Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, June 22, 2021

LỜI TÌNH BUỒN – Thơ Nhật Quang

 
 
       Nhà thơ Nhật Quang

 
Lời Tình Buồn
 
Cơn mưa chiều tháng Sáu
Cứ rơi nhanh rơi nhanh
Có tan đi nỗi nhớ
Có vơi đi nỗi buồn?
 
Giọt mưa chiều vẫn tuôn
Lơi rơi cành lá úa
Còn lạnh lùng trong ta
Con tim sầu tan tác
 
Mưa chiều rơi man mác
Mênh mang lời tình buồn
Có con chim nào hót
Để ta quên xót xa?
 
Chỉ còn lại nhạt nhoà
Tiếng mưa chiều ray rứt
Lời tình buồn tình buồn
Ta ngồi khóc, nhớ ai?
 
                  Nhật Quang
  
READ MORE - LỜI TÌNH BUỒN – Thơ Nhật Quang

CHÙM THƠ “ĐỊNH MỆNH” CỦA LÊ VĂN TRUNG


 


ĐỊNH MỆNH
 
Tôi sấp ngửa đời tôi những lá bài định mệnh
Như cuộc tình tôi sấp ngửa giữa tai ương
Em như mây như sương như nỗi buồn tôi chập chùng ẩn hiện
Như mùa thu tôi vàng úa mộng hoang đường
 
Tôi sấp ngửa đời tôi em sấp ngửa nỗi buồn
Con xúc xắc tung trăm lần vẫn rơi về hệ lụy
Em sấp ngửa tình tôi đồng xu cứ xoay hoài trên mặt đời lửa cháy
Tôi xoay tròn lảo đảo cuộc trăm năm
 
Ngọn gió oan khiên thổi suốt cuộc thăng trầm
Tôi úa lá rơi buồn trên mặt đất
Cuộc người kiếm tìm ngàn năm những cái còn cái mất
Nhát dao đời trăm vết chém dọc ngang
 
Tôi sấp ngửa đời tôi như tên lãng du phung phí những đam mê giữa giông bão điêu tàn
Em sấp ngửa cuộc tình tôi cứ đổ về quên lãng
Rơi mặt nào giữa hai màu tối sáng
Rơi mặt nào cũng tay trắng về không
Rơi mặt nào cũng thiên cổ phù vân
Dấu định mệnh in hằn trên lá bài sấp ngửa.
                                
 
ĐỊNH MỆNH THI SỸ (*)
(Thơ cho Cõi Lặng Im)
 
Này ngươi
Thi sỹ của mọi thời đại
Thi sỹ của những thi sỹ
Hãy nhận lấy vinh quang đời ngươi
Là nỗi khổ đau của nhân loại
Hãy nhận lấy hào quang đời ngươi
Là niềm thống hối đã Thánh hóa bằng phép rửa nhiệm mầu
Hãy nhận lấy ân huệ đời ngươi
Là những ly tan vỡ nát trong trái tim chuộc tội
Hỡi thi sỹ vĩ đại của thiên thu vĩ đại
Con đường hủy diệt đang chờ đợi ngươi
Sau bữa tiệc mừng phục sinh
Thơ ngươi sẽ ép thành rượu nho
Tưới lên những đóa hoa hồng
Trên cánh đồng Sự Sống
Mỗi nụ hoa là một nỗi khổ đau
Về một điều ước
Mỗi nụ hoa là một vì sao
Trong bầu trời Sự Thật
Này ngươi
Thi sỹ của Quê Hương Lưu Đày
Thi sỹ của Ngục Tù Nô Lệ
Của một chủng tộc đánh mất cội nguồn
Của ảo tưởng về một vỹ nhân
Của những lừa bịp nhân danh công lý
Nhân danh tự do và bánh mì
Hãy nhận lấy vòng hoa cuối cùng
Vòng hoa tang
Vòng hoa tang cho một Tổ Quốc bị bức tử
Hơn hai trăm năm
Như một Israel khác.

Lê Văn Trung
 
(*) Chữ của Kahlil Gibran

  

READ MORE - CHÙM THƠ “ĐỊNH MỆNH” CỦA LÊ VĂN TRUNG

CHỈ LÀ GIẤC MƠ – Thơ Vĩnh Thuyên

 
 
                              Nhà thơ Vĩnh Thuyên


CHỈ LÀ GIẤC MƠ
 
Những con đường đã đi qua
Không làm sao nhớ nổi
Mỗi một con đường
Nhiều quanh co khúc khuỷu
Không thể nào quên được
Là con đường trở về
 
Nhiều đêm mong mỏi dù một lần
Vì em đã dậy trưa nên không bao giờ nhìn thấy
Những giọt sương khóc với cành mềm
 
Và nếu không có ngày trở về
Làm sao biết được
Bạn bè tôi đứa còn đứa mất
Đứa ở thật xa đứa ở cũng gần
Vì cơm-áo nên xa dần tình nghĩa
 
Nếu có ngày trở về
Dù đong đầy bạc tiền và nước mắt
cũng không đổi được thời gian
Không còn lại gì…
Còn một giấc mơ!
 
VĨNH THUYÊN
 
*
 
Tên thật: Dương Văn Thạnh
Email: duongvnhthuyen@gmail.com
Long Thành, Nam Hòa Thành, Tây Ninh
 
READ MORE - CHỈ LÀ GIẤC MƠ – Thơ Vĩnh Thuyên

THÁNG SÁU... MỘT THOÁNG XA XĂM, NÀY ANH – Thơ Đan Thuỵ



 
THÁNG SÁU... MỘT THOÁNG XA XĂM
 
Chạy dọc niềm tin anh lặng lẽ tìm…
khi hè về tháng sáu
Người thiếu nữ có trái tim nhân hậu
Con phố hồn nhiên, chiều rong duổi
Lơ đãng bâng quơ, khuấy động nỗi niềm
 
Anh cúi nhặt tiếng cười em trong gió
Hoa bằng lăng tím góc phố chiều nay
Con đường nhỏ nắng trải đầy thương nhớ
Dưới chân mình xào xạc tiếng lá reo
 
Tháng sáu
bầu trời xanh hơn, cao hơn
Những tia nắng len mình qua tán lá
Ghé chạm cánh phượng hồng mềm mại
Nồng nàn như mùa hạ mênh mông
 
Tháng sáu đến rồi! qua rồi
em có về không?
Nơi riêng anh với Loa Kèn vẫn đợi
Năm tháng trôi vô tình như gió
Cố nhặt lại mình trong nốt lặng tiếng ve
 
Anh trở về tìm nỗi nhớ mông mênh
Thương se sẻ trên cành xanh đợi bạn
Nơi bối rối...
không lời yêu vội vã
Một thoáng xa xăm...
tháng sáu vô tình
 
 
NÀY ANH...
 
Nắm chặt tay nhau đi anh
cùng viết nên vần thơ sau những nụ cười
để nghe tiếng chiều rơi thầm lặng
đừng buông tay khi dòng thơ im vắng không lời
 
Những ngày xa em
anh bảo tim mình trống vắng
thiếu tiếng cười anh vô tình làm rơi nơi hò hẹn
em bối rối cố tình giữ chặt làm tin
như tình yêu thầm thì ủ kín đóa hồng gai...
 
Bàn tay em vô tình chạm vào kí ức
sợ làm đau kỉ niệm nhiệm màu
lặng lẽ gửi anh lời yêu dấu kín
trên câu thơ ngắn- dài như màu nắng trên cao
 
Có một ngày
giữa khoảng lặng mênh mang
bóng hoàng hôn như lời anh gọi thầm tên em
trong tiềm thức tự ru mình bằng nỗi nhớ
sẽ hiểu tình em giành cho anh là mãi mãi
câu thơ ngắn- dài vô tận những niềm đau
 
Có một ngày
mây trắng về giăng mắc mái tóc nhau
anh bảo ước mơ của anh đã dần đầy
cho dẫu ước mơ cũng chỉ là mơ ước
hoà quyện khát khao không có dáng hình
em vẫn nghe tim mình ấm- nóng một vòng tay...
 
Đan Thụy
 
*
Bút danh: Đan Thụy
Tên thật: Đàm Thị Hải
Công ty Tây Ninh CoSinCo
KM27, QL22B, Long Thành Nam
Hoà Thành - Tây Ninh
Email: damhaitn@gmail.com
 
READ MORE - THÁNG SÁU... MỘT THOÁNG XA XĂM, NÀY ANH – Thơ Đan Thuỵ

GIẤC CHIÊM BAO QUÊ NHÀ, CUỐI MÙA PHƯỢNG BAY... – Thơ Tịnh Bình

 
               Nhà thơ Tịnh Bình


GIẤC CHIÊM BAO QUÊ NHÀ
 
Khoảng trời xanh vời vợi
Triền đê cọng cỏ gà
Viên bi vờ lẻn trốn
Mùa gió...
          bướm cùng hoa...
 
Thả lên trời diều giấy
Chấp chới giữa bao la
Giấc hồn nhiên thơ bé
Mơ về phương trời xa...
 
Rồi một ngày ta lớn
Xa vòng tay mẹ cha
Chuyến đò chiều rời bến
Sông đỏ mắt phù sa
 
Bụi thị thành vương mắt
Xốn xang lòng quê xa
Tiếng gà trưa ảo vọng
Giấc chiêm bao quê nhà...
 
 
CUỐI MÙA PHƯỢNG BAY...
 
Lấy gì đong tiếng ve trưa
Màu hoa thầm nhắc mùa xưa dại khờ
Học trò áo trắng ngây thơ
Mùa xa hư ảo đã mờ khói sương
 
Chia tay lưu bút vấn vương
Đành thôi giã biệt mái trường phong rêu
Tùng tùng trống đổ mà yêu
Nồng nàn khúc hạ ve kêu cháy lòng
 
Bướm hồng cánh phượng hoài mong
Tình thư một thuở trắng trong buổi đầu
Xếp vần thơ vụng đôi câu
Nằm im trong cặp úa màu thời gian
 
Lấy gì đong tiếng ve ran
Người tìm dư ảnh cũ càng hạ xưa
Con đường nắng
Con đường mưa
Rắc trời tiếc nhớ cuối mùa phượng bay...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)
 
READ MORE - GIẤC CHIÊM BAO QUÊ NHÀ, CUỐI MÙA PHƯỢNG BAY... – Thơ Tịnh Bình

TỰ TRÀO – Thơ Nguyên Lạc


                     Nhà thơ Nguyên Lạc
 

Nhân ngày Father's Day - chủ nhật 20 tháng 6, tôi post lại bài "Tự Trào" cho vui cửa vui nhà và... buồn mình.
Ở đời, điều khả thi nhất, không sợ "vỡ đầu xức trán" là tự châm biếm, tự chế giễu, tự nói xấu mình. Tôi cũng "tự trào" chắc không ai phiền, phải hôn?
 
I.
TỰ TRÀO CỦA NGƯỜI XƯA
 
Tự trào là tự châm biếm, chế giễu bản thân.
Này nhé:
 
1.
Thiên hạ sinh ra chán vạn nghề
Làm thầy làm thợ lại làm thuê
Có ai làm được như ông nhỉ?
Sáng vác ô đi, tối vác về.
(Tự trào của Trần Tế Xương)
 
2.
Nghĩ mình mà gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng.
(Tự trào của Nguyễn Khuyến)
 
Rõ ràng cả hai ông thi bá này đều buồn về bản thân mình nên  đành châm chọc lấy mình cho đỡ buồn.
Bắt chước tiền nhân, tôi cũng tự chế giễu, tự nói xấu mình xem sao:
 
II.
TỰ TRÀO BẢN THÂN
 
TỰ TRÀO
 
Lão rồi chỉ thích nghĩ vu vơ
Tóc đã tuyết sương mặt thẫn thờ
Vương tửu bốn thang sao cũng hỏng? *
Vai-rờ hai vỉ vẫn im rơ **
Đào tơ cũng chịu làm sao mó?
Gái đẹp đành thua hổng dám sờ
Ấm ức? Tức đi đời thế đó
Ngưng thôi! Đừng tiếc thuở "ba giờ"!
 
Nguyên Lạc
............
 
* Vương tửu/ Minh Mạng tửu: "Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử"
** Vai-rà / Vai- rờ: phát âm của Dược vương Viagra

READ MORE - TỰ TRÀO – Thơ Nguyên Lạc

ĐỌC “DẠ CA” THƠ NGÃ DU TỬ - Châu Thạch

 

 
                      
DẠ CA
 
Ngựa mỏi vó nằm bên chuồng gợi nhớ 
chốn bụi hồng hun hút tận non xa 
và tráng sĩ còn mài gươm đêm lạnh
lời nguyền xưa về thức suốt canh tà 
                                 
Ngã Du Tử
 



ĐỌC “DẠ CA” THƠ NGÃ DU TỬ
                                        Châu Thạch
 
Đọc bài thơ “Dạ Ca” của Ngã Du Tử, nếu ai còn nhớ bài thơ “Thuật Hoài” của Đặng Dung thì sẽ có một sự liên tưởng thú vị.
 
“Thuật Hoài” là bài thơ tự sự của Đặng Dung khi ông đem quân giúp vua Trùng Quang Đế của nhà Hậu Trần, nhưng do lòng người ly tán, quân binh ít ỏi, lương thực thiếu thốn nên cuối cùng đã thất bại. Bài thơ thể hiện ý chí sắt đá của một người anh hùng nhưng không may là không gặp thời thế, công việc chưa xong thì tuổi đã già.
 
 THUẬT HOÀI
 
Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỉ độ long tuyền đới nguyệt ma
 
ĐẶNG DUNG

 
Bản dịch của Phan Kế Bính 
 
Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
 
Từ xa xưa có những tráng sĩ, những danh tướng chỉ để lại cho đời một vài bài thơ mà được người đời sau ca tụng. Những bài thơ của Lý Thường Kiệt, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư nằm trong trường hợp này. Lý Thường Kiệt với bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” có câu “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, Trần Quang Khải có “Đoạt sáo Chương Dương độ”, Trần Khánh Dư có bài Bán Than. Đó là những danh tướng lẩy lừng có hùng thi để lại cho đời.
 
Đặng Dung ngược lại, không phải là một danh tướng có chiến công lẫy lừng. Đặng Dung chỉ là một vị tướng trong sử sách, ông để lại cho đời chỉ có một bài thơ duy nhất, đó là bài Thuật Hoài (hay Cảm Hoài). Với “Thuật Hoài” tên Đặng Dung đã vào văn học sử, và người đời sau khi đọc bài thơ, không ai không thấy cảm hoài...
 
Đọc “Thuật Hoài” lòng ta sẽ cảm động thấy tác giả là một nhà ái quốc, một dũng tướng, một tráng sĩ, mang nỗi sầu triền miên bất đắc chí. Hai câu thơ cuối đem đến cho ta nỗi xót xa, gợi cho ta thấy hình ảnh đẹp tuyệt vời của người tráng sĩ mài gươm dưới nguyệt.
  
Sở dĩ người viết bài nầy nhắc nhiều đến “Thuật Hoài” của Đặng Dung vì “Dạ Ca” của Ngã Du Tử mang đầy đủ hình ảnh của một tráng sĩ mài gươm dưới nguyệt như Thuật Hoài của Đặng Dung mà còn hơn thế nữa, Ngã Du Tử phát họa vào bức tranh “Dạ Ca” toàn cảnh quê hương híu hắt, đến cả nỗi sầu cũng thể hiện trong dáng nằm của con tuấn mã.
  
Hãy đọc câu thơ đầu tiên để nhìn con tuấn mã của Dạ Ca: “Ngựa mỏi vó nằm bên chuồng gợi nhớ”.
    
Bây giờ hãy mời nghe ca từ trong bài hát “Dấu Chân Địa Đàng” của Trịnh Công Sơn để ta đồng cảm với nhà thơ Ngã Du Từ khi nhìn hình ảnh con ngựa “buông vó chùng chân” “nằm bên chuồng gợi nhớ”:
 
“Ngựa buông vó người đi chùng chân đã bao lần
Nửa đêm đó lời ca dạ lan như ngại ngùng
Vùng u tối loài sâu hát lên khúc ca cuối cùng
Một đời bỏ ngõ đêm hồng
Ngoài trời còn dâng nước lên mắt em
...........................

Ngàn mây xám chiều nay về đây treo lững lờ
Và tiếng hát về ru mình trong giấc ngủ vùi
Rồi từ đó loài sâu nửa đêm quên đi ưu phiền
để người về hát đêm hồng
địa đàng còn in dấu chân bước quên.”
 
Con ngựa của Ngã Du Tử mỏi vó nằm bên chuồng để nghe tiếng dạ ca là tiếng ca của đêm. Con ngựa của Trịnh Công Sơn buông vó nằm nghe “lời ca dạ lan” và nghe cả lời “loài sâu hát lên” lúc nửa đêm. Con ngựa của Ngã Du Tử nằm bên chuồng “gợi nhớ”. Con ngựa của Trịnh Công Sơn nằm nghe hát để “ru mình trong giấc ngủ vùi”, để quên bước chân mình còn in dấu trên địa đàng. Cả hai con ngựa đều có linh hồn, đều biết thương nhớ và đều mang tâm sự của chủ nó. Khác chăng là con ngựa của Ngã Du Tử không nhớ những điều viễn vông, chỉ nhớ “Chốn bụi hồng hun hút tận non xa” là nhớ những tháng ngày oanh liệt theo chủ mình, một kỵ sĩ đi làm việc lớn chăng?
 
 Với câu thơ thữ hai “chốn bụi hồng hun hút tận non xa” Ngã Du Tử dời hình ảnh con ngựa đang yếm thế, đang mỏi vó về một qúa khứ hào hùng, lồng bức tranh bụi hồng, non xa trong bức tranh yên nghĩ, đã nâng giá trị con ngựa, đã làm sống động hình ảnh, tạo thêm  ý nghĩa cho thơ, và đưa thơ vào một hình ảnh khác mạnh hơn, đẹp hơn, ý nghĩa cao vời hơn nứa. Đó là hình ảnh của “Cảm Hoài”, hình ảnh người tráng sĩ mài gươm dưới nguyệt:
   
và tráng sĩ còn mài gươm đêm lạnh       
lời nguyền xưa về thức suốt canh tà 
 
Dạ Ca của Ngã Du Tử khác với “Thuật Hoài” của Đặng Dung, Đặng Dung luận về chuyện đời ở những câu thơ trên, rồi hai câu thơ cuối đột nhiên đưa hình ảnh nổi bậc, thấm dậm nỗi đau nhức nhối của người anh hùng thất thế. Ngã Dũ Tử trong Dạ Ca không thổ lộ tâm tư, không bình luận việc phải trái của đời, nhà thơ chỉ vẽ một bức  tranh “Ngựa Và Người” trong bốn câu thơ đủ nói lên tất cả. 
 
Ngã Du Tử dùng hai câu thơ đầu, nói về ngựa để bộc lộ những hoài niệm, những nhớ thương chất chưa trong lòng tráng sĩ. Ngã Du Tử dùng hai câu thơ sau, nói về người để bộc lộ tư thế hiên ngang, bộc lộ chí khí của người tráng sĩ cùng vận mạng non nước mà người chí sĩ canh cánh bên lòng. Dạ Ca của Ngã Du Tử là một bài thơ Thuật Hoài kiểu mới, đưa tâm sự vào tranh, đưa nỗi lòng vào trong ẩn dụ của thơ, không than van không kể lể dông dài.
 
Ngã Du Tử đặt tựa đề bài thơ là “Dạ Ca” rất hay. Dạ ca là tiếng ca của đêm, đêm ở đây không phải chỉ là đêm để con ngựa “nằm bên chuồng gợi nhớ”, không chỉ là đêm “tráng sĩ mài gươm”, mà còn là đêm rất dài của thời cuộc, của bóng tối trùm lên non nước. Đêm ở đây có thể là “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu/Một trăm năm đô hộ giặc Tây”, nghĩa là đêm của Dạ Ca không chỉ là đêm vật lý mà còn là đêm tâm lý của mỗi con người có tấm lòng khi dất nước chìm trong nghịch cảnh.
 
Đọc Dạ Ca của Ngã Du Tử, ta nghe tiếng ca đó vọng từ ngàn năm, qua bao thế hệ. Khi tổ quốc bình an, đất nước yên vui, không có ai phải mài gươm dưới nguyệt thì tiếng ca đó vẫn tiềm ẩn trong đêm, bởi vì “Lời nguyện xưa” của cha ông chúng ta, của tổ tiên chúng ta vẫn còn “về thức suốt canh tà” để nhắc nhở mỗi chúng ta không bao giờ quên giữ nước. 
                                 
Châu Thạch
 
READ MORE - ĐỌC “DẠ CA” THƠ NGÃ DU TỬ - Châu Thạch

Monday, June 21, 2021

DỌC ĐƯỜNG GIÓ BỤI, ĐOẢN KHÚC 56 - 60 (TRONG 100 ĐOẢN KHÚC) – Thơ Khaly Chàm


 
                      Nhà thơ Khaly Chàm

 
trích đoản khúc: dọc đường gió bụi
 
56.
ngày tàn bóng chạy đi tìm
nhấp nhô ba động hình im bặt nhìn
địa tầng nghiêng cháy tâm kinh
vía câu níu bóng thần linh cau mày
 
57.
mùa nào chiếc lá vàng bay
trắng lòa nắng quái khôi hài thời gian
rơi nghiêng che ngọn khói hoang
nửa che mắt lửa ẩn tàng vô căn
 
58.
hồn nhiên với đất khô cằn
vực đêm hú gọi… nhập nhằng chiêm bao
vòng quay phủ dụ niềm đau
cũng đành úp mặt tan vào ngày xanh
 
59.
phì phèo sợi khói mong manh
đỉnh hồn treo ám trên cành thiên thu
dập đầu chiêm bái ngục tù
chùm khuôn mặt lạ hát ru thánh thần
 
60.
vai chùng thập ác ngàn cân
điều răn cát bụi bàn chân khóc thầm
hiên đời che trú bao năm
đất đai hoang hoải chỗ nằm nào yên
 
khaly chàm
 
READ MORE - DỌC ĐƯỜNG GIÓ BỤI, ĐOẢN KHÚC 56 - 60 (TRONG 100 ĐOẢN KHÚC) – Thơ Khaly Chàm

HOA THƯỢC DƯỢC - Chu Vương Miện

 






READ MORE - HOA THƯỢC DƯỢC - Chu Vương Miện

Sunday, June 20, 2021

CHA TÔI - Thơ PhamPhanLang - Nhạc Mộc Thiêng - Ca sĩ Ngọc Quy






Ca khúc:  Cha tôi
Thơ:  phamphanlang
Nhạc:  Mộc Thiêng
Hoà âm:  Quang Đạt
Hình ảnh:  Giethoorn, "Venice of the Netherlands" - phamphanlang
 
Cha tôi Thương cha tóc đổi màu Lưng cha gầy cong mau Con nhìn cha lệ ứa Đời cha lắm bể dâu Nước mắt cha mờ hoen Năm tháng vẫn chưa quên Những chuỗi ngày lưu lạc Xa xóm làng tổ tiên Giờ đây chân cha mỏi Cõng đời lắm oan khiên Đôi vai cha trĩu nặng Chất chứa bao muộn phiền Thương con vó ngựa hồng Sa trường nợ núi sông Một ngày mây giăng phủ Con thôi hết tang bồng Cha thẫn thờ bắt nắng Như đuổi bắt phù vân Trên dòng đời xuôi ngược Cha bỗng lạc đường trần Tim cha không còn nóng Như một thuở kình ngư Một hôm cha nằm xuống Vĩnh biệt đời ngàn thu.... phamphanlang

Những hình ảnh trong clip Cha Tôi là của ngôi làng Giethoorn, một ngôi làng cổ kính, yên bình, được mệnh danh là "Venice of Hòa Lan", cách Amsterdam khoảng 120 km về phía Tây Bắc.

Ngôi làng được thành lập từ năm 1230 bởi những người tị nạn đến từ miền Nam Hòa Lan.  Những người này  đã tìm thấy những mỏ than bùn ở đây.  Họ đào hố khai thác trong nhiều năm.  Sau đó những hố than này đã trở thành những hồ nước. 

Trong làng không có đường cho xe chạy, phương tiện giao thông chỉ có thuyền và xe đạp. Do đó ở đây 700 năm không phải sửa đường vì không có xe hơi chạy.  Thay vào đó là 176 cây cầu nhỏ bắc qua những con kênh đào xinh xắn được phủ rợp bởi những hàng cây xanh râm mát.

Nhà ở Giethoorn rất độc đáo, mái nhà được lợp bằng cỏ lau, rất bền vững và chắc chắn, mát mẻ về mùa hè, ấm áp vào mùa đông, chịu được nắng gió ít nhất 40 năm.

PL đến thăm làng Giethoorn vào đầu mùa Xuân khi cây cỏ và hoa lá chưa xanh thắm và nở rộ sắc màu. Dù vậy, được chèo thuyền trên những con sông uốn khúc, sóng vỗ lăn tăn và dừng chân ở đầu cầu nghe tiếng chim hót trong không gian yên tỉnh, thanh bình, PL tưởng như mình đang ở trong bức tranh huyền thoại.

Xin mời nghe ca khúc Cha Tôi và xem hình ảnh ngôi làng Giethoorn thơ mộng, cổ kính.

Happy Father's Day!
Thân quý
PLang

READ MORE - CHA TÔI - Thơ PhamPhanLang - Nhạc Mộc Thiêng - Ca sĩ Ngọc Quy

ĐÊM QUỲNH HƯƠNG - Thơ Trần Mai Ngân

 


ĐÊM QUỲNH HƯƠNG 

 

Đêm bung thùa mở toang những chiếc khuy

Nửa ánh sáng của vầng trăng soi tròn phập phồng nhịp thở

Gió cứ thế vội vàng lỡ dở

Chợt ngưng, chợt dừng… quỳnh hoa đang thổn thức

 

Đêm đã chìm… chìm sâu tận đáy sầu

Vỗ về con tim ngoan ngoan ngủ đi

Hơi thở vội trên rèm mi - xin lỗi!

Đoá quỳnh hương vừa nở hết xuân thì

 

Vẫn là đêm thức trắng mà sao đầy mộng mị

Vách lặng câm bàn tay buông một bàn tay

Rời đi, thì thôi vậy!

Ngoài cửa sổ cánh quỳnh hương xếp lại. Đêm đã qua đời!

 

Trần Mai Ngân


READ MORE - ĐÊM QUỲNH HƯƠNG - Thơ Trần Mai Ngân

CÒN THƯƠNG RUỘNG LÚA, BỜ TRE - Thơ Trần Đức Phổ

 



Còn Thương Ruộng Lúa, Bờ Tre



Quê hương là khoảng trời xanh
Là đồng lúa chín, là tranh lợn gà
Từ ngày rời bỏ quê cha
Hằng mong trở lại mái nhà tuổi thơ

Nhớ cây đa, nhớ con đò
Nhớ rừng dương biếc, nhớ bờ tre xanh
Nhớ dòng sông nhỏ hiền lành
Nhớ làn khói quyện mái tranh xóm nghèo

Chao ôi! Nhớ biết bao nhiêu
Tiếng con chim gáy gù kêu bạn tình
Nhớ đêm trăng sáng sân đình
Gái trai nô nức, rập rình nhạc thơ

Xứ người phố rộng, nhà to
Nhưng lòng thấp thỏm, âu lo, muộn phiền...
Quê hương ai nỡ đành quên
Ví như cái họ cái tên của mình.

tranducpho
READ MORE - CÒN THƯƠNG RUỘNG LÚA, BỜ TRE - Thơ Trần Đức Phổ

Saturday, June 19, 2021

THƯ GỞI CON TRAI NHÂN NGÀY LỄ CHA - Nguyễn Đức Tùng

 C:\Users\BS TUNG\Desktop\34 ANH DEP\ANH DEP 1\IMG-1535.JPG

THƯ GỞI CON TRAI NHÂN NGÀY LỄ CHA 

Nguyễn Đức Tùng 


Khi lên năm tuổi, một hôm con gọi điện cho ta nhắc rằng bảy giờ chiều hôm ấy có chương trình Jeopardy mà ta thích theo dõi, vậy ráng thu xếp về sớm. Ta cám ơn con về lời nhắc. Bất cứ cha mẹ nào khi nghĩ đến con, không phải chỉ nghĩ đến lời cám ơn của chúng dành cho mình, điều vẫn xảy ra, mà còn nghĩ đến lòng biết ơn của họ đối với con cái. Nhờ trẻ con mà chúng ta lớn lên, nhờ có chúng mà chúng ta được hạnh phúc làm người đi trước, che chở, chỉ đường. Nhờ có lời nhắc của con, hôm ấy ta về nhà sớm hơn mọi khi, mặc dù việc bận rộn, và có một buổi tối cả nhà cười phá lên trước cái ti vi vui nhộn, những câu hỏi hóc búa. Những cha mẹ đi làm việc bên ngoài thỉnh thoảng nên nhận được lời nhắc về nhà sớm như vậy, vì tuổi thơ mau chóng qua đi, khi bạn thu xếp được thì giờ thì bọn trẻ đã lớn, không cần chúng ta nữa. Ngày trước thỉnh thoảng cha của ta, tức ông nội con, vẫn dành thì giờ đạp xe chở con trai đi chơi nơi này nơi khác, hay từ nhà đến trường, từ trường về nhà. Thật là những kỷ niệm khó quên. Một lần lúc lên bảy tuổi, ngồi sau yên xe đạp mải ngắm cảnh vật bên đường ta đút bàn chân vào nan hoa xe, ngay chỗ xích xe đang quay. Bàn chân phải. Ta thét lên hãi hùng vì đau đớn. Ta ngã xuống, máu chảy đầm đìa trên da thịt, trên mặt đường. Cái xích xe đạp và những nan hoa đã nghiến qua mắt cá chân trong, kéo rách một mảng da thịt rộng. Cơn đau làm ta ngất đi. 

Khi tỉnh lại thì đã nằm trên giường bệnh, người y tá giữ chặt hai tay vì ta khóc lớn quá, nhìn thấy bác sĩ mặc áo choàng trắng đi ủng cao chuẩn bị may vết thương. Đó là khoa cấp cứu bệnh viện, bên kia sông. Ta không nhớ đoạn đường mà cha ta cõng ta đi, xa hay gần, cực nhọc ra sao. Lúc ấy ta la khóc không chịu nằm yên, đau thì ít mà sợ hãi thì nhiều, khiến cả bác sĩ và y tá vất vả, thậm chí thuốc gây tê cũng không tác dụng. Cha ta ngồi xuống bên cạnh đặt tay lên trán và bắt đầu kể cho ta nghe những câu chuyện hàng ngày ta vốn thích nghe. Những câu chuyện nào vậy? Cây tre trăm đốt? Con quạ và cây khế? Robinson trên hoang đảo? Bây giờ ta không nhớ. Lời kể của ông làm ta dịu đi, bớt hốt hoảng. Ta bắt đầu để yên cho thầy thuốc khử trùng, gây tê, cắt lọc vết thương, băng bó. Có lẽ vết thương không nguy hiểm lắm, không vỡ xương nhưng chảy máu nhiều. Đặc tính của con người là khi bạn càng sợ hãi, bạn càng hung hăng, bạo động. Những câu chuyện kể của cha ta đã làm ta bớt sợ hãi, tin vào lòng tốt như phép lạ, lòng ta dịu lại, bớt hốt hoảng, cơn đau cũng giảm đi. Ông đã kể bao nhiêu chuyện hôm đó, ta không nhớ. Cuộc tiểu phẫu thuật kéo dài bao lâu, nửa giờ hay một giờ, ta không biết. Nhưng nó lâu lắm. Ta càng lắng nghe, càng thích thú với diễn tiến câu chuyện, cơn đau càng bớt đi, ta lấy lại lòng can đảm và biết vâng lời. Ta nghiệm ra rằng chỉ những người dũng cảm mới biết vâng lời. Sự hèn nhát chỉ dẫn tới tuân lệnh mê muội. Đối với một cá nhân hay một dân tộc, vâng lời và tuân theo một cách mê muội khác nhau. Ta nghe những câu chuyện cổ tích rồi ngủ thiếp, phần vì mệt, phần vì giọng kể êm đềm ru ta vào một thế giới khác, thế giới của tuổi thơ dịu dàng thanh tịnh. 

Yêu thương một điều gì là muốn cho điều ấy tốt đẹp, lâu bền, nguyên vẹn. Đồ vật như áo quần, ly tách, sách vở, sinh vật như chó mèo, chim chóc, hoa cỏ, đến những thứ lớn lao hơn như sông núi, nhưng lớn nhất vẫn là con người. Sau một mùa đông kéo dài, người ta chào mừng lễ hội tình yêu vào mùa xuân, nhưng tình yêu ấy cũng không chỉ giới hạn trong quan hệ nam nữ, mà mở rộng ra những quan hệ khác. Thực ra những tình yêu lừng lẫy trong lịch sử, nổi tiếng trên màn bạc, như trong phim Titanic hay Cleopatra hay Anna Karenina chỉ quyến rũ người ta vì những ý tưởng lãng mạn; tình yêu thực sự tác động đến đời sống của con lại là những tình cảm khác hẳn, không mang đậm bi kịch như vậy, không đưa được vào phim ảnh, nhưng chúng làm nên đời sống của chúng ta: tình cha mẹ và con cái, tình anh chị em, bạn bè, lòng thương yêu của con đối với chiếc giường ngủ, cái cặp sách con cầm trên tay, tiếng chim hót buổi sáng, một con chim gõ kiến kêu twik ktwik ktwik lúc nào cũng dậy năm giờ sáng. Ngược lại, những tình yêu lãng mạn trong lịch sử thường mang tính bi kịch, chỉ xảy ra trong những hoàn cảnh đặc biệt. Vì nhiều lý do, nghệ thuật ít quan tâm đến tình cảm bình thường, hàng ngày, mà con người dễ bỏ qua, những tình cảm ấy không rộn ràng, không ồn ào, không lấy nước mắt của độc giả và khán giả, nhưng chúng dệt nên đời sống chúng ta. Đem lòng yêu một người ngay lập tức trong phút đầu gặp gỡ không phải là không xảy ra, nhưng chúng hiếm và đằng sau điều ấy là sự kém hiểu biết đối với người khác, vì vậy quan hệ dễ tan vỡ. Tình cha mẹ yêu con, con yêu cha mẹ, anh chị em bà con yêu nhau, là những tình cảm đôi khi không được chú ý, không sôi nổi, bay bổng, nhưng chúng cần thiết như khí trời, nước lã, chỉ khi nào con mất đi mới thấy sự cần thiết.

Thỉnh thoảng ta vẫn nhìn thấy một vết sẹo nhỏ kéo dài ở mắt cá chân trong bên phải. Năm tháng trôi qua vết sẹo mờ đi, người khác khó nhận ra, chính ta phải nhìn kỹ mới thấy. Vết thương nào cũng vậy, thời gian làm chúng liền lại. Nhưng vết sẹo ấy vẫn còn đó như lời nhắc nhở về một kỷ niệm đầu đời, đứa con trai ôm chặt lấy lưng ba nó, vòng hai tay ra trước ngực, siết chặt cổ làm ông nghẹt thở. Đứa con trai khóc ngất trên vai ông, mới đầu nó la hét, vết thương chảy máu dữ quá, vừa đau rát vừa sợ hãi, về sau nó lịm đi. Người cha cõng con, cúi gập người chạy. Ông bỏ lại chiếc xe đạp, hình như bị sút dây xích hoặc đứt gẫy không chữa được, ném nó vào bụi rậm, khi quay lại nó vẫn còn đó. Người đàn ông rịn mồ hôi, áo sơ mi trắng lấm lem vết máu, ông dùng hai tay vòng qua hai bắp chân đứa bé, không nghĩ đến cơn đau nhức ở bắp chân của mình, chạy băng qua những đám cỏ dại, những vũng bùn, bụi trinh nữ đầy gai bụi cẩm chướng nở rộ. Ông hít thở khí trời, lấy sức mà chạy. Đứa con trai nửa mơ nửa tỉnh, ngửi thấy mùi mồ hôi của cha mình. Mùi mồ hôi ấy một buổi trưa nắng vàng, nhiều năm sau, ở một nơi xa đất nước, lại trở về với đứa con trai như mùi ngọc lan đối với thiếu nữ, mùi cá trên bãi biển đối với người đánh cá, mùi phấn viết bảng với người thầy giáo, mùi rượu đối với kẻ thất sủng. Những câu chuyện kể đem lại phương thuốc hữu hiệu an ủi con người lúc lâm nguy, chiếu sáng lòng tin của họ. Thế giới mà chúng ta đang sống không chỉ được cấu tạo nên bởi các tế bào, các phân tử di truyền, mà còn được tạo nên bởi những câu chuyện và lời kể chuyện của một người, một người duy nhất trong đời mỗi chúng ta, không ai thay thế được. 

Ta cám ơn con đã đến cuộc đời này, trở thành con của ta và của mẹ con, trở thành đồng bào. Mỗi khi có chuyện buồn bã lo âu, thất vọng về người khác hay về mình, khuôn mặt tươi vui của con hiện ra trong trí tưởng tượng làm lòng ta dịu lại. Con há chẳng phải món quà của thượng đế hay sao. Ta tự hào về con, tự hào được làm người sinh ra con, cầm tay dẫn đi trên đường, dù chỉ một đoạn ngắn, rồi buông. Có lần ta nằm ngủ, sau một đêm thức trắng, con xông vào phòng, nhảy lên ngực ta. Đó là một cảm giác kinh ngạc, hoảng sợ. Ta mở choàng mắt, tức giận, hét lớn, muốn vung tay lên, nhưng con lại nhìn ta nhoẻn miệng cười. Ta chắc rằng tất cả những người từng làm cha làm mẹ, đều nhớ những cảm giác tương tự. Lần ấy nằm trên lưng của cha ta, khi người băng qua cánh đồng rồi chạy bộ trên đường rải nhựa nóng, qua cầu, ta không biết gì, nửa thức nửa mê, thế nhưng sau này đôi khi vẫn nhớ lại, vô thức trỗi dậy, làm việc, ta còn nhìn thấy khuôn mặt của cha bên giường bệnh, cúi xuống, đầy thương yêu và lo lắng, và ta hình dung được khuôn mặt của một đứa trẻ khi ấy, đã bớt đau, mỉm cười, và ta không hề biết rằng đó là món quà lớn mà mình đã tình cờ mang tặng cho bậc thân sinh. Thực ra đó cũng chẳng phải là món quà của ta đâu, mà của một thực hữu cao hơn, ta chẳng qua chỉ là người cầm trên tay mang lại. 

Làm như thế, nghĩ như thế, con sẽ nhìn ra sự tiếp diễn của xã hội, sự luân lưu của lòng biết ơn lẫn nhau của nhân loại, vốn nương tựa vào nhau, nhìn ra tính toàn vẹn của đời sống, nhờ thế mà trong mỗi chiếc thau đồng rửa mặt của chúng ta nơi đứa con đi xa mới trở về nhà, cúi mặt xuống, đều chiếu một vầng trăng.

Nguyễn Đức Tùng

(Thư Gởi Con Trai 31, viết cho ngày chủ nhật thứ 3 của tháng 6.)



READ MORE - THƯ GỞI CON TRAI NHÂN NGÀY LỄ CHA - Nguyễn Đức Tùng