Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, January 3, 2023

CƯỜI TÀO THÁO, KHÓC LƯU BỊ - Tạp ghi và phiếm luận của Chu Vương Miện


Tào Tháo và Lưu Bị
 
Hai nhân vật thời Tam Quốc này là hai danh hề tuyệt vời thượng hạng, trung hạng, ngoại hạng, là loại comics “chọc cười thiên hạ” vô tiền khoáng hậu, trong cái tình cảnh thời Tam quốc loạn từ đầu nước tới cuối nước, lâu lâu lại đựợc nghe Hán thừa tướng cười và Lưu hoàng thúc khóc, cái võ cười này là cười vô hại, vô trật tự thấy sự đời buồn cười quá thì tức cười, chớ cái cười này chả thu về một xu một cắc nào cả. Chớ cái võ khóc cuả Lưu Bị thì lại là một môn võ học chính thống “tuyệt chiêu” đánh đâu thắng đó, mà đánh toàn vào chỗ hiểm, vậy thì xin đi vào võ cười của đại cao thủ Tào Tháo trước. 

Tào Tháo cười

Cái đoạn mà bá quan văn võ nhà Đại Hán tụ họp nhau lại để mà than mà khóc cho triều đại nhà Hán bị Đổng Trác chuyên quyền, chỉ có mỗi một mình Tào Tháo là cười! Bá quan văn võ không hài lòng quay lại hỏi:
- Tào a Man cười cái gì?

Tào Thào trả lời:
- Nếu mà chỉ có một môn võ khóc, mà làm cho Đổng Trác cùng đồng bọn bỏ giáo qui hàng, thua cái một, thì các ngài nên khóc bù lu bà loa tướng lên chứ! Khóc nhỏ quá, yếu quá làm sao mà thắng cho nổi?
Nói xong Tào Tháo bỏ đi. Tiếp đến lúc Tháo dẫn 25 vạn quân  Viên Thiệu, Viên Thuật, Lưu Biểu, nói khuếch đại lên là 80 vạn kéo sang đánh Đông Ngô, bị liên quân Ngô Thục đánh cho vắt giò lên cổ, chạy có cờ có quạt, có phèng la, nhằm phía rừng Ô Lâm mà chạy thoát thân. Chạy đã đời thì đến chân rừng, đoàn quân vừa ngừng thì Tào Tháo nhìn trời nhìn đất, rồi ngồi trên lưng ngựa há mồm cườì rất là khoái trá, tướng tá chạy theo tưởng Tào thừa tướng lên cơn điên vội hốt hoảng hỏi:
- Dạ bẩm thừa tướng cười cái chi?
- Ta cười là thiên hạ khen Chu Du, Khổng Minh dùng binh như thần! Theo ta sao không đặt một đoàn quân mai phục ở chỗ này thì binh Tào chạy đi đâu?

Tào Tháo nói vừa dứt thì tiếng trống thúc quân từ phiá men rừng vang ra, tướng Thường Sơn Triệu Tử Long xuất hiện. Tử Long nói:
- Thừa tướng sai rồi, quân sư đã chuẩn bị sẵn một đoàn quân “xi cờ ghoe” tàn tật gẫy gọng một chân phục sẵn, không phải để tác chiến mà để cho thừa tướng biết là quân sư dự đoán là ngài sẽ chạy qua đây đó thôi.

Thế là vừa ăn vừa chạy, Tào Tháo cùng bốn quân chạy tiếp tục chạy như bay, đựợc vài chục dặm. Tào thừa tướng lại cười ầm lên, khiến Trương Dục Đức đang mai phục cũng chịu không được, bèn phải dẫn quân lộ diện ra đứng bên đường nói to lên như hét:
- Lộ trình cuả Tào a Man đã bị lộ rồi, xin tiếp tục chạy tiếp đi, không thì bị trói như heo bây giờ.
- Chạy mệt quá, để cho qua nghỉ ngơi dăm ba phút “xực phàn nhậm xủi” đâu vào đó rồi chẩu lớ.

Sau đó thì binh đoàn của Tào thừa tướng ba chân bốn cẳng trực chỉ Huê Dung đạo, vừa đến nơi thì Quan vân Trường vác thanh long đao cưỡi ngựa Xích Thố dàn hàng ra mà nói rằng:
- Thôị cha nội đừng có cười lớn lên nữa, nghe nhức cái đầu lắm, Quan Mỗ đã nhận được lệnh cuả quân sư Khổng Minh Gia Cát Lượng, phục binh ở đây chờ thừa tướng lâu lắm rồi.

Tào Tháo nghe Vân Trường vừa nói dứt, há mồm cười ha hả. Các tướng tuỳ tòng chạy lại gần nói nhỏ “tình cảnh thế này mà thừa tướng còn cười được nưã hay sao?” thì Tào Tháo lạc quan trả lời rằng:
- Trong đời cuả ta, chỉ có cười lớn hoặc cười nhỏ, chứ chưa bao giờ khóc cả.
 
*

Khóc nôm na là ‘mít ướt’ là khóc nhè chè thiu, nhưng cái chuyện khóc cuả con nít mà chỉ vô tích sự nhằm vào ăn vòi cha mẹ quà bánh thì chả đáng noí tới làm gì? Đằng này khóc mà nhờ khóc làm nên sự nghiệp, thì thật vô cùng vĩ đại vĩ tiểu, khóc mà lấy được quận chúa Đông Ngô, khóc mà lấy được Kinh Châu, Ích Châu thì cái khóc này lưu danh thiên cổ, có một không hai, đúc tượng để ngoài đường phố mà nhìn mà ngưỡng mộ, khâm phục chớ chẳng phải chuyện chơi đâu? Lưu huyền Đức được Đại văn hào La Quán Trung muá bút tâng bốc lên tận mây xanh, thành ra khi viết về nhân vật Lưu Bị, tại hạ cứ phải ngửa đầu nhìn lên, đôi khi mỏi cổ quá. Chuyện vua Thục Hán khóc thì dài lắm từ đầu pho Tam Quốc đến ngài mạng vong ở Bạch đế thành, chúng tôi không làm công việc dư thừa thống kê là ngài khóc bao nhiêu lần? mà mỗi lần khóc như vậy thì ngài đựợc cái gì? thu hoạch kết quả ra sao? mà chỉ nhặt ra vài đoạn ngài khóc đặc sắc nhất trong Tam Quốc chí diễn nghĩa, tiêu biểu cho cái khóc củả Lưu Dự Châu mà thôi.
 
Lưu Bị khóc

Đây là lúc Lưu Huyền Đức cùng Thường Sơn Triệu Tử Long dẫn 500 quân sang Đông Ngô làm rể, cuộc hẹn ra mắt Ngô quốc thái ở chùa Cam Lộ. Vừa hàn huyên an tọa đâu vào đấy, thì Triệu Vân bèn cắp gươm vào nói thầm nhỏ cái câu gì vào tai Lưu Bị không biết? Thì ngay tức thời Lưu Bị bèn quì ngay trước mặt Ngô Quốc Thái và Tôn Quyền mà khóc rống lên như cha chết mẹ chết. Thấy vậy Quốc Thái bèn vỗ về nói:
- Mẹ đã ô kê chọn con làm rể đông sàng Đông Ngô rồi mà, khóc với lóc cái gì nữa? Con có gì không hài lòng, nói mẹ và anh Tôn Quyền nghe?
- Muốn giết con thì ngay bây giờ mẹ ra lệnh một cái thì đầu con lìa cổ, chớ làm gì mà cho quân giáp sĩ, lén lén núp núp chung quanh chùa làm chi vậy?

Ngô Quốc Thái nhìn mặt Tôn Quyền mà gắt lên:
- Con tính làm trò quỷ thuật gì vậy?
- Không có làm gì cả, chẳng qua là cái anh chàng tướng Giả Hoa có cái bệnh là hay mang quân đi giăng lưới bắt chuột, vậy để con lệnh cho y ta, mang lướí và quân về nhà hắn ta mà giăng mà bắt, chốn này chuà chiền mà làm vậy thấy khó coi quá.

Ba tháng sau Triệu Vân bèn mở tiếp cẩm nang của Khổng Minh thì đọc thấy nói vdầy…vdầy… Tử Long bèn gặp Lưu Bị mà bẩm:
- Quân sư có dặn, nếu Lưu Hoàng Thúc an phận là rể Đông Ngô , ngôì mát ăn bát vàng hưởng phước, thì cho Tử Long và 500 quân sĩ về Giang Lăng, và quân sư sẽ cho giải ngũ tập thể, ai về nhà nấy, cày cấy, thiến heo thiến chó, kéo xe… tự túc mà sống theo đời thường.
Hôm sau thì Lưu Hoàng Thúc vào gặp ngay quận chuá và dở ngay “võ nhè” khóc bù bà loa, quận chuá lấy khăn tay “Mù xoa” lau nước mắt rồi thảng thốt  hỏi:
- Lang quân khóc ký gì? 
- Nhớ nhà quá?
- Thì dià chớ có ai bắt buộc ở lại đây làm gì?

Thế là quận chúa bèn cùng Lưu huyền Đức vào gặp Ngô Quốc Thái, xin vào tết đoan ngọ, đi ra bờ sông Trường Giang quay mặt về phía bên sông kia bái lậy mồ mả cha mẹ, đặc biệt là vái  Quân sư Gia cát Lượng một cái.

Triệu Vân sai 500 quân mang nhang đèn tiền giấy hàng mã đi trước, còn mình thì phò Lưu Bị và quận chuá đi sau, đi khoảng 2 ngày đường thì thấy ba ngàn quân cuả tướng Đinh Phụng, Từ Thịnh đóng ngay chân núi chặn giữ, đằng sau thì gió bụi mịt mù. Một lúc sau thì thêm quân cuả bốn tướng Trần Vũ, Phan Chương, Chu Thái, Tưởng Khâm và 5000 ngàn quân giáp mã kéo tới nữa. Triệu Vân nhìn cảnh tượng quân Thục Hán lưỡng đầu thọ địch, bèn mở tiếp một cái cẩm nang nữa ra coi rồi nói nhỏ với Lưu Bị. 

Lưu Bị nghe qua, bèn đến trước mặt quận chuá khóc ầm cả lên :
- Chuyện chính là mục đích của Ngô Hầu dụ Bị qua bên Đông Ngô này là để “trảm thủ cô thầu” chứ cũng không phải là gả quận chúa em gái kết nghĩa với Ba Thục gì cả, nay tình cảnh đã đến nước này, không cần diễn kịch, diễn tuồng Hồ Quảng nữa, Quận chúa xin nàng ra tay đi!

Quận chúa thông minh học giỏi nghe Lưu Bị Lưu Gậy nói toạc móng heo ra là như thế. Vốn là ngườì quyền biến hiểu ngay tự sự, bèn lệnh cho Triệu Vân cùng 300 quân phò Lưu Bị tiếp tục đi nữa, còn quận chúa với 200 quân dàn ra mặt đường lộ và kêu 6 tướng Đông Ngô đến để nghe quận chuá ban chỉ dụ “dậy việc”

- Các vị đều là Thượng tướng “đại tướng” cả, theo như ta nghĩ, cha ta là Tôn Kiên, tiết độ sứ Đông Ngô, anh ta Tôn Sách Ngô Chủ tiếp theo, khi chết trao quyền cho anh thứ ba của ta là Tôn Quyền, sau Tôn Quyền là ta. Các vị đâu có phải là Tỳ tướng, Tham tướng, cũng đâu phải là thái giám, thị vệ? là nô tài để sai vặt. Tướng ngoài biên đôi khi cũng không phải tuân lệnh vua nữa là! Ngay mới đây, Quan vân Trường đựợc Khổng Minh sai trấn giữ Huê Dung đạo, nhưng Vân Trường vì đạo nghĩa giang hồ mà tha chết cho Tào Tháo, có sao đâu? Trời khi nắng khi gió, khi ấm khi lạnh, con người cũng vậy có khi vui khi buồn, khi tỉnh khi điên? Các tướng quân là ngươì bình thường, khi nghe lệnh phải phân biệt lúc đó là vị anh quân hay là thằng điên? Chả có vị anh quân, minh quân nào ra lệnh cho tướng thuộc quyền chém đầu em gái quận chúa trước, chém. đầu Lưu Bị sau?
 
Sáu tướng Đông Ngô nghe xong lời hiểu dụ cuả quận chuá, không ai bảo ai tự động quỳ xuống bên đường đồng loạt hô to “vạn tuế” rồi đứng dậy khoanh tay trước ngực chúc tụng:

- Màn ổn thai thai.
- Cống hỷ phát xồi.
- Nhất bản vạn lợi.
- Xực phàn pán xẻ.
- Chẩu lớ
 
CHU VƯƠNG MIỆN
 
READ MORE - CƯỜI TÀO THÁO, KHÓC LƯU BỊ - Tạp ghi và phiếm luận của Chu Vương Miện

Sunday, January 1, 2023

BẠCH THƯ, TAM QUỐC CHÍ NGOẠI TRUYỆN – Chu Vương Miện




BẠCH THƯ SỐ 1.
 
Nơi gửi:

- Văn phòng Thừa Tướng Tào Tháo nhà Đại Hán (tức Tam Tề Vương Hàn Tín tiền kiếp)

Nơi nhận:

- Văn phòng Sứ quân Lưu Dự Châu taị thành Tân Dã  Kinh Châu (tức Lương Vương Bành Việt tiền kiếp)

Thông báo:    

- Văn phờng Sứ quân Tôn Quyền tại Kiến Nghiệp (tức Cửu Giang Vương Anh Bồ tiền kiếp).  
- Văn phòng tiên sinh Tư Mã Trọng Tương ở Ích Châu (hậu kiếp là Tư Mã Ý tức Tư Mã Trọng Đạt khai sáng nhà Tây Tấn)
 
Nội dung vấn đề cụ thể như sau:

- Qua hai cuộc chiến có tính cách cục bộ giữa hai miền biên giới Tương Dương và Kinh Châu trong tỉnh Hồ Bắc, có nghĩa là quân của nhà Hán do tướng Lã Khoáng và Lã Tường dự tính trong đầu là sẽ mang quân xâm lược quân cuả Lưu Bị trú đóng dã chiến taị huyện thành Tân Dã (ngoại ô cuả Kinh Châu) mục đích là thao dượt quân sĩ cho nó hoạt, dẻo dai gân cốt, chưa cục cựa gì cả thì quân của Lưu Bị ở Tân Dã đã chia làm ba ngả, ba mũi giáp công, hai tướng Lã Khoáng Lã Tường thì đi chầu ông bà ông vải, còn 5000 sĩ tốt thì vừa chết vừa bị bắt làm tù binh! Trong khi đó hai tướng thủ thành Tương Dương và Phàn Thành là Tào Nhân và Lý Điển trao đổi về sự cố vừa xẩy ra, không ai hiểu đầu đuôi ất giáp gì cả. Rồi bất thình lình ba đạo quân của Quan Vân Trường, Trương Dục Đức, Đan Phúc nhào vào tấn công xơi tái thành Tương Dương, và hai đạo quân cuả Lưu Bị và Triệu Tử Long vây Phàn Thành bắc loa kêu toàn quân cuả Lý Điển di tản chiến thuật tức thời, không thì không bảo đảm sinh mạng, thế là hai đoàn vịt vừa cồ vừa ấp trứng của nhà Đại Hán mạnh ai nấy dzoọt, về Hưá Đô trình diện quân vụ thị trấn, hiện đang nằm dưỡng quân chờ lệnh sau.
 
Theo hiến pháp hiện hành dưới Âm Phủ và theo phán quyết bản án cuả xính xáng Tư Mã Trọng Tương, thì Ba Thục đã vi phạm những điều cam kết cùng ký vơí nhau trong bản hiệp định (chia ba thiên hạ .
 
*

BỊ VONG LỤC (TÀU XÁ) 2
 
(Xin được nhắc lại lần đầu tiên bản Bạch Thư đã gửi ngày tháng năm....)
 
Ngọa Long tiên sinh tức Khổng Minh Gia Cát Lượng vừa được ba vị Lưu Quan Trương cung thỉnh tới huyện Tân Dã để làm quân sư thay thế cho quân sư Đan Phúc vừa làm đơn xin nghỉ việc để lo việc nhà, trong  lúc ở không tiên sinh đi ra đi vào hết đứng lại ngôì uống nước trà rồi đi đái. Trong phòng vệ sinh, tiên sinh phát hiện ra những văn bản này vội vã cầm đút ngay vào túi, lập tức vào bureau cuả sứ quân Lưu Bị làm việc. Qua vài câu trao đổi, Lưu Bị hiểu ra vấn đề than rằng:
-Chả dấu gì quân sư, “đầu óc ngu si, tứ chi phát triển”, toàn thành Tân Dã ở đây chả có ai trình độ là lớp ba trường làng, toàn là i tờ rít cả vơí nhau, vậy quân sư muốn định liệu giải quyết những tờ công văn này cách nào cũng đặng?
 
*

CÔNG HÀM SỐ 1.
 
Nơi gửi:

- Văn phòng phủ thừa tướng Khổng Minh Gia Cát Lượng nhà Thục Hán hiện kiếp (nguyên quân sư quạt mo Khoái Triệt tiền kiếp thơì Tây Hán)
Nơi nhận:
- Văn phòng Tào Thừa tướng nhà Đại Hán (tức Tam Tề Vương Hàn Tín)
 
Thông báo:

- Văn Phòng Tiên sinh Tư Mã Trọng Tương và văn phòng Nhà Ngô (Anh Bố).
 
*

Bề tôi là Khoái Triệt tức Khổng Minh Gia Cát Lượng đời nay, cuí đầu lậy chủ nhân Tào thừa tướng nhà đại Hán (tức Hàn Tín bốn lạy) chúc phúc “tiên phước vĩnh hưởng thọ tựa nam sơn” xin được đi vào việc Công trước và việc Riêng sau.

Qua hai bản văn Bạch Văn và Bị Vong Lục cùng một đề cập tới một vấn đề xin được thành thực tâu bày cặn kẽ:
 
Việc Công:
 
- Bên phía nhà Hán thì hai tướng Lã Khoáng và Lã Tường là những kẻ mới về hàng thừa tướng, muốn đoái công chuộc tội cũ, lập công mới, hai vị tướng quân họ Lã này không phải là nhân vật thời nhà Tây Hán, còn về phía Thục Hán, thì nhân vật có tên giả là Đan Phúc (tên trong khai sinh là Từ Nguyên Trực) nguyên là tướng Nhạc Nghị nước Yên thời Chiến Quốc lộn sòng đầu thai vào. Ba người này không bị ràng buộc bởi bản án cuả xính xáng Tư Mã Trọng Tương và trước khi đi đầu thai làm người trên cõi thế cũng không có làm bản cam kết gì vơí ai hết. Vậy kính mong thừa tướng cười xoà một cái, xù ngay cái chuyện lẩn thẩn này đi!
 
Việc Tư:
 
- Qua hai bản văn trên, với tư cách là Khoái Triệt thủ túc của Vương gia tiền kiếp thì xin được bày tỏ như sau “việc làm vừa qua của Tào Thừa Tướng có lẽ đã đi sớm trước thời gian ấn định ít nhất là hai năm. Vì nếu thời cuộc hiện nay chưa có Khổng Minh Gia Cát Lượng xuất hiện, thì cuộc diện Tam Phân chưa thể thành hình được, và thời điểm bắt đầu là phải xẩy ra cuộc thuỷ chiến (ở sông Xích Bích) thì khi đó mới rõ Tam Phân là thế nào, những nhân vật nào? những vùng đất nào thuộc ai? hiện giờ thì mới từ từ thành hình? mà không có Khoái Triệt tiền kiếp và Khổng Minh hậu kiếp thì cái thế chân đỉnh (chân vạc) tam phân sẽ không bao giờ có. Nếu Đại Vương chấp nhận cái bản án của Tư Mã Trọng Tương thì cứ trùm chăn mà ngủ cho kỹ, hiện giờ chưa phải là thời điểm, ít ra cũng phải từ hai năm nữa. Vậy Đại Vương cứ hưởng phước, khi nào cơ hội chín muồi tới nơi thì thần sẽ cell hoặc email cho Đại Vương được rõ.
 
*
 
THƯ RIÊNG CỦA TÀO THỪA TƯỚNG GỬI QUÂN SƯ KHOÁI TRIỆT (tức Khổng Minh Gia Cát Lượng thời nay).
 
Bốn bể một nhà, nếu là cố nhân thì kiếp trước hay kiếp này cũng thế, bày vẽ ra làm chi cái thế Tam Phân hay bát phân? Tín này cũng đã chán cái kiếp cầm quân (tức là làm kẻ giết người). Thời Tây Hán, Tín này giết ít nhất cũng khoảng 10 triệu quân lính, cuối cùng thì cũng có được cái tích sự gì đâu? Sau rốt cũng bị kẻ khác giết chết  mà đâu có tội tình gì? Nhất tướng công thành vạn cốt khô! Cũng vô cùng tri ân tiên sinh Tư Mã Trọng Tương là một vị minh quan, xét xử cho tất cả anh hùng hào kiệt đầu thai trở lại để ân đền nghĩa trả, điều mà Tín này kỵ nhất là tiên sinh và Tín lại đứng ở hai vị trí thù địch, ai vì chuá nấy! Vậy trước khi chia ba thiên hạ, chúng ta có thể gặp nhau một lần, địa điểm nơi nào cũng đặng làm một bữa tiệc nhậu quất cần câu, nhậu say chết bỏ, không say không về! Sau đó thì sẽ bàn luận về thế trận Tam Phân chia ba thiên hạ. Số phôn thì ở trong cuốn phon book mở ra coi vần H là có ngay và email thì như vầy:
hantin@yahoo.com và cái điều khẩn thiết có thể nói được với nhau là bất cứ giá nào cuộc chiến xẩy ra thì nếu có đụng độ hai bên hay ba bên chỉ nên đánh cuội (tức là đánh giả vờ) cho thiên hạ ngán chơi! Tuyệt đối không nên đánh thật làm ký gì!  
 
Chu Vương Miện

READ MORE - BẠCH THƯ, TAM QUỐC CHÍ NGOẠI TRUYỆN – Chu Vương Miện

HAPPY NEW YEAR - Chùm ảnh Chu Vương Miện

 

Bấm chuột vào ảnh để phóng to.







READ MORE - HAPPY NEW YEAR - Chùm ảnh Chu Vương Miện

ĐÔI LỜI VỚI SONG THANH* | TẢO MỘ | GÒ CHÙA - Chùm thơ Vũ Hùng

 

Nhà thơ Vũ Hùng

ĐÔI LỜI VỚI SONG THANH*


Trưa về ghé quán Hoàng Linh,

Chung nhau tiệc rượu nghĩa tình Song Thanh.

Cũng là chén chú chén anh,

Đôi câu tâm sự đời xanh rộn ràng?


Vần thơ có chút muộn màng,

Mà thời gian cứ vội vàng trôi nhanh.

Thảo thơm ở tấm lòng thành,

Rượu quê thơ Nẫu xin dành tặng nhau.


đông qua lấm láp trên đầu,

Quê hương mấy bận chuyến tàu ngược xuôi?...

Trúc gầy vạt nắng nghiêng lui,

 Rót thêm chén nữa ngậm ngùi chia tay!


Cớ chi ta chẳng uống say,

Đời vui còn được bao ngày nữa đâu?

Cớ chi ta phải đeo sầu,

Cuộc đời tan hợp bể dâu lẽ thường?

   Vũ Hùng

Nhà giáo, nhà thơ Bình Định, hiện cư ngụ tại TP HCM. 



TẢO MỘ


Sáng nay lên Gò Chùa,

Trời nghiêng chút mưa thưa.

Lúa xanh non dờn dợn,

Tê buốt cơn bấc lùa.

 

Cùng họ hàng tảo mộ,

Đốt nén hương sau cùng.

Đâu thanh thản ung dung,

Với bao điều nghĩ ngợi?

 

Dự án đã duyệt rồi,

Mồ mả phải dời thôi.

Về đâu còn chưa biết,

Lưa thưa giọt mưa trời.

 

Ngàn thu chốn nghỉ ngơi,

Được bao người như thế?

Đời mấy lần dâu bể,

Khói hương trầm chơi vơi!

Vũ Hùng

 

GÒ CHÙA


Gò Chùa một trời kỷ niệm,

Nắng mưa đám bạn chăn bò.

Nước da nhem nhẻm tàn tro,

Áo nâu vá chằng vá đụp.

 

Gò Chùa xanh um dứa dại,

Hương lừng dú dẻ, chim chim

Cỏ non êm như tấm thảm,

Mát chân một thuở trốn tìm.

 

Gò Chùa mấy phen đọ sức

Phân chia lãnh địa làng Liêm

Máu cam chảy tràn vạt áo

Ôm vai nhỏ khóc quá chừng!

 

Gò Chùa theo Cha tảo mộ

Nghiêng nghiêng tháng Chạp mưa bay

Mười năm Cha về với mẹ

Bơ vơ hương khói chợ đời.

 

Gò Chùa đến đây lần cuối

Mai này còn gặp nữa đâu

Ông bà tạm yên chốn mới

Trong tim tràn ngập lệ sầu!

Vũ Hùng 

 

 


READ MORE - ĐÔI LỜI VỚI SONG THANH* | TẢO MỘ | GÒ CHÙA - Chùm thơ Vũ Hùng

HOA ĐÀO NGÀY XUÂN | XUÂN QUÊ NHÀ | KHI XUÂN VỪA CHẠM NGÕ - Chùm thơ Nguyễn Văn Trình

 

Nhà thơ Nguyễn Văn Trình


Hoa đào ngày xuân

                 Nguyễn Văn Trình

 

Ngày xuân đón tết về

mãi mê ngắm đào phai

ban mai vừa đang tới

bướm ong bay lả lơi

 

Ngày xuân đầu năm mới

khắp nơi hoa đào nở

rực rỡ sắc hồng tươi

giữa đất trời tươi xanh

 

Ngày xuân, ôi ngọt lành

hoa đào đẹp tựa tranh

cánh hoa bừng sắc thắm

trong nắng vàng long lanh

 

Ngày xuân cành đào nở

nhớ mùa xuân đang về

tái tê ngày đông trước

được mất thật hư vô…

 

                   NVT   

 

Xuân quê nhà

             Nguyễn Văn Trình

              

Quê nhà giá buốt cũng qua rồi

xuân về ấm áp khắp mọi nơi

nét xuân e thẹn trong nắng mới

tỏa lan nồng ấm cả đất trời

 

Xuân về muôn nơi hoa khoe sắc

những cánh mai vàng chấp chới bay

cúc tươi đào thắm nhẹ gió lay

nụ hồng mấy đóa bày trước ngõ

hương xuân theo gió đượm đất trời

xuân còn e ấp đợi người phương xa…

 

Chim ca ríu rít trên cành

bướm ong lượn rợp trời xuân quê nhà

thương nhớ quá xuân xưa bếp lửa

bập bùng nồi bánh chưng xanh

xưa tiếng pháo đì đùng trước ngõ

nôn nao chờ đón phút giao thừa

 

Xuân hạnh phúc như vừa gõ nhịp

lời yêu thương trao gửi cho đời

em ơi chào đón mùa xuân tới

vun trồng hy vọng với tương lai

tình xuân trang trải, rộng dài tháng năm

 

                                     NVT

 

Khi xuân vừa chạm ngõ

                    Nguyễn Văn Trình

 

Xuân vừa chạm ngõ bâng khuâng

vẫn còn ngọn gió heo may cuối mùa

 

Mưa phùn lất phất, bay bay

giọt sương còn đọng, trên cành non tơ

 

Nắng xuân vội vã dát vàng

nuôi mầm hy vọng, cho ngày vào xuân 

 

Khí xuân lan tỏa đất trời

khắp nơi cánh bướm tần ngần vườn hoa

 

Muôn hoa khoe sắc mừng xuân

đất trời chào đón, phút xuân giao hòa

 

Xuân sang rét ngọt dịu dàng

sương giăng bảng lảng, nắng vàng trời xanh 

 

Hàng cây nẩy lộc đâm chồi

lá non mơn mỡn, thôi miên lòng người

 

Xuân về, lại đón muôn hoa 

mai vàng ươm nắng, sắc xuân báo mùa

 

Bích đào chúm chím nụ hồng  

cúc tươi vàng óng, lụa ngà Hà Đông

 

Trạng nguyên trên cao sắc đỏ 

ngọc lan âm thầm, theo gió ngát hương

 

Hoa ly, thược dược, đồng tiền 

xuân vừa chạm ngõ, bên thềm trổ hoa

 

Xuân về chim hót lời ca

sơn ca nhảy nhót, đón xuân rộn ràng

 

Chim én từng đàn bay lượn

giang đôi cánh rộng, giữa bầu trời xuân

 

Bồi hồi náo nức chạm xuân

điểm tô hương sắc Đông tàn, Xuân sang…

 

                                  NVT


READ MORE - HOA ĐÀO NGÀY XUÂN | XUÂN QUÊ NHÀ | KHI XUÂN VỪA CHẠM NGÕ - Chùm thơ Nguyễn Văn Trình

NỒNG NÀN MÀU LÁ GIÊNG HAI - Thơ Nguyễn An Bình

 





NGUYỄN AN BÌNH 

NỒNG NÀN MÀU LÁ GIÊNG HAI


Lắng nghe hương dậy đất trời

Chút lạ lẫm giữa đứng ngồi ban mai

Ven đường hương cỏ ngất ngây

Lá phơn phớt nắng sáng nay ửng hồng.


Ơ kìa chiếc lá trầu không

Chờ giêng hai đến đèo bồng hương đưa

Nghe con chim ngói gọi mùa

Suối nguồn hò hẹn xanh bờ cỏ cây.


Tớc mây em thả vai gầy

Ai vừa sang bến trầu cay vợ chồng 

Mưa xuân lảng đảng trổ đòng

Tôi hôn vạt nắng ngỡ hồng môi em.


Trong ngần sương rụng qua đêm

Áo hoa lất phất bên thềm cúc mai

Nồng nàn màu lá giêng hai

Trâm cài ý lược thương hoài sắc xuân.


19/11/2022











READ MORE - NỒNG NÀN MÀU LÁ GIÊNG HAI - Thơ Nguyễn An Bình

Saturday, December 31, 2022

NGOẠI CỦA CON - Bút ký - Nguyễn Đại Duẫn

 

Vườn mướp nhà ngoại.

NGOẠI CỦA CON

                                                     Bút ký

 

Một ngày đầu xuân, gia đình tôi cùng về thăm ngoại của con. Tiếng chim ríu ran trong bụi tre trước vườn nhà ngoại như báo hiệu một ngày đẹp trời. Nhà ngoại của con nằm bên dòng sông Long Đạị. Sau mỗi mùa oằn mình với con lũ thường niên, dòng sông giờ đây trở nên trong xanh, hiền hòa. Bóng cây phượng vĩ đầu ngõ đang rủ mái đầu xanh xuống dòng sông, như đang khoe dáng, khoe sắc với thiên nhiên. Một bức tranh thủy mặc nơi thôn quê lung linh trong gió.

Quê ngoại của con là làng Long Đại, xã Hiền Ninh. Phía Nam làng là dòng sông Long Đại uốn lượn chạy dài từ đầu Tây làng đến cuối Đông làng. Phía Tây làng là con đường 15A cũ (nay được nối với đường Hồ Chí Minh), phía Bắc làng là cánh đồng bát ngát lúa, ngô và những giàn mướp đắng ngút ngắt.  Sông Long Đại bắt nguồn từ dãy Trường Sơn và chảy theo hướng Đông Bắc tạo ra một đồng bằng màu mỡ hẹp bởi các bờ của nó. Sau đó, nó gặp sông Kiến Giang và cùng nhau hợp thành sông Nhật Lệ đỗ ra Biển Đông tại Đồng Hới. Bắc qua sông Long Đại là chiếc cầu Long Đại Đông Trường Sơn chạy song hành cùng cầu đường sắt Thống Nhất với chiều dài 178m (dài nhất Đông Nam Á những năm 70 của thế kỷ XX) như chiếc cần cẩu khổng lồ nối đôi bờ Nam Bắc. Bến phà Long Đại xưa là một trong 7 di tích lịch sử cấp Quốc gia của huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Đền tưởng niệm liệt sĩ Trường Sơn bến phà Long Đại cũng là một điểm đến trên hành trình thăm lại chiến trường xưa của các Cựu chiến binh, Cựu thanh niên xung phong. Ngày nay là một điểm tham quan du lịch khá nổi tiếng và mang nhiều ý nghĩa của tỉnh Quảng Bình. Làng Long Đại trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước đã ghi dấu những chiến công hào hùng, hiển hách của quân và dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước - cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc đầy cam go và ác liệt.

Ông, bà, cháu, chắt gặp nhau tíu tít hàn huyên hỏi thăm sức khỏe, làm ăn sau những biến cố về dịch bệnh, thiên tai. Bà cố dắt mấy đứa chắt ra vườn ngắm những luống rau đẫm sương đang non xanh, mơn mởn. Tuy đã nhiều tuổi nhưng bà vẫn còn cắm cúi vườn tược, vui thú tuổi già. Vườn nhà trồng đủ thứ cây. Nào là chuối, đu đủ, rau cải, đậu cô ve, rau mùi… mỗi thứ một ít cũng đủ dùng. Thích nhất là luống cà chua đang xòe những nụ hoa vàng năm cánh, những quả tí xíu như viên bi chai đeo lủng lẳng trên cành trong thật vui mắt.

Ông nhạc phụ lấy tấm chiếu nhựa trải  giữa nhà rồi bày mâm rượu. Hai bố con nhâm nhi với những câu chuyện đầu năm mới. Rồi như có ít hơi men, những kỉ niệm về cuộc đời của ông bà, kỷ niệm miền quê một thời lửa đạn ùa về.  

Nhạc phụ tôi là ông Phan Công Nông  năm nay đã 93 tuổi và nhạc mẫu là bà Trần Thị Nguýt  ở tuổi 94. Tuy  tuổi cao nhưng ông bà còn khỏe mạnh và minh mẫn. Nhạc phụ cho biết, có được sức khỏe như bây giờ là do lao động, rèn luyện hợp lí, ăn uống điều độ, tinh thần sảng khoái vui vẻ và không hút thuốc lá.

          Thời trẻ, cha mẹ mất sớm nên ông bà phải vất vả kiếm sống. Bao nhiêu công việc nặng nhọc đều đổ lên vai của người anh cả, chị dâu trưởng. Hai người đã bươn chải với cuộc sống lên rừng xuống biển, trốn tránh bom đạn của giặc Pháp, nuôi 5 người em ăn học rồi dựng vợ, gả chồng cho họ trong hoàn cảnh thiếu đói quanh năm. Chưa hết, ông bà lại gồng mình nuôi bảy người con trong chiến tranh ác liệt của giặc Mỹ.

          Hai bố con đang chuyện trò say sưa, nhạc mẫu bưng lên những dĩa thức ăn đang bốc hơi, thơm lừng. Nhìn mâm đồ nhậu, cầm li rượu trên tay, nhạc phụ nói: “Hôm nay có được cuộc sống yên bình, có những bữa ăn ngon mà lòng ngậm ngùi không quên những năm tháng cơ hàn đã qua. Các con cần phải biết để ghi lòng tạc dạ với những gian nan, vất vả, tình thương yêu  của ba mẹ, để biết vươn lên trong cuộc sống, sánh vai cùng anh em bạn bè, để ba mẹ vui lòng”. Rồi giọng ông lắng xuống: “Lúc ba còn nhỏ được cha mạ nuôi ăn học, rước thầy về trong nhà dạy học cho đến khi đi thi yếu lược (tương đương lớp 1-3 bây giờ). Và sau đó học đến bậc “École primaire” (tương đương bậc tiểu học bây giờ), taị Trường Xuân Dục (xã Xuân Ninh). Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền về tay Nhân dân, niềm vui sướng trào dâng trong lòng mỗi người dân. Tháng 7 năm 1946, ba đi thi Primaire tại Đồng Hới để học lên. Nhưng niềm vui chưa được bao lâu thì tháng 3/1947 giặc Pháp trở lại đánh chiếm Đồng Hới các trường, lớp đều giải tán nên ba trở lại nhà. Tại quê nhà, giặc Pháp về đóng đồn ở thôn Trần Xá xã Hàm Ninh và lô cốt ở Đuồi Diện thôn Cổ Hiền, xã Hiền Ninh. Ngày đêm chúng đi càn quyét bắn giết người khả nghi Việt Minh, vơ vét của cải. Làng xóm tiêu điều, xơ xác.  Lúc này bà con làng xóm có người phải vào rừng sâu, có nhà phải sơ tán hai bên bờ sông dựa vào sườn núi. Có gia đình bồng bế con cháu, gồng gánh lên Trường Sơn để lánh nạn. Ông nội các con sắp xếp đưa cả nhà lên Khe Lùi, Bãi Cơm, còn ông ở nhà một mình bám vườn, coi sóc nhà cửa. Ngày 29 tháng 3 năm 1947(mồng 7 tháng 2 âm lịch), địch đi càn sang làng ta. Tiếng súng, lựu đạn nổ ì oàng cả xóm. Trên trời máy bay oanh tạc thả bom. Chúng nghi ngờ Việt Minh trên chiến khu về làng. Ông nội lúc đó không tránh kịp bị thương, chạy theo giao thông hào xuống xóm Ngư Thủy (xóm Sáo), rồi nằm cạnh hầm trú ẩn và qua đời (hưởng dương 53 tuổi- 1894 -1947).

          Năm 1949, sau khi mãn tang ông nội, bà nội quyết tâm cho ba đi học lên bậc trung học để mong làm nên sự nghiệp.  Lúc bấy giờ ở huyện Tuyên Hóa có Trường Phan Bội Châu mới mở. Anh rể là Ngô Cáo, (chồng chị thứ hai) góp ý nên ra học ở đó. Ba cùng với một số người trong huyện đi học nên thuê voi người Vân Kiều chở hàng hóa, tư trang còn người lẽo đẽo đi bộ hết 9 ngày. Đường rừng núi âm u, đèo dốc. Vượt qua Cửa Tràng (xã Trường Sơn), ra Cà Ròong (Bố Trach), về Đồng Lê đến Minh Cầm (Tuyên Hóa) để học. Lúc đó còn nhỏ, nhớ nhà cuộc sống vất vả, ăn nhờ ở đậu nhưng ba vẫn cố gắng vượt qua, chăm chỉ học hành. Nhưng rồi được tin ở Hoa Thủy, Mỹ Đức huyện Lệ Thủy mở trường, thấy thuận tiện nên ba xin về đó để học cho gần nhà. Khi về đến xã Trường Sơn hôm trước, hôm sau các anh liên lạc ở Bến Lùi lên báo tin bà nội ốm nặng đã đưa lên bệnh viện dã chiến khu ở chiến khu của huyện đóng tạ Bến Tiêm (xã Trường Sơn). Ngày sau lại được tin bà đã mất đưa về Kim Sen (xã Trường Xuân) chôn cất. Đó là năm 1949. Khi ba và o thứ hai (là Phan Thị Trong) về dến Kim Sen thì không thấy ai cả, chỉ thấy nấm mồ lù lù đất mới. Trời đất như sụp đổ. Hai chị em ôm nhau khóc ròng rã. Cha đã mất khi em út còn trong bụng mạ, chừ em mới được 2 tuổi mạ cũng vội vã ra đi không lời dặn dò, không lời từ biệt. Trời ơi! Một đàn em thơ nhỏ dại biết sống sao đây? Ba đành bỏ học, chịu khó, chịu khổ dắt díu một đàn em 5 người nhỏ dại cùng nhau tập tành làm ăn”. Kể đến đây ông cầm ly rượu nhấp ngụm nhỏ như giấu đi giọt nước mắt đang chực rơi xuống.

Mẹ vợ ngồi bên lắng nghe, giọng xúc động, thêm vào: “Khổ lắm con à. Năm 1949, Việt Minh phát động phong trào về đồng bằng để hoạt động nắm thời cơ diệt địch, tề điệp. Bọn giặc Pháp cùng ngụy quân, tề điệp theo dõi tìm cách quấy phá. Chúng đưa ca nô cho quân đổ bộ lên làng ta bắn giết trâu bò, cướp của. Cùng năm đó chúng cho lính đốt hết nhà cửa nhằm làm mất chỗ dựa của Việt Minh. Làng bị cháy rụi không sót nhà nào. Người dân phải gồng gánh, dắt díu nhau đi trốn, đi sơ tán lên Bến Huyện dọc sông Long Đại, làm lán trại sau đuồi khe. Cái đói cái rét, bệnh tật luôn đeo bám vào cuộc sống của người dân lúc bấy giờ. Mẹ lúc đó cũng tham gia dân quân,du kích, nấu cơm cho bộ đội, làm tiếp tế, cứu thương…”

          Khi bình tĩnh trở lại, bố vợ kể tiếp: “Khi ba đến tuổi trưởng thành, ba tham gia lực lượng dân quân du kích. Luyện tập, canh gác, học mật mã để liên lạc với bộ đội. Rồi tham gia Thanh niên cứu quốc, tham gia tổ thông tin, địch vận, dạy bình dân học vụ. Ngày sản xuất, tối dùng loa bằng mo cau quấn lại hay loa bằng tôn, kêu gọi lính ngụy ở đồn Trần Xá, ở lô cốt Đuồi Diện quay súng đánh Pháp về với Nhân dân.

          Thấy hoàn cảnh khó khăn, các em còn nhỏ dại mà ba phải đi công tác thường xuyên nên mọi người động viên ba lấy vợ để lo toan cuộc sống cho gia đình. Năm 1952, ba cưới vợ. Thế nhưng chưa được mấy tháng, vợ đau ốm qua đời, nỗi mất mát này chồng lên nỗi đau khác. Rồi o Nại (em kế ba) đi lấy chồng, gia đình lại càng neo người làm. Cuộc sống túng quẩn làm cho ba không biết nghĩ cách nào hơn. Mọi người động viên lấy vợ khác để gánh vác việc gia đình, cho ba rảnh rang lo việc đoàn thể. Thế là “rổ rá cạp lại”, ba kết hôn với mẹ con đây mặc dù bà lớn tuổi hơn. Đó là vào một ngày đẹp trời tháng 11 năm 1954, khi giặc Pháp đã rút quân khỏi Quảng Bình. Lúc đó ba với mẹ cùng có hoàn cảnh giống nhau. Mẹ con cũng là người thiếu thốn tình cảm, gia đình cũng khổ cực. Ba mẹ đã thông cảm hoàn cảnh của nhau về chung một nhà, kề vai sát cánh vượt qua bao khó khăn, tủi hờn, lo toan gánh vác nuôi em, nuôi con trưởng thành đến bây giờ.

          Sau hòa bình lập lại, ba mẹ vào hợp tác xã (HTX), làm ăn tập thể. Năm 1961, nhờ có học hành, có biết ít vốn tiếng Pháp ba được chính quyền địa phương cho đi học bổ túc văn hóa tại Lệ Thủy. Năm 1962, ba đi học lớp y tá và tốt nghiệp y tá sơ cấp tại Đồng Hới.  Sau đó ba về tham gia vào làm việc Y tế thôn bản. Vừa tham gia lao động, vừa chạy chữa chăm lo sức khỏe cho bà con thôn xóm. Rồi năm 1965, giặc Mỹ điên cuồng “leo thang”, đưa máy bay bắn phá miền Bắc. Chiến tranh chống Mỹ tại quê nhà lúc bấy giờ rất ác liệt. Tại bến phà Long Đại bom đạn máy bay giặc Mỹ bắn phá liên miên suốt ngày đêm không ngớt. Kể từ năm 1965, đến 1972 bến phà Long Đại là trọng điểm đánh phá ác liệt nhất của máy bay giặc Mỹ. Nơi đây có các đơn vị pháo phòng không thường xuyên bắn trả những đợt máy bay Mỹ oanh tạc; nơi đây có nhiều kho lương thực, đạn dược, có bến phà thông bến sông Long Đại, chuyển người, vật tư chi viện cho miền Nam ruột thịt nên bọn “giặc trời” đã dùng mọi cách hòng ngăn chặn mọi hoạt động của quân và dân ta. Tuy chiến tranh ác liệt, cuộc sống vất vả nhưng ba mẹ cũng như bao người dân của thôn quê phải lên rừng khai hoang trồng khoai sắn, rau màu, chăn nuôi, chặt củi. Với tấm lòng thương yêu con, chăm lo cuộc sống gia đình, ba mẹ phải chịu  cảnh  “thắt lưng buộc bụng”  đã nuôi các con (7 người con) ăn học thành đạt. Lại nhớ, những năm tháng chiến tranh ác liệt, mẹ các con một mình gồng gánh đưa mấy đứa còn nhỏ đi sơ tán làng bên Cổ Hiền, rồi sang Nguyệt Áng, lên xã Trường sơn, còn hai chị em lớn hơn đi sơ tán (K8) ở Thanh Hóa. Ở lại quê chỉ có o út với ba. Ba làm y tá thôn, vừa sản xuất, vừa phục vụ chiến đấu. Những lần máy bay địch thả bom vào trận địa pháo cao xạ của bộ đội, vào hầm trú ẩn của dân, ba đều có mặt, băng bó cấp cứu nhiều người bị thương rồi đưa đi bệnh viện kịp thời. Ngày cũng như đêm không rời túi cứu thương. Người ta nghe kẻng báo động thì vào hầm trú ẩn, ba nghe kẻng báo động phải chạy bộ đến nơi có bom vừa nổ để phục vụ. Ba đã băng bó, hô hấp nhân tạo, cấp cứu cho hàng chục trường hợp các chiến sĩ bộ đội, thanh niên xung phong và người dân bị thương. Trong khi làm nhiệm vụ, có khi quên cả cơm, gói vài củ khoai nhét bên túi cứu thương, khi nào xong việc mới ăn cho qua bữa. Có lúc hầm của bộ đội bị máy bay dội bom sập, không có dụng cụ phải lấy mũ “cối” hoặc tay để moi đất. Bàn tay rĩ máu, khi băng bó cho thương binh cứ tưởng máu của họ chưa cầm. Tiếng bom địch dội xuống, tiếng pháo cao xạ của ta bắn trả ùng oàng, inh tai nhức óc”.  Một chi tiết chắc chưa được ghi chép vào sử sách, được bố vợ kể lại: “Để tránh tổn thất về người, xe chở bộ đội đến đầu làng Long Đại thì dừng lại. Bộ đội đi bộ đến bến đò giả chiến gần nhà mình do ông Phan Bọc đưa đón.  Đêm đêm, ông Phan Bọc cùng  dân quân địa phương chèo đò đưa bộ đội vượt sông. Rồi bộ đội hành quân qua thôn Đồng Tư đến thôn Xuân Dục đón xe, khi xe đã qua phà. Có một vài chiến sĩ bị sốt rét ba phải chăm sóc, tiêm thuốc. Cắt sốt lại vội vả lên đường”. Nhạc phụ vừa kể, vừa trầm ngâm nhìn nhạc mẫu như đồng tình với những cái gật đầu của bà. Tôi như đang tưởng tượng trước mắt mình là những thước phim về một cuộc đời khốn khó mà bố vợ đang chắp nối lại. Lòng tôi cũng nghẹn lại trong nỗi xúc động. Dừng lại giây lát, bố vợ nhìn tôi như muốn kể tiếp. Tôi nhìn ông khẽ gật đầu. Rồi ông kể: “Trong kháng chiến chống Mỹ, bến phà Long Đại là một trọng điểm máy bay địch thường xuyên đánh phá ác liệt. Bến phà Long Đại là “túi đựng bom” của không quân Mỹ, rồi pháo hạm đội 7 ngày đêm dội vào nhằm ngăn chặn sự chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam. Thật như: “Nơi mảnh bom thù dày hơn sỏi đá…/ Nơi một tấm ván phà mấy trăm vết đạn” (trích trong bài thơ: Đêm hành quân qua phà Long Đại của Vũ Đình Văn). Hàng ngàn dân thường, cán bộ, bộ đội, thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến của tuyến đường “Đông Trường Sơn” đã tham gia chiến đấu để đảm bảo cho mạch máu giao thông được thông suốt. Bến phà là nơi vận chuyển lương thực, súng đạn… góp phần quyết định cho công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Làng Long Đại ngày đêm bị bom địch cày nát. Làng xóm mù mịt khói bom. Hai bờ Long Đại có hệ thống trận địa phòng không tầm cao, tầm trung, tầm thấp như lưới lửa bủa vây bọn “thần sấm con ma”. Bộ đội chủ lực và dân quân du kích trực chiến ngày đêm đánh trả máy bay địch, bảo vệ bến phà. Gian khổ là vậy nhưng người dân ai cũng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào cuộc chống Mỹ cứu nước toàn thắng sẽ đến. Và rồi hạnh phúc cũng được vỡ òa. Ngày thống nhất Bắc Nam đã trở thành hiện thực, ngày 30 tháng Tư đi vào lịch sử, đã trở thành một mốc son chói lọi”.

Tuy khổ cực nhưng ông bà đã cố gắng vượt qua để nuôi các con ăn học. Theo cụ ông, chỉ có cố gắng học hành mới có cơ hội thoát khỏi nghèo đói, lạc hậu, vươn lên làm giàu. Một chi tiết mà bố vợ cho biết là: Các gia đình, người ta đựng thóc lúa,  khoai sắn vào chum để tránh bị cháy khi máy bay thả bom . Còn ông cất sách vở các con vào chum để sách vở khỏi bị cháy, các con còn có để học hành. Hạnh phúc lớn nhất bây giờ của ông bà là 5 người con gái và 2 con trai đều học hành, đỗ đạt có người là Tiến sĩ, Thạc sĩ, Bác sĩ, Giáo viên…. Và đã xây dựng gia đình, đều làm việc Nhà nước. Các cháu của ông bà giờ cũng đã trưởng thành. Tính đến thời điểm hiện tại (2023) có 14 cháu, 15 chắt nội, ngoại đuề huề vui thú tuổi già.  Hơn 60 năm chung sống, ông bà chưa bao giờ nặng lời với nhau trước mặt con cháu. Đối với lối xóm, ông bà luôn ân cần, tận tâm trong mọi việc nên bà con rất quý mến. Các con cháu thường xuyên quan tâm chăm sóc ba mẹ và thương yêu giúp đỡ lẫn nhau nên đại gia đình luôn hòa thuận, êm ấm.

Khi về già, cụ ông thôi không làm y tá thôn nữa. Hai cụ về chăm lo vườn tược, vui cùng con cháu. Hơn 30 năm tận tụy với nghề “thầy thuốc”, cụ ông không quản ngại khó khăn vất vả, hoàn thành nhiệm vụ. Nghỉ việc vì tuổi cao, không có chế độ đãi ngộ, nhưng cụ không một lời ca thán. Cụ bảo: “Mình thiệt thòi một thì những người cầm súng đánh Mỹ thiệt thòi mười, những thương binh, liệt sĩ còn thiệt thòi gấp trăm lần”. Với những thành tích đạt được, cụ ông được Nhà nước tặng thưởng Huy chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì và nhiều bằng, giấy khen khác. Cụ bà được tặng thưởng Huy chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất,  Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất. Được thế cũng toại nguyện lắm rồi.

Tuy tuổi cao, nhưng cụ ông vẫn tích cực làm vườn, cụ bà đi chợ, không dựa dẫm nhiều vào con cháu. Vườn hai cụ chủ yếu là vườn chuối, đu đủ và rau xanh mùa nào thức ấy. Thời gian rảnh rỗi, cụ ông làm thơ, hò vè, đọc sách báo cho cụ bà nghe, hoặc cùng bàn luận chuyện chính trị, xã hội…

 Năm 2013, cơn bão lũ làm xói lở đường liên thôn, cụ ông lúc đó 83 tuổi vẫn hăng hái cùng bà con cuốc đất, đổ đá tu sửa lại đường đi. Năm 2016, gia đình hai cụ và các con đã ủng hộ hơn 10 triệu đồng để xây nhà văn hóa thôn. Những năm qua, năm nào gia đình cũng được chính quyền công nhận là “Gia đình văn hóa, hiếu học”, xứng đáng là tấm gương sáng ở địa phương.

Đất nước thống nhất, lịch sử đã sang trang. Thôn Long Đại đã thay da đổi thịt. Cùng với cả nước, người làng quê chăm chỉ làm ăn, cuộc sống ngày càng khấm khá. Nhà cao, ngói mới. Điện, đường, trường, trạm khang trang hiện đại. Tuy giờ đây hai cụ không còn sức cống hiến nhưng tấm lòng hai cụ luôn hướng về nghiệp làm ăn của thôn xóm, của con cháu mà lòng cũng vui theo.

Chiều hè, các cụ trong xóm rủ nhau ra bờ sông ngắm nhìn những chiếc tàu, sà lan chở cát sạn, hàng hóa ngược xuôi. Ngắm nhìn những chiếc thuyền câu, thuyền chài lưới yên ả trên sông, ngắm trời mây thanh bình. Bên ấm trà tỏa hương, các cụ ôn lại quá khứ một thời Long Đại anh hùng mà lòng lâng lâng tự hào.

Trời xế chiều, tôi cùng vợ, con, cháu chia tay hai cụ. Hai cụ lặng nhìn đoàn cháu, chắt trong tình yêu thương trìu mến, đôi mắt ươn ướt. Tạm biệt bố mẹ vợ - ngoại của con - mà  lòng tôi thấy ấm áp lạ thường. Thật vinh dự khi mình là con rể của làng quê Long Đại anh hùng, con rể của hai cụ - những người đã một thời chắt chiu mồ hôi, trí lực cho con cháu rạng danh hôm nay và mai sau.

 

Nguyễn Đại Duẫn




Ảnh cụ bà, tết 2023




Ảnh cụ ông, 2018.




Cụ ông, người cầm nón, đang tu sửa đường do bão lụt, 2013.

 

Ảng hai cụ, tết 2023




      

 

READ MORE - NGOẠI CỦA CON - Bút ký - Nguyễn Đại Duẫn