Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, November 20, 2020

SÁNG NGHE THU KHẼ, THU NHỚ CẦN THƠ ĐÊM GIÃ TỪ - Thơ Nguyên Lạc

 



SÁNG NGHE THU KHẼ
 
1.
Sáng nay hiu hắt thu phong
Ngồi nghe thu khẽ nỗi lòng thu xưa
Cạnh bên có một tách trà
Mình tôi ngồi uống sao mà không em?
 
Cô đơn đời chắc đã quen
Sáng nay sao lại ưu phiền mênh mông?
Có ai chia với tôi không?
Sớm thu cô lữ nỗi lòng tha phương
 
Em ơi tôi nhớ mùi hương
Trầm ngon môi ngải ngoan thương thu nào
Hôm nay không biết tại sao?
Thu phong se lạnh lại trào môi xưa!
 
Thì ra tôi vẫn mãi chưa
Quên đi kỷ niệm mộng mơ thiếu thời
Làm sao quên được người ơi?
Cái thời huyết phượng chung đôi đường tình
 
2.
Có ai chia với tôi không?
Sớm thu se lạnh nỗi lòng sương rơi
Bao năm thu vẫn một tôi
Thu phong lạnh lắm sao ngồi chi đây?
 
Vời chi lá đỏ mắt đầy?
Mở chi ngăn nhớ để bay hương người?
Ngồi đây tôi với riêng tôi
Tách trà. Nỗi nhớ. Một đời buồn tênh!
 
Dặn lòng đừng nhớ ... hãy quên!
Cách nào quên được thân thương một thời ... ?
Thu về tôi lại một tôi
Nghe hồn lá khẽ ... Một đời tan hoang!
 
Hồn tôi chùng một cung đàn
Mùa thu cùng với điêu tàn lưu vong!
 
 
THU NHỚ CẦN THƠ ĐÊM GIÃ TỪ
 
1.
Thu về tôi nhớ lắm
Nhớ lắm nhớ một người
Một người của một thời
Một thời xuân mộng đó
 
Cần Thơ đêm lộng gió
Đèo nhau con đường quen
"Người còn nhớ hay quên"? [*]
Tay ôm đầu nghiêng tựa
 
Tóc huyền êm nhung lụa
Môi khúc tình thiết tha
- Mai anh rừng núi lạ
Có nhớ phố thân quen?
 
Người rồi chốn quan san
Mang theo hồn ... bối rối
Nụ hôn ngon góc tối
Run rẩy đôi vai gầy
 
2.
Tang thương ai có hay!
Bão loạn kiếp đọa đày
Mười năm rồi trở lại
Dã nhân khóc "mây bay"!
 
Cố nhân tìm đâu thấy
Vẫn phố xưa đường này
Nhưng sao giờ lạ lẫm
Đâu phiến môi đắm say?
 
3.
Thu về nơi phố lạ
Lá phong lệ đỏ đầy
Quắt quay hồn cô lữ
Nhớ người ... Nhớ lắm thay!
 
Thu phong lá thở dài
Buồn tôi hay buồn ai?
Một mùa thu lại đến!
Bao năm rồi tình hoài
 
Thu về nơi đất khách
Tôi nhớ lắm một thời
Tôi nhớ lắm mắt môi
Biết bao giờ thôi đây?
 
Loạn cuồng đời lá bay!
Người bay tận phương nào?
"Làm sao mà quên được?" [*]
Nụ hôn góc đêm nao
 
4.
Cố nhân! Tôi nhớ lắm
Đêm Cần Thơ giã từ
- Mai anh miền quan tái
Xa vắng em đợi chờ ...
 
Bao giờ... biết bao giờ?
Cố nhân ơi nghìn trùng
Mù xa tình sương khói
Tìm đâu? Chỉ huyễn mong!
 
Tha hương... mòn ... năm tháng
Còn chi? Chỉ hư không!
Quên đi! Lòng hằng nhủ
Nỗi nhớ vẫn y nguyên!

..........

[*] Lời nhạc trong bài Nghìn Năm Vẫn Chưa Quên - Phạm Duy
 
Nguyên Lạc 

READ MORE - SÁNG NGHE THU KHẼ, THU NHỚ CẦN THƠ ĐÊM GIÃ TỪ - Thơ Nguyên Lạc

Thursday, November 19, 2020

CHUÔNG NHỊP TÀN KHUYA - Thơ Mặc Phương Tử

 



CHUÔNG NHỊP TÀN KHUYA 


Ai níu thời gian giọt nắng hồng

Cho đời vơi bớt ngọn đông phong!

Phương mây ngàn dặm mờ sương khói

Đất khách muôn trùng lạnh núi sông.

Dệt mấy vần thơ đan suối ngọc

Dạo từng cung phím chạnh tơ lòng.

Đèn khuya đối bóng đêm tâm sự,

Chuông nhịp tàn canh trong rất trong.


                              South Dakota (USA), Đông 2020.

                             MẶC PHƯƠNG TỬ.






READ MORE - CHUÔNG NHỊP TÀN KHUYA - Thơ Mặc Phương Tử

EM VÔ TƯ NGỒI NGHE LÁ HÁT | MỘT CHIỀU ĐÔNG EM VỀ THĂM QUÊ | CÓ MỘT CHIỀU NGỒI NGHE LÁ HÁT - Thơ Lê Thanh Hùng

 

Nhà thơ Lê Thanh Hùng


Em vô tư ngồi nghe lá hát


Tháng mười một trời nghiêng sắc lạnh

Gió đôi co với nắng hồn nhiên

Lộng bến đời sắc màu sóng sánh

Em vô tư không chút muộn phiền

                      *

Mùa xuân đến, tuổi đời gần lắm

Lung linh gì rồi cũng tàn phai

Miên man miết dặm đời thấm đẫm

Ngày đi, theo bóng nắng đổ dài

                      *

Em tươi trẻ rực vàng mùa mới

Trong nắng chiều hực hỡ long lanh

Hình như nắng cố tình khơi gợi

Chấp chới trên hoa trái trĩu cành

                      *

Đôi mắt biếc nhìn ngày phai nhạt

Vẫn long lanh một giấc mơ xa

Cứ đong đưa ngồi nghe lá hát

Mộng xuân thì trong khúc hoan ca ...

                      *

Tháng mười một ngày đi chầm chậm

Nắng chênh chao quến lại bên thềm

Hình như có điều gì gửi gắm

Trong gió chiều líu ríu dịu êm 

Lê Thanh Hùng

 

Một chiều đông em về thăm quê 


Dẫu đã biết trời kia giấu nắng

Mây giăng mờ xám một chiều hoang

Nghe bức bối không gian ngưng lặng

Bợt bạc lòng, trời đã chớm đông

                     *

Rừng trống vắng, hoàng hôn chới với

Gió bấc lay lá đổ theo chiều

Hiu hiu lạnh, dỡ chừng khơi gợi

Một chiều về nồng ấm tin yêu

                     *

Mây cuốn quýt, tầng cao tầng thấp

Một chiều hôm, mình đã có nhau

Trong mắt biếc, chút gì ngượng ngập 

Một ngày vui, xanh đến nhường nào

                     *

Em rảo bước, choàng tay khép áo

Gió lùa qua nỗi nhớ quanh đồi

Biết đời không có gì hoàn hảo

Nhưng lối này một thuở có đôi ...

                     * 

Thôi ký ức chìm trong dĩ vãng

Vẫn còn đây hoa mộng trên tay

Nguyên vẹn những tháng ngày kiêu mạn

Ẩn ức gì mà sống mắt cay?

Lê Thanh Hùng


Có một chiều ngồi nghe lá hát


Dòng sông Tiền cuồn cuộn những ưu tư

Sóng cửa sông xô thủy triều đi lạc


Chầm chậm trôi một vạt nắng đỏ lừ

Đất vườn ngập mặn

Dật dờ rơi những uyển ngữ kinh từ ...

Lê Thanh Hùng

    Bắc Bình, Bình Thuận


READ MORE - EM VÔ TƯ NGỒI NGHE LÁ HÁT | MỘT CHIỀU ĐÔNG EM VỀ THĂM QUÊ | CÓ MỘT CHIỀU NGỒI NGHE LÁ HÁT - Thơ Lê Thanh Hùng

Wednesday, November 18, 2020

“NGHIÊNG BẬC CỬA ĐÊM”, MỘT KHỐI TÌNH THU – Vũ Hồng

 


Nghiêng bậc cửa đêm là tập thơ in cùng năm với tập Nắng trao mùa (2017), sau tập Hoa cau (2015) của nhà thơ nữ Ngọc Tình, Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tây Ninh.

Điều làm tôi chăm chú trước hết là cái tựa của tập thơ: Nghiêng bậc cửa đêm. Sao không đặt là Bậc cửa nghiêng đêm? Nghe thuận tai, dễ hiểu, dễ cảm, mà có chất thơ nữa. Việc đặt tên cho một tác phẩm đã khó, đặt tên cho một tập thơ, một tập truyện ngắn, một tập ký,… khó hơn nhiều, vì cái tựa, cái tên phải mang nội dung thông báo với độc giả về giá trị trọng tâm- gọi là giới thiệu, tạo cảm xúc ban đầu. Cách đặt tên nghe trúc trắc như vậy liệu có dụng ý gì? Phải chăng tác giả lấy từ câu thơ thứ tư của bài thơ Giọt tình quê. Có điều bài thơ chỉ vỏn vẹn 4 câu: “Giọt sương lá đọng đầy vơi/ Giọt nắng em cõng ngược xuôi bến đời/ Giọt quê đẫm nhớ lưng trời/ Giọt nghiêng bậc cửa đêm vời vợi trăng”? Tôi còn tìm thấy một câu thơ khác, ý tứ được mô tả cụ thể hơn: “Em lặng thinh bậc cửa cũ mòn nghiêng” (Mùa sen). Hoặc có thề với khối lượng từ nghiêng của 13 trong số 77 bài thơ mà Ngọc Tình đã dùng: Để em đi, Giọt tình quê, Mùa sen, Tháng sáu cánh phượng bay, Cành sen năm cũ, Khát mưa, Trăng nghiêng, Táo chua, Tha hương, Đêm và gió, Hóa đá tình thu, Trăng ru, Tần ngần. Những từ nghiêng của 13 bải thơ trên đã mô tả hiện thực tự nhiên “Đẫm sương nghiêng thì thầm đêm trăng hát”. (Để em đi), một thoáng chao nghiêng: “Nhớ ngõ cũ hồn em tôi nghiêng ngã.” (Khát mưa), hoặc sự lay động tâm cảm: “Em lặng thinh bậc cửa cũ mòn nghiêng.” (Mùa sen), cảm xúc đổi trao: “Se se thu - gió lỡ làng/ Lá nghiêng mỏng mảnh- khẽ khàng nói trêu”. (Tần ngần)… Đó là sự chính thực bởi cái nhìn đầy thơ của Ngọc Tình. Nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng có lần rất tinh dùng từ nghiêng để diễn đạt nỗi nhớ: “Nằm ngửa nhớ trăng nằm nghiêng nhớ bến/ Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo.” (Nhớ). Có lẽ vì vậy mà tên tập thơ có từ nghiêng chăng? Khi gặp Ngọc Tình thì được nhà thơ giãi bày thêm về cách chọn tựa tập thơ: “…là những lát cắt nghiêng bậc cửa về đêm. Chỉ nghiêng thôi cũng ngỡ giọt trăng đang run rẩy, chỉ nghiêng thôi người làm thơ cũng ngác ngơ khi lá rụng đêm về. Để cho đêm từng chín. Tựa đề tập thơ của Ngọc Tình lấy chủ đạo từ bài : Đêm và gió.”

Nổi lên toàn tập thơ, người đọc cảm được ngay niềm xa quê của Ngọc Tình, cô gái vùng đất Hà Nam vào ngụ cư miền đất thánh - Tây Ninh từ năm 1977, làm việc tại một đơn vị thuộc ngành giáo dục.
Hà Nam, xưa là một vùng đất cổ ở phía Nam Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, một vùng chiêm trũng, đồng trắng nước trong: “Chiêm khê, mùa thối”“Sống ngâm da, chết ngâm xương”. Cuộc sống cơ cực của vùng đồng chiêm trũng đã đi vào câu ca dao cổ: “Nam Xang đồng hẹp, bãi dài/ Ăn cơm thì ít, ăn khoai thì nhiều”. Hà Nam, là quê hương của những anh hùng dân tộc: các nữ tướng của Hai Bà Trưng, như Nguyệt Nga, Lê Chân…, các anh hùng dân tộc kiệt xuất: Lê Hoàn (Lê Đại Hành hoàng đế), Trần Bình Trọng, Đinh Công Tráng,… những văn sĩ như Tam nguyên Yên Đổ - Thi bá nổi tiếng Nguyễn Khuyến, nhà văn - Liệt sĩ Nam Cao, .v.v… Ngày nay, vùng đất mênh mông này đã phì nhiêu, màu mỡ, mỗi năm từ hai vụ, có nơi ba bốn vụ, lúa, màu xen kẽ. Những đặc sản nổi tiếng như: Mơ hồng Kim Bảng, Chuối ngự Đại Hoàng... Thoảng vọng giọng hát trìu mến của nữ ca sĩ Tân Nhàn: “Hà Nam ơi hôm nay /Đàn chim én ngang trời, chao trong mùa lúa mới /Trăng sáng nhẹ rơi /Quê hương mình, thương quá Hà Nam ơi.” (Hà Nam quê hương tôi).
Tình quê của kẻ tha hương trong tập thơ hiển hiện từ những nỗi nhớ về con sông, phiên chợ, ánh nắng chiều hôm, tiếng chuông chùa ngân nga, đến những phẩm vật: cà pháo- rau muống, bánh đúc- bánh đa, rau sắng Hà Nam v.v… Nhưng cảm xúc lãng mạn nhất, thơ nhất là nỗi nhớ quê hòa quyện với ánh trăng thu. Tình quê trải rộng ra ở 3 mùa (hạ, thu, đông), còn mùa xuân thì hời nhạt. Đặc biệt Ngọc Tình ưu ái một cách sâu lắng sự tình ấy qua 30 ánh trăng ẩn hiện trong tập thơ, kết tụ trong 9 bài thơ thu, hoặc có lúc mùa thu được “vắt” qua những bài thơ khác (Để em đi, Bất chợt, Cà pháo và rau muống, Trần gian, Tần ngần, Tháng mười mùa lúa chín,…): “Khoảng cách nào ta ngắm tóc em bay/ Thu đắm đuối thu hôn vàng ký ức”. (Ngắm tóc em bay), “Phai thu rừng vẫn vàng ươm/ Tàn thu- lá cũ dịu mềm hóa xanh”.(Ẩn dòng). Sẽ thiếu đi nếu không để tâm đến một dấu ấn “tình yêu” thời con gái của nhà thơ. Nhà thơ không xô bồ, không đàn điệu về nỗi niềm riêng tư, mà rất mỏng mảnh, kín đáo, trân trọng khi thoáng nhớ về người xưa ở chốn quê với một xúc cảm đè nén: “Này trăng/ dắt ta về/Thăm bà mẹ anh ngoài chín mươi còn nhớ/ …Mắt lòa cứ ngóng hỏi P nó đã về chưa?”,…, nhưng đau lòng thay: “Sân ga cũ chứng minh trong thầm lặng/…Cho mộ người nay rắc trắng đầy hoa”. (Trăng dắt ta về). Tình xưa giờ chỉ còn lồng khép trong nỗi nhớ quê:  Đêm từng chín nhuộm muôn ngàn thảm lá/ Đêm mơ chìm ai thoang thoảng mùi hương”. (Đêm và gió). Khi “nắng thu trải khắp cánh đồng”, khi “Từng đàn chim ríu ra ríu rít”, nhà thơ chợt ánh lên một giây phút lãng mạn: “Anh có về gặt lúa với em không?”. (Tháng mười mùa lúa chín). Trái tim người con gái năm xưa rộn rã trong miền ký ức: “Thu đủng đỉnh chờ trăng thanh có phải.”… Rồi thoang thoảng đâu đây lời dặn, cũng là lời hẹn: “Lắng bến xưa tiếng mùa thu lay hỏi/ Thì thầm em- đừng lạc lúc quay về.” (Mùa thu và nỗi nhớ). Nhưng người con gái lại bâng quơ: “Gió xe mây/ mây có hẹn trở về?” (Đêm và gió). Cho nên tâm trạng mới dùng dằng đi - ở thật khó tả: “Nửa chừng muốn ở- muốn đi”. (Giấc thơ), lại có lúc người con gái quyết ra đi: “Để em đi”…thương cả đời rau ế”, bởi vì: “Khúc sông quê con thuyền cũ không còn”. (Để em đi). Một lẽ rất rõ là ở đó còn gì kéo níu nữa đâu! Tự trong sâu thẳm, cô gái phải bật lên: Cố hương ơi!/Cố hươngơi!. (Cố hương II). Tình tiết này rất giàu cảm xúc và đa nghĩa.

Đến đây, với những luận giải, cảm xúc chủ đạo của tập thơ chính là NỖI NHỚ. Nỗi nhớ quê trong toàn tập thơ được diễn trình vào một đêm thu, khi ánh trăng nghiêng chiếu lên bậc cửa. Bậc cửa nghiêng cùng với ánh trăng nghiêng đã khảy lên tiếng lòng và khe khẽ rung rinh với làn gió thu.

Tuy tập thơ thiếu sự chỉnh chu về diễn đạt, có lúc lúng túng, còn nhiều điểm (từ ngữ, mạch thơ,) chưa làm hài lòng người đọc, nhưng chúng ta vẫn đón nhận nỗi nhớ hòa quyện dưới ánh trăng thu của một người xa quê chan chứa bao sự tình. Âm hưởng của tập thơ cũng thật lãng mạn! 

 
Cuối Thu, 01/11/2020
VŨ HỒNG
(Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Tây Ninh)
Lê Văn Hồng, Tel: 0908.612.456
Đ/c: Số nhà 14/1, Khu phố 6, Phường 3, đường Nguyễn Chí Thanh, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

READ MORE - “NGHIÊNG BẬC CỬA ĐÊM”, MỘT KHỐI TÌNH THU – Vũ Hồng

Tuesday, November 17, 2020

ĐỐ KIỀU – Nguyên Lạc



SƠ LƯỢC ĐỐ KIỀU


Truyện Kiều càng được đông đảo người đọc say mê thì thuộc Kiều cũng là niềm tự hào của người Việt. Dân Việt thường đố nhau xem ai thuộc kỹ cuốn truyện, nghĩa của từng chữ, tình ý của từng câu. Lại còn đố nhau về vị trí của chữ này, số lượng của chữ kia trong toàn bộ Truyện Kiều…
Đố Kiều là một hình thức tiếp nhận Truyện Kiều sinh động và độc đáo. Đố Kiều có thể có hai loại: mượn Kiều để đố và đố về Truyện Kiều.


1 – Mượn Kiều để đố thì có thể có vế đố tập Kiều. Loại này được thể hiện qua các câu thơ đã được chuyển từ nghĩa không ẩn dụ thành nghĩa ẩn dụ. Hình tượng câu thơ được gán ghép với cách hiểu khác. Có hai cơ sở để chuyển hóa câu Kiều thành câu đố loại này: hoặc đều dùng phương tiện nhận thức và phản ánh thế giới khách quan bằng hình tượng, hoặc phản ánh câu đố được trình bày nửa kín nửa hở, mượn cái nọ để nói cái kia, vì câu lục bát Kiều thường đa nghĩa. Lời đố mô tả những yếu tố cấu tạo nên vật đố nhưng chỉ cần đưa ra một vài đặc điểm chính có thể kèm thêm một vài điểm phụ. Thí dụ như:
 
Rỡ mình lạ vẻ cân đai
Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm

– Là cái chăn
 
2 – Loại đố về Truyện Kiều trong đó vế đáp là một bài tập Kiều – thường diễn ra dưới hình thức hát đối, hát đối đáp giao duyên của nam nữ nông thôn. Loại này rất phong phú. Vật đố có thể là chữ hoặc câu thơ hay những chi tiết về nhân vật hay nội dung tác phẩm. Tính nghệ thuật của câu đố Kiều là ở nét tương đồng giữa nhận thức và hiện thực khách quan, mối liên hệ giữa chúng càng bất ngờ khiến câu đố càng thú vị tạo nên một sự nhòe nghĩa mà người đố có thể sáng tạo trong một quy ước ngầm. 

                                           (Theo Phạm Đan Quế)
 
Hỏi:

Truyện Kiều anh thuộc đã lâu
Đố anh kể được hai câu hết Kiều?
 
Đáp:

“Trăm năm trong cõi người ta…
Mua vui cũng được một và trống canh”
 
Câu đố tưởng như vô lý, vì Truyện Kiều dài những 3.254 câu thơ thì làm sao tóm tắt được chỉ trong hai câu. Ấy vậy mà có đấy. Người ta đã chắp câu đầu tiên của Truyện Kiều với câu cuối cùng (câu thứ 3.254) đổi chữ “một vài trống canh” thành “một và trống canh” là được một câu lục bát tập Kiều kể được hết Truyện Kiều từ câu đầu đến câu cuối vì đó chính là câu đầu tiên và câu cuối cùng của Truyện Kiều.

Cũng tương tự, còn một câu đố nữa là:
 
Nghe chừng anh thuộc đã nhiều
Đố anh tóm tắt Truyện Kiều (lại chỉ bằng) bốn câu?

Với câu trả lời thực khéo lại là:
 
Anh xin trả lời như sau
Truyện Kiều tóm lược bốn câu ấy là:
“Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.
Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh”

ĐỐ KIỀU TRONG DÂN GIAN

Đố Kiều là một trò chơi văn nghệ dân gian dưới hình thức đối đáp, nghĩa là một bên hỏi, một bên trả lời, mỗi bên thường là một nhóm, một đội… Có điều đặc biệt là khi chơi trò Đố Kiều, cả người ra đố và giải đố thường dùng thơ, chủ yếu là thể lục bát, để chuyển tải ý của mình.
Trò chơi Đố Kiều xẩy ra nhiều nơi, dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng ở vùng quê Nghệ Tĩnh trước đây chủ yếu diễn ra trong các cuộc hát Phường vải. Hát Phường vải là hình thức hát đối đáp gồm hai nhóm người, một bên là các cô gái địa phương ngồi quay xa dệt vải, một bên là các chàng trai tứ chiếng tụ tập lại. Nội dung hát đố, giải trong hát Phường vải gồm nhiều đề tài khác nhau, nhưng Đố Kiều luôn luôn chiếm một vị trí quan trọng. Điều khó của người giải đố là sau khi nghe đố xong, chỉ một thời gian thật ngắn phải có lời đáp. Bởi vậy trò chơi này đòi hỏi những người tham gia không những thuộc, hiểu “Truyện Kiều”, mà phải có phản ứng nhanh trong việc diễn tả ý của mình dưới thể thơ lục bát, lục bát biến thể, đồng thời cần có giọng ngâm, giọng hát hay. Sự thật khó tìm được một người toàn tài như vậy, mà trong các bên dự thi Đố Kiều phải phân công nhau, để cho từng người thể hiện sở trường của mình. Thông thường trong thành viên mỗi đội, ngoài số nam thanh nữ tú ra, mỗi bên còn mời một vài người không phân biệt tuổi tác, thường là cụ đồ Nho hoặc cậu tú, cậu cử… thông thuộc “Truyện Kiều”, gánh vác nhiệm vụ mách lời, còn các chàng trai, các cô gái tốt giọng có khi chỉ là “người phát ngôn” 

                                                (Theo Thái Văn Sinh)
 
Hỏi:

Song thu đã khép cánh ngoài
Nàng Kiều chung chạ có thai bao giờ?
 
Đáp:

“Lỡ từ lạc bước bước ra”
“Thất kinh nàng chửa biết là làm sao!”

Hỏi:

Đến đây hỏi khách cựu giao
Chàng Kim đau bụng thế nào chàng ơi?

Đáp:

“Khi tựa gối, khi cúi đầu
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày!”
 
Hỏi:

Truyện Kiều anh thuộc từng vần,
Đố anh đọc được ba lần trăm năm?
 
Đáp:

“Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Rằng trăm năm cũng từ đây,
Của tin gọi một chút này làm ghi.
Người đâu gặp gỡ làm chi,
Trăm năm biết có duyên gì hay không”

 
                     
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai

ĐỐ KIỀU TRONG HÒ ĐỐI ĐÁP MIỀN NAM
 
Hò là một trong những thể loại âm nhạc dân gian miền nam Việt Nam, được du nhập bởi những đợt di dân từ đất ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Tín, Quảng Nam và Quảng Ngãi) vào cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17, từ vùng ngoài đưa vô vùng đất mới phía cực nam của đất nước ta.
Trong cuộc Nam tiến, nhiều dòng người từ các nơi đã đến vùng đất mới này sinh cơ lập nghiệp, trên bước đường chinh phục hoang vu, từ những chiếc ghe bầu, ghe chài, tam bản, xuồng ba lá… hành trang mang theo của những cư dân mới có cả những câu hò, điệu lý… làm chỗ dựa tinh thần trên bước đường xa xứ. Trên bước đường bôn ba, lênh đênh sông nước, những hành trang tinh thần này được các tiền nhân sáng tác, phổ biến, cách tân cho phù hợp với hoàn cảnh của mình.
Hò rất được ưa chuộng ở miền Nam. Nó có sức hấp dẫn lạ thường. Chúng tôi xin tạm phân làm ba loại hò: Hò trên cạn, hò trên sông nước và hò giao duyên hay đối đáp.

Về hò đối đáp:
 
Mỗi người (nam hoặc nữ) thường chỉ dùng một câu ca dao lục bát hoặc lục bát biến thể ngắn đối đáp nhau. Trong các hò đối đáp, có ĐỐ KIỀU.

Ta hãy đọc/ nghe thử vài bài”

1.

Hỏi:

Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
Đồn rằng anh thuộc Truyện Kiều,
Ai cha, ai mẹ, ai dập dìu rể con?
Ai mà mở phố lầu son?
Ai tu hành đắc đạo, ai bán buôn kiếm lời? ơ ơ ơ…

Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
Ai tự vẫn, ai cứu người?
Ai lo tu tập, ai thời viết kinh?
Ai khôn, ai khéo điều binh?
Ai thời thi đổ triều đình quan cao? ơ ơ ơ…

Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
Ai thời tứ xứ anh hào?
Thì anh giảng hết
ơ ơ …
Thì anh giảng hết luận vào em  ơ ơ … nghe!
 
Đáp:

Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
Ông bà Viên ngoại mẹ cha,
Vương Quan, Kim Trọng ấy là rể con
Tú Bà mở phố lầu son,
Giám Sinh họ Mã bán buôn kiếm ơ … ơ lời
 
Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
Giác Duyên tu đạo cứu người,
Thúy Kiều tự vẫn lại ngồi viết kinh.
Hồ Công lập kế điều binh,
Vương Kim thi đổ triều đình quan cao ơ ơ ơ…
 
Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
Bốn phương phất ngọn cờ đào
Ấy là Từ Hải ơ ơ..
Ấy là Từ Hải anh hào Việt ơ … ơ Đông

2.

Hỏi:

       Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
Truyện Kiều anh đọc đã nhiều
Nếu anh kể được ớ…ơ… ơ…
Nếu anh kể được em liều theo anh
 
Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
Thúy Kiều lưu lạc gian truân
(Chứ) Với người tình đã mấy lần chia ơ… ơ tay?
 
Đáp:

Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
Nầy em lời giải anh đây
Câu thơ trong truyện anh hay nhớ ơ…ơ mà
 
Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
“Dùng dằng một bước một xa”
Chia tay Kim Trọng lệ sa đẫm đầy
“Chén đưa nhớ buổi hôm nay”
Chia tay chàng Thúc hẹn ngày năm sau
“Đành rằng chờ đó ít lâu”
Chia tay Từ Hải lòng đau đoạn ơ…ơ đoài
 
Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
Chiếc thân bèo dạt mây trôi
Ba lần ly biệt ơ…ơ
Ba lần ly biệt tình ôi đoạn ơ…ơ trường!
 
3.

Sau đây là câu Đố Kiều của Phường vải vùng Nghệ rất khó, nữ sĩ Phan Lan Hoa – người vùng Nghệ, có nhiều bài viết nghiên cứu lý thú như Các Người Có Tên Nguyễn Du, Trà Đạo Việt Nam, Lý Thuyết Học Làm Thơ… Nữ sĩ đã chuyển điệu Ví giặm Nghệ Tĩnh sang hò Nam bộ và hò hỏi tôi

Phan Lan Hoa hỏi:
 
Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
(Chứ) Đồn rằng anh thuộc truyện Kiều
Cho em xin hỏi ớ…ơ… ơ…
(Chứ) Cho em xin hỏi mấy điều phân ơ…ơ minh
(Chứ) Năm nào Kiều lấy Thúc Sinh?
Năm nào Kiều phải bán mình chuộc ơ…ơ…. cha?
 
Nguyên Lạc đáp:

Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
Em hỏi thì anh nói ra
Truyện Kiều anh thuộc thật ra cũng rành
“Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh” [*]
(Thằng) bán tơ giá họa (Thúy Kiều phải) bán mình chuộc ơ ơ … cha
 
Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
Sa chân vào mụ Tú Bà
Thúc Sinh ̣(sáu năm sau) duyên nợ mua ra thanh lầu [**]
Đáp rồi em nghĩ ra sao?
Nếu mà thấy đúng ớ ơ ơ …
Nếu mà thấy đúng hãy nào theo ơ… ơ anh
………..

[*] Gia Tĩnh thứ 3 Kiều sinh khoảng 1524; chị em Kiều đi chơi Thanh minh năm 1545, và rồi Kiều nhận bán mình chuộc cha.
[**] Sáu năm sau 1551- khoảng Gia Tĩnh thứ 30, Thúc Sinh chuộc Kiều ra khỏi Thanh lâu.

                                     (Theo Kim Vân Kiều Lục)

- Gia Tĩnh là niên hiệu của Minh Thế Tông: Tên đầy đủ của ông là Chu Hậu Thông, vị Hoàng đế thứ 12 của nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Ông cai trị từ năm 1521 tới năm 1567, trở thành một trong những vị hoàng đế Trung Quốc tại vị trên ngai vàng lâu nhất.

4.

Hỏi:

Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
Thế ra anh cũng rất rành
Cho em được hỏi ớ…ơ… ơ…
(Chứ) Cho em được hỏi thêm anh vài ơ…ơ điều
(Chứ) Từ đâu Nguyễn Du viết truyện Kiều?
Nguồn cơn tỏ rõ em liều theo ơ… ơ anh
 
Đáp:

Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
Không phải khoe anh hiểu cũng rành
Dựa vào tích sữ triều Minh của Dư Hoài (*)
Phong Tình Lục với kịch hài (*)
Thêm vài chi tiết ớ ơ ơ …
Thêm vài chi tiết thiên tài Nguyễn Du
 
Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
Thiên tài Nguyễn Du
Sáng tạo ra tuyệt diệu truyện thơ
“Khúc ca mới đứt ruột” ớ ơ ơ …
“Khúc ca mới đứt ruột” lệ sa lòng người
 
Hò… ơ… ớ … ơ…ơ
Truyện Kiều của dân Việt rõ ơ… ơ mười
Anh đà giải thích ớ ơ ơ …
Anh đà giải thích em rồi theo ơ… ơ anh?
 
………

. Khúc ca mới đứt ruột = Đoạn Trường Tân Thanh/Truyện Kiều

(*) Xem phần chú thích

***

Vài hàng về ĐỐ KIỀU, mong các bạn trẻ tìm thấy được vài điều lý thú từ tiền nhân.
                                                                                        
                                                           Nguyên Lạc
 
…………….
 
Ghi chú:

– Bài viết Vương Thúy Kiều – Trong tuyển tập Ngu Sơ Tân Chí của Trương Trào (1650-1707), của Dư Hoài (1616-1696)
– Phong Tình Lục (Tình Sử) của Phùng Mộng Long: Bộ tập hợp gồm 804 câu chuyện tình trong cổ thư Trung Hoa, từ Tây Thi đến Chiêu Quân, đến Tiểu Thanh, đến Vương Thủy Kiều, Trác văn Quân Thôi Oanh Oanh … đều có đủ. Sách rất phố thông, tựa như Liêu Trai Chi Dị .
– Kịch hài = hý kịch (tuồng hát bộ Tàu) như Thu Hổ Khâu của Vương Long trước tác 1676, và Hổ phách trủy (1707), Nguyễn Du được xem khi đi sứ sang Thanh.
Nguyễn Du đã xử dụng những văn bản nguồn trên, thêm thắt chi tiết, các nhân vật phụ như Kim Trọng, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Thúy Vân, Vương Quan … để hư cấu, sáng tạo ra Đoạn Trường Tân Thanh/ Truyện Kiều


MỜI XEM:
 
1. THỬ “GIẢI MÔ LẠI TRUYỆN KIỀU – Lê Nghị

http://phudoanlagi.blogspot.com/2020/09/thu-giai-ma-lai-truyen-kieu-le-nghi.html

2. TỪ ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH ĐẾN PHÁT SINH KIM VÂN KIỀU TRUYỆN - Lê Nghị biên khảo

http://chimvie3.free.fr/baivo/lenghi/lenghi_KimVanKieu.pdf
 

THAM KHẢO:

– “Đố Kiều” Phạm Đan Quế – Trích vài câu Đố Kiều
– “Truyện Kiều, Nguyễn Du, ở trong còn lắm điều hay”- Vương Trọng – trích vài câu Đố Kiều
– Các bài viết trên Net
 
* Về Chuyện Tuổi Tác Ba Chị Em Thuý Kiều – Nguyễn Tài Cẩn
 
https://ngonnguhoc.org/index.php?option=com_content&view=article&id=307:v-chuyn-tui-tac-ba-ch-em-thuy-kiu-thuy-van-vng-quan&catid=29:bai-nghien-cuu&Itemid=39

READ MORE - ĐỐ KIỀU – Nguyên Lạc