt nên những tấm lụa đẹp và hữu ích cho đời. Thầy luôn tôn trọng sự thật, mang tính nhân văn, không hề có thiên kiến, ác ý với cá nhân nào!” (Điếu văn Ban liên lạc Nguyễn Hoàng - Quảng Trị tại Sài Gòn ngày 28-10-2020, trước lúc gia đình di quan Thầy về với đất Huế.)

    Sau khi lần lượt tốt nghiệp, rời các cấp trường học: Trung học Hải Lăng, Trung học Nguyễn Hoàng (Quảng Trị), tôi lại có duyên gặp lại Thầy cũ: Thầy Lê Quang Thái- là giáo sư được Bộ giáo dục bổ nhiệm giảng dạy bộ môn giáo dục cộng đồng của khóa 2, cuối cấp năm học 1971-1972 của chúng tôi tại trường Sư phạm Huế.

    Chúng tối đã tìm tòi và đọc được lời tựa của Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn, người đã được phép dầy công tập hợp những bài biên khảo, nghiên cứu Thầy Lê Quang Thái để ấn bản tập sách: “Khảo luận về miền Thuận – Hóa”, trong đó có những lời giới thiệu về Thầy: “Từng giảng dạy tại trường Trung học Nguyễn Hoàng (Quảng Trị), Trường PTTH Hai Bà Trưng (Huế)” thì bản thân tôi làm gì có được những cảm xúc và kỷ niệm sâu lắng về Thầy! Sau ngày 30/04/1975 và đất nước đã hòa bình thống nhất, nhưng Thầy trò chúng tôi tan tác lạc đàn như sau cơn bão giông, chồng chất những lo toan và khó khăn trong cuộc sống. Đây cũng là điều hiển nhiên của một đất nước vừa trải qua cuộc chiến ý thức hệ: giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước!

    Bẵng đi một thời gian sau 1975, Thầy không tiếp tục sự nghiệp dạy học phổ thông nữa mà chuyển sang một ngã rẽ mới: viết báo, nghiên cứu lịch sử Việt Nam và Phật giáo. Thầy đã từng cộng tác với các tạp chí Cửa việt, Giác ngộ, Sông Hương, Trung tâm Văn hóa Liễu Quán tại Huế. Ngoài những công việc nêu trên, Thầy được mời thỉnh giảng tại Trường Trung cấp Phật học Thừa Thiên Huế và được Giáo hội Phật giáoThừa Thiên Huế ủy nhiệm việc nghiên cứu về lịch sử và sự phát triển của Phật giáo miền Trung.

    Có ai hiểu thấu tâm trạng những ngày giao thời giữa 2 chế độ mà những vị giáo sư, tiến sĩ, cao học … của chế độ cũ đã ra “đầu phố, cuối chợ” để kiếm sống qua ngày: sửa, vá, bơm xe đạp, đạp xe ôm hoặc bươn chải với chiếc xe đạp cà tàng, thầm lặng đi giao hàng tận hang cùng ngõ hẽm của thành phố. Trong lúc thấp thỏm chờ thanh lọc, học tập đường lối chính sách để ước mong được xét lưu dung, lưu dụng, được hội nhập vào luồng gió mới, góp phần còn lại của năng lực trí tuệ đối với đất nước.

    Hồi còn học với Thầy Lê Quang Thái ở Trung học Hải Lăng, có năm Thầy phụ trách giáo sư hướng dẫn, khi biết Thầy không có giờ dạy, chúng tôi “Top 5 của lớp” thường đến nhà trọ của Thầy - đối diện hơi chếch với UBHC xã Hải Thọ (trước 1968). Khoảng cách giữa Thầy và chúng tôi được rút ngắn, Thầy trò lại thấm hiểu nhau hơn, gắn bó sâu đậu. Những câu nói mộc mạc chơn chất động viên của Thầy từ ngày ấy đã gieo niềm tin vào lứa tuổi học trò của chúng tôi: “Khi đứng trước đám đông thuyết trình thì xem họ ở dưới như đất cày!"

    Tôi còn nhớ vào hồi hình như lớp Đệ lục với Thầy. Thầy đã giao cho tổ 2 của tôi thuyết trình đề tài cổ văn, bài “Tú Uyên và Giáng kiều”. Tôi là thuyết trình viên, bạn Phan Khắc Vỵ - tổ trưởng chủ trì. Cả 2 lên ngồi ở vị trí bàn giáo viên. Thầy Thái ngồi ở dưới lớp làm cố vấn. Cả lớp theo dõi và đặt vấn đề, thuyết trình viên cùng chủ trì giải đáp. Thầy bổ sung, mở rộng và đúc kết bài học. Ngày ấy mà Thầy đã có những sáng tạo về phương pháp, phá rào lối dạy từ chương “Thầy giảng, trò chép”.

    Qua các giờ thuyết trình, lớp học chuẩn bị trước bài học chu đáo, lớp hoạt động sôi nổi, kiến thức được khắc sâu, học sinh mạnh dạn xây đựng bài học.

    Hằng năm, mùa Vu Lan hiếu hạnh lại trở về. Tôi chạnh lòng nhớ đến một bài thơ ca ngợi tình mẹ, tình mẫu tử hơn cả trăm ngàn lần bài học đạo đức, luân lý. Xin được trích đăng mấy khổ trong bài Khói Trắng của nhà thơ Kiên Giang mà Thầy Thái đã gieo vào tâm hồn chúng tôi ngày ấy:

 

    “Hương cau thơm phức ngôi sao mẹ
    Thơm ngát mái nhà, thơm áo cơm
    Con thở trong mùi thơm bát ngát
    Thịt da mái tóc quyện mùi thơm

    Nước mắt chảy xuôi ... tình mẫu tử
    Chảy theo nước mắt cuộn mồ hôi
    Mẹ đem cái chết làm nên sống
    Nước mắt một dòng ... vẫn chảy xuôi

    Ngày xửa ngày xưa thời trẻ dại
    Con đau rên siết mẹ sầu lo
    Bán đôi bông cưới mua thang thuốc
    Mua bánh tai heo, giấy học trò

    Đêm nào con khóc đòi ru ngủ
    Mẹ thức mỏi mòn: nhịp võng đưa
    Thân lạnh nằm khoanh lòng mẹ ấm
    Mẹ ơi ! Con lớn giữa niềm ru

    Nhớ ngày mẹ ốm nằm trong xó
    Chiếu lạnh ủ không ấm vóc gầy
    Đau đớn ... không hề rên siết khẽ
    Sợ con nghe tiếng mà buồn lây

    Nói làm sao hết mẹ hiền ơi !
    Công đức niềm đau lẫn tiếng cười
    Mẹ lấy bụi đời làm phấn sáp
    Che dù trời nắng, đội mưa rơi

    Nhớ mùa cau trổ trong vườn cũ
    Mẹ quét lá vàng ủ lấy phân
    Khói trắng lên trời như tóc bạc
    Con ngỡ khói tóc quyện mây Tần.”

    …………………………………

    Sau 20 năm thuyên chuyển công tác và định cư cuối dãi đất miền Trung, Trung bộ, tôi mới trở về thăm quê (1981 – 2001). Thời gian cũng khá dài, cuộc sống nơi xứ người rất khó khăn. Nỗi nhớ quê, nhớ người thân ... có thể ví bằng nỗi nhớ của các cụ ra đi tập kết sau Hiệp định Genève 1954 và mãi mùa xuân 1975 mới hồi kết vào thăm quê hương. Những cuộc gặp gỡ rồi chia tay giữa người xa quê với bạn bè đã để lại nhiều kỷ niệm khó phai. Đặc biệt là đêm hội ngộ bè bạn Hải Lăng tại nhà bạn Dương Thí (Thi) ở phe Nhất, Diên Sanh. Đêm đó có cả Phước (Đà Nẵng), Thị Mỹ, Ngọc, Thanh, Gái …

    Do xa quê quá lâu, từ lúc chuyển công tác vào Nam (1981), bạn bè chẳng có tin tức về tôi, qua 20 năm mới về quê. Bích Ngọc lại tâm sự: “Tụi tau tưởng mi đã chết nên lập bàn thờ mỗi lần họp mặt!” (để nói về tôi)... Đêm dài nhưng tâm sự tình cảm vẫn không vơi để rồi sáng hôm sau, các bạn thổ địa bố trí xe máy vòng vèo lên thị trấn Hải Lăng ăn cháo vạc giường, rồi trở về Trung Đơn (Hải Thành) để thăm giáo sư Hoàng Thị Chanh. Cô giáo cũ Anh văn, Vạn vật của trường Trung học Hải Lăng.

    Trên đường về Phú Lộc (quê ngoại của các con tôi), ngang qua Huế, tôi đã nhớ như in số nhà 11/9 phố Nguyễn Trường Tộ, Tp.Huế để ghé thăm thầy Lê Quang Thái và cô Lê Thị Tránh. Qua vấn an sức khỏe thầy cô, Thầy bỗng dưng đi lên gác và đem xuống một quyển tạp chí Sông Hương để tặng tôi với mấy dòng chữ ngay đầu bài viết của Thầy: “Bể dâu mà không bể đâu anh!” Bút tích của Thầy và tạp chí vẫn còn đây mà Thầy đã đi xa 4 năm thật rồi” (27/10/2020 – 27/10/2024)

    Thầy ghi: Thân tặng

    Anh chị Trương Ngọc Bỉnh

    Và các cháu – để nhớ mãi chất Quảng Trị

    17/07/01

    (Ký tên)

    (Tạp chí Sông Hương số 149-7-2001), trang 9.)

    Qua bài này, tôi (người viết) đề nghị Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn đính chính lại đề bài như ý của Thầy chứ không phải “Bể dâu mà không dâu bể đâu anh” mà Tiến sĩ đã giới thiệu ở cuối chủ đề 2 “Di tích – Danh nhân”.

    Ngoài ra, đã có một số ngày tháng, niên đại … chưa chính xác do in ấn hoặc những lý do nào khác.

    Công trình nghiên cứu, biên khảo của Thầy Lê Quang Thái được Tiến sĩ Anh Sơn sưu tập đã thắp lên một ngọn đuốc, góp một bông hoa thơm ngát trong dòng chảy văn học - văn học sử của nền văn học Việt Nam thế kỷ 21 và cho lớp lớp hậu thế học hỏi, tham khảo.

 

    Kính cẩn thắp một nén hương lòng dâng lên Thầy Lê Quang Thái đã yên nghĩ nghìn thu trên đất thần kinh.

 

    Ngày tri ân: 20-11-2024.

    Trương Ngọc Bỉnh

READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (Kỳ 10) - Trương Ngọc Bỉnh

Wednesday, November 20, 2024

THÌ THẦM - Nhạc Võ Tá Hân - Thơ Phạm Phan Lang - Hòa âm Nam Vĩnh và Đàm Hà

 
 
Ca khúc:  Thì Thầm
Thơ:  PhamPhanLang
Nhạc:  Võ Tá Hân.
Ca sĩ:  Nhất Chi Mai
Hòa âm:  Nam Vĩnh & Đàm Hà.


Thì thầm

Này anh, hôm nay trời nắng đẹp,
Bên kia đời, anh có thấy bóng em
Thấp thoáng trong ngôi vườn xanh mát
Miệng thầm thì xin anh ngủ thật ngon
 
Này Me, trên con đường làng nhỏ
Dẫn con về nơi chỗ Mẹ nằm,
Nơi ấy con sẽ ngồi nhổ cỏ
Trên mộ hoang và trồng một cành bông
 
Này anh trai, em sẽ về nơi anh ngủ
Đưa anh về nơi chỗ Mẹ chúng ta
Bên dòng sông, góc núi và cạnh nhà
Anh sẽ thấy lòng vui vì gần Mẹ
 
Này tôi, cuộc đời là thế đó,
Đến và đi là lẽ sống bình thường,
Tạ ơn Trời tim đầy ấp yêu thương
Xin nhận lấy những gì trong cuộc sống

PhamPhanLang
READ MORE - THÌ THẦM - Nhạc Võ Tá Hân - Thơ Phạm Phan Lang - Hòa âm Nam Vĩnh và Đàm Hà

GIỮA HUẾ SÁNG MƯA - Thơ Bùi Hoàng Linh

 


GIỮA HUẾ SÁNG MƯA


Về ngồi giữa Huế sáng mưa

Nhìn thành quách ướt rêu xưa tháng ngày

Về ngồi giữa Huế đưa tay

Hứng giọt mưa cũ mới hay đã già


Mái hiên ngóng giọt mưa qua

Khói hương xám nhắc ai xa vắng nhà

Lặng ngồi giữa những phôi pha

Mà thương vàng đá giữ nguyên cựu tình


Vẫn còn góc phố lặng thinh

Người muôn năm cũ giữ tình Huế xưa

Vẫn còn tiếng dạ lời thưa

Còn nhà nếp cũ cất vừa hồn quê


Trầm hương lạc giữa cơn mê

Chiêm bao ai gọi quay về tuổi thơ

Ru tôi sông núi bất ngờ

Chọn tên Hương Ngự cho giờ 25.


Huế, ngày 19/11/2024

Bùi Hoàng Linh



READ MORE - GIỮA HUẾ SÁNG MƯA - Thơ Bùi Hoàng Linh

Monday, November 18, 2024

VÀI CẢM NHẬN VỀ TẬP THƠ “NHÀ KHÔNG CÓ ĐÀN BÀ” của PHAN VÕ HOÀNG NAM - Đặng Xuân Xuyến

 

Nhà thơ Phan Võ Hoàng Nam

Đặng Xuân Xuyến

VÀI CẢM NHẬN VỀ TẬP THƠ 

“NHÀ KHÔNG CÓ ĐÀN BÀ” 

của PHAN VÕ HOÀNG NAM

*

Chiều 30 tháng 09 năm 2019, nhận được tập thơ “Nhà Không Có Đàn Bà” của nhà thơ, họa sĩ Phan Võ Hoàng Nam gửi tặng, tôi háo hức ngồi đọc. Sách dày 96 trang, khổ 13x21cm, gồm 46 bài thơ, chủ yếu được viết ở thể thơ tự do, là những hồi ức, những cảm xúc về quê hương, cha mẹ, bạn bè, người xưa cũ...

Quê hương, trong ký ức tuổi thơ của nhà thơ, nhạc sĩ Phan Võ Hoàng Nam thật hiền hòa, thơ mộng, với những hình ảnh bình dị, trong trẻo, đẹp đến nao lòng:

"Ừ, đã xa.

Thuở ôm cây chuối lội sông.

Ba bốn đứa tranh nhau trái cà na thơm lựng.

Xuồng nhỏ tròng trành, cha quăng mẻ lưới.

Chiều xóm quê!

Canh chua rau nhút thơm lừng.

.

Mùa nước về quê,

Thuyền xuôi ngược trên đồng.

Mẹ đón cá ra sông ủ thêm lu nước mắm.

Em đến trường xắn quần lội qua cầu khỉ.

Con nước rong,

Trăng giỡn giữa đồng."

(Xa rồi mùa cũ)

Chỉ với 12 câu thơ trong 2 khổ thơ, nhà thơ Phan Võ Hoàng Nam đã tái hiện sinh động nhiều hình ảnh quê hương, nhiều kỷ niệm xưa với bạn bè, với cha mẹ, với người yêu... 

Cách viết không bó buộc câu chữ, không ràng buộc bởi bất kỳ niêm luật nào, cứ thoải mái phóng bút theo cảm xúc, cũng chẳng chủ ý gieo vần trong Xa Rồi Mùa Cũ đã tạo nhiều ấn tượng với người đọc. Có lẽ vì tình yêu quê hương trong Phan Võ Hoàng Nam sâu lắng và diết da lắm nên đã tự bật ra những thi tứ, thi ảnh và ngôn từ đậm chất sông nước miền Tây để Xa Rồi Mùa Cũ dễ dàng thẩm thấu vào cảm xúc của người đọc. Cách viết tự nhiên, phóng khoáng như thế, Phan Võ Hoàng Nam thành công không chỉ ở một vài bài.

Ngay cả khi viết về quê hương với nỗi lo cơm áo gạo tiền thì những mảnh đời được anh khắc họa cũng phóng khoáng, tự nhiên, cũng ấm áp tình, tươi rói niềm tin như bản tính vốn chân thành, mộc mạc của những người con sông nước miền Tây. Nếu không nặng lòng với quê hương, không thao thiết gửi trọn niềm tin vào ngày mai tươi sáng thì Phan Võ Hoàng Nam không thể viết được những câu thơ ấm áp, căng tràn sức sống thế này:

"Gã trai lực điền gật gà giấc ngủ.

Hồn phiêu diêu. Chốn cũ, vườn xưa.

Bàn tay ấm ngày bỏ quê lên phố.

Con đò trôi.

Cô thôn nữ dịu dàng."

(Chuyến xe chiều cuối năm)

Những hình ảnh đẹp như thế xuất hiện khá nhiều trong thơ Phan Võ Hoàng Nam. Tuy ở một vài bài thơ, gặp ở vài câu thơ viết về gánh nặng mưu sinh của những phận đời bươn trải như một quy trình “nối dài những nốt trầm ngọt đắng”: “Phố rồi lại phố” / “Mùa lại những mùa dong ruổiNhững mảnh đời đáng thương như thế, xuất hiện không nhiều trong “Nhà Không Có Đàn Bà”:

Phố rồi lại phố.

Mùa lại những mùa dong ruổi.

Tiếng rao đêm nối dài những nốt trầm ngọt đắng.

Rao bán bình yên

Mua thân phận làm người. 

(Tiếng rao đêm)

Đọc những bài thơ: Tháng SáuXa Rồi Mùa CũSao Không Về Mỹ ĐứcKhói Chiều Đồng Nước, Nắng Đồng Bằng... tôi chạnh lòng nghĩ về quê tôi. Cũng là làng quê Việt Nam, cũng là những người dân một nắng hai sương, chân chất hiền lành, sao An Giang quê anh giữ được nét mộc mạc, hồn nhiên, với những trong trẻo niềm tin vào cuộc sống yên bình, hạnh phúc, còn quê tôi thì sự đổi thay đang từng ngày tàn phá chất quê, hồn quê, để những người con xa xứ chúng tôi phải nghẹn ngào nuốt lệ.

Hay những câu thơ viết về Mẹ, dù là những ngậm ngùi "Mẹ một đời qua bao mùa lũ" "bủa lưới đồng sâu" "leo lét đèn dầu" để tần tảo lo toan cho cuộc sống gia đình thì tiếng lòng của nhà thơ Phan Võ Hoàng Nam vẫn ngân lên âm hưởng của những câu lý sâu lắng, những điệu hò ngọt ngào sóng nước miền Tây, không hề vương chút bi lụy, yếu đuối. Hồn Mẹ hồn Quê cứ đan quyện vào nhau, cứ trong trẻo ngân lên trong tâm tưởng của người con hiếu thảo:

"Mẹ một đời qua bao mùa lũ.

Thời con gái theo chồng bủa lưới đồng sâu.

Leo lét đèn dầu.

Xuồng câu dập dềnh sóng nước

Đói no, buồn vui

Con nước lớn ròng."

(Khói chiều đồng nước)

Tôi khựng lại khi gặp những câu thơ hay, bàng bạc buồn nhưng mà đẹp anh lặng viết về Mẹ:

"Cây ô môi sau vườn còn hoa đỏ.

Lũ sâu ngủ đông mơ cánh bướm rộn ràng.

Chiều.

Mẹ ra sông ngẩn ngơ đò dọc

Biền biệt người từ độ thu xưa"

(Năng đồng bằng)

Viết về Mẹ thì hầu như nhà thơ nào cũng có vài bài và đó thường là những bài nổi trội hơn cả của các nhà thơ. Có lẽ vì tình Mẹ bao la, sự hy sinh vô bờ của Mẹ với gia đình, với quê hương, đất nước nên thơ viết về Mẹ thường đằm sâu, thao thiết:

"Tháng chạp.

Mẹ chọn từng hạt nếp

Góp tình quê đợi phút sum vầy

Phía dòng sông cơn bấc còn se lạnh

Mẹ đã nghe ấm lửa đêm xuân."

(Xôn xao tháng Chạp)

Hay:

"Bến cũ còn đây,

Mẹ giờ xa khuất nẻo.

Cánh buồm trôi về chốn hư vô.

Ổ bánh nóng giòn, cánh hoa sao trong gió.

Trẻ thơ ơi lạc đâu mất lời ru."

(Tháng Bảy và Mẹ)

Đọc những câu thơ như thế hỏi ai không chùng lòng, không cắn môi để ngăn dòng lệ vì quắt quay nhớ Mẹ. Tôi cũng thế, khi đọc những lời thơ anh viết dâng Mẹ, tôi nhớ Mẹ tôi nhiều lắm. Tôi nhớ dáng xiêu xiêu với đôi quang gánh trên vai Mẹ tất tả về nhà. Tôi nhớ bữa cơm độn nhiều khoai sắn, Mẹ luôn giục chị em tôi ăn nhiều cho no bụng, rồi cuối bữa Mẹ chậm rãi vét miếng cháy, miếng khoai còn thừa, và nói: - "Mẹ ăn cho đỡ phí.". Vì thế, khi đọc những dòng thơ anh viết về Mẹ, tôi mấy lần phải buông sách đứng dậy, đi đi lại lại để ngăn dòng lệ chực trào.

Viết về sự cách biệt âm dương với Mẹ thì "Lá trầu vàng" / "trái cau xanh héo úa", được nhiều nhà thơ sử dụng, không mới, nhưng những hình ảnh bình dị, đời thường như thế, khi được Phan Võ Hoàng Nam đặt cạnh những hình ảnh: "Con ngẩn ngơ" / "Bờ lau trắng chiều xuân" của rất riêng anh thì lại có sức truyền cảm mới mẻ, làm lay động lòng người về sự nhớ thương Mẹ mỗi khi Tết đến Xuân về:

Lá trầu vàng.

Trái cau xanh héo úa.

Lễ tổ tiên cánh phượng bay xa.

Dòng sông trôi, con đò tách bến.

Con ngẩn ngơ .

Bờ lau trắng chiều xuân.

(Góc quê Xuân và Mẹ)

Bên cạnh những bài thơ viết về quê hương, về Mẹ, là những bài tình thơ đôi lứa chiếm dung lượng khá nhiều trong Nhà Không Có Đàn Bà”. Và tôi đã từng quan niệm: - “Tình yêu! Phải có những lườm nguýt “ứ hự”, phải có những cắn, cấu, cong người, những “nổi loạn”, hả hê... thì mới sướng, mới khoái, mới đã, mới đích thực là tình yêu, chứ cứ lượn lờ mây trôi cá lội, í a í a thì quá chán...”. Với tôi, yêu là phải “máu lửa”, phải có những “đè”, “cắn”, “cấu”, “quấn”... nên không thích đọc những bài thơ dán nhãn thơ tình mà toàn những ỉ ôi mây trôi cá lượn, ne né từ xa để tránh diễn tả những hưng phấn (ham muốn) thể xác mà cuộc tình đó, đoạn tình đó nên có, phải có,... Thế nhưng khi đọc Phan Võ Hoàng Nam viết về tình yêu đôi lứa, mà lạ là những bài thơ đó chỉ viết những nhớ nhung anh dành cho (không ít) người yêu cũ, dù thiếu vắng những “cắn”, “cấu”, “cưỡng”, “ghì”... tôi lại chăm chú ngồi đọc. Có lẽ bởi tình yêu đó sâu lắng, thuần khiết, được chiết xuất từ trái tim cũng chỉ thuần khiết yêu?!

Tôi muốn viết thêm vài cảm nhận về thơ tình sâu lắng, thuần khiết của Phan Võ Hoàng Nam nhưng vì lưng đau quá, nên mảng thơ tình của anh xin hẹn sẽ đề cập vào một dịp khác.

*.

Hà Nội, 1giờ30 ngày 01.10.2019

           ĐẶNG XUÂN XUYẾN
READ MORE - VÀI CẢM NHẬN VỀ TẬP THƠ “NHÀ KHÔNG CÓ ĐÀN BÀ” của PHAN VÕ HOÀNG NAM - Đặng Xuân Xuyến

Truyện ngắn và thơ MỘT CHUYỆN TÌNH LÃNG ĐÃNG (Kỳ 4/5) - Quách Như Nguyệt

 

Tác giả Quách Như Nguyệt

Truyện ngắn và thơ

MỘT CHUYỆN TÌNH LÃNG ĐÃNG 

(Kỳ 4/5) 

 

 Quen nhau đã lâu rồi nhưng chúng tôi chưa bao giờ nắm tay, chưa hề vượt qua  luân thường đạo lý!  Tôi sợ và lo ngại Tuấn muốn đi xa hơn, còn tôi, có được  những giây phút nhẹ nhàng thơ mộng như thế này với Tuấn, tôi thấy quá đủ, tôi  không hề mong mỏi gì hơn. Tôi muốn Tuấn cũng như tôi, không kỳ vọng thêm điều  gì khác. 


Tôi đang làm gì đây?  Tự thử thách mình?  Một người đàn ông trẻ độc thân đầy sức sống và một người đàn bà đã có gia đình?  Chẳng bao giờ, hoàn toàn tôi không muốn mạo hiểm, phiêu lưu một chút nào đâu!  Làm sao để giữ lại, đông đá lại tình cảm của chúng tôi, để cho nó không tiến cũng không lùi?


Làm sao để thời gian ngừng hẳn lại, để cuộc đời toàn là những buổi tối thoải mái, relax; được thưởng thức những buổi ăn ngon, được nghe nhạc du dương, được đi xe đắt tiền, nhìn ngắm khung cảnh trữ tình, hưởng thụ đời sống hết mình, có một người bạn khác phái thương và hiểu mình ngay bên cạnh?  Tôi không muốn mất anh, đồng thời cũng không muốn làm điều gì sai quấy với người chồng quá tốt, luôn nâng đỡ, chìu chuộng, luôn thông cảm, tử tế, yêu thương tôi nhất mực! Tôi không muốn là một người mẹ chả ra gì đối với hai đứa con còn nhỏ dại!  Công việc tôi làm lúc đó lại quá quan trọng đối với tôi, tôi hoàn toàn không muốn bị mất đi những gì tôi đang có.   

“Tuấn ơi, em chỉ muốn hai đứa mình là bạn tri kỷ của nhau thôi, điều đó có quá khó với anh không, anh có thể nào duy trì được, mãi mãi chỉ là bạn tốt của em không?”, nhiều lúc tôi đã muốn hỏi anh như thế.  Tự nhiên tôi chợt nhớ: "Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu".  Vâng, lúc đó tất cả những gì tôi đang có với anh đều rất đỗi mỏng manh, mỏng manh như tơ trời, lãng đãng như sương khói, tan loãng như mây mưa.  Mưa trút xuống rồi mưa tạnh, mây hợp rồi mây tan... 

Hạnh phúc có thật mà, dường như gần gũi lắm, hạnh phúc bao phủ chung quanh tôi đây mà; nhiều khi cứ ngỡ nó nằm trong lòng bàn tay của tôi, có thể nếm được mà....  Nhưng sao suốt cả một đời, sao đa số chúng ta lại phải tìm hoài, kiếm hoài, cố công hoài đuổi bắt?!  Và.... chiếc lưới tình vô hình dường như mỗi ngày mỗi một siết chặt chúng tôi hơn.  Sao nó không chịu ngừng lại cho tôi nhờ?  Xin làm ơn chấm dứt, xin đừng đặt bẫy, đừng quăng lưới; đừng để tình bạn của chúng tôi phải quằn quại, thương đau!


Đừng tỏ tình anh nhé

Em chẳng thể nào đáp lại
Tình bạn mình đang đẹp,
đừng trở thành tình yêu không may
Hãy kéo dài thời gian bè bạn
Rồi chia tay vui vẻ chẳng phàn nàn

Nói ra rồi buồn lắm anh ơi!
Nói ra rồi là hai ta mất hết!
Mất đi tình bạn đẹp... trái buồn rơi!

Như Nguyệt


Càng ngày tình cảm của tôi dành cho Tuấn càng gia tăng, từ từ tăng dần dần mà chính tôi cũng không hề hay biết.  Về phần Tuấn, tôi cũng thấy được sự bứt rứt khổ tâm của anh mặc dù anh có vẻ như đang cố tình giữ kín. Trong lòng Tuấn hình như có một nỗi giao động mãnh liệt nào đó mà tôi không hiểu được. 

Con đường Pacific Coast Hwy trở thành quen thuộc. Có vài lần sau khi ăn tối xong lái xe lên freeway, anh đi mãi đi hoài!  Hình như anh không muốn chở tôi về? Không muốn rời xa!??  Cặp mắt anh nhìn tôi cũng khác lạ hơn. Tuấn hỏi tôi muốn đi đâu nữa không, đi bất cứ nơi nào Tuấn cũng sẽ chở tôi đến đó. Tuấn bịn rịn chần chừ như muốn níu kéo, muốn được ở gần bên tôi thêm được phút nào hay phút đó. Đôi lúc Tuấn có vẻ bực bội, hơi khó chịu, nản lòng không duyên cớ!  Hình như Tuấn muốn nói với tôi một điều gì đó, một điều khó nói hay không thể nói ra?! Những lúc như thế, tôi thường hay nhắc khéo về chồng, về con của mình. Tôi muốn nói bóng nói gió cho Tuấn hiểu tôi chỉ muốn duy trì tình bạn rất thân thiết giữa anh và tôi, rằng tình cảm giữa chúng tôi không thể nào tiến xa hơn được nữa....

Đã lâu rồi tôi không đụng đến thơ, nhưng sau những lần hẹn hò với Tuấn, tôi bỗng thấy tâm hồn mình réo rắt, lòng tôi chùng lại và tôi bắt đầu có cảm hứng làm thơ!


Hãy Là Bạn Của Nhau 

Anh chở em đi
Hai đứa ngồi bên nhau, không nói
Tối hôm nay trời mịt mờ sương khói
Anh lái xe đi hoài, đi mãi...
không muốn nói goodbye
Cho dẫu tim lung lay
Cố giữ tình bạn nhé
Anh biết mà, em chẳng thể yêu anh!

Tình cảm mình
Hãy đứng yên một chỗ
Em đang sống yên bình,
chẳng muốn quậy sóng lên

Tình bạn mình đang nguy hiểm, bấp bênh
Anh cố nhé, khóa trái tim vào nhé
Xin chớ mở dẫu chỉ là mở hé
Khóa chặt vào, kẻo tình bạn buồn tênh!

Như Nguyệt

Trong lúc tôi cố gắng giữ tình cảm giữa tôi và Tuấn không đi quá xa, thì
Tuấn lại như con thiêu thân đâm đầu vào ánh sáng! Có lần tôi bảo tôi thích mầu trắng, vài ngày sau, Tuấn bỏ chiếc xe mầu đen sang trọng đang có để đổi sang một chiếc xe mầu trắng mui trần “top of the line” Mercedes.  Anh đến đón tôi, hớn hở bảo anh đã chọn mầu trắng cho chiếc xe mới của anh, mầu mà tôi thích! Tôi thấy rõ ràng Tuấn đang dệt mộng tương lai, mà không những thế Tuấn lại còn muốn đưa tôi vào giấc mộng của anh! Sinh nhật tôi, Tuấn mang tặng cho tôi một món nữ trang vô cùng đắt giá!  Tuy cảm động nhưng tôi từ chối ngay, tôi không muốn nợ anh, không thể để cho anh hiểu lầm.

Tôi cảm thấy mình đang đứng trên bờ vực thẳm. Tuấn đã thay đổi nhiều quá! Anh đang đâm đầu vào vực thẳm tình yêu và còn muốn kéo tôi theo nữa! Tôi không thể nào tiếp tục! Tôi biết Tuấn sẽ buồn lắm nhưng tôi vẫn đành phải tránh gặp mặt anh.  Xa Tuấn, tôi sẽ mất đi nhiều thứ lắm, cả tinh thần lẩn vật chất (Tuấn quen biết đông, có nhiều bạn bè, bà con, thân chủ. Tuấn giới thiệu nhiều ‘clients’ mới cho tôi để tôi lo thủ thục vay mượn tiền cho họ).
Tôi biết tôi sẽ đau khổ và sẽ buồn nẫu ruột nhưng nếu phải dứt khoát, phải chấm dứt mối liên hệ tình cảm này, bắt buộc người quyết định cũng là tôi!!!

o O o    o O o    o O o   o O o

Lần chót đi ăn tối với nhau, anh chở tôi về lại chỗ tôi làm.  Anh tắt máy, dừng xe.  Tối hôm đó, anh ngồi thừ ra, như có điều gì khó nói.  Bất chợt, anh chồm người qua phía tôi, ấp úng nói một hơi dài:
“I love you, I love you, I love you…., Nguyệt! ”,
Vừa nói, vừa chồm người qua định hôn tôi. Tuy bất ngờ, nhưng phản ứng tự nhiên và cũng muốn tránh né; tôi đã quay mặt đi.  Môi anh phớt nhẹ vào má, vào cổ tôi. Tôi mở cửa xe, bước ra.  Tíc tắc trước đó, tôi bắt gặp ánh mắt buồn bã, đau khổ, thất vọng não nề của Tuấn….  Tôi đi vội vã như chạy trốn, không nhìn lại.  Bỏ lại anh ngồi thẩn thờ ở đằng sau.  Chẳng biết tại sao tôi lại làm như thế?  Tôi trốn chạy ư?  Tôi trốn chạy gì?!

Chân Bước Ra Đi

Bạn từng làm như thế chưa?
Trong lòng muốn ở nhưng chân bước ra đi
Tôi đã làm như thế một lần
Vội vã ra đi, không một lời từ giã
Dẫu biết rằng, bỏ lại sau lưng
….một người đang đau lòng, buồn bã!

Chẳng biết sao tôi lại làm như thế?
Lý trí lúc nào cũng mạnh hơn trái tim tôi?
Ôi! Trái tim! Một trái tim mềm yếu đê hèn!
Sáng hôm nay, nghe nhạc tình rũ ướt
Thấy lòng mình lướt thướt quá đi thôi!
Có những lúc tự dưng buồn quá đỗi
Kỷ niệm xưa như thác lũ kéo về
Nếu trời mưa, tôi sẽ gọi cho anh
Chuyện gì xẩy ra tôi chẳng cần biết tới
Ở bên anh quên hết chuyện bên lề

Nhưng may quá, hôm nay trời nắng ấm
Âm thầm… ru ngủ chuyện xa xăm

Như Nguyệt

*********

Chưa Hề Nói Yêu Anh

Vội vàng quay mặt bước đi
Tình ta dang dở tiếc chi anh à
Ta đang ở cõi ta bà
Không còn gặp nữa, đừng buồn nha anh…
Nước mắt rơi rớt nhạt nhòa
Yêu anh, tình ngỡ mù lòa... nhưng không
Dù lòng có rối bòng bong
Tình chưa đủ nặng, nhẹ bông ấy mà
Một năm chưa đủ mặn mà
Tay còn chưa nắm… thôi thà xa nhau
Chưa đậm mà đã xót đau
Nếu ta tiếp tục, còn đau thế nào?
Thương anh tình bạn ngọt ngào
Đừng gặn, đừng hỏi… phải em dối lòng?!
Dối lòng!  Vâng em dối lòng!
Ừ thì đành dối…. chưa từng yêu anh!

Như Nguyệt

******************

Ngày hôm sau, vừa bước vào văn phòng làm việc, cô thư ký trao cho tôi một chồng tin nhắn:
"Từ sáng đến giờ, anh Tuấn gọi cho chị nhiều lần! Hình như có chuyện gì quan trọng lắm đó chị Nguyệt!"

Trong mười ngày liên tiếp, ngày nào Tuấn cũng gọi điện thoại tìm tôi. Cho dù có thấy nhớ, có thấy buồn cách mấy, tôi vẫn nhất quyết không trả lời điện thoại của anh!  Sau đó, có lẽ mất kiên nhẫn, không còn hy vọng; Tuấn không gọi cho tôi nữa!

Làm sao tôi có thể quên anh được?! Đôi khi tôi tự trách mình đã chấm dứt một cách quá đột ngột! Tôi nghĩ tôi có thể phản ứng đẹp hơn. Nếu tôi ngồi nán lại, tìm lời phân giải, an ủi Tuấn thì Tuấn sẽ “feel” better chăng?! 


Trong cuộc đời ô trọc này, khó mà tìm được một người đáng quý như Tuấn.


Tuấn là người thành công trong xã hội. Anh tôn trọng tôi. Chúng tôi tương xứng với nhau, hiểu nhau nhiều. Anh đã mang đến cho tôi những niềm vui bất tận. Thế mà tôi lại không ‘say goodbye’ với anh cho đàng hoàng, tử tế.  Rồi tôi đâm ra suy nghĩ xa xôi, tôi cảm thấy tiếc đã đi lấy chồng quá sớm! Chồng tôi từ tiểu bang khác về gặp tôi là cưới tôi ngay. Thời gian cưới nhau quá sớm làm tôi thiếu hẵn những giây phút hẹn hò lãng mạn của những đôi tình nhân trẻ trước khi về chung sống với nhau! Có thể quen Tuấn, những thiếu thốn tình cảm lãng mạn ấy được bù đắp bằng những lần gặp gỡ, chuyện trò, những bữa ăn thơ mộng?! Tôi không tránh được sự mâu thuẫn của chính mình: một mặt tôi rất cảm kích sự có mặt của Tuấn trong cuộc đời mình, nhưng mặt khác, tôi muốn giữ tình cảm giữa hai chúng tôi sao cho vừa lãng mạn nhưng lại vừa trong sáng, gần gũi nhưng không xác thịt!  Làm sao để tôi có thể tận hưởng được một tình bạn êm đềm mà vẫn không hổ thẹn với chồng con?!  Thật là quá khó!!!  Tôi có tham lam quá đáng lắm không?

Thương nhất là cái tính "quân tử Tàu" của anh! Tuấn yêu tôi biết là bao nhiêu, thế mà vẫn phải đè nén, giấu kín nỗi lòng mình! Nếu anh không thuộc loại quân tử Tầu, không tôn trọng tôi quá đáng, không cố gắng gìn giữ cho tôi, chắc tôi cũng bị “thua” rồi, “đầu hàng” vô điều kiện rồi, hihihiiii.


Tuấn muốn tôi “tình nguyện” ngã vào vòng tay anh, làm sao mà tôi dám? Tôi là người đàn bà Việt Nam mà.  Tam tòng tứ đức vẫn còn từ trong máu... Bị nhét vào đầu óc là đàn bà, con gái phải thế này thế kia ngay từ hồi còn bé tí mà; nên cho dù muốn, muốn được bình đẳng như đàn ông, muốn là một người tự do, phóng khoáng khi sống ở trên cái đất nước văn minh này, mà làm sao tôi dám, tôi ... chẳng thể nào. 

(Còn tiếp.)

Quách Như Nguyệt 

READ MORE - Truyện ngắn và thơ MỘT CHUYỆN TÌNH LÃNG ĐÃNG (Kỳ 4/5) - Quách Như Nguyệt