Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, February 5, 2021

CHI TIẾT XẤU ĐẸP CỦA 10 NGÀY ĐẦU NĂM TÂN SỬU - 2021 - Đặng Xuân Xuyến

 



CHI TIẾT XẤU ĐẸP CỦA 10 NGÀY

ĐẦU NĂM TÂN SỬU - 2021

*

Trước thềm năm mới 2021, Đặng Xuân Xuyến lược soạn bài CHI TIẾT XẤU ĐẸP CỦA 10 NGÀY ĐẦU NĂM TÂN SỬU - 2021 quý tặng bạn đọc như một món quà nho nhỏ mừng Xuân Tân Sửu - 2021!

Kính chúc quý bạn đọc cùng gia quyến đón xuân mới đầm ấm, vui vẻ và bước vào năm TÂN SỬU thật may mắn, thành công và hạnh phúc!


01. NGÀY MỒNG MỘT

- tức thứ 6 ngày 12/02/2021

Ngày Tân Mão                        Giờ Mậu Tý

Hành: Mộc         Sao: Cang        Trực: Trừ

Là ngày Chu Tước, ngày Hắc Đạo, kỵ các việc như: sinh nở, cưới hỏi, khởi dựng, nhậm chức, chôn cất, kiện tụng... Nên làm những việc như: thăm quan, cầu cúng, san nền, chữa bệnh...   

Không tốt với các tuổi:

Ất Dậu     Tân Dậu     và     Kỷ Dậu

Giờ Hoàng Đạo:

Tý (23g - 01g)

Dần (03g - 05g)

Mão (05g - 07g)

Ngọ (11g - 13g)

Mùi (13g - 15g)

Dậu (15g - 17g)

Hướng xuất hành:

Hỷ Thần: Tây Nam

Tài Thần: Tây Nam

Hạc Thần: Chính Bắc


02. NGÀY MỒNG HAI

- tức Thứ 7, ngày 13/02/2021

Ngày Nhâm Thìn                 Giờ Canh Tý

Hành: Thủy         Sao: Đê         Trực: Mãn

Là ngày Kim Quỹ, ngày Hoàng Đạo, nên tiến hành các việc như: Xuất hành, khai trương, nhập học, cầu tài, nhập trạch, mở xưởng, nhập hàng,... Nên tránh các việc: Cưới hỏi, kiện tụng, nhận chức, động thổ,...

Không tốt với các tuổi:

Nhâm Tuất    Giáp Tuất    và    Bính Tuất

Giờ Hoàng Đạo:

Dần (03g - 05g)

Thìn (07g - 09g)

Tỵ (09g - 11g)

Thân (15g - 17g)

Dậu (17g - 19g)

Hợi (21g - 23g)

Hướng xuất hành:

Hỷ Thần: Chính Nam

Tài Thần: Tây Bắc

Hạc Thần: Chính Bắc


03. NGÀY MỒNG BA

- tức Chủ Nhật ngày 14/02/2021: 

Ngày Quý Tỵ                     Giờ Nhâm Tý

Hành: Thủy     Sao: Phòng     Trực: Bình

Là ngày Kim Đường, ngày Hoàng Đạo, tuy là ngày Hoàng đạo nhưng là ngày Sát Chủ nên cần tránh tiến hành các việc quan trọng như: Cưới hỏi, làm nhà, phong chức, khởi tạo, làm bếp... Chỉ nên tiến hành các việc: cúng tế, thăm hỏi, sửa chữa...

Không tốt với các tuổi:

Ất Hợi    Đinh Hợi    và   Quý Hợi

Giờ Hoàng Đạo:

Sửu (01g - 03g)

Thìn (07g - 09g)

Ngọ (11g - 13g)

Mùi (13g - 15g)

Tuất (19g - 21g)

Hợi (21g - 23g)

Hướng xuất hành:

Hỉ Thần:  Đông Nam

Tài Thần: Chính Tây

Hạc Thần: Tây Bắc


04. NGÀY MỒNG BỐN

- tức thứ 2 ngày 15/02/2021: 

Ngày Giáp Ngọ                   Giờ Giáp Tý

Hành: Kim       Sao: Tâm       Trực: Định

Là ngày Bạch Hổ, ngày Hắc Đạo, tốt cho các việc: Kết thân, sửa chữa, khai trương, giao dịch, cưới hỏi... Không nên làm các việc: An táng, kiện cáo, tế tự, xuất hành, động thổ...

Không tốt với các tuổi:

Mậu Tý     Nhâm Tý    và    Giáp Tý

Giờ Hoàng Đạo:

Tý (23g - 01g)

Sửu (01g - 03g)

Mão (05g - 07g)

Ngọ (11g - 13g)

Thân (15g - 17g)

Dậu (17g - 19g)

Hướng xuất hành:

Hỉ Thần:  Đông Bắc

Tài Thần:  Đông Nam

Hạc Thần: Tây Bắc


05. NGÀY MỒNG NĂM

- tức thứ 3 ngày 16/02/2021: 

Ngày Ất Mùi                         Giờ Bính Tý

Hành: Kim         Sao: Vỹ         Trực: Chấp

Là ngày Ngọc Đường, ngày Hoàng Đạo, tốt cho các việc: Cưới hỏi, xây nhà, khai trương, nhập trạch,... Không nên tiến hành các việc như: An táng, đóng giường, xuất hành (nhất là đường thủy)...   

Không tốt với các tuổi:

Kỷ Sửu    Quý Sửu    và   Ất Sửu

Giờ Hoàng Đạo:

Dần (03g - 05g)

Mão (05g - 07g)

Tỵ (09g - 11g)

Thân (15g - 17g)

Tuất (19g - 21g)

Hợi (21g - 23g)

Hướng xuất hành:

Hỉ Thần:  Tây Bắc

Tài Thần: Đông Nam

Hạc Thần: Đông Nam


06. NGÀY MỒNG SÁU

- tức thứ 4 ngày 17/02/2021: 

Ngày Bính Thân                    Giờ Mậu Tý

Hành: Hỏa           Sao: Cơ          Trực: Phá

Là ngày Thiên Lao, ngày Hắc Đạo, tốt cho các việc: Cầu phúc, xuất hành, giải oan, tế tự, cưới hỏi, ... Nên tránh các việc: Động thổ, xuất tiền, nhận chức, nhập học, kiện cáo, cầu thân,... 

Không tốt với các tuổi:

Canh Dần    Nhâm Dần    và    Bính Dần

Giờ Hoàng Đạo:

Tý (23g - 01g)

Sửu (01g - 03g)

Thìn (07g - 09g)

Tỵ (09 - 11g)

Mùi (13g - 15g)

Tuất (19g - 21g)

Hướng xuất hành:

Hỉ Thần:  Tây Nam

Tài Thần: Chính Đông

Hạc Thần: Tây Nam


07. NGÀY MỒNG BẢY

- tức thứ 5 ngày 18/02/2021: 

Ngày Đinh Dậu                        Giờ Canh Tý

Hành: Hỏa          Sao: Đẩu          Trực: Nguy

Là ngày Nguyên Vũ, ngày Hắc Đạo, tốt cho các việc: Cúng tế, cầu phúc, săn bắt, làm xưởng, xuất hành, động thổ, nhập trạch... Không tốt với các việc: An táng, cưới hỏi, thừa kế,... 

Không tốt với các tuổi:

Quý Mão    Đinh Mão    và    Tân Mão

Giờ Hoàng Đạo:

Tý (23g - 01g)

Dần (03g - 05g)

Mão (05g - 07g)

Ngọ (11g - 13g)

Mùi (13g - 15g)

Dậu (17g - 19g)

Hướng xuất hành:

Hỉ Thần:  Chính Nam

Tài Thần: Chính Đông

Hạc Thần: Tây Nam


08. NGÀY MỒNG TÁM

- tức thứ 6 ngày 19/02/2021: 

Ngày Mậu Tuất                       Giờ Nhâm Tý

Hành: Mộc        Sao: Ngưu       Trực: Thành

Là ngày Tư Mệnh, ngày Hoàng Đạo, tốt cho các việc: Cúng tế, nhập trạch, khởi tạo, san nền, chữa bệnh, thu mua gia súc,... Nên tránh các việc: Động thổ, kiện tụng, cưới hỏi, xuất hành,... 

Không tốt với các tuổi:

Nhâm Thìn   Mậu Thìn   và    Bính Thìn

Giờ Hoàng Đạo:

Dần (03g - 05g)

Thìn (07g - 09g)

Tỵ (09g - 11g)

Thân (15g - 17g)

Dậu (17g - 19g)

Hợi (21g - 23g)

Hướng xuất hành:

Hỉ Thần:  Chính Bắc

Tài Thần:  Đông Nam

Hạc Thần: Đông Nam


09. NGÀY MỒNG CHÍN

- tức thứ 7 ngày 20/02/2021: 

Ngày Kỷ Hợi                         Giờ Giáp Tý

Hành: Mộc          Sao: Nữ         Trực: Thu

Là ngày Câu Trần, ngày Hắc Đạo, nên tiến hành các việc như: Cầu phúc, tế tự, trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt,... Không nên làm các việc: Động thổ, an táng, xuất hành, cưới hỏi, xây dựng,...

Không tốt với các tuổi:

Quý Tỵ     Đinh Tỵ     và   Kỷ Tỵ

Giờ Hoàng Đạo:

Sửu (01g - 03g)

Thìn (07g - 09g)

Ngọ (11g - 13g)

Mùi (13g - 15g)

Tuất (19g - 21g)

Hợi (21g - 23g)

Hướng xuất hành:

Hỉ Thần:  Đông Bắc

Tài Thần: Chính Nam

Hạc Thần: Đông Bắc


10. NGÀY MỒNG MƯỜI

- tức Chủ Nhật ngày 21/02/2020: 

Ngày Canh Tý                       Giờ Bính Tý

Hành: Thổ           Sao: Hư         Trực: Khai

Là ngày Thanh Long, ngày Hoàng Đạo, tuy vậy, lại là ngày Sát Chủ vì thế chỉ nên khởi sự với những công việc như: khởi công lò xưởng, sửa chữa phòng ở, tu sửa bếp núc, lắp đặt điện nước, thăm hỏi bạn bè, cầu phúc, may vá, cầu thần, an táng.... còn các việc quan trọng như: cưới hỏi, xuất hành, giao dịch thương mại, động thổ,... thì nên tránh.

Không tốt với các tuổi:

Bính Ngọ      Canh Ngọ    và     Giáp Ngọ 

Giờ Hoàng Đạo:

Tý (23g - 01g)

Sửu (01g - 03g)

Mão (05g - 07g)

Ngọ (11g - 13g)

Thân (15g - 17g)

Dậu (17g - 19g)

Hướng xuất hành:

Hỉ Thần:  Tây Bắc

Tài Thần: Chính Nam

Hạc Thần: Tây Bắc


Kính chúc quý vị cùng gia quyến một năm mới an khang thịnh vượng!

*.

Hà Nội, 02 tháng 02 năm 2021

ĐẶNG XUÂN XUYẾN



READ MORE - CHI TIẾT XẤU ĐẸP CỦA 10 NGÀY ĐẦU NĂM TÂN SỬU - 2021 - Đặng Xuân Xuyến

HAI ĐỨA ... - Thơ Trần Mai Ngân

 


HAI ĐỨA...


Hết nửa chai Chivas
Hỏi nhau đã say chưa
Xoè bàn tay ra đếm
Ba, bốn, năm...lại mười...

Rồi hai đứa cùng cười
Cụng ly đầy khí phách
Đôi mắt lườm như thách
Thách mình quên nhau đi...

Rót đầy thêm một ly
Hai đứa dành nhau uống
Dưới đáy ly luống cuống 
Đôi môi thẳm đợi chờ...

Cạn thêm ly hững hờ 
Ừ thôi, phải vậy thôi
Hai đứa cùng nhau uống
Cho cạn lời chia phôi

Sắp hết chai Chivas
Còn một ly cuối cùng
Hai đứa lại uống chung
Rồi đi về đôi ngã...

Mùa xuân đang và đã
Đến bên ta thật gần
Hai đứa mình ân cần
Chúc cho nhau hạnh phúc

Bây giờ đã đến lúc
Ta phải đi về nhà
Đêm ba mươi vỡ oà 
Ngày mai là tết dến!

Trần Mai Ngân


READ MORE - HAI ĐỨA ... - Thơ Trần Mai Ngân

CÁNH ĐỒNG XUÂN – Thơ Tịnh Bình




CÁNH ĐỒNG XUÂN
 
Tiễn mùa đi buổi chiều không ngoảnh lại
Phía hoàng hôn mơn trớn nắng sau đồi
Không thấy nữa khăn sương choàng vai núi
Vệt khói đồng bãng lãng sợi mồ côi
 
Trong thinh lặng hạt mầm nào say ngủ
Phía triền đê quang gánh mẹ đi về
Mùa khe khẽ lay chồi non vừa thức
Đã xa rồi đông giá lạnh tái tê
 
Loanh quanh mãi cũng trở về chốn cũ
Cuối con đường tim tím nở loài hoa
Trên mái ngói bầy sẻ nâu tình tự
Chớm giao mùa ai hát khúc tình ca
 
Này là gió đang mơn man vòm lá
Phía trời hoang trắng lối bóng mây ngàn
Rộn tiếng xuân nói gì đàn chim én
Mưa gieo nắng mọc cánh đồng xuân... Xuân...
 
                                                  TỊNH BÌNH

READ MORE - CÁNH ĐỒNG XUÂN – Thơ Tịnh Bình

THẦY DẠY VĂN CỦA TÔI - Nguyễn Đức Tùng

 

Thầy cô Đỗ Tư Nhơn - Hồ Thị Tú


Khi mọi chuyện qua rồi, tâm trí mờ ảo, ký ức không nguyên vẹn, tôi vẫn tin rằng ngôi trường của tôi, thầy và bạn, cũng như ngôi nhà của cha mẹ tôi, sẽ ở lại sau cùng. Kỷ niệm bao quanh những con người ấy, đường đi học, dòng sông tập bơi, trang sách dưới hiên thơm lài lý, sẽ dẫn tôi về chốn cũ.

Một buổi trưa, tôi đứng trên hành lang nhìn qua cửa sổ phòng học. Ngoài trời, mưa tầm tã. Tôi nhìn thấy thầy đứng quay lưng về phía lớp, viết lên bảng đen mấy câu thơ. Mấy chục năm xa cách, tôi vẫn nhận ra cái dáng của thầy, gầy, cao cao, mái tóc. Tôi chờ ông quay lại, mừng thấy mình đoán đúng: thầy Đỗ Tư Nhơn. Thầy dạy văn của tôi, cũng là giáo sư hướng dẫn lớp đệ tứ. Phòng học im phăng phắc, nghe rõ tiếng lật sách vở. Hình ảnh thật lạ lùng, như bộ phim quay ngược lại hai mươi năm, những khuôn mặt ấy, những bàn ghế ấy, lớp học sáng ấm áp, ngoài trời mưa to, những giọt mưa thu ướt nhưng không lạnh, quyến rũ, nhảy nhót trên sân. Tiếng giảng bài của thầy đều đều vang lên, câu Kiều đẹp lộng lẫy, tình yêu say đắm mà người giảng bài dành cho văn chương không thay đổi. Thầy rời bục giảng đi xuống giữa hai hàng ghế, cúi nhìn tập vở các em. Tôi nhìn thấy khuôn mặt của thầy, đổi thay theo năm tháng, nhưng vẫn còn nét trẻ trung, tươi cười ngày nọ. Tôi chưa vội lên tiếng. Tôi muốn nhìn các em học trò, tưởng tượng thấy cảnh lớp học đệ tứ dấu yêu của tôi ngày trước.
 
Mùa hè năm ấy, chiến tranh tang tóc, tôi vội vã xa thầy xa bạn, không kịp chào nhau. Đứng giữa sân trường ngơ ngác nhìn mỗi người đi một ngã, tôi cứ tưởng ngày gặp lại không xa lắm, lại cùng nhau cười đùa trước cổng trường, dưới hàng sầu đông, phượng vĩ. Tưởng vài ngày mà hóa hai mươi năm, dài như chính cuộc chiến tranh, một đời gạch tan ngói vỡ, tuổi trẻ chỉ còn là kỷ niệm.
 
Tôi nhớ ngày đầu thầy đến lớp chúng tôi, đó là buổi chiều tháng chín nhưng trời mưa, mái tóc bồng bềnh, thầy tự giới thiệu mình là “con ngựa hoang” từ những ngày rong chơi Đà Lạt về. Cách nói chuyện thân mật, cởi mở, hài hước, làm chúng tôi thích ông thầy trẻ ngay từ buổi học đầu. Thầy cũng là giáo sư cố vấn, sau này gọi là giáo sư hướng dẫn. Chương trình quốc văn năm Đệ tứ khá nặng so với những lớp khác, gồm các bài tập làm văn nghị luận, phân tích trích đoạn tiểu thuyết, học văn chương trung đại, Chinh phụ ngâm, Kiều. Sau khi giới thiệu qua chương trình, thầy ra đề cho bài nghị luận đầu tiên, làm một tiếng rưỡi, đến nay tôi vẫn nhớ: Nhà triết học Vương Dương Minh có nói “Người không có chí như thuyền không lái, như ngựa không cương, trôi dạt lông bông không ra thể nào cả”, em hãy bình luận câu nói trên. Một đề bài mời gọi, kích thích sự tưởng tượng, phán đoán. Bài luận ấy không những có ích cho học sinh, mà cũng là lời giới thiệu đối với người ra đề, lý tưởng giáo dục của thầy. Thầy có nhiều bạn bè trong giới văn học nghệ thuật, những lúc rảnh cũng hát, tập cho chúng tôi những bài ca sinh viên thịnh hành hồi đó, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của Nguyễn Đức Quang, các bài trong tập ca khúc Da vàng của Trịnh Công Sơn, Đàn bò vào thành phố, Nối vòng tay lớn. Đệ tứ là năm cuối cùng tôi học văn trọn vẹn nhất, mỗi tuần từ sáu đến tám giờ, vì sau đó tôi học ban toán. Dưới sự dìu dắt của thầy, chúng tôi học lối nghị luận, kể chuyện, nghệ thuật hành văn, thể thơ lục bát, song thất. Học Nguyễn Bá Học, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Thơ mới, Tự lực văn đoàn. Đọc trở thành một nghệ thuật, đọc cũng sáng tạo như viết. Trong khi đọc, bạn tham gia vào quá trình hình thành chữ nghĩa. Mê văn chương trở thành tình yêu đối với cuộc sống. Nhờ đọc sách, nhờ học những giờ quốc văn, chúng tôi biết cách diễn tả một ý tưởng bằng tiếng Việt rõ ràng, cách quan sát thiên nhiên, cách nhận xét về người khác, như kiểu tác giả nhận xét về nhân vật. Những giờ học thật thú vị, nghiêm khắc mà vui tươi, sâu xa, hào hứng. Học sinh chìm trong lời giảng của thầy, trong tình yêu mà thầy mang đến từ văn học. Qua văn chương, chúng tôi yêu mến cuộc đời, yêu mến nền tự do phóng khoáng này, yêu mến nhân loại công chính này. Tác phẩm văn học không phải là chuyện cổ tích trong đó người tốt bao giờ cũng gặp may, kẻ xấu bao giờ cũng bị trừng phạt, khi bạn khổ đau liền có bà tiên xuất hiện với bàn tay mát rượi đặt lên trán. Không, văn học buồn hơn thế, khắc nghiệt hơn thế, như chính cuộc đời đầy chia ly, bất công, tan vỡ, có khi cái xấu chiến thắng, cái tốt đẹp bị dập vùi. Ngày ấy khi học Kiều tôi tưởng tượng thêm rằng Kim Trọng không về quê để tang cho người chú ruột, Từ Hải không đầu hàng, hoặc khi chết rồi một hôm trở lại vì trước khi bị chém, với sự giúp sức của Kiều, chàng kịp thời bỏ trốn. Năm tôi học lớp chín, trường tổ chức số báo đầu tiên, đặc san xuân 1971. Thầy gọi tôi viết bài, tôi liều mạng làm một bài thơ lục bát, không dám lấy tên thật vì mắc cỡ, mà lấy biệt hiệu Nguyễn Thị Thái Hư, hình như bắt chước tên một nhân vật của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Anh Dũng tôi khen đó là một bài thơ có triển vọng, mặc dù anh ấy chưa bao giờ đánh giá cao năng khiếu văn học của tôi. Năm sau, đặc san xuân 1972, tôi có thêm bài thơ lục bát thứ hai, bài Thiên Nhiên được thầy Phạm Sửu diễn ngâm trong đêm văn nghệ tất niên 1972, trước tết. Thầy dạy văn hình như lớp trên, mắt sáng, tóc mướt nghệ sĩ. Giọng thầy ấm áp, sang trọng. Thầy Phạm Sửu mất trên đường di tản trong mùa hè đỏ lửa, ba tháng sau. Cả hai số báo xuân ấy là công sức của nhiều thầy trò, nhưng thầy Nhơn, trưởng ban báo chí, chịu trách nhiệm chính. Hai số báo non trẻ ấy là hai cánh cửa mở vào thế giới văn chương đối với tôi, đối với nhiều người khác.
 
Cuối năm học 1971, kết thúc lớp đệ tứ, nhà trường tổ chức lễ mãn khóa, phát phần thưởng cho học sinh giỏi và có thành tích trong các môn khác nhau, ở rạp Kim Châu, trung tâm thị xã. Nếu tôi nhớ không lầm, ngày thứ bảy mười hai tháng sáu, buổi sáng. Đó là lần đầu tiên trường Nguyễn Hoàng tổ chức lễ mãn khóa lớn như vậy. Rạp Kim Châu là rạp chiếu bóng duy nhất của một tỉnh lỵ nhỏ nhưng là một toà nhà được xây dựng có mỹ thuật, thanh nhã, khang trang. Mái nhà cao, nền cũng cao, hành lang ba bên thoáng mát, sân trước rộng rãi có quán bán nước mía và xe hủ tiếu, phía sau là tháp nước của thị xã. Tôi ngồi ở hàng giữa, bên phải, sát lối đi. Hôm ấy ba tôi dẫn tôi đến, ngồi cạnh tôi, phía quan khách có ông phó tỉnh trưởng, các vị phụ trách ngành giáo dục của tỉnh, thầy hiệu trưởng Thái Mộng Hùng, thầy tổng giám thị Hồ Ngọc Thanh, thầy giám học Nguyễn Thiện, hầu hết thầy cô của tôi đều có mặt. Mỗi lớp tôi đều có một hay hai thần tượng: thầy Hoàng dạy toán hấp dẫn, cao, đẹp trai, thầy Bảo dạy sử địa hay mê mẩn, cô Thu Cúc làm tôi yêu côn trùng, cây cỏ, mặc áo dài đẹp hết biết, cô Châu hiền và đẹp như tài tử, thầy Ngân dạy Pháp văn thương tôi nhưng hay nhéo tai tôi, thầy Thị dí dỏm, cô Hoắc Hương hay cười. Những đứa học sinh xuất sắc từ đê thất đến lớp tú tài lên nhận phần thưởng. Sau khi nhận phần của mình, tôi lại được gọi lên lần nữa. Tôi thật bất ngờ, vì không biết trước. Đó là phần thưởng đặc biệt của giáo sư Đỗ Tư Nhơn. Tôi ngỡ ngàng bước lên sân khấu, thấy người thầy của mình từ đằng sau cánh gà bước ra với một chồng sách nặng trên tay. Tôi cảm động quá, lí nhí cảm ơn rồi quay về chỗ. Không ai hiểu đúng sở thích của tôi hơn thầy. Tôi ngồi ôm chồng sách trên đùi, sung sướng tới nỗi tay chân run lên. Ba tôi ngồi bên cầm chặt tay tôi, không nói gì, có lẽ giờ phút ấy ông cũng xúc động lắm. Tám cuốn sách mà thầy cho tôi hôm ấy, tôi để cẩn thận trên bàn học bên cửa sổ, ngày nào cũng mở ra nhìn chúng, đọc đi đọc lại. Mỗi cuốn đều có chữ ký của thầy. Tôi nhớ cuốn Ảo tượng, một tập truyện nhiều tác giả, Cõi người ta của Antoine de Saint Exupéry do Bùi Giáng dịch, Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyền, Tùy bút của Mai Thảo, Mối tình màu hoa đào của Nguyễn Mạnh Côn. Tôi tự dặn lòng là những cuốn ấy sẽ vĩnh viễn nằm trên bàn học của tôi, trong tủ sách của tôi, đi đâu tôi cũng mang theo cho đến cuối đời. Không biết rằng chưa đầy một năm sau tôi đã phải từ giã chúng ra đi, và khi tôi trở lại, chúng không còn nữa. Những quà tặng vùi trong gạch đá, tro tàn. Giờ đây tôi muốn đi tìm chúng, mở ra, úp mặt vào đó, ngửi mùi thơm của giấy, của dạ lý hương đêm đêm bay vào sách, nhưng không cách nào làm được nữa. Nhiều đêm tôi đi tìm chúng bằng ký ức của mình.
 
Trong chồng sách tặng thưởng năm đó, tập truyện Ảo tượng tôi đọc kỹ nhất. Truyện ngắn của Nhất Hạnh, làm nhan đề chung, với câu mở đầu tôi nhớ. "Sáng nào cũng vậy, tôi dậy trước anh Hưng nửa giờ đủ để rửa mặt, chải đầu, trang điểm và lo điểm tâm cho hai anh em và cháu Yên Chi". Câu chuyện bất ngờ, giọng văn nhẹ nhàng, sâu lắng, như lối trò chuyện tâm tình của tác giả trong những bài giảng về đạo Phật. Những truyện khác trong tập đẹp phơi phới như cánh đồng mạ non, như mùa thu chín tới, từ một nền văn học tươi trẻ nhân văn, bừng bừng sức sống.
 
Năm đó, thầy Nhơn lập gia đình với cô Tú, cũng là cô giáo dạy văn. Một lần tôi thấy cô và thầy đi ngang trường, người mặc âu phục, người mang áo dài với chiếc dù xanh sọc, hình ảnh thật đẹp. Mấy mươi năm sau, khi gặp lại, tôi vẫn nhìn thấy thầy cô trong hình ảnh đầu tiên của mình, một buổi trưa trời mưa xuân lất phất trên con đường gần bên cổ thành, phía trước mặt Nguyễn Hoàng. Thầy đã sống và làm việc qua bao nhiêu thay đổi của thời cuộc, chắc chắn đã trải qua những ngày hạnh phúc và những ngày đầy lo nghĩ, nhưng lúc nào cũng gắn bó với trường, lớp, với học trò cũ. Tôi nghĩ thầy đã cố gắng ở lại với mảnh đất nghèo khổ này, cố giữ cho mình một tiếng nói trung dung, hiểu biết, như một chiếc cầu nối lại những bến bờ chia cách. Tôi không biết quan hệ thầy trò hiện nay ra sao, so với chúng tôi thời ấy thì nghiêm khắc hơn hay cởi mở hơn, nhưng nếu có dịp trò chuyện với thế hệ học sinh của thầy những năm gần đây, tôi sẽ kể lại những kỷ niệm của mình cho họ nghe. Kể về một thành phố nhỏ, bụi bặm xe nhà binh, tiếng pháo kích vọng về đêm đêm, không được thanh bình như bây giờ nhưng đường phố lại đông vui tấp nập hơn, và chúng tôi vẫn có được những sinh hoạt học đường đàng hoàng, của thầy và trò, và dòng sông quê hương dù không phải là dòng sông đẹp nhất trên thế gian vẫn là dòng sông đẹp nhất trong lòng tôi, trong trẻo nhất, thơ mộng nhất chảy qua tuổi thơ hạnh phúc và bất hạnh. Những cuốn sách thầy tặng tôi không còn, nhưng tôi đã đọc chúng. Đi đâu tôi cũng mang chúng theo trong ký ức. Văn cũng là sử. Lịch sử của cái đẹp. Tôi mang lịch sử ấy đi theo tôi qua suốt những tháng năm gian khổ và may mắn, mất mát và tìm lại. Không biết lịch sử, các em nhỏ không lớn lên thành người lớn. Không biết sử, không biết quy luật, con người mãi là nô lệ. Nhưng đó phải là lịch sử ngay thật, không giả dối, đó phải là lịch sử của một đất nước tươi đẹp, một cuộc chiến tranh tàn khốc, lịch sử của những nhầm lẫn và bạo động, lịch sử của tình yêu. Môn văn được dạy trong nhà trường, thời chúng tôi gọi là môn học quốc văn, tức là văn học nước nhà, đã tìm được đại diện xứng đáng của nó ở những người thầy giáo cô giáo của chúng tôi thời ấy. Văn học mô tả cặn kẽ cho chúng ta bản chất của lý tưởng, khuôn mặt của trí tuệ, hành trạng của tội ác, tính cách hai mặt của ngôn ngữ. Văn học dạy con người cảnh giác trước cái xấu, thương xót cái đẹp bị tàn phá, tạo cho học sinh sự miễn dịch. Văn học là ngôn ngữ của ẩn dụ, đi tìm sự so sánh để nói về một điều gì sâu xa mà tâm hồn con người muốn vươn tới. Người đọc trung thành của văn chương là học sinh trung thành của trường, của lớp, của thầy và bạn, của đất nước.
 
Trong mắt một học sinh như tôi, trong mắt cha mẹ tôi, các thầy các cô là những tấm gương mẫu mực. Trước những hoạn nạn, chiến tranh, thiên tai hay sự đàn áp, con người thường có hai phản ứng: chống lại hoặc bỏ chạy. Có những người đã chọn con đường thứ ba, ở lại với mảnh đất đã từng vui buồn sướng khổ, nhặt lại gạch đá, vỡ lại đất hoang, trồng lại từng gốc cây ngọn lúa, xây lại cơ đồ. Thầy Nhơn và cô Tú, người bạn trăm năm của thầy, đã làm như vậy. Nhờ thế mà khi tôi trở về như một người học trò cũ, tôi lại được đi con đường xưa, mặc dù con đường  không còn là con đường xưa ấy nữa, được thăm lại ngôi nhà khang trang của thầy, mặc dù đó không phải là ngôi nhà cũ, được đứng lại trên sân trường học, dù đó là ngôi trường khác, được ngồi xuống với bè bạn, những kẻ hiếm hoi còn sót lại, bên một dòng sông giờ đây không còn là dòng sông ấy nữa. Nhờ có những người như thầy, như em gái tôi, như bạn tôi, như làng xóm của tôi, mà tôi vẫn còn một quê hương để trở về, một cái sân rêu để tưởng nhớ, một nền nhà cũ để ngắm trăng lên, một cái giếng nước để nhìn mây trắng bay qua.
 
Có lần tôi ngồi quán cà phê với thầy Nhơn và bạn bè cùng lớp trên bến sông cũ. Khi chúng tôi trò chuyện thì mặt trời đang lặn về phía làng tôi, sau lũy tre, bỗng sáng bừng lên. Vào lúc ấy một bầy chim bay qua. Đã lâu, về quê nhiều lần, tôi ít thấy chim chóc, mùa xuân không thấy bướm bay trên đường làng, nên cảnh tượng thật đẹp, lạ mắt. Một đàn chim bay lướt qua mặt trời, xòe cánh, xếp thành chữ V, như gợi lại giấc mơ xưa, những người con của quê hương kẻ ra đi, kẻ ở lại, những người trẻ tuổi lớn lên. Bầy chim bay vút qua bầu trời như một chữ ký của thượng đế. Những người nghi ngờ nhất cũng lấy lại niềm tin, là dù có bao nhiêu đổ vỡ phai tàn, cái còn lại vẫn chờ ta ở đó, quê hương đã khác nhưng vẫn còn chờ ta ở đó. Chỉ cần những người ra đi tìm được cách trở về, chỉ cần chúng ta ngồi lại bên nhau, mặt trời sẽ mọc lên và lặn xuống mỗi ngày, làm lành những vết thương tưởng như không lành được, mở lại cho chúng ta nguồn suối ngọt của tình yêu đầu. Bến đò cũ không còn nữa. Người ta thay thế nó bằng một chiếc cầu. Trước đây tôi đã thất vọng vì điều ấy, nhưng bây giờ tôi tin rằng nhiều năm sau thế hệ trẻ hơn tôi sẽ tìm được câu trả lời, làm được những việc mà thế hệ trước đó chưa làm được, cho một đời sống mới tiện nghi hơn, mà vẫn giữ được bản sắc của thiên nhiên, của cái đẹp từng nuôi nấng tâm hồn thầy trò chúng ta.
 
Đôi khi tôi nhớ lại phòng học của thầy, nơi tôi trở về hai mươi năm sau khi kết thúc chiến tranh. Tôi nhìn thấy trong phòng học ấy những khuôn mặt trẻ thơ như chúng tôi ngày trước, các em ngồi yên lặng bên nhau, mắt mở to, trên bảng đen là những câu Kiều được viết bằng phấn trắng, đẹp huy hoàng. Thực ra những câu thơ ấy thật buồn. Một tác phẩm đệ nhất của dân tộc được mọi người yêu mến lại là một tác phẩm buồn, kể một chuyện tình tan vỡ, đầy rẫy những bất công, cái đẹp não nùng của hoa cỏ, tôi tự hỏi phải chăng con người sinh ra lúc nào cũng phải sống giữa hai thái cực, giữa đau khổ và hạnh phúc, giữa mất và được, giữa quá khứ và tương lai, chính chúng làm nên ý nghĩa của đời sống chúng ta. Nhìn thấy người thầy học cũ đứng giảng bài trước những em học sinh sau mình cả một hai thế hệ, tôi nhìn ra sự liên tục của lịch sử, bài học của sự kế thừa, sức mạnh của ngôn ngữ và văn chương, nỗi buồn của Kiều nối chúng ta lại với nhau, số phận bão táp của một quê hương nối chúng ta lại với nhau. Vài phút đứng trên hành lang lớp học, trong ngày mưa thu ấy, nhìn qua cửa sổ thấy bảng đen phấn trắng, thấy người thầy học cũ của mình, thấy câu thơ diễm ảo, các em ngồi cắm cúi học trong lớp, tưởng như một giấc mộng, đó là một trong những giây phút hạnh phúc nhất của đời tôi.
 
                                                 Nguyễn Đức Tùng

READ MORE - THẦY DẠY VĂN CỦA TÔI - Nguyễn Đức Tùng