Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, July 27, 2020

NGƯỜI CHA BẠC VÀ NGƯỜI MẸ CÂM - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

Nhà văn Lê Hứa Huyền Trân


NGƯỜI CHA BẠC VÀ NGƯỜI MẸ CÂM
Truyện ngắn
Lê Hứa Huyền Trân
               
Cho tới tận bây giờ có lẽ chưa bao giờ Hương thôi hận ba. Con người ta dễ dàng bước qua cuộc đời nhau rồi cũng dễ dàng rời đi như chưa từng có tình nghĩa, đó là bài học mà Hương học được từ chuyện tình của ba mẹ mình. Thực ra người ta đến với nhau là bởi duyên và ở bên nhau là bởi phận, nếu không thể trọn vẹn tình cảm cho đến cuối đời thì chia tay cũng là lẽ tất nhiên, nhưng nếu đơn giản và dễ thường đến vậy thì có lẽ Hương vẫn tin yêu ba như sự ngưỡng vọng Hương giành cho mẹ. Nếu không vì người mẹ của Hương bị câm sau một tai nạn và chỉ ít lâu sau tai nạn đó, ba Hương bỏ mẹ Hương mà lấy vợ khác… Hương ở với ba và chỉ cuối tuần mới về thăm mẹ vì mẹ không có điều kiện nuôi dưỡng Hương. Tai nạn ấy không chỉ cướp đi tất cả của mẹ Hương mà đến cả gia đình nhỏ bé của Hương cũng tan vỡ.

Ông Hạnh là một người đàn ông khá cao to, chắc nịch và đậm thước. Ông khoảng năm mươi, và mười năm trước gia đình ông chịu biến cố lớn khi vợ ông bị tai nạn và sau đó không nói được nữa. Một năm sau đó, ông li dị vợ và cưới một người đàn bà khác về chăm con, vì con lúc ấy mới lên tám, hãy còn quá nhỏ, còn ông không đủ sức trông nom nó. Đã lâu rồi ông và con gái không nói chuyện, lần cuối con gái ông nói một câu có nghĩa nào đó với ông là hơn mười năm trước, khi mẹ nó vác vali ra khỏi nhà, nó đã chạy theo í ới và nhìn ông đầy cay đắng:

-Con ghét ba, trên đời này, người con ghét nhất là ba.

Đó dường như là “câu có nghĩa” duy nhất Hương nói với ba, sau này,vì vẫn ở chung một nhà cũng chỉ “vâng, dạ” hoặc nói những câu vô nghĩa cho qua ngày đoạn tháng. Hương bước ra cửa, khoác chiếc balo lên vai, miệng buông một câu nói hững hờ:

-Thưa  ba, con đi. Thưa dì, con đi.

Ông Hạnh không nói gì, châm điếu thuốc hút, chỉ có bà Chi đứng dậy túc tắc tay xách nách mang gói ghém ít đồ rồi luôn miệng dặn : "Mẹ có gói ít đồ cho mẹ con, kêu bà ấy chưng cái này cất vô tủ rồi ăn nghen con.” Đáp lại, Hương chỉ hững hờ: "Con biết rồi, thưa dì.” Bà Chi thoáng chút buồn trên gương mặt rồi cười đóng cửa cho Hương, bà chậm rãi bước vào nhà: "Con nó vẫn chưa gọi tôi là mẹ, mình à.” Ông Hạnh nhìn xa xăm vào một khoảng không đằng hắng, ông chậm rãi khoác cái áo lên người chuẩn bị đi làm, rồi như sực nhớ gì, ông quay lại: "Nãy mình có gói ít tiền?” "Có, tôi có gói để ở cuối đãy cho bà ấy.” 

Hôm nay, Hương về thăm mẹ.
         
Bà Dơn thấy con gái vội túc tắc chạy ra đón, Hương hơi cúi đầu rồi đưa đầu mình về phía mẹ, bà Dơn hơi sựng lại rồi bật cười như chợt hiểu ra, bà đưa tay xoa nhẹ đầu con. Từ bé đến giờ, cứ mỗi lần Hương “ngoan” là bà Dơn lại xoa đầu, bởi thế, theo như một thói quen khi xa mẹ, Hương khát khao, khát khao được tình thương và lời khen của bà Dơn như ngày ấy.      
          
-Con nấu cơm cho mẹ ăn nhé? Hôm nay con qua trưa quá, để mẹ đợi rồi.
            
Bà Dơn gật gật đầu rồi đưa tay lên ba ngón. Ý chỉ nấu phần ba người. Lần nào bà Dơn cũng dặn nấu phần ba người nhưng Hương không nghĩ ngợi gì, đối với đứa con gái xa mẹ tuần gặp một lần, việc mẹ ăn được đã là điều hi vọng lắm.

***       

-Hôm nay là thứ hai, mày không có đi đâu hết. Chẳng phải hôm qua mày đã gặp bà ấy rồi sao?- Ông Hạnh hét thật to khi nghe Hương chuẩn bị qua thăm mẹ.   

-Dạo này trời nắng to, con sợ cơm hôm qua thiu, tay chân mẹ lại đang khó ở, không thuận cơm được. 
 
-Bả có tay có chân thì còn tự làm được, nếu không tự làm được thì bỏ nhà mà đi làm gì?

Hương uất ức nhìn ông Hạnh, nhìn cả bà Chi đang khúm núm bên cạnh người chồng gia trưởng của mình. Bà Chi nhìn đôi mắt chực ngấn nước của Hương nói nhẹ với ông Hạnh:

-Hay giờ để tôi gọi qua đó rồi để cái Hương nó qua thăm. Nó lo cho mẹ nó…

Ông Hạnh hất văng cả chén cơm xuống đất:

-Tôi đã bảo không đi đâu hết là không đi. Mày có muốn đi thì mày ra khỏi nhà này luôn đi. Còn mình, mình còn hùa theo thì dọn đi cùng nó.

Hương ngửa cổ lên cho nước mắt khỏi chảy ra và cắn chặt môi cho khỏi bật ra thành tiếng đến độ môi rướm máu. “Ông ấy có phải là ba mình không? Có phải là người từng yêu thương mẹ không? Sao có thể bạc bẽo với bà đến vậy? Sao chỉ cho hai mẹ con tuần gặp nhau một lần? Thật quá đáng. Thật gia trưởng. Hương không thể hiểu nổi ông Hạnh, một người đàn ông lúc nào cũng lầm lì khó chịu, nhất định cấm tiệt việc Hương qua thăm mẹ, và đặc biệt mỗi khi Hương có ý định qua thăm trái ngày với ngày đã định là thể nào cũng sẽ làm ầm lên nhiếc mắng không tiếc lời. Dù cho ai ngăn cản hay năn nỉ tuyệt nhiên ông cũng không cho, chỉ lầm lì và đưa ra một quyết định. Không lẽ con gái muốn đến với mẹ mình cũng nỡ ngăn cản hay sao? 
     
“Không ai có thể ngăn mình đến thăm mẹ được”. Nghĩ vừa dứt, Hương đứng dậy xếp đồ định bụng qua nhà mẹ. Ngay khi vừa bước xuống nhà mẹ, Hương như không thể tin vào mắt mình: Mẹ đang ngồi ăn cơm vui vẻ với một người đàn ông nào đó lạ mặt, hai người giành cho nhau cử chỉ giống hệt vợ chồng. Vừa thấy Hương. Chiếc bat rơi. Đũa buông. Nước mắt giàn giụa và có thứ gì đó vụn vỡ. 
    
-Chú là mối tình đầu của mẹ cháu. – Người đàn ông cất lời để phá tan bầu không khí im lặng của ba người. – Ngày trước chú và mẹ cháu yêu nhau, rồi chú đi lính, bặt tin, ở nhà ông ngoại ép gả mẹ cháu cho ba cháu bây giờ. Những tưởng chấp nhận số phận thì mẹ cháu bị tai nạn, lúc bấy giờ chú vội đến…  
     
-Nhưng mẹ lúc đó đã có ba rồi mà… Nhưng ba bảo do ba đuổi mẹ đi?        

-Thực ra do ba cháu không muốn cháu hận mẹ vì mẹ bỏ đi nên nói thế.- Bà Dơn cúi đầu im lặng, nước mắt chấm môi, người đàn ông lau nước mắt cho bà rồi tiếp lời- Khi mẹ cháu và chú gặp lại nhau, ở giờ phút sinh tử, mẹ cháu đã nói với ba cháu muốn sống quãng đời còn lại cùng chú…

Hương bàng hoàng như súng bắn bên tai, đôi chân rệu rã muốn đứng dậy chạy đi nhưng không thể. Mọi thứ  của giây phút ấy như ngừng lại. Cái điều mà người ta tin tưởng bấy lâu, dựa vào đó mà sống, mà xử sự bỗng chốc phát hiện sự thật đảo ngược hoàn toàn, gần như mục đích sống ban đầu thực đã mất hoàn toàn rồi vậy. Bà Dơn đấm thình thịch vào ngực và nước mắt giàn giụa bấu lấy tay Hương như muốn nói lời xin lỗi: "Mẹ xin lỗi, là mẹ đã bỏ con mà đi. Là mẹ ích kỉ sống cho riêng mình. Là mẹ đã năn nỉ ba đừng nói sự thật và không muốn con ghét mẹ….”.  Thì ra đó là lí do ông Hạnh luôn không cho Hương đi thăm mẹ khác ngày vì sợ Hương thấy cảnh bà Dơn và người đàn ông khác sống chung với nhau.    
  
 -Chú, vậy còn dì Chi?      
 
-Dì ấy là bạn thân của mẹ cháu, dì ấy thương anh Hạnh, lại phận không chồng nên thuận về ưng anh Hạnh để chăm cháu.

Hương đỡ mẹ lên ôm lấy bà. Khi người ta gặp cú sốc thứ nhất, người ta hoang mang không biết phải làm gì, không biết cư xử như thế nào, không biết điều chỉnh hành vi của mình dù biết là sai trái. Khi người ta gặp cú sốc thứ hai, như đã quen, người ta bỗng sững lại, nhìn nhận mọi thứ một cách trưởng thành hơn. Hương cũng thế. Cô nhìn mẹ và nhìn người đàn ông bên cạnh:

-Mẹ yêu chú ấy chứ? Mẹ có hạnh phúc không?

Bà Dơn gật đầu. Hương mỉm cười:

-Con vẫn là con gái của mẹ mà.

Hương về đến nhà, vừa về đến đã thấy ông Hạnh ngồi đốt thuốc ngay cửa. Ông nhìn Hương im lặng không nói gì, chỉ quắc:    
    
-Vào ăn cơm đi.

Thì ra bấy lâu nay ông ôm tất cả vào mình, chịu đựng tất cả vì ông thương bà Dơn nhiều hơn chính bản thân mình. Chấp nhận để con gái ghét mình vì không muốn nó ruồng rẫy mẹ. Hương lại ngẩng đầu lên để ngăn nước mắt chảy ra. Có những thói quen sẽ phải bắt đầu lại từ đầu dẫu biết là rất khó, nhưng cứ từ từ… chắc được. Hương quay đầu lại nhìn ông:   
        
- Con biết rồi, ba. Ba ra ăn cơm với con luôn nhé.

Rồi như sực nhớ điều gì, Hương gọi với: -Mẹ Chi, Mẹ cũng lên ăn cơm với con này.

Tác giả: Lê Hứa Huyền Trân
Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định
Email: Phongtruongtu201@gmail.com




READ MORE - NGƯỜI CHA BẠC VÀ NGƯỜI MẸ CÂM - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

Sunday, July 26, 2020

CHÌM, HOA BỒ CÔNG ANH BAY..., QUÀ QUÊ - Thơ Trần Mai Ngân





CHÌM

Chìm trong khói, chìm trong hương
Chìm trong quên lãng vô thường tôi ơi
Hằng đêm Bát Nhã nghẹn lời
Bóng - tôi đối diện với đời vô ngôn...


HOA BỒ CÔNG ANH BAY...

Gió đưa chiều muộn hoa bay
Lời kinh sám hối những ngày trần gian
Bồ Công bám áo nâu vàng
Ghim con tim nhỏ một hàng cô đơn !


QUÀ QUÊ

Từ quê chồng gửi lên thành
Nải chuối chín bói để dành mấy hôm
Nhãn xuồng đầy đặn dày cơm
Nghe trong tháng bảy hương thơm đủ điều...

Gửi tôm, gửi thịt... gửi nhiều...
Toàn là những món vợ yêu ưa dùng
Gửi đầy, gửi hết riêng chung
Gói trong quà ấy mông lung vợ à...

Nhớ lắm... chồng chẳng nói ra
Chỉ mong vợ sớm về nhà mà thôi!

                            Trần Mai Ngân

READ MORE - CHÌM, HOA BỒ CÔNG ANH BAY..., QUÀ QUÊ - Thơ Trần Mai Ngân

CHÙM THƠ VIẾT VỀ NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ CỦA ÁI NHÂN



ÁI NHÂN
Tên thật Bùi Cao Thế
Đt:0984470914
139- 399- Ngọc lâm – Long biên –Hà nội
TK Bùi cao Thế 10524096395016 Techcombank
Chi nhánh Chương dương – HN


MỘNG DU TÌNH MẸ
(Kính tặng mẹ liệt sĩ VN)

Nắng nhàu ru giấc mơ hoang
Giật mình thảng thốt mẹ mang máng ngờ
Vẳng đâu đó tiếng gọi hờ
Hình như con mẹ đang chờ ngoài đê?

Chợt bừng mẹ tỉnh cơn mê
Hồn con có lẽ đang về đâu đây
Ngước trời mẹ gửi lời mây
Khôn thiêng nghe tiếng mẹ mày gọi không?

Chập chờn ở cõi xanh trong
Hồn con nhớ mẹ cũng ngong ngóng chờ
Sông thương nhớ nối hai bờ
Mộng du tình mẹ... vọng hờ tiếng con

 * 
       
Có nỗi đau vô thừa nhận. cô giáo tôi yêu một người lính. Anh ấy không về…
Hơn ba mươi năm sau tôi trở về trường cô tôi vẫn không lấy chồng.
Bài thơ này tôi viết tặng cô tôi, và bao mối tình thủy chung thầm lặng khác…

CÔ TÔI
(Kính tặng cô giáo Nhuận - cấp 3 Ân thi – HY)

Bài thơ cô đọc ngày xưa
Trời đông bừng nắng giữa mưa dầm dề

Khóa tình neo bến sông mê
Trao người lính trẻ xa quê lên đường
Niềm tin rực đỏ mái trường
Cô gieo hạt nở mười phương hoa đời

Trường Sơn bom đạn tơi bời
Tình tan vào đất phía trời hư vô
Mưa nguồn trong tiếng hát cô
Vầng trăng vụn vỡ… mắt khô lệ hằn

Kiếp người mưa nắng phù vân
Héo hồn tô thị… mây tần xót thu!


GIẤC MƠ TÔI
(Kính tặng đồng đội tôi hi sinh ở biên giới)

Trong giấc mơ tôi bạn về với tay xin ngụm nước
Mắt quầng thâm những ngày thiếu ngủ
Nắng cháy thịt da, mưa dầm thũng nước
Những vết sước trên vai trên cổ
Loang lổ chiến hào… 
pháo địch đêm qua

Đầu bạn quấn băng thương loang máu
Đôi chân lê chẳng chạm đất vẫn cười
“Chúng mày về dưới ấy miền xuôi
Nhớ nói với mẹ tao rằng tao còn ở lại
Giữ biên cương mãi mãi vẹn toàn
Nhớ nói với cô gái nhà bên thường hay sang giúp mẹ
Rằng tao không yêu đâu, nàng hãy lấy chồng!”

Lời nói dối của bạn tôi từ đáy lòng chân thật
Mưa xối chiến hào…
mắt bạn rưng rưng!

Hơn ba mươi năm rồi xa cuộc chiến tranh
Pháo vẫn nổ trong từng giấc ngủ
Khói súng mịt mù vẫn vương mùi khét lẹt
Máu bạn tôi còn ấm dưới tay mình!

Hơn ba mươi năm rồi sau cuộc chiến tranh
Lệ đã cạn hết rồi trong mắt mẹ
Những người lính - đồng đội tôi trẻ lắm
Những linh hồn im lặng giữ biên cương!

Những cột mốc trên đường biên - bia mộ
Chứng nhân lịch sử bạn - thù
Nơi máu xương, mồ hôi đồng đội tôi đổ xuống
Đất nước tôi ơi!
Bao chua xót khóc cười…

 *

Có một người đàn bà điên vẫn ngày ngày ngóng ra phía biển, chị vẫn tin anh ấy sẽ chở về… người đàn bà ấy là vợ người chiến sĩ đi giữ đảo xa…

NGƯỜI ĐÀN BÀ MỘNG DU
(Kính tặng: vợ liệt sĩ Gạc ma!)

Chị vẫn hát, hướng lòng ra phía biển
Vẫy tay cười hi vọng phía xa xăm
Thăm thẳm nỗi niềm rưng rưng lên mắt
Nơi xa vời con sóng vỗ vào trăng...
Người chị yêu đi giữ đảo giữ trời
Mấy chục năm rồi phía xa vời vần vũ
Máu vẫn loang bầm trên đá đảo Gạc Ma
Những người lính ôm nhau thành vòng lửa *
Giữ thiêng liêng màu đỏ sắc cờ!

Người đàn bà vừa đi vừa hát
“Trường sa, Hoàng sa ơi! không xa!”
Chị đã hát ngót ba mươi năm trên bờ nắng gió
Ba mươi năm khôn nguôi khát vọng
Ấp ủ nỗi niềm thương yêu mơ mộng
Mái ấm gia đình và những đứa con ngoan!

Anh ra đi tít tắp phía mây ngàn
Chị vẫn đợi vẫn giơ tay vẫy biển
Xây lâu đài mơ trên cát trắng mịn màng
Sóng vô tình nô rỡn nắng lang thang
Lại nhấn chìm lâu đài mơ của chị...

Chị vẫn hát trong bóng chi
ều mộng mị
Và lại xây mơ ước những lâu đài
Vẫn một mình tin ở phía ngày mai
Anh trở về khuôn ngực trần vạm vỡ
Nồng cháy bờ môi, mặn mòi rạng rỡ
Chị lắc lư say...mộng du khúc tâm tình!

Chị vẫn một mình hát trước bình minh
Cười, vẫy gió phía chân trời ... hi vọng!

                                                 Ái Nhân

READ MORE - CHÙM THƠ VIẾT VỀ NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ CỦA ÁI NHÂN

Ừ THÌ TỰ TÌNH SÔNG TRĂNG...- Chùm thơ: Đặng Xuân Xuyến


Chùm thơ Đặng Xuân Xuyến

Ừ THÌ...


Ừ thì ngưng nửa cuộc chơi
Ừ thì chấp chới nửa vời chữ yêu
Ừ thì quánh đặc cô liêu
Ừ thì chát mặn niềm đau... Ừ thì...
*    
Hà Nội, chiều 23 tháng 06-2013



TỰ TÌNH


Và em ngúng nguẩy dưới thềm
Và lim dim mắt để đêm phập phồng
Và mênh mông gió ven đồng
Và tôi cùng với bến sông chòng chành.
*.
Hà Nội, đêm 05 tháng 01-2014

SÔNG TRĂNG


Vâng, từ độ ấy đến giờ
Sông trăng dẫu cạn vẫn chờ đò xưa
Cầu trời đổ một trận mưa
Cho sông trắng nước đò xưa trở về.
*
Hà Nội, ngày 26 tháng 06-2013



VẪN LÀ...  
- Với T.L.A -


Vẫn là em, của ngày xưa
Vẫn là thề thốt em chưa bao giờ
Vẫn là em, cứ hững hờ
Vẫn là muôn sóng nghiền bờ, nghiến anh.
*.
Hà Nội, đêm 07 tháng 11-2014

MUỘN


Quờ tay chạm phải gió lùa 
Co ro gác nhỏ đã thừa chín đông
Ngày đi cải chửa trổ ngồng
Ngày về cải rực bờ sông, chín mùa...
*.
Hà Nội, 21 tháng 11.2015


KHỜ


Người đi vá víu nụ cười
Tôi hong tơ ướt cũng mười năm nay
Khật khừ say tỉnh tỉnh say
Cứ ngu ngơ đợi heo may trái mùa.
*.
Hà Nội, 18 tháng 11.2015

HOANG MƠ
- Tặng T.L.A -


Chiều tàn bước thấp bước cao
Đêm mơ hái được chòm sao lưng trời.
Niềm vui đến chỉ nửa vời
Ngẩn ngơ chi sợi tơ trời, bỏ đi.
*.
Hà Nội, 05 Tết Đinh Dậu - 2017



BIẾT LIỀU


Ừ thì... đêm ấy... đêm hè
Nở ngây thơ mới bị đè cưỡng yêu.
Ví rằng đêm ấy không liều
Đời trai Chí sẽ thêm nhiều thị phi...
*.
Hà Nội, ngày 29 tháng 11-2013



VÀ TÔI


Một người góc chợ la cà
Một người lẩn giữa cõi ma ú òa
Và tôi một kẻ mù lòa
Ngu ngơ đặt cược quan tòa xứ gian.
*.
Hà Nội, ngày 15 tháng 12.2019

TÌNH CHA
- Với con yêu Đặng Tuấn Hưng -


Ba mươi tư tuổi sinh con
Ngẩn ngơ bố nhủ vì con cả đời
Có con có cả đất trời
Ôm con ôm cả nụ cười thế gian.
*.
Hà Nội, ngày 13 tháng 03-2002

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - Ừ THÌ TỰ TÌNH SÔNG TRĂNG...- Chùm thơ: Đặng Xuân Xuyến

THƯ GỬI NGƯỜI XA | EM & MÙA THU - Thơ Trần Đức Phổ




Trần Đức Phổ

Thu Gửi Người Xa


Em hỡi thu về có nhớ anh
Có nghe lá rụng xót thương cành
Có buồn dấu nhạn bay đơn lẻ
Có tiếc hạ nồng vội lướt nhanh?

Nhà bên cơm mới thoảng đưa hương
Vẳng tiếng ru hời rất dễ thương
Thu của quê nghèo êm ả lắm
Mỗi sáng em thơ bước đến trường

Gửi em mộng thắm chửa tàn phai
Cả nỗi tương tư, tiếng thở dài
Gửi áng mây chiều vương sắc tím
Và sợi nắng hồng những buổi mai

Mơ một mùa thu chẳng cách xa
Bên nhau vai tựa ngắm trăng ngà
Cuộc đời sẽ đẹp như thơ nhạc
Khi lòng chung thủy chẳng phôi pha.



Em & Mùa Thu



Mùa thu trở lại bên khung cửa
Với nét đan thanh áo lụa vàng
Bầy chim sáo sậu kêu làm tổ
Mây trời chừng mỏi mệt lang thang

Ta chờ em ở nơi đầu ngõ
Chỗ tiễn em đi lúc hạ về
Mùi hương tóc vẫn còn trong gió
Mà người biền biệt nẻo sơn khê

Sùi sụt mưa bay buồn phố cũ
Tả tơi hoa sữa mãn sương mù
Dư âm của một thời hạnh ngộ
Xen vào giá lạnh cả trời thu

Còn nhớ chăng em chiều hôm ấy
Trao nhau nồng thắm nụ hôn đầu
Sóng mắt băng trinh, mùi con gái
Khiến ta chao đảo đến đời sau

Mùa thu trở lại, em không lại
Chiếc lá khô vàng nhớ gót chân
Em ạ, tiếng thu buồn biết mấy
Khe khẽ gọi thầm đâu cô nhân?

tranducpho
READ MORE - THƯ GỬI NGƯỜI XA | EM & MÙA THU - Thơ Trần Đức Phổ

Saturday, July 25, 2020

MINH OAN CHO GIAI THOẠI “TRUYỆN TÌNH TRẦN KHẮC CHUNG VÀ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA” - Hoàng Hương Trang



MINH OAN CHO GIAI THOẠI “TRUYỆN TÌNH TRẦN KHẮC CHUNG VÀ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA”


Từ xưa đa số người Việt mặc nhiên cho rằng Trần Khắc Chung và Huyền Trân công chúa là một mối tình. Họ kể truyền miệng đời này qua đời khác thành ra vô tình đã “Đóng Đinh” đó là một mối tình như có thực. Chính tôi từ mấy chục năm qua cũng tin như vậy. Cứ cho là trước khi đi làm vợ vua Chiêm Chế Mân, Huyền Trân công chúa đã có ý tình dang díu với Trần Khắc Chung, nên khi Chế Mân chết, vua Trần sai Khắc Chung đi cứu con gái khỏi bị hỏa thiêu chết theo chồng theo phong tục của hoàng gia Chiêm Thành, thì hai người “Tình cũ” lại được “tái hợp”, cuộc cứu hộ công chúa thành công và hai người lênh đênh trên biển một thời gian khá dài có đến hàng năm, mới về tới Thăng Long.

Mãi cho đến khi thành phố Huế xây dựng Trung tâm văn hóa Huyền Trân, mà dân Huế gọi là Đền thờ Huyền Trân công chúa; Tôi có dịp đến viếng, tìm hiểu cặn kẽ, đọc kỹ sử liệu và văn bia tại đền thờ, thật sự tôi đã sững sờ, ngỡ ngàng khi biết ra sự thật có trong sử liệu và văn bia tại Đền Thờ do ban nghiên cứu sử uy tín đã viết lại cho đúng sự thật. Ôi! Một nỗi oan đã kéo dài với thời gian mấy thế kỷ, mà không ai minh oan cho hai người. Theo sử liệu, khi công chúa Huyền Trân còn ở Thăng Long, chỉ mới 13 tuổi, đã được vua cha hứa gả cho Chế Mân. Khi đó, lão tướng Trần Khắc Chung đã rất già, vốn không phải họ Trần, mà là họ Đỗ, vì có nhiều công chiến trận nên được vua cho cải ra họ Trần. Lão tướng ngoài tài trận mạc, còn có tài thêu thùa rất khéo tay, vì vậy các công chúa trong triều được lão tướng dạy cho học thêu thùa. Công chúa Huyền Trân lúc đi lấy chồng mới 15 tuổi, là cháu ngoại của danh tướng Trần Hưng Đạo, bạn lão tướng chí thân của lão tướng Trần Khắc Chung. Lúc đó, lão tướng Khắc Chung đã già, đã có 3 đời vợ, con cháu đầy đàn, không thể nào lại dang díu với cô công chúa 13 tuổi là cháu ngoại của bạn mình được. Thuở xa xưa trên 700 năm trước đó, một cô gái nhỏ mới 13, 14 tuổi có dám yêu một ông già bạn của ông ngoại, và đã có vợ, con, cháu đầy đàn? Ngay thời đại ngày nay, điều đó cũng khó có thể xảy ra.

Cho đến khi vua Trần sai đi cứu công chúa là vì lão tướng đáng tin cậy, có nhiều mưu kế, từng trải trận mạc, mới có thể cứu được công chúa thoát khỏi lên giàn hỏa thiêu. Lúc này công chúa mới sinh hoàng tử được 2 tháng. Lão tướng Khắc Chung đã tương kế tựu kế, vừa thay mặt vua Trần để phúng điếu với triều đình Chiêm Thành (Chế Mân chết, Chế Cũ lên nối ngôi vua cũng chỉ mới trên dưới 15 tuổi, là con trai của bà Hoàng hậu lớn của Chế Mân, còn con của Huyền Trân là Chế Chí mới sinh được 2 tháng) vừa đề nghị với triều đình Chiêm Thành cho phép công chúa Huyền Trân ra biển Đông để hướng về quê hương bái biệt vua Cha, rồi sẽ trở vào để lên giàn hỏa.

Triều đình Chiêm Thành đã bị mắc mưu của lão tướng Việt Nam, đã bằng lòng cho công chúa Huyền Trân ra biển để bái biệt vua cha. Vừa hay trời phù hộ cho lão tướng, sương mù dày đặc bao phủ cả biển khơi, ba bên bốn bề đều không thấy rõ, nhân cơ hội đó, lão tướng đưa công chúa qua thuyền nhẹ, và dông tuốt về phía Bắc. Trên thuyền chỉ có mấy thủy binh chèo thuyền, thuyền nhẹ đi rất nhanh, sương mù đã che khuất bóng họ. Khi thuyền vào đến vùng biển Quảng Trị thì bị bão lớn, sóng đánh dữ dội suýt chìm thuyền, phải tấp vào bờ. Vùng đất Quảng Trị bấy giờ thuộc hai Châu Ô, Lý là đất mà Chế Mân đã dâng cho vua Trần làm sính lễ để cưới công chúa nhà Trần. Đất đã là của nước Việt, có quan trị nhậm do vua Trần Cử đến cai quản. Chính quan cai quản đất mới này đã giấu nhẹm rất bí mật tung tích của lão tướng và Huyền Trân, chờ hết mùa giông bão, sửa chữa thuyền xong mới có thể tiếp tục hành trình ra Bắc. Tại sao phải giấu tung tích? Bởi thủy quân Chiêm Thành rất giỏi thủy trận, đã từng đánh ra tận Thăng Long thời Chế Bồng Nga, do đó họ có thể cho thuyền truy lùng thuyền của Khắc Chung và công chúa. Hai người được vị quan Việt Nam giấu kỹ đồng thời lo sửa chữa thuyền bè đã bị bão làm hư hỏng nặng. Hơn năm sau, hết mùa bão, trời yên biển lặng, quân Chiêm không truy đuổi nữa, thuyền cũng đã sửa chữa xong, họ mới tiếp tục cuộc hải trình ra Bắc.

Tuy được cứu thoát, nhưng công chúa trong tâm trạng mất một đứa con trai đầu lòng mới 2 tháng tuổi, cùng với nỗi đau vừa mất chồng, cùng nỗi sợ hãi vừa thoát lên giàn hỏa thiêu. Thử hỏi trong tâm trạng đau buồn mất chồng, mất con, và lo sợ như thế, còn tâm trạng đâu để dan díu, ngoại tình? Sở dĩ người đời sau thêu dệt nên mối tình Trần Khắc Chung và công chúa Huyền Trân là do họ đồng hóa với mối tình Tây Thi – Phạm Lãi bên Tàu, sau khi báo thù vua Tàu, Tây Thi đã theo người tình cũ là Phạm Lãi chèo thuyền chu du vào Ngũ Hồ sống với nhau, lênh đênh bềnh bồng trên sóng nước, bỏ lại thế gian sau lưng. Do đó người Việt đời sau cứ thản nhiên đồng hóa mối tình Tây Thi – Phạm Lãi và Huyền Trân – Trần Khắc Chung như là một. Đó là nỗi oan của Lão Tướng Trần Khắc Chung và là nỗi oan của sương phụ Huyền Trân mà ngày nay chúng ta phải hiểu và đánh giá lại cho rõ ràng.

Khi về đến Thăng Long, Huyền Trân lên núi Yên Tử trình diện vua cha là Phật Hoàng Trần Nhân Tông, rồi quy y đi tu, lấy pháp danh là Hương Tràng ni sư. Bà vừa tu hành vừa dạy dân dệt vải và làm thuốc cứu bệnh cho dân. Tôi ước mong rằng người Việt Nam ta ai cũng có dịp đến viếng đền thờ Huyền Trân công chúa ở Huế để có dịp tận tường đọc kỹ văn bia và sử liệu chính thức đáng tin cậy để minh oan cho công chúa Huyền Trân và Lão tướng Trần Khắc Chung. Riêng tôi, sau lần có dịp đến viếng đền thờ và đọc cặn kẽ sử liệu, văn bia. Tôi đã thắp hương cúi đầu chân thành tạ lỗi với người xưa, vì mình đã lầm tưởng mấy chục năm qua chỉ vì hai chữ “tương truyền”, oan cho một người phụ nữ đoan hạnh và một vị lão tướng tài ba.

                                                        Hoàng Hương Trang

READ MORE - MINH OAN CHO GIAI THOẠI “TRUYỆN TÌNH TRẦN KHẮC CHUNG VÀ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA” - Hoàng Hương Trang

MẸ ƠI, NẮNG QUÊ MÌNH | CHUYỆN CHÚNG TÔI - Thơ Đàm Ngọc Năm

Nhà thơ Đàm Ngọc Năm


MẸ ƠI, NẮNG QUÊ MÌNH

Những hàng cây bên ngõ
Nắng hạ chẳng ra bông
Ruộng lúa chờ giọt nước
Lá héo rũ khắp đồng.

Mẹ ngồi nhìn ra ruộng
Buồn, Mẹ nói thành lời
“Hạn mùa này nặng lắm
Chắc lại đói nữa rồi! “

Thời con còn rất bé
Đâu hiểu được, Mẹ ơi
Thuở “hai sương, một nắng”
Mẹ cứ thế một đời...

Con đâu nghĩ mình đói
Vì đã có Mẹ lo
Cứ ra đường trưa nắng
Đuổi bắt bướm trên bờ.

Lớn lên con mới hiểu
Lam lũ cảnh quê mình
Ngày mưa, đồng trắng nước
Mùa nắng lá phơi cành.

Khi hiểu được cuộc đời
Mẹ đã đi xa lắm
Suốt một thời trĩu nặng
Vai Mẹ gánh đời con.

Quê mình nay nắng gắt
Hàng chuối lá héo khô
Bỗng con nhớ ngày ấy
Những tháng năm dại khờ...

Cả cuộc đời của con
Nợ Mẹ, không trả được.
Điều con hằng mong ước
Mãi bên Mẹ, Mẹ ơi !



CHUYỆN CHÚNG TÔI

Bốn lăm năm trước chúng tôi cùng học
Thuở “hai hai đồng”, Nhà nước nuôi ăn
Nơi ở chẳng lo, chỉ sợ rét thiếu chăn
Manh áo trên người nhiều khi không đủ ấm.

Dẫu quá nghèo nhưng nghĩa tình sâu nặng
Chiếc bánh mì mỗi sáng bẻ làm đôi
Những bữa cơm, hạt bo bo quá nửa nồi
Vẫn hát, đùa vui, vẫn yêu đời là thế!

Có những người từng một thời đánh Mỹ
Thay phiên nhau giữ Chốt dưới đạn bom
Cũng có người quen sốt rét từng cơn
Chốn thâm sâu rừng thiêng, nước độc
Về lại trường, anh em mình cùng học
Cùng yêu thương không phân biệt tuổi đời.

Năm năm rồi qua, mỗi đứa một nơi
Hăm hở lắm, lòng cứ như mở hội
Gian khổ đang chờ, chúng tôi đâu lường tới
Chỉ biết vui vì được khẳng định mình.

Đến hôm nay đã đi hết tuổi xuân xanh
Bốn mươi năm giờ mới cùng ngồi lại
Có những người ngày vui không kịp tới
Đã đi xa, xa mãi - Một kiếp Người.

Ngày gặp nhau không có bạn - Bạn ơi !
Ở nơi đó bạn nhớ chúng tôi không vậy?
Anh em giờ vẫn nhắc tên bạn đấy
Nhớ một thời chiếc bánh bẻ làm đôi...


   
Đàm Ngọc Năm

(Đàm Ngọc Năm, the Oasis2, Khu đô thị Việt Nam - Singapore, 
Thành phố Thuận An, Tỉnh Bình Dương, namdnvietsing@gmail.com)
                          



READ MORE - MẸ ƠI, NẮNG QUÊ MÌNH | CHUYỆN CHÚNG TÔI - Thơ Đàm Ngọc Năm