Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, June 7, 2020

PHƯỢNG XƯA - Thơ Nhật Quang

Photo: Hải Lê.


PHƯỢNG XƯA


Tìm trong lưu luyến Hạ ơi!
Tay nâng cánh phượng một thời tuổi hoa
Đâu rồi ngày tháng đã qua
Còn trong ký ức… nhạt nhòa buồn, vui


Gió lùa cánh phượng nghiêng rơi
Theo vầng mây trắng êm trôi bềnh bồng
Thương sao những cánh phượng hồng
Ép trang vở mới thơm nồng vấn vương


Chiều nay trở lại con đường
Bạn bè hai buổi đến trường năm xưa
Vẫn chùm phượng nở nắng, mưa
Màu hoa đỏ thắm đong đưa lối về


Ai thả cánh phượng sông quê
Lênh đênh trôi mãi, biết về nơi đâu?
Dẫu đời vạn nẻo mai sau
Hạ ơi! Ươm cánh phượng màu đừng phai.


                                            Nhật Quang



READ MORE - PHƯỢNG XƯA - Thơ Nhật Quang

Saturday, June 6, 2020

SỬ NÔ - Thơ Chu Vương Miện





SỬ NÔ

Sử là sự tích
Nô là nô đùa “cười cợt không nghiêm túc”
Thời xửa xưa quan ngự sử và các quan
Luân phiên đàn hạch nhà vua
“vì phạm lỗi, phạm tội, hôn quân”
Thì nhà vua chỉ cười ruồi và cho bọn hề
“phường chèo” ra nhại lại tiếng nói của các quan
Cùng riễu cợt nhằm vô hiệu hoá
Những lời khiển trách
Kế là “Thanh Sử” trước Công Nguyên
Ba Tàu còn “đậu phụng” hậu
Chưa có ngành in
Phải dùng tre trúc bỏ phần ruột
Chỉ dùng cật cạo sạch
Lấy dây chỉ lụa buộc liền nhau
Rồi viết chữ lên đó
Nếu về sử thì gọi là Thanh Sử
Hoặc giấy nợ giấy văn tự văn khế
Đều xài chung được cả
Còn “Xử Xanh” thì ý nghĩa có phần hơi khác
Xử là xử lý, xử thuyết, xử án
Còn Xanh là cái lớn hơn cái chảo
Nhỏ hơn cái vạc dầu
Người được cho vào cái Xanh để soạn thảo
sử đầu tiên
Là quan địa phu Lịch Sinh Lịch Tự Cơ
Được đại tướng Hàn Tín cho vào đó
Đổ dầu đốt lửa để có không khí
Soạn pho sử nhà “Tây Háng”
Sau đó 200 năm thì “sử da” Tư Mã Thiên
Viết lách sử xiếc làm sao
Mà vua Hán chịu quá
Bèn mang cung hình “tức là thiến ku thiến dái”
Để người có tật có tài
Để không còn bận tâm về các ghệ
Để thành sử gia lớn nhất thiên hạ Ba Tàu
Còn sử sách là “người đẻ ra sử và và sau đó
viết thành sách”
Đại để nhân vật “thái sư Trần Thủ Độ”
Từ trên trời rơi xuống lai lịch mơ hồ ảo
Đành phải làm khai sinh cho Trần Thủ Độ
Thân phụ là Trần Thủ Huy
Mẹ là công chúa em vua Lý AnhTôn
Được đề cử đi sứ nước Đại Liêu
và hạ sanh ra một ấu nhi ngay tại bến đò
nên đặt tên là Độ, “độ là bến đò”
còn “Sử Da” là người chỉ chuyên chép lại
những pho sử cũ rích
từ đời nảo đời nào rồi ghi tên mình vào
là tác giả
dù sao chép nguyên văn không thiếu một chữ
tuy nhiên bên dưới trang sách cũng cố
ghi vài hàng nhận xét
để người đọc biết rằng kẻ viết
“là một kẻ đần độn ngu dốt”

                                          Chu Vương Miện

READ MORE - SỬ NÔ - Thơ Chu Vương Miện

NỬA VẦNG TRĂNG LẠNH, HUYẾT PHƯỢNG - Thơ Nguyên Lạc





NỬA VẦNG TRĂNG LẠNH

1.
Em 13 tuổi ngây thơ
Tôi 15 tuổi ngu ngơ ghép vần
Em 16 tuổi trăng rằm
Tôi 18 tuổi bâng khuâng góc trường

Chiều tan huyết phượng con đường
Tóc nhung áo trắng bóp tan tim người
Trời ơi mắt trúc liếc tôi!
Điếng hồn tôi lắm triền môi ai hồng

2.
Cuộc đời đâu phải ước mong
Em theo phù phiếm để lòng tôi đau
Dĩ nhiên từ đó tôi sầu
Dĩ nhiên từ đó những câu thơ buồn

Vần thơ đầy nỗi nhớ thương
Bài thơ đoài đoạn. khùng khùng điên điên
Em đi bỏ lại tôi riêng
Nửa vầng trăng lạnh một hồn tan hoang

3.
Từ em bỏ lại ngôi trường
Bỏ ngây thơ. bỏ con đường đón đưa
Bỏ hàng phượng đứng chơ vơ
Bỏ tôi điên dại huyễn mơ hạ hồng

Em giờ còn nhớ tôi không?
Lắng đêm điệp khúc vọng âm muôn trùng
Góc đêm sương lệ lạnh tuôn
Xanh màu trăng khuyết nghiêng buông ngang đầu

Soi tôi buốt nỗi tình sầu
Mối tình ngây dại ...
và câu đoạn trường!


HUYẾT PHƯỢNG

Tháng năm về huyết phượng nở đầy sân
Màu nhung nhớ. màu máu tim tôi đó!
Chiều nắng quái. ve khúc sầu nức nở
Đã mươi năm!
Hụt hẫng ...
Cố nhân đâu?

Một bóng người bên góc trường sầu
Về chi hở?
Còn đâu bờ môi thắm?

                                       Nguyên Lạc

READ MORE - NỬA VẦNG TRĂNG LẠNH, HUYẾT PHƯỢNG - Thơ Nguyên Lạc

HƯƠNG VỊ QUÊ NHÀ, TÌM LẠI TUỔI THƠ MÌNH - Thơ Văn Thiên Tùng



                     Nhà thơ Văn Thiên Tùng



HƯƠNG VỊ QUÊ NHÀ

Lại háo hức như bao lần về trước
Đồng ới nhau... về thăm lại chốn xưa
Nơi quê nhà tiếng thừa nắng - dư mưa
Mà bao thuở tổ tiên mình nếm đỗi

Vốn tha phương đau đáu về chốn cội
Tuổi thơ đồng trang lứa lại chung trường
Bao mùa hè giăng mắc lắm tơ vương
Ươm tuổi mộng theo từng mùa phượng điểm...

Hình ảnh quê trĩu tấc lòng lần kiếm
Con hẽm vào, góc phố với tên đường
Những khúc sông biền bãi bốn mùa thương
Bao kỷ niệm hằn in trong tiềm thức

Tiếng gà gióng điểm canh tàn thúc giục
Nhịp mõ Chùa tỉnh hội khẽ khàng khua
Chuông La Vang thánh thót nhịp nhàng đưa
Lay tỉnh lỵ bừng giấc chào ngày mới…

Mọi công việc tất bật cho ngày tới
Sau bấy canh tĩnh lặng với đêm dài
Lại một ngày rộn rã tự sớm mai
Bao ngõ phố nối nẻo làng đây đó!

Đâu Bến Hộ - cầu Ga Tây-Bắc Ngõ
Hay Cầu Lòn - Hải Trí đến La Vang
Nào chợ xưa - trường sở lắm khu phường
Nằm gọn lỏn bên bờ sông Thạch Hãn

cửa tỉnh lỵ hướng nam với Ba-ri-e chắn
vùng ngoại ô Đại Nại với Long Hưng
Quèng Tri Bưu - Góc bầu tới Cổ Thành
Điểm tọa lạc uy nghi là Chùa Tỉnh …

Bọc loanh quanh bao nhánh sông Vĩnh Định
Từ cựu Dinh đến thành lũy sau nầy
Tứ cổng Thành tiếp nối lắm đổi thay
Dáng đất mẹ tâm điểm đầy uy lực…

Lũy tre làng một phần hằn tâm thức
Tỏa bóng râm che mát lối đi về
Những chiều hè nồm ngát lộng triền đê
Bao tiếng trẻ reo đùa chơi thỏa thích

Nhan Biều ơi! Phù sa bồi trầm tích
Mỗi mùa về dưa - bắp - đậu đầy vơi
Mỗi xuân về hoa cải thắm vàng lơi
Hòa sóng biếc thắm nghĩa tình Mai-Hãn

Sử tích quê đọc hoài nào chẳng ngán
Thoáng dư âm xao xuyến nhéo tim mình
Đâu bóng hình ấy… ấy đẹp thắm xinh
Mà thoáng chốc lay hồn ta xao động.

Lại trở về lục dư hương cuộc sống
Thế hệ chúng mình từ đấy lớn khôn
Hình ảnh quê cha trĩu nặng tâm hồn
Và đất mẹ lưu dấu tình trĩu nặng…
Hương vị quê... đâu chỉ của riêng ai !...

                      Quảng Trị, 21/6/2019
                          Văn Thiên Tùng


TÌM LẠI TUỔI THƠ MÌNH

Ta lại về… bên dòng sông quê mẹ
Nơi vườn nhà, ngõ xóm những trưa hè
Nơi đường làng xanh mướt những hàng tre
Bùn đất sũng con đường từng lê bước

Ta lại về thăm dòng sông thuở trước
Những khúc sông cùng bến tắm - giếng làng
Dòng sông xưa hay nay vẫn hằng mang
Nguồn nước mát từ cội nguồn Mai-Hãn

Dòng Thạch Hãn bốn mùa đâu vơi cạn
Mạch nguồn thiêng un đúc tự mai rày
Mỗi đông về phù sa cuộn lấp dầy
Nguồn dưỡng chất tốt tươi chào xuân tới

Ta lại về… tìm lại mình ta với
Tuổi thơ ta dần lớn tại phố nhà
Những con đường đầu bước hẳn lạ xa
Đòi theo mẹ lên tỉnh từng hửng sớm

Thèm que kem Thăng Long cùng bánh cốm
Kẹo bi tròn lắm sắc gói để dành
Kẹo xóc gừng ngọt lịm mút ngon lành
Kẹo kéo dẻo dòn ngon bọc nhân phụng

Cứ mỗi lần túm tay ba đều cũng
Vòi dăm đồng ăn mì xíu-kẹo chanh
Còn ít dành sau đó ghé mua tran
Cắt từng ảnh tụm nhóm rồi đánh táng…

Những trò chơi chẳng thể nào xao lãn
Nào bắn bi, đá dế cược độ chun
Ăn thì vui thua lại nổi cơn cùn
Thách nhau hẹn tới lần sau tiếp tục…

Ta lại về tìm ngôi trường ấy lúc
Lớp vỡ lòng tiểu học viết i tờ
Thầy luyện âm - đọc chữ uốn à ơ
Từng bài đọc hay câu đồng dao hát…

Khuôn viên trường những lối đi rậm mát
Hàng phi lao tỏa bóng ngọn cành xuê
Từng hàng cây thẳng tắp phủ tứ bề
Che đông giá và hạ lùa nóng nực

Những mùa hè bao nổi buồn rưng rức
Lại chia xa hẳn những chín mươi ngày
Nơi làng quê hay phố thị ắp đầy
Đó đây bày lắm trò chơi thỏa thích…

Thế nhưng vẫn đếm từng ngày chóng tắt
Ước đến ngày khai giảng trước sân cờ
Ai cũng toàn đồ mới ấy vậy cơ
Cùng chúng bạn tung tăng từ hửng sáng

Những mùa hè tiếp những mùa khai giảng…
Từ i tờ tập viết, đọc ghép vầ
Từng câu văn chỉnh tả cứ tròn dần
Từng bài toán cộng - trừ - nhân - chia thạo

Những ước mơ gắn liền bao hoài bão
Theo tuổi thơ lớn dậy mãi không ngừng
Thầy cô cùng bè bạn với ngôi trường
Là nơi đã khai bồi tâm - trí - huệ. 

Ta trở về nơi dòng sông quê mẹ
Tìm chút dư hương đâu đó hằn in
Nơi trang đời cất dấu mãi trong tim
Và ký ức chẳng bao giờ nhòa nhạt.                 

                  Quảng Trị, 11.7. 2017
                       Văn Thiên Tùng

READ MORE - HƯƠNG VỊ QUÊ NHÀ, TÌM LẠI TUỔI THƠ MÌNH - Thơ Văn Thiên Tùng

Friday, June 5, 2020

CHÙM ẢNH HOA XƯƠNG RỒNG CỦA CHU VƯƠNG MIỆN




 

 

 

READ MORE - CHÙM ẢNH HOA XƯƠNG RỒNG CỦA CHU VƯƠNG MIỆN

Thursday, June 4, 2020

NHỮNG NGƯỜI Ở VEN RỪNG - Trần Duệ


        Nhà văn Trần Duệ


NHỮNG NGƯỜI Ở VEN RỪNG
                                                                   Trần Duệ

     Cuối cùng Mai cũng lấy được chồng. Đám cưới được tổ chức khi cô gần ba chục tuổi, chấm dứt cái từ “gái ế” mà bà con gọi lén đã nhiều năm qua. Xóm làng đều vui, riêng Mai thì không ai đoán được. Cô sống với người mẹ đã già yếu. Ở miền núi, người ít, đất rừng mênh mông nhưng phần lớn đều của nhà nước. Đất ở hẹp, người đông nên nhiều ngôi nhà nằm ở cạnh nhau trông không giống cảnh vùng cao ngày trước. Nhà của Mai nằm ở cuối thôn, có khu vườn khá rộng, xa nơi đông người. Vào những đêm tối trời, ngôi nhà có ánh điện mờ mờ, nằm khuất dưới vườn cây, trông cũng buồn thiệt. Mai lấy chồng nhưng không theo chồng về làm dâu. Chồng của Mai tên Huy, lớn hơn Mai khoảng bốn, năm tuổi. Nghe nói anh lấy vợ trễ do mãi đeo đuổi chuyện làm thơ, nhưng thực ra ở đây chưa ai từng nghe hoặc đọc thơ của chồng Mai. Gia đình Huy ở xã kế bên, anh em đông, nên chuyện Huy đi ở rể cũng không khiến mọi người bận tâm cho lắm. Một năm sau Mai sinh con gái. Bà con thấy mừng, vì tương lai trong xóm sẽ bớt được một thằng hút, chích, đua xe... Ba năm nữa, vợ chồng Mai ly hôn, bà con lại thấy vui vì xóm làng đã bớt được một thằng đàn ông suốt ngày say xỉn. Bà con đang cần một người làm ra lúa, ra bắp chứ không cần một người làm thơ.
        Mai có dáng người cao nhưng thân hình khá to nên trông cũng cân đối. Không hiểu sao từ ngày ly dị chồng thì nhìn Mai đẹp ra. Khuôn mặt đầy đặn và nước da hồng hào, mỏng như khói thuốc. Mai trở thành đề tài cho nhiều người bàn tán; từ những cuộc nhậu của đám đàn ông cho tới những lần đi bộ tập thể dục buổi sáng của các chị. Có những cuộc tranh luận đến mức căng máu lên mặt. Có người gọi Mai là “bà giá”; người gọi “bà goá”; người gọi “nạ dòng”, riêng mấy gã đàn ông “sồn sồn” lại gọi Mai là “gà mái dầu”. Chằng biết ai nói đúng ai nói sai, bởi vì đây là nơi tập trung người dân ở nhiều tỉnh thành về làm nghề rừng rồi định cư, có gia đình đã sống ở đây nhiều đời; và đây cũng là nơi hội tụ nhiều giọng nói, nhiều tập quán khác nhau. Gia đình Mai trước đây nghe nói cũng hạng khá giả trong xã, khi người cha qua đời để lại cho hai mẹ con hơn năm hecta đất trồng lúa. Từ khi chia tay chồng, bà con rất ít thấy cô ta ra đồng. Thật ra làm ruộng lúc này đã khác với trước đây lắm rồi, tất cả đều có máy làm. Đến cuối vụ, Mai ra cân lúa rồi bán ở ngoài ruộng, lấy tiền về. Gần như suốt năm cô không đụng vào một cọng cỏ ngoài đồng.
        Vào một đêm trăng mờ mờ, chị hàng xóm qua nhà Mai, tới cổng, thấy anh xóm trưởng đi ra. Khi chào hỏi nhau, anh bảo đi thu thuế nông nghiệp. Mãi đến trưa hôm sau, nằm đong đưa trên võng chị mới nhớ lại và cảm thấy phân vân, là nhà nước đã miễn thuế nông nghiệp cho người trồng cây lúa từ nhiều năm rồi, sao bây giờ vẫn còn thu? Cố gắng lục trong trí nhớ, cuối cùng chị cũng nhớ ra. Thôi rồi, cái câu “Đi khám điền thổ” mà ông quan huyện đã nói trong vở tuồng: “Nghêu, Sò, Ốc, Hến” đến nay vẫn còn xài được. Chuyện đi thu thuế nông nghiệp được truyền đi khắp xã, chỉ có hai người không nghe không biết, đó là cô Mai và vợ anh xóm trưởng.
       Trong xóm có anh Toàn năm nay anh cũng đã gần bốn chục tuổi nhưng vẫn sống một mình trong ngôi nhà của cha mẹ để lại. Nghe nói trước đây anh là kỹ sư điện và làm việc ở trên thành phố, nhưng không biết vì sao anh lại bỏ việc về sống ở đây. Nhiều người phụ nữ trong xóm cứ bàn tán, rồi phân tích, vì nguyên nhân gì đến chừng này tuổi mà không chịu lấy vợ? Nghĩ không ra, họ đoán bừa và đồn ra là anh “mắc bệnh đằng dưới”. Nghĩa là, có một người phụ nữ ở cõi âm đã yêu anh nên không cho anh yêu và lấy ai cả. Bà con theo dõi, thấy chiều chiều thay vì đi nhậu như những người đàn ông khác, anh lại ra đứng nhìn chăm chăm vào cục đá to hơn ngôi nhà nằm ở cuối vườn. Nghe nói cục đá này đã có từ thuở ông bà của anh đến đây khai hoang, nhưng không hiểu sao gia đình vẫn để nguyên cho đến hôm nay. Mấy ông “thầy đá” bảo, do đã tồn tại trên trái đất hàng triệu năm nên trong mỗi hòn đá luôn có một linh hồn người chết nhập vào, và nó rất thiêng. Xâu chuỗi tất cả những “kiến thức” đã biết, các chị kết luận anh Toàn “mắc bệnh đàng dưới”. Các chị tự thấy phải có trách nhiệm theo dõi từng “hành vi” của anh Toàn, mặc dù nhiệm vụ này chẳng có con ma nào phân công!
         Một buổi sáng, kẻ mua người bán ở chợ rỉ tai nhau, hồi đêm anh Toàn đi sửa điện cho nhà cô Mai! Có người phân vân, là có thấy cô Mai tới nhà anh Toàn đâu mà nhờ? Một chị nói: “Lạc hậu quá bà ơi, thời buổi này mấy đứa giữ trâu cũng dùng điện thoại di động rồi”. Bàn cãi tranh luận chán, ai cũng thấy chuyện này vẫn còn đáng để hồ nghi.
         Đến lúc này, câu chuyện đi thu thuế nông nghiệp của anh xóm trưởng vẫn còn lưu trong bộ nhớ của những người đàn ông trong xóm. Trong một cuộc nhậu, có người hỏi: “Dạo ni xóm trưởng còn đi “chân nhện” không?”. Xóm trưởng nốc một ly rượu rồi bình thản trả lời: “Người ta có đồng tình thì mình mới đi chân nhện,chứ họ không thích thì đi sao được?”. Những khuôn mặt đang sần sần vì rượu bỗng đơ lại, không nhúc nhích, hình như họ chỉ đồn đãi chứ không hề mong chờ điều đó.
         Mẹ của Mai qua đời, cả xóm bỏ việc kéo để đến phụ giúp Mai lo cho bà được mồ yên, mả đẹp. Người tận tâm nhất trong cuộc ma chay đó chính là anh Toàn. Toàn tham gia từ việc dựng rạp, đào huyệt, thậm chí cùng âm công khiêng hòm bà đi chôn. Chuyện tưởng rất bình thường nhưng mọi người ai cũng để ý rồi mang ra bàn tán, như để khẳng định anh Toàn đã “dính” với cô Mai. Một chị nói to bằng giọng Quảng Nam: “Đám mô anh Toàn cũng làm nhiệt tình như rứa chứ riêng chi đám ni?”. Tất cả im lặng. Một chị đứng lên, đưa tay thật cao rồi nói to: “Sory. Sory”. Mọi người cùng cười to.
         Từ một làng quê nghèo, xã bỗng chuyển mình lên thị trấn, mà biểu hiện đầu tiên là giá đất ở, đất ruộng tăng vùn vụt. Từ chuyện giá đất tăng, đề tài về cô Mai và anh Toàn lại tiếp tục được thảo luận sôi nổi. Một chị đã U50 to miệng: “Nhà thằng Toàn với con Mai đều có vài hecta đất, nếu bán thì tụi nó thành triệu phú đô la Mỹ cho mà coi”. Nghĩ, tụi hắn cũng dại, sao không bán đất bán nhà mà xài cho sướng? Toàn cả ngày chỉ nhìn chăm chăm vào máy vi tính, rồi nhìn chăm chăm cục đá sau nhà, rượu chẳng uống, gái gú chẳng dám nhìn. Con Mai còn dại hơn, cả ngày chỉ biết chăm lo cho mấy cây xoài, cây mít trong vườn chứ không thấy đi chơi đâu cả. Thà chồng nó chết thì ở vậy cho đành, để không chạm vào nỗi đau của con cái và họ hàng, chớ đã ly dị thì tội gì mà không môi son, má phấn, diện áo đầm, nhuộm tóc nâu tóc đỏ rồi sắm xe tay ga đi hát Karaoke, nhảy nhót với người ta cho vui? Cuộc sống đang đi lên, tội gì mà mình không sống như mấy người ở thành thị cho sướng cái thân?
         Trong xóm có anh Nghệ, trước đây chuyên nghề cưa gỗ. Nhóm thợ cưa của hắn đi làm ăn khắp nơi trong cả nước, hay nói đúng hơn là phá rừng từ Nam ra Bắc, rồi phá vét từ Bắc vô Nam. Bước chân của Nghệ tới đâu, rừng ở đó tan hoang. Nói cũng có phần oan cho hắn, chứ thật ra những vùng rừng ở đó tan hoang không phải do một mình hắn. Hắn chỉ là thằng làm thuê cho chủ để kiếm cơm mà thôi. Rừng ở đây bị khai thác đến cạn kiệt không thuộc tội của Nghệ. Cách đây khoảng chục năm, nhóm thợ cưa của Nghệ về tới vùng rừng này làm ăn thì rừng còn ở gần và có rất nhiều gỗ quý như trắc, cẩm lai, gõ đỏ…Cả nhóm làm lán trại trong rừng, vài ngày đi ra chợ một lần. Làm được gần một tháng, gỗ cưa ra chưa bán được thì cả nhóm bị  kiểm lâm vây bắt trọn ổ. Khẩu súng AK lăm lăm dong cả bọn ra khỏi rừng. Vốn đã đi nhiều, nghe nhiều, biết nhiều, Nghệ tin là kiểm lâm dùng súng chỉ để “hù” chứ không dám bắn ai cả. Chính vì nghĩ vậy mà hắn đã xông đến cướp súng rồi kêu gọi cả nhóm cùng chống trả những người thi hành công vụ. May mà cả ba anh kiểm lâm chỉ bị thương nhẹ. Cả nhóm thợ cưa bị bắt trên đường tìm ra ga tàu để về quê. Mãn hạn tù, vừa tuổi ba mươi, không hiểu vì duyên cớ gì mà Nghệ lại chọn nơi này để định cư. Lúc này rừng đã hết nên Nghệ cũng được xoá luôn cái hỗn danh “lâm tặc” mà nhiều người nguyền rủa. Nếu có ai hỏi vì sao không về quê thì Nghệ bảo, trở về sau ba năm tù thì vợ đã dắt hai đứa con đi lấy chồng khác mất rồi. Nghe người ta nói là người chồng sau rất thương hai đứa con riêng của vợ nên Nghệ cũng không có gì vướng bận. Kể xong, Nghệ buông một câu nhẹ nhàng mà vô cảm: “Khoẻ!”.
         Không hiểu được ai giới thiệu mà Nghệ về làm thuê cho gia đình Mai. Mai làm cho Nghệ một cái chòi nhỏ ở trên mô đất ngoài ruộng. Hàng ngày Nghệ chỉ việc chăm lo cho mấy hecta ruộng của gia đình Mai, rồi tự nuôi vịt đàn đẻ trứng cho riêng mình. Đàn ông trong xóm kháo nhau: “Số thằng Nghệ sướng thiệt, đêm trăng thanh, gió mát có mấy em không chồng ra ngủ chung với hắn đến sáng”. Nhiều người lần mò đi hỏi ai đã “ăn nằm” với Nghệ, nhưng ai cũng chối bai bải nên Nghệ hoàn toàn vô tội. Người phụ nữ mạnh miệng chối nhiệt tình nhất là chị Mười xe ôm. Người ta gọi tên chị rồi kèm thêm chữ xe ôm là có nguyên nhân của nó, chứ thật ra chị ta không biết đi xe máy.
Chị Mười đã hơn bốn mươi, thui thủi một mình vì bị chồng bỏ do cưới nhau đã lâu mà không có con. Chị Mười có một chuyện mà cả xóm đều biết và bàn tàn trong một thời gian khá dài. Có một dịp Mười về thăm quê, xe dừng ở ngoài quốc lộ 1, lúc 10 giờ đêm. Từ đó về tới nhà phải đi thêm gần năm chục cây số nữa. Một anh chạy xe honda ôm tuổi cũng “sồn sồn” đến mời Mười đi xe. Trên đường về, trăng sáng, đường rừng vắng ngắt, Anh tài xế xe ôm bỗng nổi máu “giống đực”. Nghĩ rằng vị khách đã “máu” giống mình, anh xe ôm dừng xe lại, và  Mười lặng thinh để cho bàn tay của anh xe ôm “tự do đi lại” trên cơ thể của mình. Mười nói với một giọng rất tình cảm “Anh ơi! em chỉ sống một mình, về nhà em có giường chiếu đàng hoàng chứ làm ở đây em không thấy sướng”. Xe về tới nhà lúc đêm đã khuya. Khi vừa bước xuống xe, Mười đi thẳng một mạch vào nhà. Anh xe ôm gọi: “Trả tiền xe chứ”. Mười trả lời dứt khoát “Tui cho anh rờ, mò từ lúc lên xe đến giờ là quá nhiều rồi. Coi như trừ”. Anh xe ôm mất đứt một cuốc xe, không hiểu về nhà sẽ trả lời sao với vợ?
         Tình cảm của Mai và Toàn xem ra ngày càng khắng khít. Cứ vài ngày, người trong xóm lại thấy Mai ghé nhà Toàn. Chuyện trai chưa vợ, gái chưa chồng nên mọi người chẳng mấy bận tâm. Họ chỉ thắc mắc vì nhận thấy cuộc sống của Toàn vẫn không thay đổi, nghĩa là vẫn cả ngày ngồi nhìn máy vi tính rồi ngồi nhìn cục đá phía sau nhà.
         Có một đêm ngoài đường tối bưng, Nghệ từ ngoài ruộng lần mò đi vào xóm rồi núp vào phía ngoài vườn nhà Toàn để nhìn vào. Nghệ cố lắng nghe những âm thanh trong nhà phát ra nhưng không rõ lắm. Nghệ nhè nhẹ đi vào sát hông nhà rồi nhìn qua khe hở của cánh cửa. Toàn đang giảng bài cho mấy đứa nhỏ, trong đó có con gái của Mai. Hắn rờ cái dao dắt sau lưng, thầm nghĩ: May mắn là không có cô Mai!
         Cứ khoảng mươi ngày, nửa tháng lại có một chiếc ô tô con chở những nam nữ thanh niên sang trọng về đậu trong sân nhà Toàn. Họ ở chừng một buổi rồi đi. Lúc đầu người ta không để ý, nhưng việc đó cứ lặp đi lặp lại hoài nên bà con cũng thắc mắc, vì ở vùng miền núi này làm gì mà có người sang trọng về thăm? Có người nói, “chắc là thằng Toàn hoạt động tình báo”. Nghe vậy có người phán ngay: “Cái thằng mắc bệnh đằng dưới như nó thì hoạt động tình báo, tình biếc cái quái gì?”
         Có một chuyện xem ra cũng khá động trời ở cái khu ven rừng này, là một hôm, vợ của Nghệ bỗng đưa hai đứa con gồm một gái và một trai vào tìm. Cả ba mẹ con đều ốm yếu và ăn mặc vẻ nghèo khổ. Nghệ trốn biệt. Đàn vịt không ai cho ăn kêu váng cả đồng. May mà ngày hôm sau có một bà không chồng quen lệ tìm ra nên đàn vịt không bị chết đói. Đàn vịt không đói nhưng vợ con của Nghệ thì đói. Cả ba mẹ con ngồi khóc bên vệ đường trước cổng nhà Toàn. Toàn đưa vợ con của Nghệ vô nhà mình cho ở nhờ. Sự xuất hiện của vợ con Nghệ ở nhà Toàn khiến mọi người chú ý, và họ nhận ra là lâu nay, Mai đến nhà Toàn không phải vì tình cảm riêng tư mà chỉ đến nhờ Toàn dạy cách sử dụng máy vi tính.
         Người đi tìm Nghệ về chính là Toàn. Khi thấy mặt Toàn, Nghệ biết rằng mình phải làm chuyện gì tiếp theo. Dù chưa thấy mặt vợ con nhưng Nghệ cũng biết là Toàn đang cưu mang vợ con của mình. Nghệ thầm trách, tại sao Mai lại chỉ nơi “trốn” của Nghệ cho Toàn biết? Khi đi, Nghệ không nói với ai, ngoài Mai. Những năm tháng về sống ở cái xóm ven rừng, đến lúc này Nghệ cũng không hiểu tình cảm của mình dành cho Mai là gì nữa. Đối với Nghệ, Mai là một bà chủ, một ân nhân, một người em, một người bạn hay một thứ tình cảm gì đó mà Nghệ không hiểu được.
 Nghệ nhớ lại cái ngày mới ra tù, ngồi uống rượu một mình trong quán ở ven rừng thì gặp Huy. Trong tâm trạng chán chường Nghệ chẳng cần quan tâm tới ai chung quanh. Huy cầm ly rượu đến trước mặt Nghệ:
- Thấy chú mày buồn quá, tao mời chú một ly, được chứ?
Hai gã đàn ông đang buồn những nỗi buồn khác nhau, nhờ ly rượu mà bỗng chốc trở nên thân thiết. Và đêm đó, Huy đưa Nghệ về nhà. Sáng ra, không biết phải đi đâu, nên Nghệ dễ dàng nhận lời ở lại làm thuê cho gia đình Mai. Khi vợ chồng Mai ly hôn, điều yêu cầu duy nhất của Huy là mong Mai đừng đuổi Nghệ.
Nghe Toàn phân tích về hoàn cảnh của vợ con trong những năm Nghệ đi làm rừng rồi đi ở tù, Nghệ nhận ra ở Toàn những điều không như nhiều người đã nhận xét. Ngồi im lặng nghe Toàn nói chuyện, Nghệ rờ rờ những mấy sợi râu mọc lưa thưa dưới cằm rồi buông thõng: “Muốn bỏ vợ cũng không dễ!”. Toàn im lặng, không nói gì thêm.
Nghệ đưa vợ con về ngôi nhà nhỏ ở ngoài ruộng. Nghe Toàn nói mọi người mới vỡ lẽ, là trong thời gian Nghệ ở tù, do quá nghèo và phải nuôi hai đưa con nhỏ nên người vợ chỉ đi thăm chồng được một lần. Sự ngóng trông lâu ngày tích thành oán hận, nên khi ra tù Nghệ không muốn về quê nữa. Thật ra vợ Nghệ không lấy chồng khác như Nghệ nói lâu nay.
Ông xóm trưởng nói oang oang trong quán nhậu ở đầu xóm: “Thằng Toàn thấy ngơ ngơ vậy mà nó giỏi thiệt. Không hiểu nó nói cách gì mà vợ chồng con Mai với thằng Huy xáp lại với nhau rồi”. “Sao anh biết?”. “Thì tụi nó đi đăng ký kết hôn lại ngày hôm qua rồi”. Mọi người đều cười vui. Niềm vui, nỗi buồn của người dân ở đây cũng khá đơn giản. Người ta chia tay họ cũng vui, người ta đoàn tụ họ cũng vui. Ông xóm trưởng nói để mọi người trong quán cùng nghe: “ Đứa nào giúp cho nhau tìm được hạnh phúc là tao mừng lắm rồi!”
Kết nối một cuộc tình đã ly tán là điều không dễ dàng nhưng có hai người đã làm được, đó là Toàn và Nghệ. Hai người rủ nhau đi tìm Huy. Lúc đó Huy đang sống ở một tỉnh khác. Cuộc sống của Huy chưa phải bi đát cho lắm nhưng vẫn cô độc và nghèo khổ. Ban ngày Huy uống rượu và làm thơ nhưng ban đêm lại đi cạo mủ cao su cho nông trường. Trong những năm tháng xa vợ con, Huy đã hiểu được khả năng làm thơ của mình ở mức nào. Thơ là một cái gì đó rất gần nhưng cũng quá xa mà không phải ai cũng chạm tới được. Nếu có thơ hay thì đã hay từ hồi tuổi trẻ. Lúc này Huy mới thấy được là bản thân mình không đủ sức, không đủ tài năng để tìm đến đỉnh cao của thơ, vậy nên chỉ làm thơ cho vui mà thôi, còn ai khen chê thì mặc họ. Sau những ngày ly biệt, thứ tài sản mà Huy đưa về cho vợ, cho con là một thân hình ốm nhách cùng một thùng giấy đựng mì tôm, trong đó chứa đầy bản thảo thơ.
Ngôi nhà của Toàn vẫn sáng đèn mỗi đêm, khu vườn sạch đẹp nhưng thực ra Toàn đã về thành phố sống từ lâu rồi. Ngày ngày vợ của Nghệ vẫn vào dọn dẹp, chăm sóc nhà và vườn cho đến chiều mới về nhà mình ở ngoài đồng. Tiền công của vợ chồng Nghệ vẫn được Toàn chuyển trả hàng tháng. Bà con trong xóm đã biết được Toàn là một đại gia thật sự chứ không phải như bà con đã nghĩ. Toàn là chủ tịch hội đồng quản trị của một công ty điện ở trên thành phố. Lâu nay Toàn vẫn điều khiển việc kinh doanh của công ty qua máy vi tính.
Cuộc sống của những người ở ven rừng nơi đây vẫn tiếp tục trôi đi. Lâu lâu lại rộ lên một chuyện của ai đó để bà con bàn tán, rồi sau đó đi vào quên lãng. Chính họ đã sống được bằng niềm vui, nỗi buồn của chính mình và của người khác.
Khoảng ít năm sau, Toàn đưa vợ con về thăm xóm. Vợ chồng Toàn nói đã thống nhất bỏ tiền xây dựng một khu nuôi dưỡng người già cô đơn ngay trong đất vườn của nhà mình. Trong năm năm đầu, nhà dưỡng lão sẽ nhận nuôi ba chục cụ, sau đó sẽ nuôi đủ ba trăm cụ. Họ nhờ vợ chồng Nghệ và Huy quản lý. Vợ chồng Huy hứa sẽ cung cấp miễn phí đủ gạo ăn cho các cụ. Điều mà mọi người đều bất ngờ là chị Mười xe ôm xin tình nguyện vào làm việc ở khu dưỡng lão không nhận lương, tới khi không còn làm việc được nữa thì xin được ở lại trong đó cho tới chết. Bà con cả xóm vỗ tay rần rần. Riêng ông xóm trưởng nhà ta thì cười híp mắt.

                       Trại sáng tác Đà Nẵng, tháng 8/2019
                                            Trần Duệ

READ MORE - NHỮNG NGƯỜI Ở VEN RỪNG - Trần Duệ

MỘT MÌNH, KHI NÀO TA BỎ THẾ GIAN - Thơ Châu Thạch


                    Nhà thơ Châu Thạch


MỘT MÌNH!

Một mình
Ngồi giữa đêm khuya
Không trăng
Chỉ có sao lìa trời xanh

Sầu sao
Chùm tối trên cành
Con chim không hót
Đêm đành lặng yên

Thương mình
Bao nỗi truân chuyên
Thương cây
Không gió đứng yên giữa trời

Đêm như
Thầm lặng bao lời
Ta như
Ghế đá
Một đời công viên

Thuyền hồn
Trôi giấc cô miên
Một mình
Ta với ưu phiền trần gian

Nhớ ơi
Là nhớ địa đàng
Còn đâu trái cấm sông vàng
Chúa ơi !!!


KHI NÀO TA BỎ THẾ GIAN

Khi nào
Ta bỏ thế gian
Em ơi
Đừng để hai hàng lệ rơi

Ta đi
Đi thẳng về trời
Bỏ trăng
Bỏ gió
Bỏ đời khổ đau

Ta còn
Để lại phía sau
Câu thơ nhuộm ướt
Một màu lệ trong

Bia ta
Em vẻ một vòng
Một vòng như bóng
Đêm rằm tròn trăng

Thơ ta
Em gởi lên hằng
Lửa hồng thiêu giấy
Tro tàn gió bay

Trên trời
Ta ở cùng mây
Mây đi
Đi đó đi đây phiêu bồng

Em ơi
Sắc sắc không không
Em ơi
Đừng sá chi lòng ta đau!!!

                      Châu Thạch

READ MORE - MỘT MÌNH, KHI NÀO TA BỎ THẾ GIAN - Thơ Châu Thạch

CHÙM ẢNH HOA NGỌC LAN CỦA CHU VƯƠNG MIỆN








READ MORE - CHÙM ẢNH HOA NGỌC LAN CỦA CHU VƯƠNG MIỆN

Wednesday, June 3, 2020

ĐỎ HOA BÙA NGẢI - Thơ Trần Mai Ngân




ĐỎ HOA BÙA NGẢI

Tháng Sáu trời hâm hấp nóng
Em nhớ mùi rơm khô nướng cá đồng vương trên áo anh
Trưa hôm ấy trời xanh, rất xanh
Và dòng sông cứ dùng  dằn lười chảy...

Tháng Sáu mùa hè đỏ hoa bùa ngải
Bỏ mê em đi về phía trái tim
Cây cỏ vùi trong giấc ngủ im
Chỉ có đôi mình ngồi kể chuyện...

Em hỏi có phải là duyên, có phải là thương
Để tóc mai vấn vương - rời không đành, xa không nỡ
Ta xuống tàu về hai phía cùng trăn trở
Đêm ngọt ngào tháng Sáu khắc vào tim

Tháng tháng, năm năm nhiều nhiều....những lặng im
Anh không gìn giữ - em cũng đành buông bỏ
Lòng còn thương mà không còn muốn tỏ
Nguội lạnh rồi ngôn ngữ hoá hư vô...

Bây giờ
Tháng sáu không anh cũng không em
Bờ sông cũng lạnh lùng trôi chảy
Có con sóng tràn đôi bờ nghi ngại
Đắm thuyền tình vỡ mộng của hai ta!

Trần Mai Ngân

Viết tặng bạn và ngày 7-6




READ MORE - ĐỎ HOA BÙA NGẢI - Thơ Trần Mai Ngân