Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, October 24, 2023

ÁI TỬ QUA CÂC THỜI KỲ LỊCH SỬ - Lê Quang Thái

 

Chùa Sắc Tứ ở phía Tây Nam thị trấn Ái Tử

Ái Tử qua các thời kỳ lịch sử

Lê Quang Thái


Địa danh Ái Tử đã được ghi vào chính sử cho đến nay đã được 577 năm, đánh dấu một cái mốc lịch sử quan trọng trong đấu tranh của người dân từ các tỉnh phía Bắc, kể từ đèo Ngang trở ra, đến đây theo từng triều đại để dựng tỉnh lập nước sau đám cưới của Huyền Trân công chúa năm Bính Ngọ (1306).

Tác giả LÊ QUANG THÁI
(1942-2020)
Nguyên quán: Cổ Thành, Thị xã Quảng Trị,
-Cử nhân Giáo khoa Việt văn (Đại học Văn khoa Huế)
-Cử nhân Giáo khoa Triết học (Đạo học Văn Khoa Huế)
-Cao học Tâm lý Giáo dục (Đại học Sư phạm Sài Gòn).


Sử chép rằng, năm Mậu Ngọ 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hoá đóng tại gò Phù Sa, xã Ái Tử thuộc huyện Đăng Xương (đời Lê là Võ Xương) tức huyện Triệu Phong ngày nay. Sau đó người bình dân bản địa quen gọi là Ái Tử bằng cái tên sâu lắng tình quê hương là KHO CÂY KHẾ (1).

Năm Giáp Tý, 1744, chúa Nguyễn Phú Khoát xưng hiệu là Võ Xương, chia xứ Đằng Trong ra làm 12 dinh, Ái Tử trở thành Cựu Dinh và Phú Xuân trở thành Chính Dinh. Địa danh Ái Tử nghiễm nhiên được nâng cấp và gắn liền với tên gọi mới là Dinh Cát, thủ phủ của một đơn vị hành chính thời phong kiến ngang hàng với Phú Xuân. Chắc rằng thời kỳ này là thời hưng dậy, đắt giá của Ái Tử. Dinh Cát mang tên mới Phủ TOÀN THẮNG khi đã dời sang địa điểm ở làng Trà Bát. Nhiều giai thoại mang tính huyền sử đã gắn liền với tên gọi mới này. Biên cương của tổ quốc dưới thời các chúa Nguyễn dần dần đến Cà Mau dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Đất cũ đãi người mới. Tình đất ở đó mà nói theo cách dân giã là Ái Tử có ngạch đất tốt: trung dũng, hiếu học, tảo tần, tu hành,...

Theo sử gia Trần Trọng Kim, năm Canh Ngọ 1570, Thuỵ Quận Công là Nguyễn phúc Nguyên con trai thứ 6 của Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng dời dinh sở về đóng ở làng Trà Bát, phía đông giáp hai làng Đâu Kinh (nay là Đâu Kênh) và Hoa La (sau đổi thành Bích La). Trà Bát được đổi thành Trà Liên vì kỵ huý, ở đây còn di tích của Phủ cũ TOÀN THẮNG uy nghi một thời gắn liền quyền uy của phủ chúa với những truyền thuyết mang tính chất sử thi. Nhờ nữ thần hoặc nhân dân giúp kế mà chúa Nguyễn đánh tan quân Trịnh. Thời kỳ này các chúa Nguyễn đã dùng chiến thuật tình báo để chống lại đối phương vốn không được lòng dân.

Ngày nay, con cháu của các vị tổ khai canh của các họ Trịnh, họ Bùi vẫn sinh sống, con cháu sây cành sum sê mặc dù cho bom đạn đã trút xuống và những điều kiện khó khăn xã hội bức bách người dân phải tìm đường đi khắp mọi miền đất nước để lập cơ nghiệp mới. Những vị tổ đầu tiên này là những người góc ở Tống Sơn, Thanh Hoá; Nghệ Tĩnh và các tỉnh ở Bắc Hà theo cùng với quân sĩ của Nguyễn Hoàng từ buổi đầu xuôi buồm thuận gió về Nam.

Về cuối đời của chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc Thuần con thứ 16 của Võ Vương mới 12 tuổi lên kế vị, quốc phó Trương Phúc Loan chuyên quyền, lộng hành làm bậy, lòng tham vô đáy cố vơ vét cho đầy túi. Gieo gió gặp bão, tháng 9 năm Giáp Ngọ, 1774, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 34, Trịnh Sâm cử nội thần là Quốc Lão Việp quận công Hoàng Đình Việp tức Hoàng Ngũ Phúc làm Thượng tướng kéo ba vạn tinh binh tiến đánh miền Nam (2).

Trước bức thế của quân Nam triều bàn nhau bắt quốc phó gian ác đóng cũi đưa lên xe, giải đến nơi đóng quân của Hoàng Ngũ Phúc ở Quảng Bình dâng nộp. Quân Trịnh thừa thắng tiến vào đất Thuận Châu một cách dẽ dàng, Hoàng Ngũ Phúc đóng quân ở Võ Xá truyền hịch đi khắp miền vào tận Phú Xuân. Lú đại binh chuyển vào đóng ở đất Ái Tử, có một thầy đồ già, người huyện Đăng Xương tên là Trần Duy Thông đón đường rước quân và dâng thơ rằng:

Cùng truyền đống trập oanh lôi dạ

Mãn địa khô miêu đắc võ thì

Nguyện chỉ Phú Xuân thôi tiến phạt

Binh cơ quý tộc bất nghi trì

dịch:

Sâu co gặp sấm vừa vang tiếng

Lúa héo chờ mưa đã được thì

Xin thẳng Phú Xuân mà tiến tới

Việc binh nên chóng chớ nên trì (3)

Bản lĩnh chơn chất, tính nết thuần lương của người dân Thuận Châu được bộc lộ rõ nét qua thần khí của tứ thơ. Có thể xem vị đồ già thức thời, vì dân mà đóng đúng vai trò của kẻ sĩ, mạnh dạn đứng lên nói hết thảy tâm tư nguyện vọng chính đáng của người dân đã quá chịu đựng áp bức bấy giờ:

“Quân Nguyễn không quen đánh bộ, chỉ thuỷ quân là giỏi. Đại quân ở xa tới xin đừng tranh ở chỗ sở trường của họ” (4)

Trước thái độ chính trực, căm ghét bạo tàn của vị đồ già, Thượng tướng Hoàng Ngũ Phú đáp lễ bằng cách xin giữ thầy lại ở trong quân ngũ và sau cùng là làm chức Câu kê.

Lê Quí Đôn, chứng nhân thời cuộc một thời, lúc giữ chức Tham hiệp trấn quân cơ trấn Thuận Hoá, bên gác Triêu Dương cạnh bờ sông Hương ở xã Kim Long, đã ghi lại dấu tích còn lại của Ái Tử sau 218 năm ngày Nguyễn Hoàng chon cuộc đất Ái Tử làm điểm dừng chân tiến về Nam:

“Dinh Cát ở đầu núi xã Phúc Toàn do Thuỵ quận công lập ra. Trấn dinh cũ của họ Nguyễn ở phía tây sông Ái Tử, từ dinh mới ra đường cái, sang cầu Ái Tử đi về tay trái nữa khắc là đến nới, nhà quân lính vẫn còn, tức là chỗ dinh của Đoàn quốc công Nguyễn Hoàng khi mới vào trấn. Phía đông sông ấy là hai xã Đâu Kinh và Hoa La...” (5)

Từ giữa thế kỷ 16 trở đi, Ái Tử bắt đầu đi vào thời kỳ xây dựng dinh phủ, các chúa Nguyễn đặt quan chức cai trị theo cơ cấu hành chính riêng biệt khác hẳn với nền hành chính ở phía bắc đèo Ngang.

Nền hành chính đương thời là nên hành chính của một xã hội văn hoá nông nghiệp, quyền lực tập trung về một mối nhưng biên chế dân sự không nặng nề:

“Đoàn quốc công đóng ở Dinh Cát, sau sai quan đóng giữ gọi là Dinh cũ, ở xã Ái Tử, huyện Đăng Xương, chỉ có một lệnh sử, Câu kê, Cai hợp một chức một người, Thủ hợp một người, Lại viên 20 người, giữ viện từ tụng văn án, sổ hộ khẩu và binh suất do một viên Ký lục và viên Thư ký đứng đầu; lại thu tô ruộng hai huyện Hải Lăng, Đăng Xương, xét hỏi việc từ tụng của quân dân” (5)

Thuở ấy ngoài chuyện lo chăm chút công việc đồng áng, chăn nuôi, người dân xã Ái Tử đã biết nấu được đường trắng và đường đen. Công nghiệp bước đầu gắn liền việc trồng mía để lấy mật đường chi dùng và nước đường để trộn với hồ xây dựng thành trì, kho tàng, dinh thự. Các làng bên cạnh bờ sông Thạch Hãn là Xuân Yên, Trung Kiên có lò vô hàu; An Đôn, Thượng Phước cung cấp gỗ từ thượng nguồn sông Thạch Hãn đổ về.

Trên đồi thoai thoải ở phía tây bắc giáp Nại-Cửu thường thuận lợi cho việc chăn nuôi bò. Và bò bê Ái Tử đã nổi tiếng một thời, lai buôn từ phương xa đến bán buôn, trao đổi, chon giống.

Đầu niên hiệu Gia Long, vua đổi Cửu dinh thành dinh (doanh) Quảng Trị và lại chon đất phường Tiền Kiên (so với thời điểm bấy giờ là một làng mới) để xây dựng thành trì. Năm Gia Long thứ 18, 1809 mới dời tỉnh lỵ về địa điểm mới ở làng Thạch Hãn, huyện Hải Lăng.

Ái Tử trở thành tổng kho chứa lương thực dự trữ. Mục lục châu bản triều nguyễn còn ghi rõ ràng của kho Ái Tử qua một bản lệnh truyền thời Gia Long , ngày 20 tháng giêng năm thứ 4,1805:

“Công đồng truyền=dinh Quảng Trị đặng rõ: Kho Ái Tử có 5 toà, cộng 126 gian bỏ trống, đổ đầy lúa hết 88 gian, chỉ con 38 gian bỏ trống, nay nên làm thêm hai toà công khố, mỗi toà 22 gian để tiện trữ lúa năm nay” (7)

Ái Tử là trung tâm của dinh Quảng Trị, nơi thuận lợi cho việc tập trung lúa là tổng kho dự trữ. Việc vận chuyển lương thực, hàng hoá về tổng kho theo đường bộ và đường sông khá tiện lợi - bổi lẽ Ái Tử nằm trên đường thiên lý.

Ngày nay trên dãi đất trải dài dọc bờ bắc sông Thạch Hãn vẫn còn những kỳ tích do bàn tay của các nghệ nhân và công sức đóng góp lớn lao của dân chúng vì lòng ngưỡng mộ đạo lý và nghĩa khí của tiền nhân.

Thuở mới vào lập nên xứ Đằng Trong, các chúa nguyễn đã cho dựng chùa Tịnh Quang ở đất Ái Tử và sau đó chẳng bao lâu được phong là SẮC TỨ TỊNH QUANG TỰ mà ngày nay biển gạch vẫn còn nét vàng son. Dân gian quanh vùng và cả tỉnh quen gọi là chùa SẮC TỨ ( có nghĩa là chùa được vua ban sắc dụ làm Quốc Tự).

Cũng liền theo dãi đất toạ nên cơ cuộc vuông tròn buổi đầu này, chúa Nguyễn cho dựng Văn miếu ở làng An Đôn, năm Gia Long thứ 13,1814 dời đến xã Thạch Hãn, huyện Hải Lăng, năm Minh Mạng thứ 21,1840, lại dời về chốn cũ (8)

Lại có đền thờ thần TRẢO TRẢO LINH THU PHỔ TRẠCH TƯỚNG HỰU PHU NHÂN ( trảo trảo là tiếng nước xao dòng sông). Cứ theo sự tích thì buổi đầu Đoan quận công đến trấn giữ Ái Tử, tướng nhà Mạc là Lập Bảo đem quân đánh đuổi. Năm 1572 Nguyễn Hòng đóng quân trên bờ sông Ái Tử, ban đêm ở dưới sông có tiếng nước động nghe “TRẢO TRẢO”. Đêm ấy Đoan quốc công mộng thấy một người đàn bà đẹp xin định “mỹ kế”. Khi thức giấc, nhớ lời thần bảo lấy “mỹ kế” thì phải chăng khiến dùng mỹ nhân kế để đánh lại. Tức thì có lệnh khiến nàng hầu là Ngô thị qua dụ Lập Bảo mời sang bàn luận giảng hoà. Lập Bảo vốn hiếu sắc thấy nàng có sắc đẹp liền mê say nhận lời nên bị phục binh dàn sẵn giết chết (9)

Hơn 200 năm sau sông nước Ái Tử vọng nghe tiếng dậy sấm: Tháng 5 năm Bính Ngọ niên hiệu Cảnh Hưng 47 (1786), Nguyễn Huệ đánh chếm Phú Xuân, các tướng sĩ đóng ở các đồn Cát Doanh (Ái Tử) và Động Hải (Đồng Hới) điều khiếp sợ và tan rã hàng ngũ.

Đến năm Thiệu Trị thứ 2,1842 vua ngự giá Bắc thành đã đi qua sông Ái Tử có đề thơ, sau này được chạm vào bia đa dựng ở phía tả bờ sông. Tháp tùng đoàn hộ giá, vua Thiệu Trị có cử hai con trai (con thứ 10 và 12 của vua Minh Mạng) là hai nhà thơ lớn Tùng Thiện Vương, Tương An quận vương (quê ngoại huyện Gio Linh, con bà Hồ An Tân) đều đươc sung chức Ngự tiền hộ giá (10)

Đối với lịch sử đạo Công giáo thì Dinh Cát là hạt Dinh Cát Cựu dinh Ái Tử tức tỉnh Quảng Trị sau này, các Linh mục giòng Tên đã đến truyền giáo khoảng đầu thế kỷ 17. Trụ sở hạt Dinh Cát ở gần dinh Ái Tử và Trà Bát. Tháng 12 năm 1689, linh mục Cô sơn cô Lân được chính thức cử làm cha sở hạt này. Trước đó 5 năm, ngày 7-2-1694, Linh mục Lân đã trình với Thánh bộ truyền giáo rằng: “Họ Nhu Lý, xứ Dinh Cát có 50 người Công giáo” (11)

Chỉ riêng Họ Nhu Lý (gần Cửa Việt có 50 dân giáo, không rõ toàn hạt Dinh Cát có bao nhiêu tín đồ Công giáo. Gần Dinh Cát có trụ sở của giáo xứ Đồng Giám. Có thể xem Dinh Cát là trung tâm Công giáo đầu tiên trên đất Quảng Trị.

Cạnh xã Ái Tử về phía thị xã Quảng Trị là làng Nhan Biều có một bãi cát trải dài và rộng lan ra tận bờ sông. Dưới thời nhà Nguyễn, Nhan Biểu là bãi chém, chỗ hành hình tội nhân. Trông qua bờ Nam sông Thạch Hãn là bến Hộ, bến Vườn Hoa thuộc xã Thạch Hãn, đò Nhan Biều sớm hôm đưa khách sang sông đi chợ thị xã Quảng Trị.

Bên cạnh làng Ái Tử là lang Phước Toàn, sau đổi thành Phước Mỹ. Có thuyết nói rằng vì sau giấc mộng được giang thần sông Ái Tử mách kế diệt được tướng nhà Mạc là Lập Bảo nên Phước Toàn được đổi thành Phước Mỹ. Ngày nay vẫn còn duy trì bến đò An Mô đưa dân miệt đồng bằng phủ Triệu sang sông Thạch Hãn để thâu ngăn đường đi Ái Tử, Đông Hà.

Năm Thành Thái thứ 18, 1906 vẫn còn bến đò Ái Tử: tả ngạn là làng Ái Tử, Hữu ngạn là làng Phước Mỹ. Đường xe lửa chạy qua địa phận làng song song với đường bộ quốc lộ I, cầu sắt Ái Tử có trước năm 1906 dài 41 thước 20 thông qua làng Hà Xá tiến ra ga Đông Hà.

Đông Hà - Quảng Trị, hai thị xã, hai tỉnh lỵ, mới và cũ cách nhau chưa đầy 12 cây số nằm trên quốc lộ I. Ái Tử chưa nằm hẳn ở vị trí trung tâm của hai tỉnh lỵ cũ và mới, mà lại nằm chếch hướng và thị xã Quảng Trị, từ trên máy bay trông xuống, Ái Tử và thị xã Quảng Trị chỉ cách nhau một giòng sông, vốn là thủ phủ đầu tiên của xứ Đằng Trong.

Quốc lộ I ngày nay có tiền thân là Thiên lý lộ đời Trần đã vạch đôi làng Ái Tử thành hai phần mất cân đối, phía Đông Nam là cả một bãi cát trải dài ra đến tận bờ sông Thạch Hãn, phía Tây Bắc là khu dân cư ăn thông với triền đồi thoai thoải giáp Nại Cửu phường.

Ái Tử, Đông Hà xưa kia đều là làng xã cả, kéo dài từ phía bên kia bờ Bắc sông Thạch hãn cho đến địa giới giáp ranh với các huyện Cam Lộ, Gio linh thuộc tổng An Đôn nổi tiếng là xứ có núi rú: Rú An Đôn, cồn Bái Thượng. Sau này qua bao biến đổi, xã Đông Hà được tách ra nhập vào huyện Cam Lộ và từ đó cơ ngơi đi lên dần dần. Và trong khoảng 50 năm trở lại, Đông Hà trở thành một đơn vị hành chính nhảy vọt khá nhanh. Từ làng xã lên thị trấn, lên quận, lên thị xã, lên tỉnh lỵ. Đất Đông Hà có cánh đi lên như diều gặp gió nhưng tiếc thay là còn thiếu sân bay theo đúng nghĩa của nó.

Dưới tiêu đề TUẦN LỄ DÀI NHẤT CỦA SƯ ĐOÀN TRỪNG GIỚI, Lê Hiếu Ánh trong báo Tuổi trẻ chủ nhật số 1690 ra ngày 29-4-1990 viêt:

“Năm 1971...Theo lệnh Bộ Quốc phòng, quân đoàn i gấp rút hình thành Sư đoàn 3 Bộ binh với thành phần chắp vá. Riêng binh lính đại đa số là lao công đào binh và quân phạm hoặc thuộc thành phần vô kỷ luật. Tất cả được đưa về Ái Tử để sớm thành sư đoàn cuối cùng của quân đội Sài Gòn”.

Cũng trong năm đó, một số binh sĩ trung đoàn 56 (đầu hàng ở cụm căn cứ Tân Lâm) do Trung tá Phạm Văn Đính làm Trung đoàn trưởng đã đào hầm phía sau chùa Ái Tử, gặp hầm chôn xác một con voi. Theo tìm hiểu sơ bộ cho biết xác con voi này được chôn thừ thời chiến tranh Trịnh Nguyễn (1627-1672). Và về sau trung đoàn này lấy quân hiệu VOI TRẮNG.

Từ tháng 3-1972 Ái Tử - Quảng Trị đã sớm được giải phóng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười phụ trách xây dựng đã đến thăm nhân dân Quảng Trị.

Thời đó và tiếp tụ sau này người ta đã “làm thịt” sân bay, căn cứ Ái Tử, phân tán đi bốn phương tám nẻo; chủ thể làm thịt là dân có, bộ đội có, cơ quan nhà nước cũng tham dự chia phần. Nguyễn Quận, người Hải Lăng dưới triều Lê Thánh Tôn vào đánh Chiêm Thành chỉ lấy một cây cờ lớn. Mấy ai nghĩ tới gương sáng của cố nhân lúc chia phần này.

Đau lòng vì thấy những phi đạo có giá trị bị phá, đồng chí Đỗ Mười đã phê phán, đại thể nói rằng: có lẽ các đồng chí và nhân dân cứ đinh đinh rằng không bao giờ ta sử dụng sân bay trên đất Quảng Trị này.

Vâng, ngày nay Quảng Trị đang ở thời kỳ xây dựng tập trung cao điểm không biết các cấp lãnh đạo có hướng đầu tư lâu dài thiết thực để cho Quảng Trị mang tính cách chiến lược, lịch sử, kinh tế và văn hoá chưa. Lẽ nào bước vào năm 1990 (đã hết quý II) nói chuyện năm du lịch mà không đặt vấn đề cho rõ Là QUẢNG TRỊ CẦN CÓ PHI TRƯỜNG (dù là nhỏ đi nữa) một khi công nghiệp du lịch của tỉnh Quảng Trị có thể tạo ra tiền của để xây dựng tỉnh to đẹp hơn, đàng hoàng hơn.

Lẽ nào cứ để vùng đất này thanh bãi cát để “cuốn theo chiều gió.”.

L.Q.T

_________________

(1) Trần Trọng Kim, Việt Nam sủ lược, Sài Gòn, Tân Việt (in lần 6) 1958, trang 288.

(2) Bùi Dương Lịch, Lê quí dật sử, Phạm Văn Thắm dịch, nxb KHXH – Hà Nội 1978, trang 28.

(3), (4) Lê Quí Đôn, phủ biên tạp lục nxb KHXH, Hà Nội, 1977, trang 313.

(5) Lê Quí Đôn,sđd, trang 109.

(6) Lê Quí Đôn,sđd, trang 145

(7) Mục lục châu bản triều Nguyễn, tập thứ I, Triều Gia Long, UB phiên dịch sủ liệu viện Đại học Huế, 1960, trang3. Cộng đồng triền là các đạo mệnh lệnh hành chính truyền đi.

(8) Đại Nam nhất thông chí, tỉnh Quảng Trị, tập số 9, Nguyễn Tạo dịnh, Sài Gòn, 1961, trang 49.

(9) Xem Trần Trọng Kim, Sđd tr.288 và Đại Nam nhất thống chí, Sđd tr.49,50. Về sau Nguyễn Hoàng được tôn trọng là Thái Tổ nên mới gọi là vua.

(10) Hoàng Trọng Thược, Hương Bình thi phẩm, Đà Nẵng, 1962 tr.9 và . 41

(11) Nguyễn Văn Ngọc, Lịch sử giáo xứ Như Lý, Huế, 1970, tr.6.


(Tạp chí Cửa Việt, Số 4, 1990.)


READ MORE - ÁI TỬ QUA CÂC THỜI KỲ LỊCH SỬ - Lê Quang Thái

CUỐI CHIỀU | GÓC KHUẤT - Chùm thơ Đàm Ngọc Năm


Nhà thơ Đàm Ngọc Năm



 CUỐI  CHIỀU 


Em đưa vạt nắng sang sông 

Cuối chiều nghiêng bóng giữa dòng nước trôi

Một bên lở, một bên bồi 

Bên bồi em chọn, còn tôi đứng nhìn.

Mơ gì nơi ấy hả em?

Mình qua cái tuổi hồn nhiên rồi mà.

Nghĩ bên nhau đến tuổi già

Ngờ đâu bên đó lại là trong em

Một thời ta sống bình yên 

Vui mà, sao lại bỏ quên cuộc tình?

Lên đò rồi, nhớ quên anh 

Đừng quay lại nhé, an lành nhé em!



GÓC  KHUẤT 


Chưa hề ngỏ ý cùng em 

Một tiếng “yêu” cũng bỏ quên ở nhà

Chưa hề “ghẹo nguyệt, trêu hoa”

Sao em vội nghĩ anh là của em?

Giữa dòng đời, lạ và quen 

Bình thường là thế, buồn phiền làm chi.

Không biết em đang nghĩ gì

Với anh đâu có “đường đi, lối về”

Hai ta chưa một câu thề

Làm sao em đã nghĩ suy cuộc tình?

Xin em đừng vội trách anh

Với anh chỉ có gia đình trong tim.

Thôi đừng nhầm nữa nhé em 

Vô tư đi, mình chỉ quen thôi mà!


ĐÀM NGỌC NĂM

Nghệ An

READ MORE - CUỐI CHIỀU | GÓC KHUẤT - Chùm thơ Đàm Ngọc Năm

Monday, October 23, 2023

ĐỌC “CÁNH CÒ QUA SÔNG” THƠ TRẦN MAI NGÂN - Châu Thạch


CÁNH CÒ QUA SÔNG
 
Chiều nay mênh mông mênh mông
Cánh Cò trắng bay qua sông qua sông
Nước lũ tràn về ngập đồng
Cánh Cò bay trong bão giông một mình…
 
Đôi cánh chao nghiêng tội tình
Chở lao đao nỗi buồn in bóng nước
Thân Cò lặn lội sau trước
Thương sáng chiều trăm vết xước đường bay…
 
À ơi… đôi cánh chẳng may
À ơi… chập chùng đường dài quạnh quẽ
Cánh Cò về - con chờ mẹ
Đường chông gai mẹ mạnh mẽ vượt qua…
 
 
Chiều nay mênh mông mênh mông
Cánh Cò trắng bay qua sông qua sông…

                                          Trần Mai Ngân


ĐỌC “CÁNH CÒ QUA SÔNG” THƠ TRẦN MAI NGÂN
                                                         Châu Thạch
 
Trời sắp vào đông, mưa gió đã 10 ngày, lũ lụt tràn về từ Nghệ An cho đến BÌnh Thuận. Nằm đọc bài thơ “Cánh Cò Qua Sông” của Trần Mai Ngân, tự nhiên mắt tôi rớm lệ khi hình dung cánh cò bay qua sông trong mênh mông bão giông. Tất nhiên thương cánh cò cũng có, nhưng tôi liên nghĩ đến những người bạn gái vong niên của mình, những cô em gái thật tài hoa và đẹp, hát giỏi thơ hay nhưng cuộc đời không khác gì cánh cò bay qua bão giông trong thơ Trần Mai Ngân.
 
Đọc thơ của Trần Mai Ngân rồi được nghe lời thơ phổ nhạc qua nhạc sĩ Nguyễn Hoàng Nam, tiếng hát Phước Tính, tôi như thấy cánh cò bay thật trước mắt tôi trên cánh đồng nước ngập bao la và qua dòng sông chảy xiết mà thuở xưa tôi đã chứng kiến trên quê hương, nơi vùng đất địa đầu giới tuyến có máu chảy xương rơi từng ngày, làm cho những nàng tiên xứ ấy thành cánh cò trắng qua sông nhiều vô kể.
 
Bài thơ “Cánh Cò Qua Sông” của Trần Mai Ngân như một tờ giấy trắng tinh, trên đó em bé vẽ điểm xuyết cánh cò, dòng sông bằng những nét vẽ đơn sơ có màu tươi thắm. Bài thơ giống như một bức tranh thiếu nhi đoạt giải thưởng cao vì rất ngây thơ, nó mô tả được cái bao la mênh mông của trời đất mưa gió, cái chập chùng lao đao của cánh cò, hàm chứa nỗi quạnh hiu một mình của mẹ, hàm chứa sự mạnh mẽ của mẹ trên con đường đầy chông gai, đầy nhọc nhằn bởi trăm vết xước của đời.
 
Khổ thơ đầu tiên như mở đầu một cuốn phim, chiếu lên màn hình cận cảnh lũ lụt, nổi bậc một cánh cò chao đảo trong bão giông:

Chiều nay mênh mông mênh mông
Cánh Cò trắng bay qua sông qua sông
Nước lũ tràn về ngập đồng
Cánh Cò bay trong bão giông một mình…

Chiều mênh mông/Cánh cò trắng bay qua sông/Nước lũ ngập đồng/Cò bay trong bão giông: Ý thơ quá rõ ràng, không có gì để bàn, nhưng lời thơ quả thật quá thanh tao. Nhìn bức tranh, hình như chỉ có con cò bay, còn tất cả là một màu trắng. Thế nhưng trong màu trắng đó, ta hình dung được cánh đồng mênh mông, nước lũ ngập đồng và dòng sông đang chảy. Nhà thơ không cần tả tiếp, ta cũng thấy được hoàn toàn cánh cò chao đảo, khó khăn như thế nào để bay qua sông. Bốn câu thơ xuất hiện như từ cây cọ trên bàn tay điêu luyện của người họa sĩ tài hoa, làm cho cảnh mênh mông, nước ngập đồng, cánh cò trắng qua sông hiện như thật, thẩm thấu vào lòng ta cảm nhận được bức tranh vô cùng sinh động.
 
Bước qua khổ thơ thữ hai, Trần Mai Ngân không cần tả cảnh nữa, vì cảnh như thế đủ rồi. Bây giờ nhà thơ nói về số phận của con cò:

Đôi cánh chao nghiêng tội tình
Chở lao đao nỗi buồn in bóng nước
Thân Cò lặn lội sau trước
Thương sáng chiều trăm vết xước đường bay… 

Cảnh trong cuốn phim cò trắng qua sông vẫn không thay đổi, nhưng sự chuyển đổi ý thơ và tứ thơ thật tài tình để ta đọc thấy được nỗi đời nặng trên thân cò lặn lội qua sóng nước mênh mông. Câu thơ “Chở lao đao nỗi buôn in sóng nước” vừa vẽ một bức tranh tuyệt đẹp vừa tả hết sự lao đao của cánh cò trong gió. Câu thơ “Thương sáng chiều trăm vết xước đường bay…” tuyệt vời trong ẩn dụ của thơ, đẹp vô cùng hình ảnh của sự khó nhọc được mô tả rất điệu luyện, ý thơ sẽ tự hiển hiện hình ảnh của cò  trong tâm thức sâu nhiệm của mỗi người.
 
Qua khổ thơ thứ ba, Trần Mai Ngân viết về cảm xúc trong nội tâm. Khổ thơ như hoạt cảnh cò đang bay, nó bay trong tiếng vọng thiết tha phát ra từ hậu trường.  

À ơi… đôi cánh chẳng may
À ơi… chập chùng đường dài quạnh quẽ
Cánh Cò về - con chờ mẹ
Đường chông gai mẹ mạnh mẽ vượt qua… 

Nhà thơ đưa vào thơ lời ru “À ơi…” thật thú vị. Đó là tiếng ru của mẹ, đó là tiếng vọng của quê hương. Chỉ cần đọc hai tiếng à ơi nầy, tôi nhớ đến bài thơ “Nhớ Mẹ Thương Em” của ZuLu DC, tôi nhớ đến “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” của Trần Trung Đạo, và nhớ đến mẹ tôi ngồi suốt đêm bên giường bệnh cúa tôi. Nhớ như thế làm nước mắt rất dễ rơi và tự nhiên bài thơ trở thành người bạn ru ta trong khúc thụy du quay về quá khứ.
 
Thế rồi hai câu thơ cuối cùng như cho ta xem lại bức tranh, như cho nhìn lại đoạn phim rất hoành tráng trong cảnh mênh mông mênh mông, có cánh cò trắng bay qua sông. Bây giờ cảnh không buồn nữa vì con cò đã qua được sông, lòng ta cảm phục con cò, tâm hồn ta bừng lên tình yêu đời thắm thiết và sức sống mãnh liệt bởi tình yêu đó. Mẹ là cò, không chỉ lặn lội bờ sông, mà nay bay qua sóng gió không khóc nỉ non như lời ca dao thuở trước. Mẹ ơi, con nhớ mẹ lắm nhưng mẹ tôi đã di xa lâu rồi!:

Chiều nay mênh mông mênh mông
Cánh Cò trắng bay qua sông qua sông... 

                                                         Châu Thạch                     

READ MORE - ĐỌC “CÁNH CÒ QUA SÔNG” THƠ TRẦN MAI NGÂN - Châu Thạch

Saturday, October 21, 2023

THANH ĐIỆU TIẾNG VIỆT GHI BẰNG CHỮ CÁI LA TINH VÀ TRONG ÂM HÁN VIỆT – La Thụy



Thanh điệu là sự nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói trong một âm tiết.

Âm tiếng Hán hiện đại (tiếng Hán phổ thông, dựa trên phương ngữ Bắc Kinh) chỉ có 4 thanh bậc: phù bình (tên thông dụng hiện nay là âm bình), trầm bình (tên thông dụng hiện nay là dương bình), thượng thanh và khứ thanh (không chia bậc).
Nhưng âm Hán-Việt lại quy về bốn thanh điệu và thêm hai bậc của tiếng Hán vì dựa vào phiên thiết của âm tiếng Hán.
Trong âm HánViệt trước đây có bốn thanh: bình , thượng , khứ , nhập ; mỗi thanh có hai bậc là phù  và trầm  (hoặc thanh /trộc ; thượng /hạ )
Như vậy, tổng cộng có 8 thanh bậc: phù bình (浮平), trầm bình (沈平), phù thượng (浮上), trầm thượng (沈上), phù khứ (浮去), trầm khứ (沈去), phù nhập (浮入), trầm nhập (沈入).
*
Từ khi dùng chữ Quốc ngữ làm chữ viết, người Việt có thể diễn tả thanh điệu một tiếng bằng một ký tự nhất định. Tuy vậy, cũng chỉ được 6 thay vì 8, nghĩa là mất 2. Hai thanh phù-khứ, phù-trầm nhập lại thành một, hai thanh trầm-khứ, trầm-nhập cũng nhập lại thành một. Như vậy chỉ còn 2 thay vì 4.
Trong chữ Quốc ngữ, sáu thanh điệu được biểu thị bằng các dấu: sắc (´), hỏi (?), huyền (‘), ngã (~), nặng (.) và không dấu dành cho thanh ngang (phù-bình).
 
THANH ĐIỆU TIẾNG VIỆT SỬ DỤNG THEO BẢNG CHỮ CÁI LA TINH:

Tiếng Việt sử dụng bảng chữ cái Latin và có sáu thanh điệu được ghi bằng các dấu thanh đặt trên hoặc dưới nguyên âm chính: huyền, ngã, hỏi, sắc, nặng và không dấu (tức không có dấu nào cả). Ta có thể nói tiếng Việt thông thường có 6 thanh điệu và được ghi bằng 5 dấu thanh.
Sáu thanh điệu tiếng Việt được xếp vào 2 nhóm: thanh bằng và thanh trắc
 
THANH BẰNG
 
Thanh bằng là thanh điệu bằng phẳng, không có sự cao giọng hay thấp giọng khi đọc. Và là những thanh điệu mà khi thể hiện, đường nét âm điệu diễn biến bằng phẳng, đồng đều từ đầu đến cuối, không có sự lên xuống bất thường nào.
Thanh bằng gồm những tiếng hay chữ không có dấu (gọi là thanh ngang) và những tiếng hay chữ có dấu huyền.
 
- Thanh ngang: thanh ngang hay còn gọi là thanh không dấu hoặc gọi là thanh không được thể hiện dấu trên chữ. Thanh này xuất hiện trong tất cả các âm tiết, trừ âm tiết khép.
Ví dụ: cam, xuân, đông, công ty, mưa xuân,….
Nhưng thanh bằng không được thể hiện trên các âm tiết như: lach, bach, bat, lac, nhac, hat, het, bêt,….
 
- Dấu huyền: dấu huyền là một dấu thanh nằm trên các nguyên âm trong tiếng Việt. khi thể hiện trên các nguyên âm thì phát ra âm với giọng đi xuống. Dấu huyền được viết bằng một gạch ngang chéo từ trái sang phải.
Dấu huyền thấp hơn thanh ngang một bậc, dấu này có thể xuất hiện trong các âm tiết không phải là âm tiết khép và đọc với giọng nặng hơn thanh ngang.
Ví dụ về dấu huyền: cà, sàn, đầm, bằng, bà, bàn, ….
 
THANH TRẮC
 
Thanh trắc là thanh điệu không bằng phẳng. Thanh này có âm diệu diễn biến phức tạp trong thanh điệu. thanh này khi lên khi xuống, thể hiện ra bằng một đường nét không bằng phẳng và không đồng đều.
Thanh trắc được thể hiện bằng các tiếng hay chữ có các dấu gồm: dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã, gấu nặng.
- Dấu hỏi: dấu này có thanh điệu thuộc âm vực thấp. Khi phát âm, dấu hỏi có điểm bắt đầu và kết thúc thanh điệu đều ở âm vực thấp.
Dấu hỏi thường xuất hiện trong tất cả các âm tiết không phải là âm tiết khép.
Ví dụ: vả lại, hỏi han, cảm cúm, cảng biển, cảnh đẹp, hổn hểnh, cảm ơn, thể hiện,….
- Dấu ngã: dấu ngã là dấu có thanh điệu thuộc âm vực cao. Dấu này bắt đầu thấp hơn và kết thúc cao hơn, có thêm động tác nghẽn thanh hầu khi phát âm.
Dấu này có thể xuất hiện trong các âm tiết không phải là âm tiết khép và đọc với giọng nặng hơn thanh ngang.
Ví dụ: ngã, vẽ, xã, mãn nhãn, sững sờ,….
Dấu ngã không được thể hiện trên các âm tiết như: lach, bach, bat, lac, nhac, hat, het, bêt,….
- Dấu sắc: dấu sắc là dấu có thanh điệu thuộc âm vực cao. Khi phát âm, dấu này có điểm xuất phát thấp hơn thanh ngang một chút và điểm kết thúc ở âm vực cao. Đồng thời khi kết thúc còn phải có thêm động tác nghẽn thanh hầu khi đọc.
Dấu sắc có thể xuất hiện trong tất cả các kiểu âm tiết.
Ví dụ: khá lớn, bí quyết, chính thức, sáng sớm,….
- Dấu nặng: dấu nặng là dấu có thanh điệu thuộc âm vực thấp. Khi phát âm, dấu này có điểm xuất phát gần với độ cao xuất phát của thanh huyền nhưng kết thúc đột ngột ở độ cao thấp hơn.
Dấu nặng xuất hiện ở tất cả các kiểu âm tiết.
Ví dụ: lạ đời, chợ xuân, lợi ích, lạm dụng, trục trặc, bẹp ruột
 
* THANH ĐIỆU TIẾNG VIỆT TRONG ÂM HÁN VIỆT
 
Tiếng Việt cũng là một ngôn ngữ thanh điệu (tone-language). Nguyên thủy có 8 thanh điệu bao gồm 2 yếu tố: âm vực và âm điệu. Âm vực có 2 mức độ: phù (cao) và trầm (thấp). Âm điệu được chia thành bằng và trắc. Bằng là bình. Trắc gồm thượng, khứ, nhập. Nhân 2 âm vực với 4 âm điệu, ta được 8 trường hợp. Xin mượn một ví dụ của Cao Xuân Hạo (1998:82) "an", "ản", "án", "àn", "ãn", "ạn", "át", "ạt"
 
Trong tiếng HánViệt trước đây có bốn thanh: Bình , Thượng , Khứ , Nhập ; mỗi thanh có hai bậc là phù  và trầm  (hoặc thanh /trộc ; thượng /hạ 下)

Như vậy, tổng cộng có 8 thanh bậc: phù bình (浮平), trầm bình (沈平), phù thượng (浮上), trầm thượng (沈上), phù khứ (浮去), trầm khứ (沈去), phù nhập (浮入), trầm nhập (沈入).
 
1. Thanh bình: Có hai bậc, phù và trầm.
Thanh bình bậc phù (phù bình hay âm bình) là những tiếng không dấu, tức thanh ngang. Ví dụ:  (a),  (hương).
Thanh bình bậc trầm (trầm bình hay dương bình) là những tiếng có dấu huyền. Ví dụ:  (đà),  (điền),  (thần).
Điều cần chú ý là các chữ thanh ngang bắt đầu bằng l, m, n, ng, nh, d, v đều thuộc "trầm bình" ("hạ bình") trong cách áp dụng phiên thiết (Lê Ngọc Trụ) như minh , nhân , vân , nếu không sẽ sai về bậc thanh. Điều này rất ít tác giả nhấn mạnh.

2. Thanh thượng: Có hai bậc, phù và trầm.
Thanh thượng bậc phù (phù thượng) là những tiếng có dấu hỏi. Ví dụ:  (bả),  (hải),  (trảm).
Thanh thượng bậc trầm (trầm thượng) là những tiếng có dấu ngã. Ví dụ:  (mẫu),  (nữ),  (ngữ).

 3. Thanh khứ:
Thanh khứ bậc phù (phù khứ) là những tiếng có dấu sắc. Ví dụ:  (đấu),  (phóng),  (tiến).
Thanh khứ bậc trầm (trầm khứ) là những tiếng có dấu nặng. Ví dụ:  (đại),  (tại),  (vọng).

4. Thanh nhập:
Thanh nhập bậc phù (phù nhập) là những tiếng có phụ âm cuối là p, t, ch, c và có dấu sắc. Ví dụ:  (đáp),  (thiết),  (trách),  (tróc).
Thanh nhập bậc trầm (trầm nhập) là những tiếng có phụ âm cuối là p, t, ch, c và có dấu nặng. Ví dụ:  (đạp),  (diệt),  (thạch),  (trạc).

*
Cứ liệu thống kê về nguồn gốc của 8 thanh trong cách đọc Hán-Việt, chúng ta có bảng sau:

BÌNH: Ngang, Huyền,            
THƯỢNG: Hỏi, Ngã            
KHỨ: Sắc khứ, Nặng khứ     
NHẬP: Sắc nhập (Cao), Nặng nhập (Thấp)

Có thể liệt kê 8 thanh điệu đọc âm Hán Việt như sau:
Ngang, Huyền, Hỏi, Ngã, Sắc khứ, Nặng khứ, Sắc nhập, Nặng nhập.   
                                                                                           
                                                              La Thụy

*
THAM KHẢO:
 
- Huình Tịnh Của (1895) Đại Nam quấc âm tự vị. Rey, Curiol & Cie: Saigon
- Nghiên cứu về chữ Nôm của Lê Văn Quán (Nhà xuất bản Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1981)
- Đào Duy Anh: Hán Việt Từ điển.
- Lê Ngọc Trụ: Lối đọc chữ Hán Tập san Đại học Văn Khoa (Sài Gòn) 1968
- Nguyễn Tài Cẩn: Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nhà xuất bản Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1979
- Lê Văn Quán: Nghiên cứu về chữ Nôm, Nhà xuất bản Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1981.
- Trẩn văn Chánh: Từ điển Hán Việt, Hán ngữ cổ đại và hiện đại, Nhà xuất bản Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh 1999
READ MORE - THANH ĐIỆU TIẾNG VIỆT GHI BẰNG CHỮ CÁI LA TINH VÀ TRONG ÂM HÁN VIỆT – La Thụy

CHIẾN CÔNG CỦA LÃO QUẸT - Truyện ngắn – Nguyễn Đại Duẫn

 

Nhà văn Nguyễn Đại Duẫn





CHIẾN CÔNG CỦA LÃO QUẸT

Truyện ngắn  – Nguyễn Đại Duẫn

 


Ở tù gần mười lăm năm về tội sử dụng và buôn bán ma túy, chống người thi hành công vụ, lão Quẹt về làng xin địa phương mảnh đất nơi ngôi miếu hoang làm chốn lập nghiệp. Lão cũng có tên. Nhưng do cái chân lão gãy, khi đi cứ quẹt trên đường nên lão mang tên mới từ đó.  

Lão dọn dẹp sạch sẽ khu miếu, làm một căn nhà lá đủ che nắng che mưa. Đấu thầu khu đất hoang xung quanh miếu, lão trồng bạch đàn, làm bạn với lũ gà vịt, với anh “tửu” cũng đủ sống vui qua ngày. Đêm đêm nằm nghe tiếng xào xạc lá bạch đàn, lão thấy cô đơn, xót xa số phận và tự trách cho cuộc đời của mình. Lão cũng có vợ. Rồi đùng đùng bỏ vợ ở nhà, lão đi buôn. Tưởng làm giàu êm, ai ngờ mấy năm sau lão có lệnh bắt về tội buôn bán ma túy. Ra tù, bọn đàn em tìm đến rủ lão đi làm ăn nhưng vì nợ một lời hứa nên lão xin bọn đàn em tha cho lão. Đó là ngày ra tù lão về nhà, vợ bị ung thư sắp qua đời, lão hứa với vợ sẽ làm người lương thiện.

***

Trời nhá nhem, đang cho gà vào chuồng thì một tốp mấy thằng xông thẳng xe máy vào nhà. Lão ngước mắt và nhận ra thằng Quéo. Mấy đứa quần áo đầy bụi đường, đất đỏ bám đầy khung xe chứng tỏ cả bọn đã có cuộc hành trình dài ngày. Lão nghĩ, không biết có chuyện gì nữa đây? Thằng Quéo ra hiệu cho lão làm gà đãi rượu. Mấy đứa mặt lầm lỳ, cặp mắt đói ăn hau háu nhìn con gà vừa luộc. 

Bọn chúng ăn uống no say nằm ngáy như sấm. Chỉ có thằng Quéo là đang còn tỉnh táo, hắn gọi lão Quẹt: “Lão cho bọn đàn em đây mượn tạm nơi này để làm ăn. Sẽ có phần việc của lão đấy”. 

Mấy ngày sau bọn chúng tụ tập bàn bạc chuyện làm ăn.  Lão Quẹt được  phân công gác cho bọn chúng. “Không được cho ai biết là có bọn này ở đây. Nếu không thì…”. Thằng Quéo vừa nói vừa đưa bàn tay ngang cổ.


Đêm đã khuya. Lão không chợp mắt được. Lão nghe bập bõm hình như chúng đang buôn bán thuốc lắc, một loại ma túy tổng hợp kích thích não bộ, gây ảo giác, những gì không tồn tại trên thực cho người sử dụng. Nghĩ đến vậy lão thấy lo lắng. Những năm cải tạo, lão chứng kiến cảnh mấy con nghiện chết vật vả, khổ sở trong tù vì lên cơn thèm thuốc. Lão đã gác muốn yên thân những năm tháng còn lại. Vậy mà, bọn thằng Quéo lại về đây? Trong đầu lão với bao tính liệu. Hay mình ra trình báo công an? Không được! Bọn thằng Quéo mà biết thì lão không còn một sợi râu. Nhưng, không ra khai báo rồi việc vỡ lở thì biết tính sao? Bao ý nghĩ chập chờn trong đầu lão, lão chưa nghĩ ra. 

 Hôm sau, thằng Quéo đưa mấy tờ bạc chưa quăn góc cho lão. Hắn nói đó là phần lão. Vậy là lão không thoát tay bọn chúng rồi. Tiền lão cầm là bằng chứng cho sự đồng lõa với tội phạm. Biết làm sao đây, khi hằng ngày bọn chúng cho thằng Lai kè kè kiểm soát lão. Bất chợt đầu lão bỗng lóe lên một ý nghĩ. Phải rồi, phải nhờ thằng Hòa làm cầu nối. 

Việc này chỉ nhờ thằng Hòa cháu lão. Nhân thằng Hòa chăn bò gần rừng bạch đàn, lão gọi thằng Hòa đến kín đáo đưa cho thằng Hòa lá thư bảo nó bí mật đưa cho chú Sáu công an xã. Xong việc lão thở phào nhẹ nhõm. 

Hôm sau, mới bảnh mắt, ba người đàn ông theo chiếc xe bò đi vào khu miếu để mua bạch đàn. Thằng Lai được phân công ở nhà để  kiểm soát lão Quẹt, chạy ra ngăn lại. Lão cất tiếng: “Thôi mấy anh về đi. Tôi xin lỗi đã hứa bán, nhưng giờ có mối lớn nên mấy anh thông cảm”. Lão giả bộ ậm ừ ra vẻ phân vân để thằng Lai khỏi nghi ngờ: “À! Mà có mấy cây bên ngôi miếu cho các anh chặt về dùng tạm”. 

Thằng Lai nghe lão nói vậy nên cũng yên tâm, không để ý. Lão biết đây là mấy anh Công an huyện đến để nắm tình hình như nội dung mà lá thư lão đã gửi. Lão trình báo mọi việc cho anh Nam, Đội trưởng phòng chống ma túy công an huyện. Theo Lão cho biết cả bọn có 6 tên do thằng Quéo làm trưởng băng, thằng này lỳ lợm, ít nói nhưng ma ranh, tàn ác.  Việc mua bán “hàng trắng” của bọn chúng không theo qui luật nào cả, không biết đâu mà lần.  

Mấy hôm nay lão thấy thằng Quéo  luôn cáu gắt, chửi rủa bọn đàn em. Lão đoán già đoán non, chắc bọn chúng bị công an truy đuổi khi đang mua bán “hàng trắng”. Lão đang bần thần thì thấy Thằng Quéo cùng đồng bọn thất thễu chạy về. Đứa thì mất xe, đứa quăng mất dép, mặt mũi tái xanh. Thằng Quéo mặt lầm lì, ánh mắt trợn trừng như con trâu đực đang vào cuộc đấu. Hắn gầm gừ lớn tiếng chửi đổng, rồi tiếng gọi cả bọn đến. Sau một hồi quát tháo tra xét xem bọn đàn em có đứa nào làm phản. Rồi hắn nghi lão Quẹt. Mà cũng lạ, mỗi lần chúng bàn bạc việc làm ăn, lão Quẹt bị thằng Lai canh giữ không cho đến gần kia mà. Lẽ nào thằng Lai phun điều gì cho lão? 

Bọn chúng có ngờ đâu lão Quẹt đã dùng chai rượu và dĩa mồi để dụ thằng Lai. “Tửu nhập ngôn xuất”, thằng Lai  tuôn ra hết những kế hoạch của bọn chúng.

Thằng Quéo không ngủ, nó suy nghĩ không hiểu sao dạo này chuyến hàng nào đưa đi cũng bị Công an truy duổi. Nó uất ức vì bị mất hàng, số tiền bỏ ra gom hàng không ít. Mọi kế hoạch mua, bán hàng được bàn bạc chu đáo và bí mật lắm mà. Vậy ai là người đã để lọt thông tin. Thằng Lai? Không thể! Thằng Lai là thằng nghiện rượu, nhưng sự trung thành. Lão Quéo? Lão cũng đã một thời giang hồ, chắc lão biết cái giá của sự phản bội.  Nó gác chân lên tường nhà nghĩ ngợi. Một lúc như suy tính ra được điều gì làm hắn bật cười ằng ặc một mình trong đêm. Tiếng cười của hắn cứa vào màn sương làm cho âm thanh dội đến phòng lão Quẹt. Lão Quẹt nghe ớn lạnh, không biết thằng Quéo đang có âm mưu gì? 

Đội trưởng Nam triệu tập cuộc họp khẩn sau khi nhận được mật báo. Theo thông tin từ lão Quẹt, bọn thằng Quéo lợi dụng ngày Thương binh liệt sĩ, đi viếng nghĩa trang. Hắn thuê xe, mua vòng hoa, quà tặng cho vào thùng và bỏ lẫn hê-rô-in, thuốc lắc vào đó. Đoàn của chúng sẽ đi theo tuyến quốc lộ 1, tới Đông Hà bọn chúng sẽ giao hàng tại địa điểm X...  ngày tháng… đã  định.

Sau khi đội trưởng Nam báo cáo kế hoạch bắt bọn thằng Quéo, ông Trưởng phòng  đặt vấn đề: “Vậy các đồng chí  có phương án nào nữa không? Giả dụ bọn chúng tạo một cái bẫy. Phải đặt câu hỏi, tại sao mọi kế hoạch của bọn chúng lại để lộ cho lão Quẹt biết? Đó! Vấn đề là chỗ đó. Do vậy, một mặt các đồng chí liên hệ chặt chẽ với công an Quảng Trị, một mặt cử người theo dõi động tỉnh nơi khu miếu hoang và bảo vệ an toàn cho lão Quẹt. Chúng ta sẽ bất ngờ tiến hành khám xét khi chúng bắt đầu xuất phát, không cho chúng kịp trở tay, đối phó”. 

 Mới sáng sớm, ông mặt trời chưa dậy,  đội trinh sát đã thấy chiếc xe mang biển số BK 36… từ ngôi miếu hoang đi ra. Ngày mai mới là ngày bọn chúng xuất phát kia mà? Vậy là chúng đã ranh ma thay đổi lịch trình. Được tin từ trinh sát báo về đơn vị hội ý khẩn cấp. Trưởng phòng cử đội công tác bám theo. Các tuyến đường được thông báo cho công an địa bàn phối hợp hành động.


 Lão Quẹt bị nhốt trong phòng. Cửa ngoài khóa chặt. Làm sao báo cho anh Nam đây, mọi kế hoạch đã đảo lộn hết. Lão có ngờ đâu thằng Quéo lại tinh ranh đến vậy. Lão đập cửa rầm rầm, thằng Lai đang chơi game bực mình quát to: “Lão muốn gì? Muốn chết hả!”. Lão Quéo nói như van lơn: “Lão đau bụng quá, cho lão đi ngoài”.  “Lão đau bụng thì đi trong đó luôn. Không cần ra ngoài đâu. Thằng Quéo hoàn thành nhiệm vụ lão sẽ có thưởng đó”. Hắn lên giọng kéo dài từ “thưởng”. Lão biết ý hắn. Làm sao bây giờ. Một lúc lão hạ giọng: “Vậy không muốn uống rượu sao?”.  Nghe đến rượu mắt thằng Lai sáng lên. Nhưng hắn cũng dè chừng đắn đo. Rồi hắn tự trấn an: “ Không ai biết đâu!”

 Khi ổ khóa vừa rút ra khỏi chốt, lão Quẹt dùng hết sức bình sinh đạp mạnh cánh cửa. Thằng Lai ngã lăn quay ôm đầu vùng vẫy. Lão Quẹt nhanh chóng chụp lấy cánh tay thằng Lai quặt ra sau, nhặt chiếc điện thoại...  

 Tổ trinh sát được tin đến ứng cứu kịp thời, thằng Lai sợ sệt khai hết mọi kế hoạch của chúng. Theo kế hoạch, bọn chúng dọc theo quốc lộ 1 được một quảng tìm chỗ khuất rẽ sang đường 15 A tránh các chốt kiểm soát. Khi vào ngã ba Bến Quan - Vĩnh Linh, chúng sẽ chuyển hàng sang một chiếc xe chở cây cảnh.

 Thế là phương án mới được triển khai. Tổ công tác phối hợp với công an địa phương chặn đầu nơi ngã ba Bến Quan.  Xe của  bọn chúng đang dần tiến thì thấy tổ kiểm soát của công an ra hiệu dừng xe. Phía sau là tiếng còi hú của đoàn xe cảnh sát đang tiến tới. Vậy là bị bao vây rồi. Quẹt ra hiệu cho đồng bọn chuẩn bị vũ khí, ra lệnh  cho tên lái xe tăng tốc. Nhưng, không kịp nữa rồi. Một tiếng nổ vang lên. Chiếc xe bị viên đạn găm vào làm nổ lốp chao đảo, trượt dài lao xuống ruộng, cả bọn đã bị bắt gọn một cách nhanh chóng. Tang chứng đã rõ, mười lăm bánh hê-rô-in và năm ngàn viên thuốc lắc đã được lập biên bản. Cả bọn quần áo ướt sủng nước ruộng, chân tay bê bết bùn được đưa lên chiếc xe đặc chủng lao đi. 


***

Lão Quẹt ngắm nghía bộ quần áo mới. Ngày mai Phòng Công an tổ chức tổng kết chuyên án, mời lão đến để báo cáo thành tích. Lão thao thức không biết sẽ nói những gì. Lão nghĩ chưa ra, nhưng trong lòng lão tràn trề một niềm vui. Rồi đây lão sẽ xóa được những mặc cảm của người đời. Lão nhẹ bước đi ra ngôi miếu, thắp  nén nhang cảm ơn thần phật đã phù hộ cho lão. Ngọn gió trong đêm ùa về lao xao cành lá bạch đàn như mừng vui với lão. Lão ngước mắt nhìn bầu trời đầy ánh sao, báo hiệu một trang đời mới đang đến.


N. Đ. D


Thị trấn Quán Hàu,

huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

nguyenduanqh@gmail.com






READ MORE - CHIẾN CÔNG CỦA LÃO QUẸT - Truyện ngắn – Nguyễn Đại Duẫn