 |
Trung tâm Văn hóa Thể thao huyện Châu Đức
|
KÝ ỨC LA VÂN (1)
Khê Giang
La Vân cuối thập niên 70 của thế kỷ trước là một ấp của xã
Ngãi Giao, “thủ phủ” này cùng với những ấp như Vinh Thanh, Đường Cùng, Kim
Long, Quảng Thành, Xà Bang, Láng Lớn, Cù Bị… tạo nên một xã có diện tích lớn nhất
huyện Châu Thành (Đồng Nai) thời bấy giờ.
Nguyên thủy La Vân không hề thuộc về Ngãi Giao mặc dù là hai
địa bàn giáp ranh. Theo “Địa bạ triều Nguyễn” được lập vào năm 1846 “ Phần tỉnh
Biên Hòa” thì Ngãi giao thuộc Tổng Long
cơ trong khi thôn La Vân lại thuộc tổng An Trạch. (Tổng Long Cơ bao gồm 03 xã
và 04 thôn: xã Ngãi Giao, Bình Ba, Thới Giao cùng các thôn: Bình Dã, Điền Dã, Tịnh
Ba và Khánh Hội; Tổng An Trạch có 02 xã và 06 thôn: xã Bàng La, Hách Dịch cùng
các thôn: Câu Bị, Câu Khánh, Khánh Bình, La Vân, La Sơn và Phước Chí). Phải đến
năm 1917 khi An Trạch và Long cơ hợp nhất lúc này La Vân và Ngãi Giao mới cùng
thuộc tổng Cơ Trạch
 |
Thị Trấn Ngãi Giao. Ảnh từ baobariavungtau.com.vn
|
1. Những sắc màu cư dân
Dân cư La vân ngoài người bản địa Châu Ro còn lại hầu hết là
dân ngụ cư, họ đến từ rất nhiều vùng miền qua những đợt di dân. Một số cư dân từ
nhiều vùng miền đến làm đồn điền cao su từ thời Contra, như gia đình ông Cai
Giang từ miền Bắc, ông Đội Hoành có gốc gác từ làng Phú Nông, Phong Điền, Thừa
Thiên, ông Võ Viên đến từ Làng Đâu kênh và ông Sáu Liên đến từ làng Đại Lộc cả
hai đều thuộc huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị…
Sau đó là phong trào Dinh điền vào khoảng năm 1961. Trong
dòng chảy di cư này có gia đình ông Câu gốc gác từ làng Văn Quỹ, Hải Lăng, Quảng
Trị. Nhiều gia đình có gốc gác từ Quảng Nam cũng di dân theo chương trình này,
ban đầu họ đến định cư tại Ba Mẫu, nhưng chỉ sau vài năm do thiếu an toàn vì
chiến sự, họ lại được đưa về La Vân…trong số này có gia đình ông cả Tru, ông Toại,
bà Kê, bà Thanh, bà Sáu Dậu ở xóm Chợ cũ (quanh đình La Vân)
Ngoài những cư dân vào từ miền Trung số gia đình trong tỉnh từ
Hòa Long, Long Phước đã đến La Vân khai khẩn lập nghiệp như gia đình ông bà Sáu
Cứng, anh em ông Tư Cam.…gia đình bà Năm Kim Hoa từ Long Điền lên La vân bán
hàng sành sứ chum vại. Một số có gốc gác từ Tây Ninh cũng tìm về đây tìm kế
sinh nhai như gia đình ông Tư Mua, ông Ba Tràng, ông Năm Bằng, ông Tư Dung, Bảy
Phương…Đơn lẻ một một số gia đình di dân từ Trà Vinh lên như ông Tư Hưng có gốc
gác là người Khơ me, bà Hai Thương ở Sài Gòn,
Một số cư dân gốc Cam Lộ Quảng Trị di dân vào Hàm Tân vào năm
1972, đầu những năm 1980 cũng đã chọn La Vân là vùng đất sinh kế, trong số này
có gia đình ông Ngôn, ông Đàm, ông Phụng…
Đợt di cư đến La Vân hùng hậu và quy mô nhất có lẽ là giai đoạn
chuyển tiếp từ những năm cuối của thập niên 70 đến những năm đầu của thập niên
80, trong số này hơn 70% là người Quảng Trị đa số là từ Hải Lăng, có làng đi đến
cả hàng chục gia đình như làng Câu Hoan, làng Diên Sanh, Trường Sanh, Văn Trị,
Văn Quỹ, Trà Trì, Trà Lộc, Mỹ Chánh… Cư dân Thừa Thiên chiếm khoảng hơn 10%,
đông nhất là làng Mỹ Xuyên, Mỹ Lợi…, phần còn lại là những địa phương khác.
 |
Làng quê xã Cù Bị, huyện Châu Đức.
Ảnh từ baobariavungtau.com.vn
|
|
2. Bức tranh nông thôn
La Vân vào thời điểm này như một bức tranh với hai gam màu chủ
đạo là xanh và đỏ. Màu xanh bạt ngàn của rừng cao su, và những vuông rừng còn
sót lại, màu đỏ là màu đất Bazan bao
trùm lên nhà của, đường sá, nương rẫy vườn tược.
Vào mùa mưa những con đường đỏ trơn trợt lầy lội mang đất đỏ
bò vào tận nhà, hai phương tiện phù hợp nhất khi lưu thông vào nương rẫy là ngồi
trên thùng xe bò hoặc cuốc bộ bằng chân trần. Giày, bốt là hàng quá xa xỉ còn
dép thì không thể xử dụng được vì chỉ cần nhấp vài bước là khối lượng đôi dép
đã tăng gấp đôi (do đất bám dính), không sớm đứt quai thì cũng chẳng nhấc chân
lên nỗi! đoạn đường nào ngập ngụa, sụt lún phải đi vòng men qua vườn tược người
dân.
Những lúc đi công chuyện, đi chợ trong ấp cứ vài chục mét phải
dừng lại để xỉa đất ra khỏi dép, nhiều người vẫn thường xuyên dự trữ vài cọng kẻm
trong túi để phòng ngừa đứt dép giữa đường. Tất cả xe đạp muốn lưu thông đều phải
thực hiện chế độ không “quần áo”: Không chắn bánh, không chắn xích, không
phanh…Ngay cả nền nhà, dăm bữa nửa tháng phải dùng cuốc để san phẳng những u nần,
mô đất đã vón kết thành u cục qua thời gian.
Mùa nắng, từng cơn gió miệt mài thốc bụi đỏ tràn ngập mọi
nơi, khi một chiếc xe máy chạy qua là không thấy người đi trước mình cho dù chỉ
là một khoảng cách nhỏ. Nhà cửa, bàn ghế, cây cối… tất cả đều đỏ quạch, để giảm
sự nhọc nhằn trong việc giặt giũ ít ai may áo quần màu sáng, dù biết đó là những
sắc màu nền nã thanh lịch.
La Vân sau chiến tranh ngoài con đường nhựa độc đạo mang tên
tỉnh Lộ 2 sau này là Quốc lộ 56 chạy xuyên qua thôn, nối hai vùng Bà Rịa - Long
Khánh và một con đường nối hông của con tỉnh lộ này trườn vào đến Xuân Sơn, tất
cả còn lại chỉ là những con đường đất bazan đỏ quạch len lỏi qua những vườn cao
su, hay những khu rừng um tùm rậm rạp. Gọi là đường nhựa nhưng thật sự chúng đã
trở thành con đường da beo khi trên mình mang quá nhiều thương tích, những ổ
trâu ổ voi bị lở lói do bom đạn nay giờ tiếp tục oằn mình dưới sự ngấu nghiến
hàng ngày của những cổ xe bò bánh sắt ngày đêm ì ạch nối đuôi nhau trên dòng
sinh kế.
3. Cuộc bươn chải mưu sinh
Đình chợ La Vân được xây dựng từ năm 1967 nằm lọt thỏm cách
con lộ khoảng dăm chục mét, chợ chỉ nhóm vào buổi sáng. Do chật hẹp nên hàng
quán bày bán bò ra tận mép đường, dẫu trống huơ trống hoác nhưng đây là nơi ngã
lưng của những gia đình mới đến khi chưa có được một mảnh đất để cắm dùi. Cộng
đồng tạm cư này thỉnh thoảng lại bị giải tỏa và phải vạ vật qua đêm trong các
trường học khi có những đoàn hát về đây lưu diễn, có rất nhiều đoàn trong và
ngoài tỉnh trôi nỗi đến đây, quen mặt nhất là đoàn Tinh Hoa nơi anh em nghệ sỹ
Minh Tiến, Phượng Hằng…cùng với những thành viên gia đình cùng hợp lực biểu diễn.
Cách đình chợ vài chục mét về phía đối diện là con đường
chính của người La Vân đi rẫy vào rừng…Để vào được nơi trồng trọt khai thác này
mọi người phải vượt qua cầu Ông Ép, gọi là cầu nhưng nơi đây chẳng thấy cầu đâu
ngoài một cây cổ thụ bật gốc vắt ngang qua hai bờ về phía hạ lưu còn lại chỉ là
con đường đá và đất. Khi những cơn mưa sầm sập đổ xuống người và mọi phương tiện
qua đây đều phải bó gối ngồi chờ nước rút, rất may cái mưa đặc trưng vùng này
hiếm khi kéo dài quá một giờ.
Đây là đoạn đường khá tấp nập, sáng sớm khi đám gà rừng còn
te te gáy bên hai bờ suối Lúp hàng đoàn người gồng gánh tay rựa tay vác xẹc lai
đi rẩy, tùy mùa hàng đoàn xe bò leng keng nối đuôi nhau chở gỗ, chở bắp ì ạch
băng qua đoạn đường nhọc nhằn này… Vào mùa mưa, mỗi ngày có vài chục chiếc xe
bò mắc lầy, việc điều một chiếc xe bò băng qua đoạn suối chỉ vài chục mét này
có khi phải mất cả buổi nếu gặp lúc bò trở chứng hay thiếu sự cứu viện của những
“chiến binh bò” khác…
Dân La Vân đa phần quần cư ở phía đông lộ, phía tây là vườn
cao su của ông Hồng Lan kéo dài từ nhà ông Cai Phong đến tận Cây Dầu, mặt hậu
khu vườn loang dài đến tận suối Lúp. Xen lẫn giữa khu rừng cao su Hồng Lan là
những vườn cây nhỏ trồng mít, sầu riêng… những khu vườn này sau khi được đông đảo
người dân đến định cư đã trở thành địa danh mới của La Vân như Xóm Mít, xóm Sầu
Riêng…
Ngã ba La Vân lúc này có một ngôi chợ khá đặc biệt thường tấp
nập vào mỗi sáng sớm, đó là chợ xe và chợ người. Chợ xe của người Bình Giã và
chợ người là dân nhập cư La Vân. Hai chợ này hoạt động dạng như hoán đổi vị trí
nhu cầu cho nhau, người La Vân thuê xe bò để chở nông sản sau thu hoạch và người
Bình Giã thuê nhân công của La Vân để làm nương rẫy. Chợ xe là những chiếc xe
bò đôi hay bò éc nối nhau nép mình bên vệ đường, xếp hàng từ trước nhà ông Năm
Ngân cho đến hông nhà bà Bảy Phương. Chợ người nhóm họp phía đối diện chợ xe dưới
gốc bông gòn cổ thụ của quán Bà Ngơ, một ngôi quán kiêm nhiều chức năng: quán
ăn, quán nước, bán trái cây, hàng tạp hóa, nơi vá ruột xe hơi, thậm chí có cả một
bưu điện chợ trời nơi đặt hòm thư mở, nhận thư từ muôn nơi chuyển đến.
(Còn tiếp.)
Khê Giang - Lê Văn Huấn