Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, August 22, 2024

TRẤN HẢI TỰ, MỘT THỜI SOI BÓNG BÊN CỬA BIỂN TƯ HIỀN LỊCH SỬ - Lê Quang Thái

 

Ảnh từ:  cadao.me

Theo lẽ thường, người có lòng nhân ái ưa thích núi non; người giàu trí tuệ lại ưa thích cảnh sông nước, đầm phá và biển cả mênh mang. Danh thần Đào Duy Từ (1572 – 1634) vừa là thi hào nổi tiếng đầu tiên ở xứ Đàng Trong, đã sáng tác thi phẩm Tư Dung vãn ca ngợi cảnh đẹp của TRẤN HẢI TỰ trên đỉnh núi Quy Sơn có nhiều tên gọi mà phương danh sau cùng là LINH THÁI.

Dân gian ở vùng biển Tư Hiền thuộc xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc quen gọi núi Linh Thái là núi Rùa hoặc núi Cổ Rùa vì hình tượng của núi thiêng này khác nào hình ảnh một con rùa vĩ đại đang vươn mình ra biển Đông. Chùa tháp cổ xưa nay không còn nữa nhưng tàn tích vẫn còn, đặc biệt sử liệu dưới thời các chúa Nguyễn và vua Nguyễn đã ghi chép, miêu tả rõ nét nhất về nhiều hạng mục của ngôi phạm vũ vừa là vương đình qua tác phẩm Tư Dung vãn là một thực tế sinh động, giàu chất sống:

 

Xưa kia ba chữ tốt tươi,

Rằng chuông HẢI TỰ kết vời huyền đô.

 

Hoặc

 

Phật đình nào khác vương đình,

Ngũ vân tán lớn, cảnh tinh thoại trường.

 

Thật sự, hiển nhiên đã có từ lâu đời và xa xưa trên đỉnh núi Lĩnh Thái một ngôi quốc tự mà tên gọi có ý nghĩa rất thâm hậu và thuần túy. Nhưng nay, tiếc thay chùa đã trở thành phế tích tàn lụi theo bóng đổ thời gian, như ý nghĩa của lời vè còn truyền tụng: Đình chùa miếu vũ người ta/ Giao tranh một buổi vậy mà tan hoang trong ký ức hôm nay của người lớn tuổi ở miền duyên hải hôm nay ở cửa biển Tư Hiền lịch sử.

 

Người xưa nói thường thấy núi, nhưng mấy ai biết núi sâu và sâu lắng như muốn nói lên tiếng lòng thổn thức gây xúc động lòng người.

 

1. NÚI LINH THÁI VỚI NHIỀU TÊN GỌI THẦN KỲ

 

Trên núi cao có rùa núi, dưới biển có rùa biển. Linh Thái là con rùa thiêng có mai rùa dùng để bói toán, đoán biết chuyện cát – hung cho chủ nhân mà lo gìn giữ, đề phòng. Ý nghĩa của tên núi có từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), vào thời nước ta đang chuyển mình đổi tên gọi mới Đại Nam vào hai năm sau. Cái tên cũ Hãn Môn nghe ra có âm hưởng không thanh thoát, nhẹ nhàng. Vua Minh Mạng cho rằng tên gọi ấy “không nhã”!

 

Theo chính sử núi lấy tên Quy Sơn được cải đổi từ cái tên dân dã “núi Rùa”. Và núi đã từng được gọi với cái tên thật cao sang Hàm Rồng. Song hành với tên gọi Quy Sơn núi này còn được lấy tên Lệnh Sơn chỉ vì cửa biển ấy có xây đài Hỏa Phong (còn gọi là Hỏa Hiệu) để quân sĩ chuyên lo việc tuần tra cửa biển đốt lửa báo hiệu, mỗi khi thuyền buôn sắp nhập bến trở về, hoặc có việc bất trắc dòm ngó tỏ ý thách thức khiêu chiến của quân thù. Lúc lửa được đốt cháy, lính canh phòng bỏ thêm phân của loài chó sói vào đài lửa để cho khói quyện lên và bay cao như níu các tầng mây.

 

Sách Đại Nam thực lục cho biết hai chi tiết liên quan đến chiến lược và thế trận giữa Tây Sơn và Nguyễn Vương (tức Nguyễn Ánh lúc còn chưa lên ngôi): có chiến lũy ở vùng dưới chân núi Quy Sơn mà năm 1803 đã trở thành lũy cũ, tháng 5 năm Quý Dậu, 1813 vua Gia Long sai dựng đài đốt lửa báo hiệu, báo nguy và lấy tên mới đài Hỏa hiệu thay thế cho đài Hỏa phong ở hai núi Chu Mãi [Chân Mây] và núi Quy Sơn.

 

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược đánh phá Đà Nẵng. Tháng 3 năm Kỷ Mùi, 1859, vua Tự Đức sai đắp lũy ở bờ bên hữu núi Linh Thái và đặt súng lớn 33 cổ với binh lính 320 để lo việc phòng thủ mặt biển. Nhà vua xem thao diễn trận Uyên Ương. Cuộc tập trận lớn thành tựu, Đại tướng Đoàn Thọ và quân sĩ đến hơn 576 người được ban thưởng, đãi lao trọng hậu.

 

Sau ngày vua Tự Đức băng hà 16 tháng 6 năm Quý Mùi (19-7-1883), Đô đốc Courbet kéo 8 chiến hạm đóng ở ngoài khơi bán đảo Sơn Chà hướng ra kinh thành Huế uy hiếp và đánh phá cửa Thuận An. Một cuộc chiến không mấy cân sức, thủy binh nhà Nguyễn đã bắn đại bác khá chuẩn và rất chuẩn là đằng khác. Đại bác của quân ta bắn trúng tàu chiến của soái hạm chỉ huy của tướng giặc Courbet. Chính người Pháp viết ký sự chiến trường phải thừa nhận. Tiếc thay các người viết sử, nghiên cứu sử không hiểu rõ về “thủy tĩnh học” để biết rõ về mực nước biển ở hai cửa biển Đà Nẵng và Thuận An khác nhau về độ nông sâu, họ (những người viết sử Việt xưa nay) lại tung bút tỏ ý chê trách hải quân nhà Nguyễn này nọ và lại vô tình tỏ lời như khen giặc. Nghe ra mà “khổ tâm” và thương hại cho những loại người ấy. Có đắc tội với lịch sử dân tộc không?

 

Tinh thần chiến đấu của quân sĩ rất cao, chỉ vì gặp lúc quốc tang vua Tự Đức, đình thần thiếu ý chí thống nhất; cầu hòa làm lướt quyết tâm chiến đấu. Tướng tài Ông Ích Khiêm cũng nao lòng trước vận nước, kẻ thù đánh trúng đòn hiểm. Tinh thần chiến đấu lúc lâm trận thật quả cảm, tiếc thay thiếu sự tiếp sức (lòng) đồng lòng. Vè thất thủ Thuận An đã nói lên thực trạng ấy:

 

Lựa người giáo dưỡng anh danh,

Võ cử tùy phái hậu hành rất hung.

Ra tài tả đột hữu xung,

Nhất sanh nhất tử kéo công theo thầy.

Phen này quyết đánh cùng bây,

Thuận An thất thủ trời này hại ta!

 

Từ năm 1858 đến 1883, phòng tuyến miền duyên hải Thuận An cho đến Chân Mây, Tư Hiền bị uy hiếp nặng nề và năm 1947 thực dân Pháp nuôi dưỡng mưu đồ tái chiếm Đông Dương lần thứ hai, chúng đổ bộ lên cửa Tư Hiền, nả pháo phá hoại phòng tuyến, đồn bốt. Đình chùa miếu vũ ở hai danh thắng trên núi Thúy Vân và Linh Thái. Bình phong quân sự, chiến lũy Quy Sơn, chùa Trấn Hải, tháp Điều Ngự… đều nằm trong tầm bắn của quân giặc thì làm sao mà không khỏi điêu tàn: 

 

Đình chùa miếu vũ người ta

Giao chinh một buổi vậy mà tan hoang

 

2. TRẤN HẢI TỰ UY NGHI, LẪM LIỆT THEO DÒNG SỬ VIỆT HÙNG ANH

 

Những danh xưng Quy Sơn, Lệnh Sơn, Hỏa Phong, Hỏa Hiệu, Bình Phong Quân sự, hành cung Linh Thái, tháp cổ Quy Sơn, Trấn Hải Tự như nói lên ý chí và niềm tự hào của dân tộc Việt bất khuất, sáng tạo, tự chủ và yêu chuộng cảnh thanh bình.

 

Núi Linh Thái, núi Thúy Vân, cửa Tư Hiền, chùa Hà Trung… đã nghiễm nhiên đi vào quốc sử: sử Việt và sử Phật hòa chung trong cuộc hành trình mở cõi đất phương Nam. Đền miếu, chùa tháp cổ đã có từ thuở bình minh của xứ Thuận Quảng và xứ Đàng Trong mà ranh giới kéo dài từ đèo Ngang cho đến đất mũi Cà Mau. Một thềm lục địa với vô số đảo, quần đảo với nhiều tài nguyên, tiếp giáp với biển Đông và kể cả Ấn Độ dương. Quốc sử đã khẳng định, sử và ký của vị thừa sai đến nước Đại Việt với nhiều sứ mạng ngoài việc mở đường gắn kết tình giao hảo trong bang giao quốc tế đã từng ghi chép.

 

Gió lành thâm nhập từ biển đã có cho nên vua chúa mới lập đài Huân Phong, gác Đại Từ, tháp Điều Ngự ở núi Thúy Vân. Trấn Hải Tự bao gồm nhiều hạng mục như Bình phong quân sự, đài Hỏa Phong, đền thờ thần núi, thần biển liên quan. Đã có gió lành thì đương nhiên phải có gió chướng, gió độc trái mùa.

 

2.1. Hình ảnh TRẤN HẢI TỰ DƯỚI THỜI CHÚA SÃI NGUYỄN PHÚC NGUYÊN (1613 – 1635)

 

Đào Duy Từ thể hiện thế giới quan của bậc trượng phu, sống theo quan điểm “Cư Nho mộ Thích”. Nho giáo, Lão giáo và thậm chí tín ngưỡng dân gian được sàng lọc, tinh tuyển từ Tam giáo là ánh sáng soi rõ cho bước đăng trình của họ Đào mang túi kinh luân, tài thao lược để giúp đời mà thi nhân đã gởi gắm tâm sự qua tác phẩm Tư Dung Vãn. Thực ra khi sáng tác, Đào Duy Từ không nghĩ rằng mình sẽ lưu giữ tư liệu về ngôi quốc tự trên đỉnh LINH THÁI cho đời sau mà tiền thân là núi Quy Sơn.

 

Sự thế đầy vơi những chuỗi vô thường. Ngày nay Tư Dung vãn còn là nguồn sử thi quý giá. Nếu không đọc đi đọc lại nhiều lần, thì không khéo chỉ biết chùa Trấn Hải vừa là vương phủ sẽ bị đóng khung một cách hạn hẹp:

 

“Là nơi từ vũ nghiêm trang,

Trung trinh hai chữ lửa hương muôn đời.

Đông Tây đều cách vãng lai

Rước ai nọ quán, đưa ai nọ đò

(Câu 51 – 54)

 

Hoặc:

 

Mưa hoa tưới khắp sân may,

Khói hương nghi ngút rồng bay ngất trời

Nghiêm thay tướng pháp Như Lai,

Cao giơ tuệ kiếm, sáng ngời thủy tinh.

Thời lành cả mở hội lành,

Reo đưa gió Phật, quét thanh bụi tà.

Vầy đoàn yếu múa canh ca,

Vượn xanh dâng trái, hạc già nghe kinh.

Phật đình nào khác vương đình,

Ngũ vân tán lớn, cảnh tinh thoại trường.

 (Câu 171 – 178)

 

Từ câu 145 đến 164, tác giả như muốn liệt kê các hạng mục từ cửa Tam Quan, gác Từ bi, đền Tiêu Diêu; có cổ thụ, có tiếng chim hót, có hồ thiên tạo mà được ví như chốn Thiến Thai, chốn Di Đà Tây Thiên, có tiếng chuông chùa Trấn Hải vang vọng đến thủ phủ Phước Yên của xứ Thuận Quảng kéo dài từ Đèo Ngang cho đến núi Thạch Bi ở phía nam Trung Bộ ngày nay.

 

Trong khuôn khổ của bài viết, không thể nào nói hết. Tiếc thay, chỉ mới giới thiệu món ăn khai vị trong bàn tiệc chay ở chốn vương phủ thời Sãi Vương.

 

2.2. TRẤN HẢI TỰ VÀO THỜI CHÚA HIỀN NGUYỄN PHÚC TẦN (1648 – 1687)

 

Phủ chúa thời này đóng tại làng Kim Long, huyện Hương Trà. Thời trị vì của chúa Hiền Vương, xứ Đàng Trong phồn thịnh, kinh tế phát triển, quân dội hùng mạnh; chúa quan tâm sửa chữa, tôn tạo các ngôi quốc tự bị xuống cấp nghiêm trọng vì đó là di sản thiêng liêng, là quốc hồn, quốc túy.

 

Nay đọc sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, thấy có 2 chi tiết nói rõ đến núi Qui Sơn và quốc tự Trấn Hải trên đỉnh núi thiêng ấy. Đặc biệt chùa vào thời thương còn có tên gọi là Hòa Vinh thuộc xã Hoài Vinh. Không biết xã Hoài Vinh được đổi thành Hòa Vinh vào năm nào. Phải chăng do vì kỵ húy không?

“Núi Qui Sơn ở về địa phận huyện Tư Vinh, gần xã Hoài Vinh.

 

Đại hải bao bọc phía Đông núi Qui Sơn, thiểu hải [biển cạn] ôm lấy phía Tây núi ấy, và phía Nam núi là cửa Tư Khách [nay là cửa Tư Hiền]. Trên đỉnh núi nầy có một cái tháp đá.” (Bản dịch của Lê Xuân Giáo, tr.143-144). Và chi tiết thứ hai cũng ở Sđd, tr.91:

 

“Năm thứ 4 niên hiệu Cảnh Trị (năm Bính Ngọ) [tức năm 1666 sau Công nguyên], chúa Nguyễn Phúc Tần đi chơi cửa biển Tư Dung, và cho xây cất chùa Hòa Vang tại núi Qui Sơn. Chùa này rất rộng lớn và tráng lệ”.

 

Nguyễn Khoa Chiêm viết sách “Nam Triều Công nghiệp chí diễn”, tác giả với danh thần Trần Đình Ân có mối quan hệ thông gia giữa hai họ Trần Đình – Nguyễn Khoa. Không hiểu vì sao, Đại Nam Thực lục chính biên, Tập 1, tr. 81 lại ghi tên chùa trên đỉnh Qui Sơn là HÒA VINH và trong Hải Ngoại Kỷ sự thì Hòa Thượng Thạch Liêm đã phác thảo và gọi tên chùa Hoài Vinh qua hai câu mở đề của bài vịnh cảnh cảnh quang chùa ấy:

 

Đỉnh xưa khắc chữ “VĨNH HÒA NIÊN”

Bên nước biển xanh, mở cửa chiều

 (Bài 3, Tức cảnh)

 

Hoặc như lời kết ở bài 4 cùng tựa đề, cảnh chùa Vĩnh Hòa trên núi Quy Sơn có sức hấp dẫn như muốn lưu luyến du khách hẹn ngày trở lại:

 

Thắng cảnh ngày nay ghi mấy nét

Đăng lâm biết có dịp nào không?

 

Mùa hạ tháng Tư, năm Đinh Mùi, 1667 (cũng là năm trị vì thứ 19 của Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần) niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 7:

 

Trước là chúa đi chơi cửa Tư Dung (tên cũ Tư Khách, tức nay là Tư Hiền) thấy núi Quy Sơn (nay là Linh Thái) phong cảnh đáng yêu, trên đỉnh núi có một cây tháp cổ, nổi tiếng linh thiêng, sai Thư bạ Trần Đình Ân đốc xuất quân dân dời cây tháp ấy đi nơi khác, để lấy đất dựng chùa Phật, công việc xong, gọi tên chùa Hòa Vinh. Đến đây chúa ra chơi, mở hội chùa lớn 7 ngày đêm.

 

Đó là hình ảnh lễ Phật Đản vào năm Đinh Mùi, 1667, Phật lịch: 1681. Cách đây 373 năm. Thuở ấy Thiên Mụ vừa là vương phủ; Hà Trung, Trấn Hải là chùa công sách cùng với Sùng Hóa ở làng Lại Ân (gần ngã Ba Sình) đã hình thành một tuyến hành hương xứ Phật từ phía gần thượng nguồn sông Hương cho đến cửa Tư Hiền liên thông với đầm phá Hà Trung có ngôi quốc tự cùng tên gọi. Trước khi cư dân Thuận Hóa – Phú Xuân – Huế nghe chuông Thiên Mụ đúc xong năm 1710 thì diễm phúc tiếng chuông Hải Tự đã vang vọng đến các thủ phủ Phước Yên, Kim Long, thành cũ Hóa Châu soi bóng uy nghi bên sông Bồ của huyện Quảng Điền để cùng nhập lưu vào sông Hương đổ ra cửa EO tức cửa Thuận An lãnh tên gọi này vào năm Gia Long thứ 12 tức năm Quý Dậu, 1813.

 

2.3. CHÙA VĨNH HOÀI hoặc VINH HOÀI TRÊN NÚI QUY SƠN DƯỚI THỜI QUỐC CHÚA NGUYỄN PHÚC CHU (1691 – 1725)

 

Có thể xem chúa Nguyễn Phúc Chu là một nhà chấn hưng đạo phong Phật giáo của xứ Đàng Trong để cho Phật giáo xứ này có quy cũ và hưng thịnh như ý nghĩa Pháp danh của quốc chúa là HƯNG LONG, hiệu là Thiên Túng Đạo Nhân.

 

Bốn sử của Quốc chúa là Hòa thượng Thạch Liêm. Ngài đa tài mà cuối đời chịu nhiêu nỗi trầm luân và oan khiên, phải kham nhẫn chịu đựng thân phận mình một cách tự tại theo phong cách của một bậc hùng tăng. Nghiệp lực chăng?

 

Hòa thượng là quốc khách uyên thâm Tam giáo và còn là một nhà văn, nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc và nước Đại Việt nữa. Cuộc thăm viếng các ngôi danh lam Hà Trung, Vĩnh Hòa (hay VINH HÒA hoặc HÒA VINH) ở Thuận Hóa và Tam Thai ở Quảng Nam của Hòa thượng đã để lại trong dòng sử nước Đại Việt những trang sử lung linh hợp cùng với những năm tháng đẹp tạo duyên lành cho tứ chúng Phật tử xứ Thuận Hóa, từ nhà Chúa cho đến quan lại, con cháu ở các vương phủ Phú Xuân, giới Tăng già Sơn môn và Phật tử đã thọ giới tại chùa Thiền Lâm (tọa lạc ở vị trí đối chênh với chùa Ấn Tôn – Từ Đàm). Trong những tháng ngày huy hoàng ấy, Hòa thượng giữ chức Đường Đầu trong giới đàn lịch sử lớn lao mà Chúa Nguyễn Phúc Chu, Tổ Liễu Quán, các Đại thần và con cháu các vương phủ cùng các Phật tử ở cố kinh được lãnh thọ giới pháp do Ngài truyền tâm ấn trong 3 đợt kéo dài từ mùa sen nở với 7 ngày trước độ trăng tròn tháng Tư năm Ất Hợi, 1695.

 

Sau giới đàn trọng đại ấy, Ngài vân du thăm các chùa công nổi tiếng lâu đời ở Phú Xuân như Hà Trung, Hòa Vinh và Tam Thai ở Ngũ Hành sơn, Hòa thượng mong sớm trở lại quê hương, nhưng đất trời, núi sông và con người xứ Thuận Hóa đã giữ chân Ngài nán lại một thời gian để giữ chức Tăng Cang quốc tự Thiên Mụ và trú trì sắc tứ quốc tự Khánh Vân ở làng Lựu Bảo, xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, soi bóng hình ngôi Tam quan và ngôi chùa cổ bên dòng sông Bạch Yến.


Theo lịch trình thì chính thức thăm viếng chùa vua Hòa Vinh ngày 30 tháng 4 năm Ất Hợi, 1695; Hòa thượng Bổn sử của Quốc chúa không ngờ, chiều hôm trước chúa Nguyễn Phúc Chu đến cửa biển Tư Dung cho cất một thủy các giữa dòng, bốn về có chiến hạm vây quanh, chỉ chừa một cửa đi ra để sáng hôm sau chúa vui mừng đón Hòa thượng mà lưu luyến tiễn biệt chia tay. Kẻ ở người đi, nào có buồn không? Hai bên tương đắc thanh đàm quốc sự vừa là Phật sự. Ở thời khắc lịch sử ấy, quốc chúa mới tiết lộ cho biết: “Kiếp trước của Chúa là thầy Tăng” và “Chúa dự định vài năm nữa truyền ngôi cho Thế tử rồi đệ tử đã thọ Bồ Tát giới Hưng Long xuất gia đầu Phật.” Ngôn từ trong bản dịch Hải Ngoại kỷ sự, ở trang 135 là: “Ta sẽ cạo đầu làm sãi vậy.” Một khoảnh khắc thật thâm tình đạo vị, chúa Nguyễn Phúc Chu chân thực trút bỏ được nỗi lòng của mình.

 

Qua cuộc đàm đạo lịch sử ấy, người đọc có một tình tiết lý thú: Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu đã “hoát ngộ”, ngoài tên gọi chùa Hòa Vinh, chùa công này còn có tên Vĩnh Hòa và núi Quy Sơn còn có tên gọi là núi Khuê Phong. Ẩn tàng lung linh của ngôn từ chân tình và trung thực qua lời ghi của ký sự: “Lưu luyến thành khẩn, hẹn ngày mai lại thết tiệc tiến hành tại chùa Vĩnh Hòa ở núi Khuê Phong, ở đấy nhìn suốt biển cả, có thể nhìn theo đưa buồm về vậy.”

 

“Bóng mai mờ tỏ, đi lên một gò cao. Đi được một đỗi, sương mù buổi sáng chưa tan, người đứng cách nhau chừng vài thước, chỉ nghe ồn ào tiếng nói; trong tia nắng mặt trời, có lúc chỉ thấy nón đội không thấy nửa người phía dưới, lại có lúc chỉ thấy chân di động. Không thấy nửa người phía trên. Đường cát có nhiều gai giây muống. Đất ruộng phần nhiều trồng khoai. Dân làng có người đương bới khoai và dắt bò cho ăn giây khoai; khoai có củ rất lớn, đường kính độ 3,4 tấc, vì đất cát mềm trồng khoai rất hạp vậy. Đến chân núi, phu lính nghỉ xả hơi để trèo đèo. Theo đường quanh co đi lên, đường đèo làm tùy theo chỗ đất chỗ đá, ở triền núi dốc có trồng lan can để đề phòng nguy hiểm, đều phải quét dọn sạch sẽ. Bậc phu lau mồ hôi thở hổn hển. Trong rừng cây đã nghe tiếng chuông trống rất gần, nhưng đi quanh mất hàng giờ mới đến. Chùa Vĩnh Hòa cất trên chóp núi, tuy không mấy tráng lệ nhưng cũng kiên cố chỉnh tề, khuôn khổ ở núi chỉ phải làm như vậy. (Sđd, tr.135)

 

Tiếp nối đường đạo chân chính, con cháu có cái chủng tử giống tổ tiên của mình, vua Minh Mạng nhận biết kiếp trước mình cũng là “Tăng sĩ” như quốc chúa Nguyễn Phúc Chu vậy.

 

2.4. TRẤN HẢI TỰ DƯỚI THỜI VUA MINH MẠNG (1821 – 1840)

 

Tin tưởng và tin tấn tu hành thì sẽ tự nhận biết tiền kiếp cao sang, vua Minh Mạng đã xây chùa Giác Hoàng, quán Linh Hựu trong kinh thành Huế vào năm 1829 và năm 1839. Đó là hai ngôi quốc tự ở trong lòng Xuân Kinh, không những vua chúa, hoàng gia, đại thần mà sứ thần các nước trước khi được triều thần và hoàng đế nước Nam tiếp kiến đều được có duyên lành đến hành lễ, chiêm bái tại hai ngôi quốc tự này. Cho dù lòng dạ sứ thần không trong sáng, khéo ẩn tàng che dấu sự bất chính thì họ khó lòng vượt qua được lối quán chiếu soi xét của các bậc minh sư là Tăng Cang và Trú trì cùng Tăng chúng thường trú tại hai ngôi phạm vũ vừa như là vương đình ở chốn đế đô.

 

Trưởng thành trong gian lao, Thái tử Nguyễn Phúc Đảm sớm giác ngộ chính đạo. Trị vì ở tuổi 30 nhà vua đã xây dựng mới và tôn tạo các ngôi chùa vua ở chốn kinh thành và các trấn thành khác trong nước. Năm Minh Mạng thứ 17, tức năm Bính Dần, 1836 trùng tu chùa Thánh Duyên ở núi Thúy Hoa (Thúy Vân dưới thời Thiệu Trị), chùa Trấn Hải ở núi Linh Thái nằm về phía tây của biển Tư Hiền.

 

Vua Thiệu Trị vừa là nhà kiến trúc tài danh đã thuộc nằm lòng, sử sách cửa biển này có tên là Ô Long, Tư Dung, Tư Khách, lại Tư Dung và có tên mới Tư Hiền. Còn theo dã sử thì cửa biển này cũng lắm tên gọi, nào là Ông Hải, Biên Hải, Mù U vì ở thềm bãi biển được trồng nhiều cây mù u để lấy nguyên liệu phục vụ cho việc bắn súng các cổ đại bác chuyên lo việc phòng vệ sự xâm nhập trái phép của quân cướp biển làm hại dân lành mang dấu ấn lịch sử bang giao Chiêm – Việt và thời cận đại bang giao với nước ngoài.

 

Nhân duyên đi chơi núi Linh Thái và xem biển Tư Dung vào tháng Tư năm Bính Dần của vua Minh Mạng, sách Đại Nam thực lục chính biên đã ghi chép rõ nguyên nhân khiến nhà vua quan tâm tôn tạo cảnh chùa trên núi Quy Sơn đã bị binh lửa tàn phá:

 

“Dựng ở núi Linh Thái 1 chùa, 1 lầu. Chùa đặt tên là TRẤN HẢI TỰ, lầu đặt tên là VỌNG HẢI LẦU. Để cho sắc tướng tranh nghiêm, cùng lâu dài với núi biển.

 

Đó là việc cần làm ngay. Còn các hạng mục khác sẽ tiến hành sửa sang:

 

Lại còn 1 tòa cổ tháp ở gò núi Linh Thái, phái dưới có la liệt tượng đá, lâu ngày đổ gãy, rêu cỏ hoang vu. Tuy việc lâu ngày, dấu cũ mất đi, không khảo cứu được nhưng BÌNH PHONG QUÂN SỰ được gió mây hộ vệ cũng đợi có sự sửa sang. Vậy một phen sửa chữa cho tròn quả phúc. Đến khi làm xong, phái Vũ Lâm cấm binh đến canh giữ, mỗi tháng thay phiên một lần (hằng năm từ mồng 1 tháng 2 đến cuối tháng 10. Có dựng thêm hành cung để phòng khi vua đến chơi. Mỗi ban có 1 suất đội, 40 biền binh. Còn những tháng khác, chỉ có 20 biền binh).

 

Xuất phát từ việc đi chơi của nhà vua, cũng vào ngày tốt tháng 4 năm ấy nhà vua đã quan sát sự tình 2 việc lớn liên quan đến văn hóa và công nghệ nước nhà. Quốc sử ghi lại khá chi li mối quan tâm của vua Minh Mạng về việc dịch thuật cổ ngữ và nêu lên nhược điểm trong việc phiên dịch cổ tự một khi phải đối đầu với chuyện khảo cứu di tích lịch sử thời Champa để lại:

 

Trước đây, vua đi chơi cửa biển Tư Dung, lên xem núi Linh Thái, thấy tháp đá và cột hoa biểu có chữ Man, các thông ngôn ở kinh đều nói không phải chữ Xiêm, Lào, chẳng ai phiên dịch được. Vua nhân sắc cho Bình Thuận chọn phái một người thông thạo chữ Chiêm Thành và Bà Ni [Pali], hắn chỉ học chữ Chiêm Thành mà thôi, còn Ba Ni không dịch được.

 

Việc quan yếu thứ hai liên quan đến việc luyện kim. Phủ Thừa Thiên có mỏ chì, thổ thán là nguyên vật liệu đóng vai trò xúc tác trong việc tinh luyện quặng chì ra thành phẩm. Nấu chảy quặng đồng, phế liệu đồng thành đồng nguyên chất phải dùng đến vỏ con hải điệp. Thế mà xưa nay không biết tận dụng nguồn tài nguyên này có sẵn ở nguồn lợi hải sản của biển Tư Dung để luyện đồng. Các quan lại phủ Thừa Thiên không tư báo, rồi bộ Hộ cũng không biết cứ bắt tỉnh thần Gia Định tìm mua.

 

Vua Minh Mạng nhờ đi chơi để thâm nhập thực tế mà như phiền trách các quan địa phương và kể cấp bộ làm ăn theo lối máy móc, không tính toán:

 

“Từ nay có mua vật gì mà ở kinh kỳ không có, thì phải có giấy tờ cam kết rõ ràng mới chuẩn cho tư mua ở tỉnh xa. Mà địa phương được tư đến cũng phải xác nhận thổ sản ấy không có mới thôi.”

 

Bài học lịch sử từ chuyện xưa nay vẫn còn có giá trị thời sự. Làm quan phải năng động, sáng tạo tính chuyện lợi – hại cho dân, cho ngân sách nhà nước. Vua Minh Mạng là bậc minh quân, quan lại bên dưới khó lòng lấy vẻ thưa mà che mắt thánh che mắt thánh nhân.

 

*

* *

 

Cửa Tư Hiền, núi Thúy Vân, núi Linh Thái, đầm Hà Trung đều là những danh thắng nối kết với nhau theo một chuỗi liên hoàn với mũi Chân Mây, đầm Cầu Hai, Lăng Cô, Bạch Mã, Hải Vân... Ở các địa danh lịch sử ấy đều có nhiều kỳ tích, di tích văn hóa như đền miếu, tháp cổ, chùa thiêng... Hồn nước lung linh, núi thiêng, biển thiêng kết tụ lâu đời thành linh khí, phát sinh nhân tài và cả hùng tăng nữa.

 

Thuận lợi và cũng thuận duyên mà trong quá khứ đã từng nghĩ là chuyện viễn tưởng trong mơ: Cầu Trường Hà [Trừng Hà mới đúng], cầu Tư Hiền được  nhà nước đầu tư xây dựng tốn kém nhiều với mục đích lớn nâng cao đời sống cho dân cư vùng duyên hải và bảo vệ an ninh quốc phòng trong thời đại mới mà kẻ thù còn mưu toan với những tham vọng bất chính vương mùi tục lụy.

 

Ước gì chùa Trấn Hải, lầu Vọng Hải, bình phong quân sự và các đền miếu thờ thần biển, thần núi được sớm tôn tạo, phục dựng để khỏi nghe tiếng thổn thức của núi rừng, biển cả thì thầm than vãn: con cháu Tiên Rồng còn như thờ ơ với di tích, với núi non, sông biển đã ghi dấu nơi dừng chân trên đường mở cõi, du hóa của vua chúa đời Lý, đời Trần, của Huyền Trân Công Chúa, của Lê Thánh Tông và danh nhân các triều đại hơn 700 đến 1000 năm về trước. Bước đầu chờ đợi, sự điều nhhiên kỹ lưỡng của các ngành liên quan. Các giới khảo cổ, bảo tàng, văn hóa và giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên Huế cùng ngồi lại tại các diễn đàn để khơi sáng ánh hào quang rực rỡ của lịch sử dân tộc. Trước mắt, ít nhất sơ bộ cũng cần có biển đề lớn được thiết dựng một cách trang trọng ở các địa điểm có di tích quý giá và linh diệu:

 

Linh Sơn một đỉnh tần ngần

Tám phương cõi thọ đài xuân sum vầy.

 (Câu 235 – 236, Tư Dung vãn)

 

Về với núi Linh Thái, với biển Tư Hiền sẽ khơi sáng bừng dậy một niềm tin mới mà cũ xưa như Đào Duy Từ đã viết trong danh phẩm ấy:

 

Thiên thai người khéo lang đang,

Dạ lăm cắp núi, chí toan vá trời.

 

Và mọi người dân Việt, kể thêm du khách nước ngoài sẽ lãnh thọ được khái  niệm đã trở thành quan điểm sống của người xưa, mà Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã viết:

 

Thập khẩu tâm tư: tư quốc, tư gia, tư phụ mẫu,

Thấu thân ngôn tạ: tạ thiên, tạ địa, tạ quân vương.

 

Chúng ta, ngày nay còn tạ ơn chiến sĩ canh giữ biển trời, tạ ơn nhà nước, tạ ơn chiến sĩ trận vong và còn biết ơn du khách nữa. Vui lòng khách đến, được lòng khách đi để lần sau khách một lần còn lưu luyến muốn trở lại nhiều lần.

 

Xin gửi thêm một ý tưởng nhỏ để góp thêm, bàn rộng về ý nghĩa thâm hậu mà cũng thâm trầm của loại hình du lịch văn hóa tâm linh.

 

L.Q.T

Nguồn: Lieuquanhue.vn, 28/02/2012.

Rephrase with Ginger (Ctrl+Alt+E)
READ MORE - TRẤN HẢI TỰ, MỘT THỜI SOI BÓNG BÊN CỬA BIỂN TƯ HIỀN LỊCH SỬ - Lê Quang Thái

Wednesday, August 21, 2024

Trang thơ Thu bình thanh của Lưu Lãng Khách (Kỳ 1/2) - TA CHO NHAU MÙA THU | THU BÂNG KHUÂNG

 


TA CHO NHAU MÙA THU

 

Dòng Trà Giang trôi trôi

Tay quê êm vành nôi

Em ơi thu đang về

Cành đìu hiu đê mê

Cung đàn xưa ngân nga

Hồn phiêu theo âm ba

Ta bên nhau bồng bềnh

Vui tình chưa phôi pha

Trăng về sau cành đa

Ta cho nhau mùa thu

Ta dâng đời câu ca

Ta yêu người dân ta

Ta cho nhau mùa thu

Say nhau trong vàng mơ

Nương nhau trong hôn hoàng

Cho nồng nàn trang thơ

Ta cho nhau mùa thu

Sương lam – mưa mờ giăng

Ngày hanh – đêm đầy trăng

Vê tròn câu thương ru

Ta cho nhau mùa thu

Chim hân hoan ngoài hè

Nay đâu mi thầy me

Trăng ngời sau cành tre.

     Thu quê hương 2022

     Lưu Lãng Khách

 

 

THU BÂNG KHUÂNG

 

Đêm thu chu du trên sông Trà

Thuyền mơ đưa về trăng mười ba

Thiên đường tình yêu bên người hoa

Phiêu bồng cùng mây phương trời xa

Chưa qua cơn mê anh nhìn trời

Tình thu bâng khuâng ơi người ơi!

Màn khuya hư hoang sương mờ phơi

Lòng nghe chơi vơi đêm đồng quê

Côn trùng lê thê đồng ca hòa

Cành hoa lung linh trong mưa sa

Trăng buông xiêm y khoe khuôn ngà

Làng ơi! Mùa ơi! Thu kiêu sa

Hồn hoang hồn nhiên bay rong chơi

 Buồn đâu mùa xưa như lên khơi

Nhìn trời bao la thương thu nào

Con thuyền chênh chao trôi theo mây. 

Tình vơi đầy!

                     Thu quê hương 2023

                     Lưu Lãng Khách

                     luulangkhach@gmail.com

 

READ MORE - Trang thơ Thu bình thanh của Lưu Lãng Khách (Kỳ 1/2) - TA CHO NHAU MÙA THU | THU BÂNG KHUÂNG

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ KHOA HỌC CỦA DI TÍCH QUỐC GIA “CÁC ĐỊA ĐIỂM LIÊN QUAN ĐẾN DINH CHÚA NGUYỄN (1558 - 1626)” - Nguyễn Thị Thanh Bình

 

Đền thờ Thái phó Nguyễn Ư Dĩ - người cậu của Nguyễn Hoàng - tại xã Triệu Giang, Triệu Phong 

- Ảnh: HOÀNG TÁO


GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ KHOA HỌC 

CỦA DI TÍCH QUỐC GIA 

“CÁC ĐỊA ĐIỂM LIÊN QUAN ĐẾN DINH CHÚA NGUYỄN 

(1558 - 1626)”

Nguyễn Thị Thanh Bình

 

Năm 1558, sau khi đặt chân đến vùng đất huyện Vũ Xương, Phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đã chọn bãi cát Sa Khư/Sa Khưu thuộc làng Ái Tử làm điểm cắm chốt ban đầu, ông cho dựng doanh trại tại đây. Năm 1570, sau khi ra Bắc yết kiến vua Lê - chúa Trịnh trở về, ông đã quyết định cho dời dinh phủ/dinh trấn của mình từ làng Ái Tử sang làng Trà Bát (1570 - 1600). Đến năm 1600, chúa Tiên Nguyễn Hoàng lại một lần nữa cho dời dinh phủ/dinh trấn của mình từ Trà Bát sang một địa điểm mới gần kề với địa điểm cũ và gọi là Dinh Cát/Cát Dinh (1600 - 1626).

Trong 68 năm tồn tại trên vùng đất Ái Tử - Trà Bát/Quảng Trị, Nguyễn Hoàng đã có 3 lần xây dựng dinh trấn/dinh phủ ở 3 địa điểm khác nhau (Ái Tử, Trà Bát và Cát Dinh). Việc di dời dinh phủ/dinh trấn là quá trình mở rộng lỵ sở chứ không phải thay đổi không gian lỵ sở. Bên cạnh việc cho xây dựng các dinh phủ, chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên còn cho thiết lập các công trình liên quan phục vụ cho hoạt động kinh tế - xã hội, quân sự, văn hóa - tín ngưỡng..., như: Bãi Trận, Mô Súng, Cồn Kho, Cồn Tập, Tàu Tượng, Chợ Hôm, Ghềnh Phủ, Miếu Trảo Trảo phu nhân, Miếu thờ Thuận nghĩa hầu Nguyễn Hữu Tiến… Vùng đất Ái Tử - Trà Bát thuộc huyện Vũ Xương dưới thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng và những năm đầu thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên là trung tâm chính trị, hành chính và nơi tập trung bộ máy đầu não cai quản toàn xứ Thuận - Quảng. Từ đây các chúa Nguyễn đã hoạch định và thực hiện các chính sách cai quản của mình hết sức đúng đắn nhằm đưa vùng đất xứ Đàng Trong trở thành một vùng phát triển tương đối mạnh mẽ.

Với sự ra đời, tồn tại dinh phủ/dinh trấn đầu tiên của chúa Nguyễn và những công lao, đóng góp rất to lớn của Nguyễn Hoàng đối với vùng đất Đàng Trong - Quảng Trị, di tích “Các địa điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 - 1626)” được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia theo Quyết định số 2328/QĐ-BVHTTDL ngày 20/6/2018, gồm 10 di tích thành phần: Địa điểm dinh Ái Tử; Địa điểm dinh Trà Bát; Địa điểm Dinh Cát; Địa điểm Cồn Tập; Địa điểm Mô súng; Địa điểm Tàu tượng; Địa điểm Bãi trận; Địa điểm Ghềnh phủ; Chợ Hôm; Miếu Trảo Trảo Phu Nhân.

Tham gia Hội thảo khoa học “Hệ thống di tích chúa Nguyễn tại Triệu Phong - Những giá trị lịch sử, văn hóa và định hướng bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di sản”, một lần nửa khẳng định những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học của di tích “Các địa điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 - 1626)”:    

1. Địa điểm lỵ sở dinh chúa Nguyễn (1558 - 1626) trên đất Triệu Phong, Quảng Trị là lỵ sở đầu tiên, đánh dấu mốc quan trọng khai mở ra một triều đại mới - triều đại chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn

Đứng trước tình hình đất nước đầy rối ren và phức tạp đầu thế kỷ XVI khi các dòng họ Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn tranh giành quyền lực lẫn nhau, Nguyễn Hoàng đã nghe theo lời khuyên của Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân” để rời bỏ đất Bắc tiến thân vào Nam. Sự lựa chọn đó của Nguyễn Hoàng trong bối cảnh lúc bấy giờ là một bước đi phù hợp, đúng đắn và tất yếu.

Sự ra đi của Nguyễn Hoàng là lối thoát duy nhất nhưng đầy nguy hiểm. Bản thân Nguyễn Hoàng cũng nhận thấy được những khó khăn, thử thách ở vùng đất “vạn đại dung thân” được truyền tụng là “Ô Châu ác địa” không những phải đối phó với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, với con người “ương ngạnh” mà còn nơi họ Mạc xây dựng đồn lũy chiến đấu với họ Trịnh. Miền Thuận Hóa theo như khái quát của Dương Văn An trong Ô Châu cận lục (1555): “Thuận Hóa tiếp giáp với Quảng Nam, đất cát chật hẹp, phong tục chất phác, cư dân thưa thớt, không thể sánh vai với các châu Hoan - Ái. Nhưng từ khi Đặng Tất làm tướng nổi tiếng tài năng, Bùi Dục Tài vinh hiển từ khoa bảng thì phong tục nhân tài của ta khởi sắc, phát triển vượt bậc có thể sánh ngang với thượng quốc. Nhưng đời Quang Thiệu (niên hiệu Lê Chiêu Tông 1516 - 1522) triều Lê như chiếc bóng thoáng qua, khiến cho nhân tài hào kiệt lại thưa thớt như sao chổi buổi sớm, lác đác như lá mùa thu... Trời không phải lúc nào cũng sẵn thiên thời, đất không phải lúc nào cũng sẵn địa lợi, người không phải lúc nào cũng sẵn nhân hòa...” [1].

Việc Nguyễn Hoàng quyết định chọn vùng đất Ái Tử, Quảng Trị đóng dinh trấn trong buổi đầu quả là một thử thách sống còn về năng lực cải đổi “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” mà bằng mọi giá phải vượt qua. Sự lựa chọn của Nguyễn Hoàng thể hiện là một con người đầy bản lĩnh, tự tin.

Sau khi quyết định chọn vùng đất Ái Tử làm nơi dừng chân, chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã chú trọng xây dựng tiềm lực mạnh về mọi mặt để thực hiện ý đồ thoát ly hoàn toàn khỏi triều đình vua Lê, chúa Trịnh. Để thực hiện thành công mục tiêu đó, Nguyễn Hoàng đã thi hành nhiều chính sách mềm dẽo, hợp lý và công bằng. Lấy yếu tố “nhân hòa” làm đức trị để “yên chỗ cho dân, theo phong tục của dân, mở mối lợi, trừ mối hại, đó là việc đầu tiên trong việc vỗ trị xứ Thuận Quảng vậy[2]. Trong thời gian đóng dinh tại Quảng Trị, chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đã tiến hành dẹp loạn, đem lại sự bình yên cho nhân dân. Năm 1571, thổ hào ở Quảng Nam nổi dậy đánh giết, cướp bóc lẫn nhau. Chúa sai Mai Đình Dõng dẹp yên, nhân đấy được ở lại làm Lưu Phủ giữ đất ấy để thu phục, vỗ yên dân. Năm 1621, các Thổ mục ở Lạc Hòn (Ai Lao) tổ chức cướp phá vùng biên thùy, vùng phía Tây Quảng Trị, chúa sai Tôn Thất Hòa đem quân đi đánh dẹp, bắt làm tù binh nhưng tỏ rõ thiện ý trong việc áp dụng chính sách khoan dung “chúa muốn lấy ân tín vỗ về người đất xa, sai cỡi trói ra và cấp quần áo, lương thực, răn dạy rồi thả về. Quân Man cảm phục, từ đấy không lấy làm phản nữa[3].

Chính những chích sách khoan hòa, an dân trong buổi đầu vào cai quản nên Nguyễn Hoàng được dân chúng trong vùng tin yêu, mếm phục đặt là Chúa Tiên. Ghi nhận về vai trò của Nguyễn Hoàng, các sử gia của triều Lê chép: “Đất Thuận Quảng lại được yên. Hoàng vỗ trị mấy chục năm, chính lệnh khoan hòa, thường ban ơn huệ, dùng phép công bằng, khuyên răn bản bộ, cấm trấp kẻ hung ác, dân hai trấn lại cảm lòng mến đức, thay đổi phong tục, chợ không nói thách, dân không trộm cắp, cổng ngoài không phải đóng, thuyền buôn nước ngoài đều đến buôn bán, trao đổi phải giá, quân lệnh nghiêm cấm, mọi người ra sức. Do vậy họ Mạc không dám dòm nom, trong cõi được an cư lạc nghiệp” [4].

Cùng với chính sách an dân để ổn định xã hội, phát triển mọi mặt kinh tế, văn hóa... Nguyễn Hoàng còn thực hiện những chính sách mềm dẻo nhằm tạo niềm tin đối với vua Lê, chúa Trịnh để mở rộng quyền lực làm tiền đề cho việc thực hiện những mưu đồ cát cứ về sau.

 Mặc dù sự ra đi của Nguyễn Hoàng là sự thoát thân khỏi sự tiếm quyền của họ Trịnh, nhưng không phải vì vậy mà Nguyễn Hoàng quay lại chống chúa Trịnh ngay mà ông đã có bước đi mang tầm chiến lược một cách khôn khéo. Đối với Nam triều, từ khi vào trấn nhiệm Thuận Hóa, trên cương vị là Tổng trấn của nhà Lê, được giao nhiệm vụ toàn quyền “mọi việc ở xứ này, không cứ lớn hay nhỏ, và các ngạch thuế đều giao cả cho, hàng năm đến kỳ hạn thì thu nộp”. Và Nguyễn Hoàng đã đều đặn thực hiện nghĩa vụ cống nạp cho triều đình, tham dự các sự kiện trọng đại của Nam triều, như: đích thân ra tận Tây Đô để chúc mừng Thái sư Lương quốc công Trịnh Kiểm làm Thượng tướng Thái quốc công, tôn làm Thượng phụ vào năm 1569; giúp Trịnh Kiểm diệt gian thần... Chính sự tin tưởng đó, năm  1570, Đoan quận công Nguyễn Hoàng được quyền quản lý vùng Quảng Nam và kiêm nhận 2 xứ Thuận - Quảng.

Sau khi có thêm đất Quảng Nam cùng với sự tự chủ về mặt chính trị, Đoan quận công mới có điều kiện xây dựng và phát triển xứ Thuận Hóa. Trong sự đi lên của Đàng Trong, Quảng Nam đóng vai trò vô cùng quan trọng. Bởi lẽ, đây không chỉ là vùng đất giàu có, trù phú với đa dạng nguồn thương phẩm mà còn có cửa biển lớn tạo nên thương cảng quốc tế Hội An về sau. Quảng Nam và Hội An giữ một vị thế quan trọng nhất trong quá trình phát triển thương nghiệp Đàng Trong.

Năm 1593, nhà Lê thắng nhà Mạc và vua Lê Thế Tông (1573 - 1600) trở về Đông Đô, Nguyễn Hoàng tiếp tục thực hiện nghi thức của một quần thần trung thần với triều đình, giúp chúa Trịnh ổn định nhiều địa phương ở miền Bắc như Hải Dương, Thái Nguyên, tham gia nhiều công việc triều chính khác... Tuy nhiên, sự mềm dẻo của Nguyễn Hoàng đối với vua Lê, chúa Trịnh cũng có giới hạn. Sau 7 năm ở lại Đông Đô,  Nguyễn Hoàng lập được nhiều công tích cùng với sự vững mạnh của vùng ông trấn nhiệm nên càng làm cho Trịnh Tùng thêm ghen ghét và có ý “giữ chân” Nguyễn Hoàng. Không chấp nhận sự kìm kẹp của chúa Trịnh, Nguyễn Hoàng đã dùng mưu kế xui tướng nhà Lê là Phan Ngạn, Ngô Đình Nga và Bùi Văn Khuê làm phản ở cửa Đại An (Nam Định), rồi tự xin đi đánh, đến nơi giả cách thua, bèn đi đường biển về thẳng Thuận Hóa. Trở về Thuận Quảng sau một chuyến đi dài, Nguyễn Hoàng bắt tay vào công cuộc khôi phục, phát triển xứ Đàng Trong để dần dần tách khỏi sự phụ thuộc vào Đàng Ngoài. Nguyễn Hoàng cho dời dinh từ Trà Bát qua Dinh Cát, củng cố bộ máy chính quyền.

Nếu như sự kiện Nguyễn Hoàng được kiêm trấn thủ trấn Quảng Nam là mốc mở đầu cho ý đồ xây dựng một thể chế cát cứ trên vùng đất phương Nam, thì lần ra Bắc cuối cùng từ năm 1593 - 1600 trở về càng khẳng định quyết tâm xây dựng một vương quốc riêng biệt của Nguyễn Hoàng. Tuy nhiên, mặc dù tư tưởng cát cứ ly khai và xây dựng một vương quyền độc lập đã hình thành nhưng dưới thời cai trị của Nguyễn Hoàng vì nặng những mối quan hệ gia đình, thân thuộc, vì mối quan hệ xã hội nên vẫn chưa thực sự mạnh mẽ. Nhưng bằng những bước đi mang tính chiến lược, Nguyễn Hoàng đã tạo nền tảng lớn mạnh cho các thế hệ nối tiếp thực hiện tâm nguyện của mình. Toàn bộ tư tưởng cát cứ của Nguyễn Hoàng được thể hiện một cách rõ ràng trong lời trăn trối cuối cùng với người con trai thứ sáu Nguyễn Phúc Nguyên - người kế nghiệp chúa: “Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang [Hoành Sơn] và sông Giang [Linh Giang] hiểm trở, phía nam có núi Hải Vân và núi Đá Bia [Thạch bi sơn] vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chóng chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta [5].

Nguyễn Phúc Nguyên - người kế ngôi chúa Nguyễn đẩy mạnh xu hướng cát cứ với việc xây dựng chính quyền mới Đàng Trong, tập hợp mọi nhân tài từ Bắc vào, “sửa sang thành lũy, đặt quan ải, vỗ về dân quân, trong ngoài đâu cũng vui phục[6]. Nguyễn Phúc Nguyên công khai không thần phục họ Trịnh: không nộp thuế, không nhận sắc phong, không ra Thăng Long mà cũng không gửi con thay mình ra Thăng Long như họ Trịnh yêu cầu... mà còn thực hiện các cuộc chiến tranh với Đàng Ngoài. Đến đây, ý nguyện “dựng cơ nghiệp muôn đời” của Nguyễn Hoàng được thực hiện.

Có thể nói, việc Nguyễn Hoàng và Nguyễn Phúc Nguyên dừng chân và đóng lỵ sở suốt 68 năm tại Ái Tử - Trà Bát đã biến vùng đất này trở thành một trung tâm chính trị và là nơi hội tụ không chỉ sức mạnh về quân sự mà còn cả sức mạnh về kinh tế, xã hội… Đây được coi là “kinh đô” đầu tiên của Đàng Trong - nơi khởi đầu và xây dựng nên cơ nghiệp nhà chúa Nguyễn. Đến năm 1626, khi Nguyễn Phúc Nguyên chuyển lỵ sở vào Phước Điền thì 3 thủ phủ Ái Tử, Trà Bát và Dinh Cát chấm dứt vai trò của mình và trở thành cựu dinh. Tuy nhiên, những thành quả đạt được trong 68 năm đóng lỵ sở trên đất Triệu Phong, Quảng Trị của chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên không chỉ đóng một vai trò quan trọng, để lại nhiều kinh nghiệm quý báu và làm tiền đề cho việc xây dựng các thủ phủ của chúa Nguyễn về sau mà còn góp phần khai mở và phát triển một triều đại mới - triều đại nhà Nguyễn.

2. Di tích Các địa điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 - 1626) gắn liền với công lao, đóng góp của chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên trong sự nghiệp mở mang bờ cõi của dân tộc

Công cuộc mở mang bờ cõi của Đại Việt kéo dài gần 8 thế kỷ, bắt đầu dưới triệu đại nhà Lý năm 1069 và kết thúc dưới thời các chúa Nguyễn vào năm 1757. Trước năm 1558, cư dân Việt chỉ sinh sống ở phía Bắc đèo Cù Mông thuộc phủ Hoài Nhơn (Bình Định ngày nay), trong khi đó biên giới phía Nam nước ta đến núi Thạch Bi. Điều này có nghĩa là trong 5 thế kỷ trước dưới thời Lý, Trần, Hồ, Lê, lãnh thổ Đại Việt chỉ được mở rộng từ Đèo Ngang đến núi Thạch Bi. Kế thừa thành quả của các triều đại đi trước, sau khi vào trấn nhậm Thuận Quảng và đóng lỵ sở tại Ái Tử - Trà Bát, chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã tiếp tục công cuộc mở rộng lãnh thổ về phía Nam.

Mặc dù việc mở đất vào Phú Yên được xúc tiến từ năm 1578 nhưng mãi đến năm 1611, với việc vượt qua Thạch Bi, Nguyễn Hoàng chính thức có thêm một vùng đất mới, một đơn vị hành chính mới và hoàn thành bước đi đầu tiên trong sự nghiệp Nam tiến của mình, góp phần tạo bàn đạp vững chắc cho những bước mở rộng lãnh thổ để cho ra đời xứ Đàng Trong vào thế kỷ XVII.

Sau khi kế nghiệp và nhận thức sâu sắc lời di huấn của cha, Nguyễn Phúc Nguyên đã thực thi một cách nghiêm chỉnh, triệt để, sáng tạo và có những bước đi rất thích hợp để đưa dân tiến sâu hơn đến những vùng đất chưa được khai thác ở đồng bằng sông Cửu Long. Tuy vậy, sự nghiệp mở cõi kỳ vĩ của ông dường như tất cả đều đã được chuẩn bị, sắp đặt và bắt đầu từ thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng.

Đến nay, các nhà sử học đều thống nhất là nếu không có sự kiện Nguyễn Hoàng vào Quảng Trị năm 1558 và những nổ lực của ông cũng như chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên trong việc xây dựng và phát triển vùng đất này trong 68 năm thì khó để có một Đàng Trong phát triển giàu mạnh. Có thể nói, đất Thuận Hóa được khai mở từ thời nhà Trần nhưng tạo nên bước phát triển và để lại dấu ấn sâu sắc là dưới thời chúa Nguyễn Hoàng và Nguyễn Phúc Nguyên. Nguyễn Hoàng là vị chúa đầu tiên của họ Nguyễn xây dựng cơ nghiệp ở vùng đất mới Thuận - Quảng; là người đặt nền móng cho sự hình thành Đàng Trong. Trong khi đó, Nguyễn Phúc Nguyên chính là người đã cắm mốc chủ quyền đầu tiên của chính quyền Đàng Trong trên vùng đất Nam Bộ. Như vậy, việc xây dựng, tồn tại và phát triển của lỵ sở dinh chúa Nguyễn trên đất Triệu Phong, Quảng Trị gắn liền với những công lao, đóng góp của chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên trong sự nghiệp mở mang lãnh thổ. Đây chính là tiền đề rất quan trọng để các chúa Nguyễn kế nhiệm thực hiện giai đoạn nước rút trong công cuộc mở cõi, khởi dựng nên hình hài nước Việt Nam ngày nay.

3. Nghiên cứu về các địa điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 - 1626) đã góp phần quan trọng trong việc đánh giá một cách khách quan hơn, công bằng hơn về vai trò của chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nói riêng cũng như sự nghiệp nhà Chúa nói chung trong tiến trình lịch sử dân tộc

Trước đây, sử sách triều Nguyễn rất mực đề cao vai trò và đóng góp của chúa Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn, nhưng từ sau năm 1945, việc nghiên cứu và đánh giá về sự nghiệp nhà chúa nói chung vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế. Mặc dù, sau thời gian trên, tình hình nghiên cứu về thời Nguyễn đã diễn ra sôi nỗi và đem lại nhiều kết quả lớn nhưng các công trình nghiên cứu phần nhiều tập trung vào giai đoạn lịch sử triều Nguyễn (1802 - 1945) mà ít chú ý đến giai đoạn lịch sử thời các chúa Nguyễn trước đó nhất là thời kỳ 68 năm chúa Nguyễn Hoàng và Nguyễn Phúc Nguyên đóng lỵ sở trên đất Triệu Phong, Quảng Trị. Sự bất cập này có rất nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là: thứ nhất, do nguồn tư liệu thiếu thốn, hạn chế bởi đây là một giai đoạn lịch sử mà vùng đất Thuận Quảng do chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên trấn nhậm chỉ là một trấn trực thuộc triều đình Lê - Trịnh chứ đây chưa phải là một vương triều độc lập nên việc biên chép lịch sử không được thực hiện dẫn đến việc tài liệu viết về giai đoạn này rất hạn chế; thứ hai, là do nguồn tư liệu hạn chế nên việc nghiên cứu về giai đoạn này của thời chúa Nguyễn chưa thật đầy đủ, công bằng. Chính những lý do trên đã gây ra tình trạng thiếu thông tin, tạo nên những “khoảng trống” về mặt tư liệu của thời kỳ chúa Nguyễn mà đặc biệt là thời gian 68 năm Nguyễn Hoàng và Nguyễn Phúc Nguyên đóng lỵ sở tại Ái Tử - Trà Bát.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về Đàng Trong nói chung và công lao của chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nói riêng trong tiến trình lịch sử dân tộc đã được chú ý hơn. Thông qua các tư liệu lịch sử, các nghiên cứu mang tính chất đột phá của các nhà sử học và đặc biệt là qua hai cuộc hội thảo khoa học “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong tiến trình lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX” năm 2008 tại Thanh Hóa và hội thảo “Quảng Trị - đất dựng nghiêp của chúa Nguyễn Hoàng (1558 - 2013)” năm 2013 tại Triệu Phong, Quảng Trị, các nhà khoa học, nhà nguyên cứu, các học giả trong và ngoài nước bước đầu đã có cái nhìn và đánh giá khách quan hơn, công bằng hơn về những công lao và đóng góp của các chúa Nguyễn đối với đất nước. Đặc biệt, vai trò của chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên trong sự nghiệp mở mang bờ cỏi về phương nam đã được lịch sử công nhận.

 Bên cạnh đó, khi di tích “Các địa điểm liên quan đến lỵ sở dinh chúa Nguyễn (1558 - 1626)” được xếp hạng quốc gia đã có đầy đủ hồ sơ, tạo cơ sở pháp lý trong việc bảo vệ, trùng tu, tôn tạo di tích về sau, đồng thời cung cấp nguồn nguồn tài liệu vô cùng phong phú và quý giá nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc nghiên cứu về vai trò của chúa Tiên Nguyễn Hoàng, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nói riêng cũng như sự nghiệp nhà Chúa nói chung trong tiến trình lịch sử dân tộc.

4. Các địa điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 - 1626) là một trong những di tích tiêu biểu của chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn; góp phần làm phong phú hơn, đa dạng hơn cho hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên đất Quảng Trị và nó trở thành một di sản có giá trị tiêu biểu trong nền văn hóa dân tộc

Với những bước đi và những chính sách thích hợp, chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đã biến vùng Thuận Quảng thành một trung tâm chính trị và là nơi hội tụ không chỉ sức mạnh về quân sự mà còn cả sức mạnh về kinh tế, xã hội… Tuy nhiên, trải qua một thời gian dài của lịch sử với gần 500 năm trên một vùng đất vốn chịu nhiều đổi thay, mất mát bởi các cuộc chiến tranh tàn phá cộng với sự khắc nghiệt của thời tiết, thiên tai... nên di tích “Các địa điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 - 1626)” trên đất Triệu Phong, Quảng Trị đã bị tàn phá hết sức nặng nề. Tất cả những địa điểm như: dinh Ái Tử, Trà Bát, Dinh Cát hay các công trình có liên quan như: Cồn kho, Cồn tập, Tàu Tượng, miếu Trảo Trảo phu nhân, chùa Liễu Ba/Liễu Bông.... đã mất hết dấu tích và chỉ tồn tại trên những địa danh hay trong tiềm thức của người dân.

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị còn có một số di tích liên quan đến thời chúa Nguyễn như: Chùa Bảo Đông và bia, mộ Trần Đình Ân; khu mộ thời các chúa Nguyễn ở Văn Quỹ; lăng mộ bà Phạm Thị Tôm (Còng); chùa Long Phước… Các di tích này cùng với di tích quốc gia “Các địa điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 - 1626)”  tại Ái Tử - Trà Bát đã tạo nên một hệ thống di tích thời chúa Nguyễn trên đất Quảng Trị rất phong phú và đa dạng. Trong đó “Các địa điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 - 1626)” là một di tích rất quan trọng làm nổi bật hơn, phong phú hơn cho hệ thống di tích thời chúa Nguyễn, vương triều Nguyễn và trở thành một di sản văn hóa đặc sắc của dân tộc.

 Với những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học của di tích quốc gia “Các địa điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 - 1626)” xứng đáng được đầu tư tôn tạo phục vụ cho nhu cầu khách tham quan, nghiên cứu, tìm hiểu về thời kỳ đầu của chúa Nguyễn; đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, làm phong phú, đa dạng sản phẩm du lịch của địa phương.

                                                                                                                                                           Nguyễn Thị Thanh Bình


[1] Dương Văn An. Ô Châu cận lục. Văn Thanh - Phan Đăng dịch và chú giải. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr 15.

[2] Lê Quý Đôn. Phủ biên tạp lục. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr 50.

[3] Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục tiền biên, tập 1. Nxb Sử học, Hà Nội, 1962, tr 41.

[4] Đại Việt sử ký toàn thư. Bản in Nội các quan bản, Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), tập III.  Hoàng Văn Lâu, Ngô Thế Long dịch và chú thích, Giáo sư Hà Văn Tấn hiệu đính. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011, tr 146.

[5] Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục tiền biên, tập 1. Sđd, tr 44.

[6] Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục tiền biên, tập 1. Sđd, tr 47.

 

Nguồn: https://trungtamquanlyditichvabaotangquangtri.vn

READ MORE - GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ KHOA HỌC CỦA DI TÍCH QUỐC GIA “CÁC ĐỊA ĐIỂM LIÊN QUAN ĐẾN DINH CHÚA NGUYỄN (1558 - 1626)” - Nguyễn Thị Thanh Bình

Tuesday, August 20, 2024

NỐT HUYỀN THU XƯA – Thơ Le Nguyen Thu

 C:\Users\hien\Pictures\nốt huyền.jpg


NỐT HUYỀN THU XƯA 

Thơ Le Nguyen Thu


Cội nguồn nhả hột mưa thu

rơi trên cánh mỏng loang màu hồng môi

ngỡ người ta... dậy xuân thì

một dòng suối lạ mấy đồi khe mông 

chiêm bao giữa khúc nghê thường 

sợi tình còn vướng sợi buồn còn thương 

nghe như tinh thể phân thân 

con đường cố quận khói vương cõi hồn

liêu trai mấy ngấn ngực non 

nốt huyền lên xuống trên vùng cồn lau 

mưa về trên ngọn sầu đâu

mùa thu khởi sự nhuốm màu tàn y 

dùng dằng nửa tỉnh nửa say 

cuộn tình chưa kịp rút dây thề nguyền 

dường như trời tạnh mưa đêm

giật mình người đã mù tăm dặm ngàn  

phố khuya sợi nhỏ tóc vàng 

chia tay tình cuối còn thương tóc huyền 

xa người năm trước hạ sang 

sáng nay chuyển lạnh thu nghiêng thành sầu 

 

Stanton Aug. 9th, 2024 (nửa khuya thứ 7, 2:07 am.) 

L.N.T.

lenguyenthu111977@gmail.com

READ MORE - NỐT HUYỀN THU XƯA – Thơ Le Nguyen Thu

Saturday, August 17, 2024

Trang thơ Vũ Hùng: VƯỜN TRƯA | TÁT NƯỚC | MỘT THOÁNG DĨ AN

 


VƯỜN TRƯA 

 

Thu sang đã mấy hôm rày

Lá xoài, lá mận rụng đầy vườn trưa 

Nắng thu nhàn nhạt lưa thưa 

Vướng trên nhành bưởi đu đưa quả tròn 

Vườn trưa lấm tấm cỏ non

Tiếng ve sót lại mỏi mòn râm ran

Chờn vờn vòi kiếm phong lan

Mong manh hương cứ khẽ khàng thoảng bay

Vườn trưa một thuở đắm say

Tiếng cười khúc khích, bàn tay chẳng rời! 

Vườn trưa còn đó một thời

Mà người xưa đã nhẹ lời... đành thôi

Vườn trưa mấy độ thu rồi 

Mình tôi hái bưởi đâu người theo sau?

Vườn trưa còn đó giàn trầu 

Và nguyên cả một hàng cau trĩu buồng!

Sài Gòn,14.08.2024

Vũ Hùng

 

TÁT NƯỚC

 

Ruộng cao đứng tát gàu sòng,

Mới mười ba tuổi quay mòng giữa trưa.

Cha ơi, ruộng đủ nước chưa,

Nghỉ ngơi một lát tay đưa mỏi mà?

Phừng phừng mặt đỏ cháy da,

Mồ hôi thánh thót mưa sa nắng hè.

Trong tai ngàn vạn tiếng ve,

Trời xanh chẳng vệt mây che trên đầu...

Thế rồi ba bốn năm sau,

Tuổi đang mười bảy tát gàu nhẹ không?

Đồng trưa ruộng cạn mênh mông,

Vung tay tát nước nắng hồng nghĩa chi?

Còn cha chậm chạp chân đi,

Đôi tay yếu ớt thầm thì nghỉ thôi!

Ruộng cao một thuở lâu rồi,

Gàu sòng biệt dạng sang thời máy bơm...

Chiều nay tay xới chén cơm,

Chợt nghe nghèn nghẹn mùi thơm ruộng nhà. 

Lưng tròng nước mắt chực sa,

Rưng rưng nỗi nhớ cha già,

                                                Còn đâu?

Làm  sao quên được chiếc gàu,

Làm sao quên được trên đầu nắng trưa?

Vũ Hùng

 

 

MỘT THOÁNG DĨ AN

 

Từ Thủ Đức qua Dĩ An,

Hơn hai mươi phút rực vàng nắng mai.

Theo Google Maps chẳng sai,

Đường ngang lối dọc chạy dài thênh thang.

 

Thầy trò cổng chợ Dĩ An,

Gặp nhau mừng rỡ ngỡ ngàng phố đông.

Thầy xưa một thuở phổ thông,

Trò xưa một thuở tuổi hồng Phước Vân.

 

Cà phê ngào ngạt Sóng Thần,

Buồn vui chuyện kể bâng khuâng nỗi niềm.

Chuyện buồn  đau đáu trong tim,

Chuyện vui phơi phới cánh chim đại ngàn.

 

Về hưu Thầy sống xa làng.

Yên tâm con cái làm ăn hơn người.

Về hưu Thầy đã thảnh thơi,

Vui cùng các cháu về chơi cuối tuần!..

 

Dĩ An một thoáng dừng chân,

Sao nghe trong dạ lâng lâng lạ thường.

Dĩ An sao cứ vấn vương,

Mênh mang nắng trải phố phường đông vui?

Vũ Hùng

 

READ MORE - Trang thơ Vũ Hùng: VƯỜN TRƯA | TÁT NƯỚC | MỘT THOÁNG DĨ AN

NON MAI (Kỳ 2/2) - Yến Thọ

NON MAI (Kỳ 1/2)

 

  

NON MAI (Kỳ 2/2)


(Trích từ tập sách KHẢO VỀ QUẢNG TRỊ XƯA,

tác giả LÊ ĐỨC THỌ)


Về mặt hồi cố, Mai Lĩnh sơn/non Mai và Thạch Hãn giang là cặp đôi sông núi biểu trưng của người Việt, của không gian văn hoá Việt. Nó chỉ gần gũi, thân quen và đi vào tâm thức của người Việt - bắt đầu từ người Việt vùng phía nam Quảng Trị thuộc hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng; sau mới lan dần ra để trở thành biểu trưng, nhập thân vào dân Việt cả vùng Quảng Trị. Người Vân Kiều đương nhiên sẽ không biết và họ không cần gì phải biết khi sông thiêng của họ là Đakrông và núi thiêng của họ không phải là Mai Lĩnh. Tìm về với Mai Lĩnh phải tìm về với người dân Việt trên đôi bờ Thạch Hãn. 

Những người Việt thuộc các làng vùng thung lũng Ba Lòng - những người thuộc thế hệ những năm chống Pháp và Mỹ sống tại vùng này và cả những thế hệ trẻ hơn về sau thường xuyên đi rừng với nghề sơn tràng thì không lạ lùng gì với Non Mai/Mai Lĩnh. Đứng từ phía làng Xuân Lâm của xã Triệu Nguyên hay từ Phú Thành của xã Mò Ó, người dân địa phương có thể chỉ lên phía Động Trăn, Động Chấn (nằm phía bắc Động Chè và phía nam động Ché) và khẳng quyết đó là núi Mai Lĩnh.

 Nếu có ai đó hỏi một cụ già vùng Ba Lòng rằng: Non Mai - Sông Hãn ở đâu? Người ta dễ dàng chỉ một tay xuống đất và một tay xiên lên trời mà nói: Thạch Hãn đây. Mai Lĩnh đó tề. Bởi thế nên nhạc sĩ Lê Anh trong một ca khúc viết về quê hương Quảng Trị đầy chất dân ca vùng Thạch Hãn: “Giọng hò thương nhớ” đã thốt lên bằng tâm cảm và cũng bằng cả sự hồn nhiên: Thạch Hãn đó, Mai Lĩnh là đây, biết mấy ân tình, giữa muôn trùng sông nước; nắng cháy bão bùng vẫn chung lòng sau trước. “Thạch Hãn đó, Mai Lĩnh là đây” là lời của nhạc sĩ Lê Anh hay cũng chính là lời của người dân địa phương chỉ cho tác giả về Non Mai - Sông Hãn (?!). Có thể có người đã từng lên đến núi Mai Lĩnh và nhiều người chưa bao giờ biết núi Mai Lĩnh ở đâu, nhưng từ trong tâm khảm của mình, người dân đôi bờ sông Thạch Hãn đều đinh ninh một cách chắc chắn rằng núi Mai Lĩnh phải nằm ở thượng nguồn sông này; và vì thế núi và sông mới trở thành cặp đôi của non nước Quảng Trị.

Vì thế, không hề đòi hỏi tiền lộ phí, tiền dẫn đường, những người từng lăn lộn với rừng, gắn bó bới rừng và thừa hưởng những đặc ân từ Động Chè, Động Ché, Đông Trăn, Động Chấn, Mai Lĩnh ở các làng Na Nẫm, Xuân Lâm luôn sẵn lòng đưa những người muốn tìm về với Mai Lĩnh lên đến đỉnh Non Mai trong khoảng thời gian chừng 6 - 8 tiếng đồng hồ băng rừng, lội suối, vượt dốc cả đi lẫn về theo con đường từ Xuân Lâm qua sông Thạch Hãn theo khe Làng An - đường Bà Cả, qua Động Trăn (hoặc Động Chấn).

Hành trình lên non Mai và về với Mai Lĩnh của các cán bộ nghiên cứu Bảo tàng Quảng Trị cùng Trung tâm Bảo tồn Di tích Danh thắng là sự mò mẫm để tìm hướng đi từ trong các văn bản thư tịch cổ, các tài liệu thành văn và cũng là  tìm lối đi từ trong thực tiễn qua sự chỉ bảo, hướng dẫn và giúp rập của người dân địa phương và bằng nghị lực vượt khó để leo núi với tất cả tấm lòng yêu mến sông núi quê hương Quảng Trị. Các dữ liệu có được trong quá trình tìm kiếm chính là những cơ sở xác thực để định vị núi Mai Lĩnh.  





  Bản đồ vị trí núi Mai Lĩnh và quần thể Động Chấn, Động Trăn.

 

 

 Núi Mai Lĩnh nhìn từ Động Trăn ở phía đông nam.

Núi Mai Lĩnh hiện nằm trong Khu Bảo tồn Thiên nhiên Đakông, ở phía tây nam huyện lỵ Đakrông, trên bờ hữu ngạn của sông Thạch Hãn, thuộc địa phận xã Mò Ó (nguyên trước thuộc xã Triệu Nguyên), huyện Đakông. Núi nằm trong quần thể Động Trăn, Động Chấn, phía bắc Động Chè, phía nam Động Ché, có độ cao hơn 800m so với mực nước biển (theo bản đồ UTM là ở độ cao 843m). Số liệu “cao 118m so với mặt thuỷ hải chuẩn... diện tích 38 ha” do Hoàng Hữu Phong đưa ra là thiếu chính xác. 

Núi có hình chóp tròn, hơi nhọn, xuôi dần nhiều hơn theo hướng tây - đông. Trên đỉnh có một khoảng đất bằng, hiện chỉ có lau lách và cây bụi. Khu vực này chính là một căn cứ quân sự được xây dựng thời Mỹ và cũng chính là một đồn binh được người Pháp thiết lập sau năm 1885. Đứng từ đỉnh núi Mai Lĩnh (hoặc động Chấn) có thể nhìn thấy thị trấn Krông klang ở về phía đông bắc và sông ĐaKrông, đường 14 trên địa phận xã Tà Long (Trại Cá) ở về hướng tây.

Từ quần thể Động Trăn, Động Chấn, Mai Lĩnh có Khe Làng An chảy từ tây bắc xuống đông nam đổ vào sông Thạch Hãn ở địa phận làng Xuân Lâm. Khe Làng An cũng là hợp lưu với Khe Khế chảy theo hướng tây nam - đông bắc, phát nguyên từ phía Động Chè. Phía bắc quần thể Động Trăn, Động Chấn, Mai Lĩnh còn có Động Ché; khe Làng An chảy vòng phía đông; còn phía tây là khe Luồi. Khe Luồi chảy từ Động Ché xuống, đổ vào sông Thạch Hãn ở khu vực bản Luồi. 

Nếu đứng ở làng Na Nẫm và bờ sông Thạch Hãn thì núi Mai Lĩnh nằm ở phía tây nam, nhưng không thể nhìn thấy vì núi bị khuất sau Động Trăn. Nếu đứng ở làng Xuân Lâm thì vừa nhìn thấy Động Trăn vừa nhìn thấy đỉnh của núi Mai Lĩnh.

Cần nói thêm rằng, phường Mai Hoa/Mai Lĩnh không nằm trong khu vực núi Mai Lĩnh mà là phía bắc núi Mai Lĩnh. Phường Mai Lĩnh nằm phía hữu ngạn sông Đakrông, đối diện với Làng Cát (gần cầu Đakrông); phía nam tiếp với Phú Thành. Phường Mai Lĩnh nằm phía nam Động Ngài. Từ Động Ngài về phía nam là một dãy động nhấp nhô kéo về tận phường Mai Lĩnh; nhưng đó không phải là núi Mai Lĩnh/Non Mai. Động Ngài được ghi trong bản đồ “Thừa Thiên toàn đồ” là Mang Sơn/núi Mang, cũng tức là động Mang. Sách “Đại Nam nhất thống chí chép: “Núi Mang ở phía tây nam huyện Thành hoá, cây cối rậm rạp, khe động gập ghềnh. Tương truyền hành khách đi đến núi này, tức phải tự mang gông ở cổ, khi qua đỉnh núi, vọng bái thần núi rồi tháo gông ra mà đi, làm như thế để cầu yên lành; tục gọi là động mang” 1). Người Vân Kiều gọi núi này là Kok Yang (núi thiêng, núi Giàng), diễn nôm là Động Ngài. Động Ngài không phải là núi Mai Lĩnh.

Trên núi Mai Lĩnh thì tuyệt nhiên không thấy cây mai. Rất có thể là đã bị phá hết. Từ năm 2004 đến nay, dọc theo con đường đi lên Mai Lĩnh, việc khai thác gỗ trái phép vẫn hàng ngày diễn ra. Rừng bị tàn phá nghiêm trọng. Rừng còn chẳng có, có đâu mai (!). Tuy thế, ở Động Trăn, dọc theo đường mòn có rất nhiều cây mai con - loại hồng diệp. Những người dẫn đường cho rằng trước đây vùng núi này có rất nhiều mai rừng.

Sông Hãn - Non Mai chính thức trở thành biểu trưng văn hoá kể từ khi lỵ sở, trung tâm hành chính, chính trị của tỉnh Quảng Trị đặt bên dòng Thạch Hãn. Kể từ đó, cặp đôi sông núi này nhập thân vào đời sống văn hoá của người dân đôi bờ Thạch Hãn; trở thành niềm ngưỡng vọng, tự hào của người dân Quảng Trị.

Các ngôi đình, đền miếu, nhà thờ họ ở các làng nằm dọc 2 bên bờ Thạch Hãn đều hướng ra sông. Người dân các làng xã vùng Triệu Phong, Hải Lăng không chỉ coi non Mai - sông Hãn là biểu tượng, là niềm tự hào về giang sơn gấm vóc mà còn là sự gữi gắm niềm tin về sức sống mãnh liệt, sự bền vững muôn thu về đất nước. Tinh thần này được thể hiện thông qua những câu đối, những vần thơ cảm tác được khắc tạc ngay trên các công trình văn hoá truyền thống ở nhiều làng xã. Cặp câu đối trước cổng trụ đình làng Dã độ viết:

枚山遠炤千年柱/ 捍水長流萬古春: Mai Sơn viễn chiếu thiên niên trụ/ Hãn thuỷ trường lưu vạn cổ xuân. 

Cặp câu đối trước đình làng Thạch Hãn: 石嶺開建井疆遺跡前人存萬古/ 捍江潤培耕墾本鄉後世在千秋: Thạch Lĩnh khai kiến tỉnh cương di tích tiền nhân tồn vạn cổ/ Hãn giang nhuận bồi canh khẩn bổn hương hậu thế tại thiên thu.

Cặp câu đối trước cổng đình làng Cổ Thành: 嫩枚日月門城千秋永/ 江永水和柱表百世歌: Non Mai nhật nguyệt môn thành thiên thu vĩnh/ Giang Vĩnh thuỷ hoà trụ biểu bách thế ca.

Cặp câu đối ở đình làng Đâu Kênh viết: 梅山懍烈對面結同鄉/ 捍水威丰中心炤五族: Mai sơn lẫm liệt đối diện kết đồng hương/ Hãn thuỷ uy phong trung tâm chiếu ngũ tộc.

Câu đối ở  đình làng Mai Xá Thị viết: 枕後梅仙山鎮堡/ 按前捍越水潮迎: Chẩm hậu Mai Tiên sơn trấn bảo/ Án tiền Hãn Việt thuỷ triều nghinh.

Người dân trên các làng dọc sông Hiếu nhiều khi lại lấy Non Mai/Mai Lĩnh thay cho Tá Linh và coi Non Mai - Sông Hiếu là cặp đôi sông núi biểu trưng của tiểu vùng này. Trước đình làng Nghĩa An (phường Đông Thanh) có 2 cặp câu đối: 孝水長流千秋在/ 西嶺高山萬古留: Hiếu thủy trường lưu thiên thu tại/ Tây Lĩnh cao sơn vạn cổ lưu. Hoặc: Tô bồi rực rỡ ngời SÔNG HIẾU/ Trang điểm huy hoàng rạng NÚI MAI.

Bên trong nhà thờ họ Hồ Sĩ làng Nghĩa An còn có câu: 孝水 克含千古月/ 梅山長對億年聲: Hiếu thủy khắc hàm thiên cổ nguyệt/ Mai sơn trường đối ức niên thanh.

Bài thơ “Cảm đề tam quan” ngợi ca địa cuộc ngôi đình làng An Lợi ghi ở nghi môn:

“Uy nghi hướng vọng Mai sơn đỉnh

Trầm mặc trông ra Hãn thuỷ dòng

Nối gót người xưa bồi phúc địa

Dân AN, vật LỢI thoả tấm lòng”.

Nhà thơ Phan Văn Hy cảm nhận về sông Hãn - non Mai như một bức tranh thuỷ mặc mà tạo hoá đã khéo vẽ nên để mỗi lần thưởng ngoạn, lữ khách càng thêm phần thanh thản, gạt bỏ mọi ưu tư, phiền muộn của cuộc đời:

“Ngọn bút thiên công khéo vẽ vời

Bức tranh tuyệt diệu đãi người chơi

Gió Âu, mưa Á tuy dồn dập

Nguồn Hãn, non Mai chẳng đổi dời

Ca hát bên sông dòng nước chảy

Thấp cao trước bãi bóng trăng ngời

Mãi vui chung chén xem phong cảnh

Lững quách hơn thua cái chuyện đời”.

Sông Hãn - Non Mai đã đi vào văn hóa như thế đó!

_________________________________________________

(8) Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðại Nam nhất thống chí. T1. Sđd, tr. 135.

(9) Bản đồ được lưu giữ tại họ Nguyễn Đức, phường Đúc Huế.



 

READ MORE - NON MAI (Kỳ 2/2) - Yến Thọ