Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, August 25, 2024

Lê Minh Hiền chuyển ngữ: 12 BÀI THƠ VIẾT TRONG MÙA THU (Kỳ 1/ 2)*

 Lê Minh Hiền chuyển ngữ:

12 BÀI THƠ VIẾT TRONG MÙA THU (Kỳ 1/ 2)*

 (https://www.panmacmillan.com/blogs/literary/poems-poetry-about-for-autumn-keats-frost-classic)

https://ik.imagekit.io/panmac/tr:f-auto,w-740,pr-true/bcd02f72-b50c-0179-8b4b-5e44f5340bd4/006e7ea2-8ad6-4c3a-9b1c-b567d8539ab4/autumn.jpg


1, KHI EM GIÀ ĐI 

Lê Minh Hiền chuyển ngữ William Butler Yeats 


Khi em đã bạc trắng mái đầu và suốt ngày ngủ, 

gật gà gật gù cạnh lò sưởi, trong tay một quyển sách,

chậm rãi đọc, và mơ màng... bình yên trong ánh mắt

đôi mắt em đã từng, sâu thẳm một trời tận thấu;

.

Bao kẻ đã yêu em từ thuở duyên dáng hồn nhiên,

yêu sắc đẹp em dù họ gian dối hay chân thành,  

nhưng chỉ một người đã yêu biết bao tâm hồn em thiên thần, 

yêu những nỗi buồn trên mặt em dẫu phai tàn dần;

.

Em cuối xuống bên cạnh những thanh củi cháy rực ngời,  

thì thầm, một thoáng buồn, sao tình yêu đã chấm dứt

khi tình đang hòa điệu trên những ngọn núi mùa thu cao ngút

sao người ta che giấu khuôn mặt mình giữa một đám sao trời.  

Stanton Aug. 15th, 2024 (2:09 pm)


When You Are Old     

By William Butler Yeats (Irish Poet, Dramatist, Writer, 1865-1939)


When you are old and grey and full of sleep,

And nodding by the fire, take down this book,

And slowly read, and dream of the soft look

Your eyes had once, and of their shadows deep;

.

How many loved your moments of glad grace,

And loved your beauty with love false or true,

But one man loved the pilgrim soul in you,

And loved the sorrows of your changing face;

.

And bending down beside the glowing bars,

Murmur, a little sadly, how Love fled

And paced upon the mountains overhead

And hid his face amid a crowd of stars.


C:\Users\hien\Pictures\WBY.jpg  

________


2, ANH CHỈ THÚ NHẬN LÀ

Lê Minh Hiền chuyển ngữ William Carlos Williams 


Anh vừa ăn

những trái plum*

nằm trong 

cái hộp ướp lạnh

.

Thứ trái lạ miệng

có lẽ em 

để dành cho

bữa ăn sáng 

.

Tha cho anh 

đã  ăn những trái plum ngon thật

vừa chua vừa ngọt

và lạnh làm sao 

Stanton Aug. 16th, 2024 (4:03 về sáng)

*trái mận đen có vị chua ngọt đậm

.

This Is Just To Say

By William Carlos Williams (American Poet, 1883-1963)


I have eaten 

the plums

that were in

the icebox

.

and which

you were probably

saving

for breakfast

.

Forgive me

they were delicious

so sweet

and so cold  

C:\Users\hien\Pictures\WCW.jpg

________


3, MÙA THU, NHỮNG CHIẾC LÁ, MÙA THU

Lê Minh Hiền chuyển ngữ Emily Bronte 


Mùa thu, lá vàng rơi;

Như nỗi chết, những đóa hoa, vừa tàn phai;

Ngày thì ngắn và đêm thì dài; 

Mỗi chiếc lá nói với ta niềm hoan lạc biết bao nhiêu

Những rung động từ cây cội sang thu. 

Ta sẽ mỉm cười khi những vòng bông tuyết đầu mùa đông... 

Như nở bung nơi sẽ mọc lên những cây hoa hồng;

Ta sẽ hát khi đêm tàn canh 

Khởi sự một ngày buồn hơn.

Stanton Aug. 13th, 2024 (8:11 pm) 


Fall, Leaves, Fall

By Emily Bronte (English Novelist & Poet, 1818-1848)


Fall, leaves, fall; die, flowers, away;
Lengthen night and shorten day;
Every leaf speaks bliss to me
Fluttering from the autumn tree.
I shall smile when wreaths of snow
Blossom where the rose should grow;
I shall sing when night’s decay
Ushers in a drearier day.   


C:\Users\hien\Pictures\EB1.jpg

 ________


4, MÙA THU

Lê Minh Hiền chuyển ngữ John Clare  


Tôi yêu những cơn gió mạnh bất chợt làm rung

khung cửa suốt ngày

và từ cây du rêu phong

những chiếc lá phai tàn bay đi

qua khung cửa kính chúng quay cuồng

trong khi trăm ngàn chiếc lá khác đã phủ kín xuống mặt đường 

.

Tôi thích nhìn cành cây đưa đẩy  

như múa may cho đến khi đêm về

nhà tranh con chim sẽ đậu trên mái

kêu ríu rít như say mê 

như mùa xuân trêu đùa

trong lòng mùa hè với ngỡ... ngàn hoa

.

Tôi thích nhìn sợi khói trên mái tranh 

cuộn tròn lên cao quyện quanh những tàn cây

những con bồ câu âu yếm nhau quanh cái chuồng

trong những ngày tháng cuối thu này

chú gà trống đang ngửa cổ gáy trên ụ phân

xa xa những cánh buồm đang giăng giăng 

.

Chiếc lông rụng từ ức con quạ

rơi trên gốc rạ gầy

những quả sồi cạnh bên cái tổ quạ

đã rụng xuống từ trên cây

những con lợn kêu ụt ịt, cả bọn chúng đã chờ 

để rồi tranh nhau ăn trông thật ngu ngơ 

Stanton Aug. 17th, 2024 (11:25 pm)  

.

Autumn

By John Clare (English Poet, 1793-1864)


I love the fitfull gusts that shakes
The casement all the day 
And from the mossy elm tree takes
The faded leaf away 
Twirling it by the window-pane
With thousand others down the lane

.

I love to see the shaking twig
Dance till the shut of eve 
The sparrow on the cottage rig
Whose chirp would make believe 
That spring was just now flirting by
In summers lap with flowers to lie

.

I love to see the cottage smoke
Curl upwards through the naked trees 
The pigeons nestled round the coat
On dull November days like these 
The cock upon the dung-hill crowing
The mill sails on the heath a-going

.

The feather from the ravens breast
Falls on the stubble lea 
The acorns near the old crows nest
Fall pattering down the tree 
The grunting pigs that wait for all
Scramble and hurry where they fall



C:\Users\hien\Pictures\JC.jpg

________



5, NHỚ RỪNG THU XƯA

Lê Minh Hiền chuyển ngữ Katherine Towers 


vào trong những lâu đài lên màu nâu ánh đỏ màu đồng

của gỗ dẻ gai và gỗ sồi lạ thường  

làm nhớ lại những cây hoang rừng ngàn 

đã từng cùng nhau thì thầm

chứng nhân những chiếc lá rơi dần,

và chết qua mùa đông 

Stanton Aug. 18th, (10:15 pm)

.

 Whim Wood

By Katherine Towers (British Poet, 1961.. )

into the coppery halls
of beech and intricate oak
to be close to the trees
as they whisper together
let fall their leaves,
and we die for the winter 


   C:\Users\hien\Pictures\KT.jpg

________


6, ĐẾN VỚI MÙA THU

Lê Minh Hiền chuyển ngữ John Keats 


Mùa của sương mù và mùa của vàng hườm mọng trái, 

Tri kỷ của muôn loài dưới ánh dương;

Cùng với mùa thu muôn loài được ban cho đầy tràn thức quí

Với những dây nho bò quanh mái tranh qua từng đêm đen;

Uốn lượn đường cong lưng táo trên những mái tranh rêu phong,

Và đầy những hoa quả chín rục dậy men; 

Làm những trái bầu tròn bóng, và những vỏ dẻ cứng căng

Với những quả hạnh nhân ngọt lạ; và nhiều nhiều hơn,

Và còn nữa, những bông hoa nở muộn dành cho đàn ong,

Cho đến nỗi chúng nghĩ những ngày ấm áp sẽ không bao giờ ngừng,

Vì mùa hè có đầy tràn những khoanh ong mật nhiễu vàng. 

.

Ai chưa từng thấy người hay ở giữa những bồ lúa vàng? 

Đôi khi có ai đó tìm thấy người bên ngoài

Người ngồi lơ đảng bên một vựa lúa trên sàn,

Mái tóc mềm mướt bung lên bởi cơn gió vợi vời;

Hay trên luống cày nửa chừng có vẻ như đang ngủ,

Ngẩn ngơ trong mùi hoa anh túc, dưới trăng khuyết 

Bên những luống cày và bao nhiêu là bông hoa: 

Và đôi khi như người mót lúa, người giữ chặt

Vững vàng cái đầu nặng trĩu băng ngang một con suối;

Hay bên cái máy ép dầu, với cái nhìn bền trí,

Người nhìn theo những giọt nước cuối cùng từng giờ trôi qua.

.

Đâu là những bản nhạc mùa Xuân? Ừ, mùa Xuân đâu ta?

Đừng nghĩ vậy, người cũng có riêng người những âm giai,

Những đám mây giăng giăng chiều về nở hoa, 

Như sóng lụa  trên những đồng rạ với màu đỏ hồng tươi; 

Thế rồi dàn hợp xướng của loài muỗi vo ve buồn 

Giữa con sông chiều vàng vọt, dâng lên dâng lên 

Hay chìm xuống khi cơn gió nhẹ tồn sinh;

Và cả đàn cừu vang động tiếng kêu be be từ phía đồi trên;

Những con dế bắt đầu gáy; âm thanh gọn mà sắc

Từ vườn trại nhỏ bên cạnh con chim cổ đỏ đang ngửa cổ huýt;

Còn bọn chim én thì họp đàn líu lo giữa vòm trời xanh.

Stanton Aug. 19th, 2024 (1:32 pm)

.

To Autumn 

John Keats (English Poet, 1795-1821)


Season of mists and mellow fruitfulness, 
   Close bosom-friend of the maturing sun; 
Conspiring with him how to load and bless 
   With fruit the vines that round the thatch-eves run; 
To bend with apples the moss'd cottage-trees, 
   And fill all fruit with ripeness to the core; 
      To swell the gourd, and plump the hazel shells 
   With a sweet kernel; to set budding more, 
And still more, later flowers for the bees, 
Until they think warm days will never cease, 
      For summer has o'er-brimm'd their clammy cells. 

.

Who hath not seen thee oft amid thy store? 
   Sometimes whoever seeks abroad may find 
Thee sitting careless on a granary floor, 
   Thy hair soft-lifted by the winnowing wind; 
Or on a half-reap'd furrow sound asleep, 
   Drows'd with the fume of poppies, while thy hook 
      Spares the next swath and all its twined flowers: 
And sometimes like a gleaner thou dost keep 
   Steady thy laden head across a brook; 
   Or by a cyder-press, with patient look, 
      Thou watchest the last oozings hours by hours. 

.

Where are the songs of spring? Ay, Where are they? 
   Think not of them, thou hast thy music too,— 
While barred clouds bloom the soft-dying day, 
   And touch the stubble-plains with rosy hue; 
Then in a wailful choir the small gnats mourn 
   Among the river sallows, borne aloft 
      Or sinking as the light wind lives or dies; 
And full-grown lambs loud bleat from hilly bourn; 
   Hedge-crickets sing; and now with treble soft 
   The red-breast whistles from a garden-croft; 
      And gathering swallows twitter in the skies.


C:\Users\hien\Pictures\JK.jpg

Lê Minh Hiền chuyển ngữ 

*Bài đi trong 2 kỳ, mỗi kỳ có 6 bài thơ





READ MORE - Lê Minh Hiền chuyển ngữ: 12 BÀI THƠ VIẾT TRONG MÙA THU (Kỳ 1/ 2)*

TÊN GỌI CHÙA TỪ ÂN XƯA NAY - Lê Quang Thái



 Tên gọi chùa Từ Ân xưa nay

Lê Quang Thái

 

Hướng về Nam, ở tỉnh Phú Yên, quê hương của Tổ Sư Liễu Quán có chùa Từ Quang, Từ Ân; tại Gia Định thành có chùa Từ Ân và đặc biệt ở cố đô Huế có chùa trùng hợp với tên gọi các danh lam cổ tự thân thương ấy. Từ một thảo am dưới thời Hồng Đức (1470 - 1497), chùa thôn Xuân Hòa trở thành chùa làng Hà Khê, chùa công và quốc tự trải qua 9 đời vua Nguyễn và đã đi vào khúc quanh ngặt ngoèo của lịch sử, rồi cuối cùng theo lối châu về hợp phố trở lại thành ngôi cổ tự soi bóng bên bờ Bắc sông Hương một cách tự tại và thanh thoát như trãi qua một giấc chiêm bao.

 

Chùa Từ Ân tọa lạc tại vị thế thoáng rộng theo địa chỉ số 108 đường Nguyễn Phúc Nguyên, cách đồi Thiên Mụ chẳng bao xa. Lúc sinh thời, cố Đại Lão Hòa thượng Thích Trí Thủ cử mỗi lần lên thăm chùa Linh Mụ, đều dừng chân ghé thăm chùa Từ Ân và ngỏ lời tán thán công đức của Đức Bà Từ Dũ, thế danh Phạm Thị Hằng Nga. Vì kiêng tránh tên húy nên quốc sử bỏ bớt chữ cuối cùng của phương danh ấy.

 

Đức Bà là bậc mẫu nghi, một Phật tử trung kiên để lại tấm gương sáng phụng đạo giúp đời cho con cháu nội ngoại giòng tộc Phạm Đăng ở đất Gò Công, Nam Kỳ đã có duyên lành chọn đất Phú Xuân làm quê hương thứ hai trong đời người. Có một quan hệ tình thâm về huyết thống và đạo thống giữa chùa Từ Ân Huế với các đền thờ Đức Quốc Công (thờ bên ngoại vua Tự Đức) và Diên Phước công chúa (thờ chị ruột vua Tự Đức) và Nam Châu Hội quán, nơi qui tụ những người Nam bộ lập thân, lập nghiệp ở đất Thuận Hóa từ bao đời nay.

 

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí, Thừa Thiên Phủ, Tập thượng ở trang 85, ấn hành năm 1961 tại Sài Gòn đã ghi rõ về cội nguồn của chùa Từ Ân như sau:“Chùa Thiên Ấn ở xã Xuân Hòa, không rõ làm đời nào. Đầu niên hiệu Tự Đức, Chương Hoàng hậu quyên tiền trùng tu”(1).

 

Thiên Ấn Tự là tiền thân của chùa Từ Ân Huế ngày nay. Năm Nhâm Tuất, 1862 do vua Tự Đức kiêng tránh chữ “Thiên” cho hợp lẽ trời đất, nhà vua đã cho cải đổi tên chùa theo cách gọi hiện nay để “cầu tự”, có con trai nối dõi ngôi báu. Chương Hoàng hậu vừa là phẩm tước vừa là danh hiệu gọi tắt của Đức Bà Từ Dũ, vợ vua Thiệu Trị. Chùa Từ Ân được đại trùng tu vào đầu niên hiệu Tự Đức đầu năm Mậu Thân, 1848.

 

Về sự tích chùa lấy tên Thiên Ấn là do chùa được xây theo hướng Đông Nam, lấy đồi Long Thọ làm tiền án, sông Hương làm minh đường; nói cách khác là tọa Càn hướng Tốn. Long Thọ là cổng trời, dưới thời vua Minh Mạng có dựng đình Bát giác. Từ độ cao ấy, có thể nhìn rõ kinh thành Huế:

 

“Từ chùa Thiên Mụ đằng xa

Bên kia bến nước vẫn là chốn thân

Tiếng từng dằng dặc lâng lâng

Phá tan làn khói bay lần ra khơi” (2)

(Dạ Bạc Nguyệt Biều – Tùng Thiện Vương)

 

Đứng ở bờ Bắc nhìn về Nam cách ly bởi dòng Hương, đồi Long Thọ trông khác nào một quả ấn lớn do trời đất ban tặng. Vì vậy mà ngôi chùa thôn, chùa làng Xuân Hòa có tên là Thiên Ấn.

 

Vào cuối thế kỷ 15, ấp Xuân Hòa dưới thời Lê Thánh Tông đã trở thành thôn của xã Hà Khê, là tiền thân của làng văn hóa Xuân Hòa ngày nay. Làng này có ngôi chùa cổ tự Từ Ân đã nghiễm nhiên đi vào quốc sử bằng những dấu ấn lung linh gắn liền với những biến cố éo le và nghiệt ngã của lịch sử dân tộc, vào giữa thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

 

Tên gọi Từ Ân có nhiều nghĩa khó quên. Ngoài ý nghĩa thậm thâm vi diệu của thuật ngữ Phật học này, tên chùa còn biểu hiện vẻ thanh thoát, xuất phát từ căn nguyên của hai câu thơ ca ngợi cảnh đẹp vườn Thường Mậu, vườn ngự uyển liên quan đến sự tích của việc cày ruộng Tịch Điền (ở phường Tây Lộc), cảnh đẹp thứ 8 trong 20 thắng tích của đất Thần kinh. Vua Thiệu Trị đa tài, nhà vua là nhà thơ nổi tiếng đương thời vừa là nhà thiết kế đô thị tài ba, đã từng quán chiếu về chuyện thực tồn, để sáng tạo hai câu kết của bài “Thường Mậu quan canh” như sau:

 

ẤU TRI GIÁ SẮC GIAN NAN SỰ

HUẤN DỊCH TỪ ÂN PHÚC ĐẢO TỀ(3)

 

Tạm dịch:

 

Ấu thơ một thuở trông cày cấy

Thấm đẫm TỪ ÂN rạng núi sông

 

Trong quá khứ, có một sự kiện trọng đại liên quan đến chùa làng Xuân Hòa mà tiền thân với tên gọi Hà Khê mang tính cách vừa sử thi, vừa văn hiến, vừa tâm linh của cuộc đất dựng chùa.

 

Sách Đại Nam Thực Lục, Tập một do Viện Sử học dịch, ấn hành năm 2004, ở trang 561 đã ghi rõ: “Quý Hợi, năm Gia Long thứ 2 [1803] mùa hạ, tháng 5: Lập đàn ở CHÙA HÀ KHÊ để tế tướng sĩ trận vong”(4).

 

Chùa Hà Khê có phải là chùa Thiên Mụ như nhiều nhà biên khảo về lịch sử chùa Huế đã diễn giải không? Thiết nghĩ đó mới là điều cần suy xét để định vị cho hợp lẽ, hợp lý, hợp tình với văn cảnh cùng nghĩa lý và thực tiễn đời sống, sinh họat xã hội cách đây 206 năm tại miền đất thiêng liêng và trữ tình Hà Khê ở cố đô Huế.

 

Ở miền Hà Khê thời bấy giờ có ba ngôi chùa: 1. Quốc tự Thiên Mụ, 2. Chùa công Long Quang (nguyên được chúa Duệ Tông trùng tu năm 1770), 3. Chùa Hà Khê. Thực trạng hai chùa lớn Thiên Mụ và Long Quang đã bị hư hại nặng nề trong cơn binh lửa. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí, Kinh Sư ở các trang 88,89 và 90 cho biết cả hai ngôi chùa lớn Thiên Mụ và Long Quang đều bị tàn phá nặng nề.

 

Bùi Huy Bích (1744 - 1818) đã từng chứng kiến cảnh điêu tàn, ngổn ngang của chùa Thiên Mụ với hai chi tiết tiêu biểu và đắt giá:

 

NGUYỄN GIA THẤT THẾ BÀI CÔNG TẠI

TĂNG XÁ THIÊN GIAN NGÕA BÁN LINH(5)

 

Tạm dịch:

 

Bài vị bảy đời Nguyễn Chúa trơ ra đó,

Tăng xá ngàn gian Già Lam tan nát rồi

 

Người đương thời với họ Bùi, Tiến sĩ Phan Huy Ích thấy cảnh tang thương của chùa chiền ở chốn sơn Khê mà quặn thắt đau:

 

Mùa Đông năm Bính Thìn [1796], tôi [Phan Huy Ích] vâng mệnh đi công cán ở Phú Xuân, từng vãng cảnh thăm chùa [Thiên Mụ]. Trước đây, quan quân triệt bỏ các đền chùa cũ, mùa xuân đem chiếc khánh quỉ vào trong điện, nền chùa còn lại thì san bằng đi để đắp đàn [tế thần đất]”(6).

 

Ranh giới hành chính làng xã thời ấy có thay đổi. Quốc sử thời nhà Nguyễn cho biết chùa Thiên Mụ ở gò núi làng An Ninh, còn hai chùa Long Quang và Thiên Ấn đều ở làng Xuân Hòa. Chùa Thiên Ấn là hậu thân của chùa làng Hà Khê; năm 1803 chùa Hà Khê (chùa làng lấy tên theo địa danh làng xã cũ). Trong những năm chiến tranh ác liệt, Tăng chúng chủ nhân hai chùa Thiên Mụ và Long Quang buộc lòng phải ly tán. Đất nước đại định, ba năm sau, niên hiệu Gia Long thứ 3, 1804 tình cảnh hai chùa công mới bước đầu ổn định sau khi vua Gia Long tôn phong Thiền sư Tổ Ấn - Mật Hoằng, thế danh Nguyễn Mật Hoằng (1735 - 1835), ở chùa Đại Giác ở trấn Biên Hòa làm Tăng Cang quốc tự Thiên Mụ(7).

 

Vậy thì việc các sử thần Nhà Nguyễn chép “LẬP ĐÀN Ở CHÙA HÀ KHÊ” là có dụng tâm dụng ý chỉ tỏ chùa làng Hà Khê là tiền thân của chùa Thiên Ấn. Và tên gọi Thiên Ấn phải có từ sau năm Quý Hợi 1803 mới phải lẽ.

 

Long vị Tổ ở chùa Từ Ân đã khắc ghi: “LÂM TẾ TAM THẬP THẤT ĐẠI LINH HỰU TRÚ TRÌ TRÙNG HƯNG THIÊN ẤN TỰ HÚY TIÊN AN TỰ KHÁNH TƯỜNG ĐẠI SƯ GIÁC LINH NGHÊ TỌA”.

 

Quán Linh Hựu ở phía bắc Ngự Hà trong kinh thành cũng là chùa, Tiền đường thờ Lão Tử, Hậu điện thờ Phật dựng năm Minh Mạng thứ 10, tức năm Kỷ Sửu, 1829.

 

Theo lịch sử quốc tự Thiên Mụ, từ năm 1825 đến 1833, vị Tăng cang điều hành công việc nhà chùa và quốc lễ liên quan đến triều đình Huế và Hoàng gia là Ngài Tiên Giác - Hải Tịnh. Vị Tăng sĩ cao cấp đứng đầu quản nhiệm Linh Hựu quán là Trú trì có quyền hạn và chức phận ngang hàng với vị Trú trì phụ việc cho Tăng cang.

 

Ngài Tổ Sư Tiên An đồng thế hệ với các Thiền sư Tiên Huệ, Tiên Giác đã từng kế tục giữ chức Tăng cang chùa Thiên Mụ từ năm 1823 - 1825 và 1825 - 1833.

 

Nay, dựa vào những cứ liệu lịch sử ấy, thì có thể suy đoán được rằng chùa làng Hà Khê được cải đổi thành Thiên Ấn phải trước năm dựng lập Linh Hựu quán, tức năm Kỷ Sửu, 1829 8.

 

Thực tế lịch sử là như thế, không có sử thần nhà Nguyễn nào khi rửa bút chép quốc sử cả gan dám chép tên gọi quốc tự Thiên Mụ thành chùa Hà Khê cả. Điều này khiến cho một số người viết lịch sử của các chùa ở miền Hà Khê vướng phải nhầm lẫn, làm cho các sinh viên viết luận văn cũng sai lầm theo vì đã nương vào người lội nước đi trước.

 

Đến đây, có thể chốt lại 4 thời điểm lịch sử liên quan đến tên gọi chùa cổ Từ Ân xưa nay. Chùa đã có tên gọi.

 

 

Chùa cổ Từ Ân đã hình thành trên khoảng 500 năm về trước để hôm nay có một diện mạo bề thế, một không gian thoáng rộng.

1. Chùa thôn ấp Xuân Hòa: từ thời Hồng Đức (1470-1497)

2. Chùa Hà Khê: Từ năm 1803 đến 1848

3. Chùa Thiên Ấn: Từ năm 1848 đến 1879

4. Chùa Từ Ân: Từ năm 1879 đến nay.

 

Và như thế, ngôi chùa cổ Từ Ân đã hình thành trên khoảng 500 năm về trước để hôm nay có một diện mạo bề thế, một không gian thoáng rộng.

 

Ngày nay đệ tử chùa và một số du khách xa gần còn ít người biết rõ chùa cổ Từ Ân đã từng là quốc tự.

 

Theo CHÂU BẢN TRIỀU NGUYÊN thì ngày 9 tháng 11 năm Tự Đức thứ 32, tức năm 1879, vua Tự Đức đã châu phê xếp chùa cổ Từ Ân trở thành Quốc tự thứ 7 ở chốn kinh sư.

 

Các quan hội đồng tại triều đã phối hợp làm bản tâu và được vua phê duyệt. Thành phần Hội đồng bao gồm:

 

- Thần Nguyễn Giảng, phụng khảo

- Thần Nguyễn Văn Trang, phụng thảo

- Thần Đỗ Đăng Đệ, thần Nguyễn Văn Thúy, thần Trần Thúc Nhẫn, phụng duyệt

- Phụng đối chiếu: Nội các thần Ngô Quí Đông (kí)

- Đương trực thần: Nguyễn Văn Thân (kí)

- Khoa đạo thần: Dương Quang Trí (kí) (9)

 

Chỉ 7 ngày sau châu phê của vua Tự Đức, triều đình Huế ban tặng cho quốc tự Từ Ân được hưởng quyền lợi và ân sủng như các quốc tự Long Quang và Thánh Duyên.

 

Thế thì, những tư liệu và sách vở đã viết về chùa Từ Ân là ngôi cổ tự được sắc phong “sắc tự Quốc tự” dưới triều vua Thành Thái vào năm Đinh Dậu, 1897 là không còn phù hợp nữa.

 

Thời gian đong đưa, khoa cử Hán học sắp cáo chung vào buổi chợ chiều ở cố đô Huế vào năm Mậu Ngọ, 1918 và cáo chung vào năm sau vào khoa thi Hội năm Kỷ Mùi, 1919. Hoàn cảnh đất nước ta vào thời bây giờ dồn dập chồng chất vô vàn khó khăn, lại thêm nội công ngoại kích, kinh phí nhà nước eo hẹp là một trong những lý do khiến cho triều đình Huế buộc lòng phải giảm thiểu các quốc tự. Năm Mậu Ngọ là thời điểm khó quên của lịch sử chùa Từ Ân trong bối cảnh đất nước đa đoan trăm mối sầu Tây. Nhà chùa được giao hoàn lại cho Sơn môn Tăng già và làng Xuân Hòa phối hợp tiếp quản để tự lo liệu lấy mọi Phật sự. Từ chùa làng trở thành quốc tự 40 năm tròn rồi trở lại theo lối châu về hợp phố là chuyện bình thường đối với các bậc Tăng già trong sơn môn và dân làng Xuân Hòa văn hiến thời bấy giờ rất liễu đạo vô thường. Trước sau, chùa vẫn là chùa, chùa làng, chùa công, quốc tự luôn luôn gắn kết với làng và nước. Lúc sinh thời cố Đại lão Hòa thượng thường nói chuyện bình dị nhưng rất có ý nghĩa: Làm vị Hòa thượng nổi tiếng cũng khổ chớ không phải không đâu. Niềm vui ngày lại ngày là “Tiến vi sư thối vi sư”. Đây là một quan điểm hoàn toàn khác biệt với nhận thức của Nho giáo một thời nổi tiếng: “Tiến vi quan thối vi sư”. Quan điểm triết học Phật giáo qua lời thoại của cố Hòa thượng đã nói lên tinh thần giải thoát của Phật giáo trong hành trình hiện sinh của cuộc sống. Chùa làng, chùa nước đều như nhau vì tất cả đều là chùa: Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt.

 

Lời dạy của cố Hòa thượng thật thâm hậu, chúng tôi nhớ đời không bao giờ quên mỗi khi suy nghĩ về thuật ngữ “Tự” theo ý nghĩa thâm uyên. Năm trăm năm, hai trăm năm, bốn mươi năm rồi “chẳng sánh sơn tăng giấc mộng trường” (10) mà thôi.

 

Mùa Vu Lan, PL. 2553

L.Q.T

 

Chú thích và chú giải:

1. Đại Nam Nhất Thống Chí, Thừa Thiên Phủ, Tập thượng, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Nxb, Nhà Văn Hóa, Bộ QGGD, Sài Gòn, 1961, tr.85.

Chùa Từ Ân ở Gia Định có từ năm 1744, Tổ Phật Ý - Linh Nhạc giữ chức trú trì đầu tiên năm 1802.

2. Tùng Thiện Vương (1819- 1870), Nguyễn Phúc Ưng Trình và Nguyễn Phúc Bửu Dưỡng, Nxb Sao Mai, Thủ Đức, 1970, tr. 267-268.

3. Thần Kinh Nhị Thập Cảnh, Thơ vua Thiệu Trị, Phan Thuận An và ctg, Nxb Trung Tâm Bảo Tồn Di Tích Cố Đô Huế & Thuận Hóa, Huế, 1997, tr. 129.

4. Đại Nam Thực Lục, Tập Một, Viện Sử học dịch, Nxb Giáo Dục, 2004. tr. 561.

5. Lịch sử Phật Giáo Đàng Trong, Nguyễn Hiền Đức, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1995, tr.219.

6. Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong, Nguyễn Hiền Đức, Sđd, tr. 220.

7. Đại Nam Nhất Thống Chí, Lục Tỉnh Nam Việt, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Nxb Nhà Văn Hóa, Bộ QGGD, Sài Gòn, 1960, tr. 87,88,89.

9. Châu Bản Triều Nguyễn (Tư liệu Phật Giáo qua các Triều Đại Nhà Nguyễn 143 năm từ Gia Long 1802 đến Bảo Đại 1945), Lý Kim Hoa dịch, Nxb Văn Hóa Thông tin, 2003, tr. 516-521.

10. Vay ý từ hai câu thơ:

Khả liên nhị bách dư nghiệp

Bất cập sơn tăng giấc mộng trường

(Thường thay cơ nghiệp hai trăm lẻ,

Chẳng sánh sơn tăng giấc mộng trường)

 

Nguồn: loeuquanhue.vn, 26/08/2009

READ MORE - TÊN GỌI CHÙA TỪ ÂN XƯA NAY - Lê Quang Thái

Friday, August 23, 2024

Youtube: TỪ CỬA VIỆT ĐẾN CỬA TÙNG

READ MORE - Youtube: TỪ CỬA VIỆT ĐẾN CỬA TÙNG

Chùm ảnh HOA MẢNG ĐÌNH HỒNG - Chu Vương Miện

 Bấm chuột vào ảnh để phóng to.







Rephrase with Ginger (Ctrl+Alt+E)
READ MORE - Chùm ảnh HOA MẢNG ĐÌNH HỒNG - Chu Vương Miện

VỚI MÙA THU KHÔNG LÀ MỘNG - Thơ: Khaly Chàm

  

Nhà thơ Khaly Chàm

 

khaly chàm

với mùa thu không là mộng

 

bên những vạt cỏ nghiêng xanh, phiến nắng hồng màu

hơi thở đất lấp lánh ẩn hiện nụ hôn hiền hòa của gió

giai điệu mùa xanh mãi là thuở ban đầu

vĩnh viễn không bao giờ trỗi cao âm vực

ban mai, hỡi ráng lửa hè đỏ mắt

khiêm nhường biến mất từ khi nào

thu đã về ủ mùi hương trong nách lá

 

ngớ ngẩn khi nghe tiếng thời gian gõ cửa

em không còn muốn giằng co với câu chữ thơ tôi

chắng dám bày trò chơi ký hiệu giao hoan tính dục

gẫm nhớ những giọt máu dưới chân nuối tiếc mùa thiếu nữ

 

tôi ơi, hãy đừng khờ khạo!

cản ngăn sắc diệp lục đẫm tràn thân thể

người đời ơi! biết phải định nghĩa thế nào về nỗi buồn 

nó gần gũi nhưng rất xa vời trong thế gian thinh lặng

 

linh cảm thấy hồn linh tôi bật khóc giữa cơn mê

với mùa thu làm gì có mù sương mà ẩn náu

thôi thì, hãy để cho gió vô hình nâng đôi cánh bay lên

 

tphcm 8/2024

khalycham1954@gmail.com

 

READ MORE - VỚI MÙA THU KHÔNG LÀ MỘNG - Thơ: Khaly Chàm

Thursday, August 22, 2024

Trang thơ Thu bình thanh của Lưu Lãng Khách (Kỳ 2/2): - THIÊN THU TÌNH BUỒN | THU SAY | THU NAY ANH VỀ


THIÊN THU TÌNH BUỒN
     
Quý tặng Phan Nho Thiện

 

Xưa tôi em chân tiên trên đường làng
Lầu đài hoa tôi xây xong em sang
Nàng hồn nhiên cung tiên mơ tân lang
Tôi lơi tay đàn – Em dang tay ngà
Hằng Nga buông xiêm y trên trời
Ngàn hoa lung linh ngân trâm rơi
Trầm hương xông mây thanh xuân phơi
Yêu trao – Muôn sao say chơi vơi…
Rồi thời gian chen ngang đôi: em – tôi
Bằng phồn hoa em mơ nơi xa xôi
Tôi không tin quyên quyên vào lồng rồi
Tay bâng khuâng trang thư lời chào mời
Ôi trời!
Đường ngày xưa hai ta mơ chung đôi
Giờ hàng cau đeo tang con ve côi
Hoa tiên phai trơ vơ lâu đài rồi
Tôi điên lên đưa hoa về chầu trời – ơi người!
… Mười năm trôi! …
Cô sinh viên không duyên tìm về làng
Không ai bên con thơ trời chiều tàn
Lầu đài vàng ai xây cho em tôi
Giam lời nguyền trăm năm không phai phôi
Sao hư hoang như trăng tan sao rơi
Sao mong manh như tơ trưa sương mơi
Cô tiên nga kiêu sa giờ buồn ngồi
Tôi xanh xao hư hao nhìn dòng đời
Cầu trời thương cho me con em tôi
Chiều làng quê dăm hoa cau rơi rơi! …

Ngày 04/03/2001
Lưu Lãng Khách

 

 

 THU SAY

 

Bàn chân gầy qua bao phong ba

Sao chùng sau hồi chuông ngân nga

Âm thanh trong veo tàn ưu phiền

Đưa hồn bay qua miền thiên tiên

Mênh mênh mang mang cùng đìu hiu

Thu ca thu say tàn thu chiều

Từng đàn chim xa bay qua

Thi cầm thâm tâm ngân nga

Buồn trôi theo cơn mưa chiều

Hồn cầm phiêu trong cô liêu

Thân bằng thời gian phôi pha

Thăng trầm còn ai bên ta

Ve khô trên cành thu sầu

Chân ly hương ngoài mưa ngâu

Đường vào bồng lai sao xa xôi

Hoàng hôn tầng cao con chim côi

Chim ơi! Đời vàng theo thu rồi!

Ta còn bao nhiêu mà mê chơi!

             Đầu thu 2024

             Lưu Lãng Khách



THU NAY ANH VỀ


Khuya nay chư tiên say trên trời

Trần gian còn đôi ta em ơi!

Thuyền chao sông xanh say trăng vàng

Ngàn hoa long lanh – anh say nàng

Đầu non Thiên Sơn mây thu đơm

Càn khôn dâng hương môi em thơm

Lim dim đê mê đôi uyên ương

Hằng Nga buông xiêm mờ hơi sương

Hừng đông đôi chim rời thiên đường

Từng đêm! Hồn thu yêu mơ vương…

Thu nay anh về thăm sông Trà

Hằng Nga yêu kiều xa muôn xa

Quỳnh hoa tơi bời đêm phong ba

Lầu trông trăng nằm phơi xương da

Cung đàn thiên thu sao phôi pha

Thiên đường điêu hoang mưa sương sa

Bên thềm trăm năm ta ru ta – Dòng châu nhòa …


Đầu thu 04/08/2018

Lưu Lãng Khách

luulangkhach@gmail.com

 



READ MORE - Trang thơ Thu bình thanh của Lưu Lãng Khách (Kỳ 2/2): - THIÊN THU TÌNH BUỒN | THU SAY | THU NAY ANH VỀ