Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, August 12, 2019

CHÙM THƠ KHÓC CON - Phạm Ngọc Thái


BÊN NẤM MỒ CON
                   .   Phạm Ngọc Bảo                                         
             ( 7.3.1992 - 22.7.2019 )  
     
Ngủ đi con ngoan ! Ngủ đi con !
Chuyện đời coi đã trả nợ xong
Hãy yên giấc mộng ngàn năm nhé
Cha còn bận bịu chút trần gian

Cha ôm nắm đất rắc lên mồ
Đất này đất mẹ. Đất ông cha.
Ấp ủ cho con vào sông núi
Hồn con mai mốt nở đầy hoa

Con sẽ cùng cha tới Tây Thiên
Không về trần nữa, hết ưu phiền
Con đi trả nợ cho cha đó ?
Đã trút lên đầu đứa trẻ ngoan

Kiếp trước đời cha chắc tội nhiều 
Kiếp này bố lại phải mang theo
Hỡi ôi, nợ trả còn bao cách ?
Sao nỡ bắt của tôi đứa con yêu !

Con sống cùng cha 27 năm
Nâng như nâng trứng. Ngọc long lanh.
Ngày tháng cha con mình quấn quít
Giây phút ngờ đâu bỗng tan hoang

Món nợ cuối cùng của tôi đây ?
70 xuân sống cõi đời này
Nay dẫu trở thành Thi Nhân Lớn
Tôi trả nợ xong rồi, hỡi Như Lai !?

Con đem đời con gánh cho cha
Tâm cao như núi, dạ bao la
Cha xin Quan Thế Âm Bồ Tát
Đưa con về cõi cực lạc cùng cha

Nắm đất cha đang rắc lên mồ
Ru con yên ngủ giấc tuổi thơ
Đừng buồn con nhé ! Dù chết sớm
Để về Đất Thánh sống thiên thu

Thánh Phật rồi đây sẽ đón cha
Có con theo cạnh chốn Ba Tòa
Cha sẽ bồng con trong trời đất
Nhân gian hương khói... khắp sơn hà...        


 Ngày đắp mộ cho con
               28.7.2019


Tảo mộ, thắp nén tâm hương... - Hình 2


   THƯƠNG CON VÀ LỜI CẦU NGUYỆN THẾ NHÂN

" Bố để lại một gia đình tan tác... "
Con ơi con ! Có phải tại bố đâu?
Bố cũng cố hết mình... chỉ bởi nỗi bể dâu...
Lời con trách, đau xé lòng người cha khốn khổ.

Thì vẫn biết vận đời con xấu số...
Bố mẹ lo cho con, hết mực thương yêu
Mà không thể nào yên được giấc đêm thâu
Con chết đi ! Mang cả linh hồn cha già xuống mộ.

Hình bóng con trong đầu cha, thương quá !
Ngày ngày cha con mình, quấn quít bên nhau
Con chăm cha khi khỏe, lúc ốm đau...
Lo sửa chữa chiếc máy tính, để cha làm văn học.

Bố đã dìu con, cho tới khi con trở thành thạc sĩ
Công ăn việc làm tử tế giữa nhân gian
Bước sang 28 tuồi đầu, con vẫn rất ngoan
Sao ông trời nỡ bắt đi, đứa con trai tôi hiền lành như thế? 

Cùng thi ca...
Bố nhất định mang con vào cõi thiên thu, bất tử !
Kiên quyết đòi ông trời phải trả lại cho ta
Một ngày mai... Hậu thế tưởng niệm cha...
Con sẽ theo cha, sống mãi với sơn hà nước Việt.

Thơ bố viết ngàn năm không tan được
Con vừa bằng tuổi cố nhân Hàn Mặc Tử đó, nghe con !
Bố sẽ làm lễ tạ ơn Người, nâng giấc cho con
Khi bố về cùng thi nhân, vẫn có con bên cạnh.

Nỗi dầy vò cha, suốt năm canh canh cánh
Tưởng bao năm chăm con... để sống sướng hơn cha...
Thân trẻ nay hoang phế trước người già
Kẻ làm cha sinh ra con, trở thành độc ác !?

Bố chẳng hiểu làm cách nào, lấy lại con trong trời đất...
Một nhà thơ phận mỏng, thân ôi
Đẻ con làm gì ? Cho nó khổ, người ơi !
Hỡi oan nghiệt ! Tôi phải trả nợ từ kiếp nào, không biết?

Chỉ còn biết lấy "thơ", chuộc lại đứa con tội nghiệp
Không sống được ở kiếp này... Bố hẹn kiếp sau...
Thế giới của hư vô, thế giới không mầu
Nhưng trong sạch. Bố con mình đoàn tụ.

Hỡi nhân thế !
Giây phút này, xin nghe lời của một nhà thơ nhắn nhủ
Mai sau... Ngôi miếu nào dành tưởng niệm cho tôi...
Hãy mang ảnh con tôi vào, và đặt thêm một bát hương đời
Dù rất nhỏ thôi, để tôi sống có con bên cạnh.

Không có nó ? Vong hồn tôi nghìn năm không tiêu tán...
Xin chấp nhận lời nguyện cầu, nho nhỏ của thi nhân
Nó sống cả đời sạch trong, không chút bụi vẩn tâm hồn
Rất giàu tình thương yêu !... Cho nó cùng tôi về nơi Thánh Phật.

Thơ bố viết trăm dòng không kể xiết
Thương lấy tấm cha già. Hãy yên nghỉ nhé, con yêu !
Dòng nước mắt trần gian, dù có tuôn chảy bao nhiêu
Cũng không vợi được lòng người cha, thương con vô hạn...

              27.7.2019
     PHẠM NGỌC THÁI

READ MORE - CHÙM THƠ KHÓC CON - Phạm Ngọc Thái

Sunday, August 11, 2019

PHƯỢNG - Thơ Nguyên Lạc






PHƯỢNG

Có một mùa xa lắm
Phượng nở đỏ góc trường
Ve reo mừng rộn rã
Từng bước nhỏ thân thương
Líu lo giờ tan học
Rực trắng cả con đường
Mắt liếc dao lá trúc
Chém tim ai bị thương!

Thương phượng rưng mắt đỏ
Người giờ tìm phương nao?!
Vẫn đường xưa lối cũ
Ve buồn tình trốn đâu?!
Dấu chân nào nho nhỏ
Nhói hồn tôi rất lâu!
Lời yêu không dám ngỏ
Nên hằn rõ trong lòng

Chiều nay bên trường cũ
Mười năm rồi phải không?
Mười năm …
Dài có đủ?
Phượng ơi. dù trăm năm!

Nguyên Lạc

READ MORE - PHƯỢNG - Thơ Nguyên Lạc

NHỚ QUÊ - Thơ : Nhã My, nhạc và trình bày : Trần Quang Lộc


      
                   Nhà thơ Nhã My  
                    




READ MORE - NHỚ QUÊ - Thơ : Nhã My, nhạc và trình bày : Trần Quang Lộc

ĐỌC “KHẮC VÀO GIÓ” THƠ TRẦN MAI NGÂN - Châu Thạch

  
  
               Nhà bình thơ Châu Thạch



ĐỌC “KHẮC VÀO GIÓ” THƠ TRẦN MAI NGÂN
                                                                     Châu Thạch
                        
Trước khi đi vào thơ “Khắc Vào Gió” của Trần Mai Ngân, tôi muốn chúng ta hãy lướt qua một khổ thơ của nhà thơ Thâm Tâm, đã nổi danh từ đầu thể kỷ 19 để có thể cảm nhận sâu thêm về những gì Trần Mai Ngân đã viết trong bài thơ nầy.

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

 (Tống Biệt Hành- Thâm Tâm)

Trong bài viết về cảm nhận bài thơ Tống Biệt Hành trước đây, tôi có viết một đoạn như sau: 

Có người cho rằng vế thơ nầy “Quá cứng cỏi, lạnh lùng và vô tình”. Thật ra đây là một vế thơ rất hay, nó cho thấy bút pháp tài hoa của tác giả. Những điều mà người ra đi phủ nhận trong vế thơ nầy chính là những điều mà người ra đi canh cánh bên lòng.

Chữ “thà” ở đây không có nghĩa là “xem như không có” mà chữ “thà” ở đây có nghĩa là “không bỏ đi được”.

Nếu người ra đi ngày ấy xem mẹ như lá, chị như bụi và em như ly rượu cay thì người đó không đáng để đưa vào thơ. Ta hãy đọc một đoạn thơ có chữ “thà” trong bài “Khúc Tình Buồn” của Nguyễn Tất Nhiên để hiểu thêm về chữ “thà’ của Thâm Tâm: “Người từ trăm năm/ về qua sông rộng/ ta ngoắc mòn tay/ trùng trùng gió lộng/ thà như giọt mưa/ vỡ trên tượng đá/ thà như giọt mưa/ khô trên tượng đá/ có còn hơn không...”. Ta thấy rằng, khi người yêu qua sông, Nguyễn Tất Nhiên ngoắc mòn tay gọi người yêu trong vô vọng. Lúc đó nhà thơ càng dùng chữ “thà” thì càng đau đớn gấp bội. Tình yêu lúc đó càng mảnh liệt đến nỗi nhà thơ muốn “Thà như giọt mưa” thì vẫn còn có thể “vỡ trên tượng đá” hơn là không chi hết.

Chữ “Thà” của Nguyễn Tất Nhiên và Thâm Tâm là từ ngữ đã vượt ra ngoài nghĩa của cái chữ thường tình. Nó khẳng định một tình yêu mảnh liệt với người yêu trong thơ Nguyễn Tất Nhiên và nó cũng khẳng định một tình yêu mảnh liết với mẹ, với chị, với em trong thơ Thâm Tâm.

Trong bài thơ “Khắc Vào Gió”, nhà thơ Trần Mai Ngân vào đề bằng câu thơ trong Tống Biệt Hành của Thâm Tâm: “Người đi, ừ nhỉ người đi thực”. Tôi nghĩ rằng, không phảỉ Trần Mai Ngân không biết mình đã dùng lại câu thơ của nhà thơ tiền chiến. Thế nhưng câu thơ nầy chỉ dùng để diễn tả một hoàn cảnh thật mà ai cũng phải nói như thế, nó không có tứ hay ý lạ gì nên không cần phải tránh né. Điều quan trọng là ở cả bài thơ Trần Mai Ngân đã diễn đạt khác, đã khóc ra thành tiếng, đã nói ra lời những xót xa trong lòng, không như Thâm Tâm đã nuốt vào lòng để chỉ bật ra tiếng than ngắn gọn. Nuốt vào hay nói ra nỗi đau là tánh riêng của mỗi tác giả, cái cần  là thơ có đem cho ta cảm xúc hay không.
Hãy đọc bốn câu thơ của Trần Mai Ngân ở khổ đầu:

Người đi, ừ nhỉ người đi thật
Tôi cắn vào môi khi chia ly
Tay nắm bàn tay đừng với gọi
Tan nát chiều... cứ để người đi!

Ở trên, nhà thơ Thâm Tâm đã viết về người đi, còn ở đây, Trần Mai Ngân viết về ngưởi ở lại. Người đi thì thà quên tất cả cho khỏi đau lòng, còn người ở lại của Trần Mai Ngân thì thà cắn chặt môi khi chia ly, thà nắm chặt tay không với gọi. Thế thì người ở lại cũng có nỗi đau dằn xé trong lòng, cũng đã nuốt vào nỗi đau có khác chi người đi trong “Tống Biệt Hành”. Thâm Tâm thì đã nuốt nối đau vào lòng khi đưa tiển người đi để bật ra tiếng thở dài trong thơ. Trần Mai Ngân thì cũng nuốt nỗi đau vào lòng khi đưa tiễn người đi  nhưng, lại để bật khóc thành tiếng trong thơ. Dễ hiểu, vì Thâm Tâm là nam, đưa người qua sông để đi làm việc lớn, chẳng khác chi đưa Kinh Kha sang Tần, còn Trần Mai Ngân là nữ, lại đưa người đi chỉ bị mất thứ tình riêng có ở trong lòng. Nỗi đau của Thâm Tâm là nỗi đau của sự hy sinh, còn nỗi đau của Trần Mai Ngân là nỗi đau của người bị mất.

Đọc khổ thơ vào đề của Trần Mai Ngân, ta thấy được một buổi tiển đưa đau đến “tan nát chiều”, nhưng có lẽ chỉ có một người tiển đưa tan nát cõi lòng, còn người đi thì bình thản ra đi ở khổ thơ sau:

Xa nhau, ừ nhỉ xa nhau vậy
Vá víu trăm năm một nụ cười
Mắt đã xa rời không trở lại
Lúc ở cạnh nhau đã vắng rồi!

Rõ ràng đây là một cuộc tình đã tan vỡ, tan vỡ vì lý do gì ta không biết nhưng hai câu thơ “Mắt đã xa rời không trở lại/Lúc ở cạnh nhau đã vắng rồi” cho ta thấy người đi đã dứt khoát ra đi ngay cả ở trong lòng. Khổ thơ cũng cho ta thấy tình yêu sâu đậm trong lòng người ở lại. Tác giả biết lòng mình nhớ đến trăm năm nụ cười người ấy và dùng một câu thơ rất tội nghiệp khi phải “vá víu” lại nụ cười kia trong trí nhớ. Khổ thơ cũng cho ta thấy sự chung tình của người ở lại. Người ở lại phải bị bó buộc xa nhau khi buông một câu gượng ép như đành chịu xa nhau: “Xa nhau, ừ nhỉ xa nhau vậy” và biết chắc  rằng “Mắt đã xa rời không trở lại” nhưng toàn bộ bài thơ, ta không thấy một lời oán trách, chỉ thấy bày ra sự đau xót của lòng mình,

Vào khổ thơ cuối nhà thơ đã kêu lên nhừng tiếng kêu tuyệt vọng như ngàn vạn chiếc ly thủy tinh tan vở, như lời tạ tự khẩn cấp, như con nước lũ tràn ngập xé tung đôi bờ:

Mất nhau... mất nhau... mất nhau thôi
Cầm bằng như nước hai bờ trôi
Mai người về lại nơi đã gọi
Khắc vào gió cũ mộ bia tôi!

Khổ thơ cuối như một đôi cánh đẩy bài bay bổng lên cao mà hai câu thơ cuối là sắc lông vừa đẹp vừa lạ trong đôi cánh đó. Người khó tính sẽ đã phá hai câu thơ nầy vì trong gió làm sao có mộ và trong gió làm sao khắc bia được. Thế nhưng câu thơ cũng gián tiếp cho ta cảm nhận dược khi người đi trở về thì người ở lại không còn nữa trên đời. Đây chỉ là sự hư cấu xảy ra trong lòng của người ở lại để tưởng tượng một nỗi bi thương trong tương lai. Nhà thơ tưởng tượng người về sẽ không thấy lại gì, đường xưa lối cũ, di tích của tình sẽ mất hết, chỉ còn hơi gió bây giờ mang hơi hướng của hơi gió năm xưa. Người về sẽ không tìm lại được gì giống như trong dòng ký ức của cuộc tình, chỉ có gió là còn và gió dem chút hương vị tình yêu năm cũ cho người. Vậy gió chính là tâm mộ bia của nàng để người về khắc những nhớ nhung vào đó.

Gió là hình ảnh của sự trong sạch, quyến luyến, vô biên nhưng cũng là hình ảnh của phôi pha, vô thường, và lưu lạc. Nhà thơ dùng gió để làm mộ bia cho mình đã nói lên được tất cả sự bi quan, nỗi trầm tư, những trách hờn nhẹ như mây bay và tâm hồn lãng mạn tuyệt vời của người ở lại. Gió là tấm mộ bia tôi và người tình năm xưa hãy khắc vào đó những gì còn có trong lòng: Một ý thơ với tứ thơ mà tôi có thể viết trăm trang chưa hết những cảm nhận trong lòng. Thế nhưng tốt hơn ta hãy hiểu nó bằng thứ thi giác thì sẽ được hưởng thụ tận cùng thứ thi vị của nó!!!

“Khắc Vào Gió” là một bài thơ ngắn, gọn, có lẽ viết rất mau nhưng hay như tiếng thông reo trong một khu rừng rất vắng, vì sự trầm lắng của gió nơi cô liêu sẽ khiến tâm hồn dễ hòa nhập và cảm thụ đầy đủ tiếng của thinh không!!!

                                                                    Châu Thạch


      
                           Nhà thơ Trần Mai Ngân


KHẮC VÀO GIÓ

Người đi, ừ nhỉ người đi thật
Tôi cắn vào môi khi chia ly
Tay nắm bàn tay đừng với gọi
Tan nát chiều... cứ để người đi!

Xa nhau, ừ nhỉ xa nhau vậy
Vá víu trăm năm một nụ cười
Mắt đã xa rời không trở lại
Lúc ở cạnh nhau đã vắng rồi!

Mất nhau... mất nhau... mất nhau thôi
Cầm bằng như nước hai bờ trôi
Mai người về lại nơi đã gọi
Khắc vào gió cũ mộ bia tôi!

                 Trần Mai Ngân

READ MORE - ĐỌC “KHẮC VÀO GIÓ” THƠ TRẦN MAI NGÂN - Châu Thạch

Saturday, August 10, 2019

MỘT CHÚT HUẾ BÊN CHỢ ĐÊM ĐÀ LẠT - Chùm thơ Lê Thanh Hùng


Một chút Huế
bên chợ đêm Đà Lạt

Kìa chiều vỡ, phố phường giăng mắc
Gió bấc lay, líu ríu quanh thềm
Tay trong tay, từng đôi quyện chặt
Rộn ràng chưa, hoa nở phơi đêm
                   *
Anh thấy có một Đà Lạt khác
Cứ vần xoay tất bật trăm chiều
Hoa thắm đỏ, bàn tay bợt bạc
Tiếng mời chào, nằng nặng liu riu
                   *
Phố tình yêu, của hoa, của lá
Của lứa đôi, hoang tái đợi chiều
Chỉ có em, đôi tay buốt giá
Đứng co ro, lặng lẽ, đăm chiêu
                    *
Đang bối rối một điều gì đó
Vệt lấm lem đất đỏ ba zan
Dính trên áo khoát dài, để ngỏ ...
Xoay trở trong gió lộng, bung tràn
                    *
Đời lận đận, bao điều có thể
Gánh gian nan, ngày nắng, chiều mưa
Chợt ngọt mềm, rớt một chút Huế:
- Dạ thưa!
                                 III/18
Lê Thanh Hùng



Một chút gì lay động xa xôi

Anh khẽ chạm tay em, ngùn ngụt lữa
Cháy bỏng một khoảng trời Phan Thiết bốn mươi năm
Lao xao sóng xô gió từ phía cửa
Lồng lộng trời chiều, hình như ... lay động xa xăm
                       *
Xa xôi lắm, thời con gái đó
Tưởng đã quên rồi, những trúc trắc của ngày xưa
Nắng bỗng thưa nhặt đan cài và bồi hồi gió
Trong tiếng sóng xa xa, như vờ vĩnh phỉnh lừa
                       *
Anh chợt nhớ, chợt quên trong chiều ngượng ngập
Lời hỏi thăm, cứ lướng vướng vụng về
Vẫn đưa đẩy trong tiếng cười khỏa lấp
Năm tháng nào vụng dại những đam mê
                       *
Anh thật lòng mừng, thấy em hạnh phúc
Khi ngồi líu lo kể chuyện chồng con
Không biết từ khi nào trở nên hiền thục
Em chợt quay ngang trong bóng nắng xoay tròn
                      *
Cầu cho em gặp thật nhiều may mắn
Người yêu em cũng đắm đuối như anh
Hạnh phúc đó, mãi lung linh đầy đặn
Dặm đời xa, vẫn mướt một triền xanh ...
Lê Thanh Hùng



Một giấc mơ hoa

Trăng bối rối, góc sân mờ tối
Vội vàng run, hoa lá chao nghiêng
Liếc con mắt xây chừng tồi tội
Cuộn tròn trong áo mỏng an nhiên
                     *
Hun hút gió, cái nhìn cháy bỏng
Buông thả rơi, ngờ nghệch tầm tay
Tràn ngập ánh trăng vàng chín mọng
Qua góc sân, còn lại nhường này
                     *
Quên, đắm đuối chưa hề chọn lựa
Giấc mơ hoa, bùng vỡ bên thềm
Ánh trăng xế, ngượng ngùng chi nữa
Mướt mượt trôi lặng lẽ, khuya êm
                     *
Nhớ, quay quắt tầm này mới gặp
Dáng kiêu sa, gửi hết cho người
Rơi dĩ vãng một thời e ấp
Bừng sáng lên, rực rỡ thắm tươi
                        *
Nhịp quay nhắc vòng đời lỗi hẹn
Âm thầm ru vọng mãi ngàn năm
Ẩn ức chiều, điều gì ghìm nén
Vỡ òa trong suốt cõi xa xăm ...
Lê Thanh Hùng

     Bắc Bình, Bình Thuận

READ MORE - MỘT CHÚT HUẾ BÊN CHỢ ĐÊM ĐÀ LẠT - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

KÝ SỰ: VỀ NHỮNG MIỀN ĐẤT HỨA | Phần 1 và 2 | Khê Giang



Khê Giang

KÝ SỰ: VỀ NHỮNG MIỀN ĐẤT HỨA

Phần 1: NHỮNG CUNG ĐƯỜNG ĐẦU TIÊN

Đúng 7g30, xe lăn bánh rời Châu Đức, cõng trên mình lỉnh kỉnh những trang thiết bị, máy móc của dân nhiếp ảnh cùng non tiểu đội “Chi hội VHNT Châu Đức” chiếc “tank” 12 chỗ len lỏi qua những con đường tắt: Hòa Long- Láng Dài – Đất Đỏ - Bà Tô (ghé đón anh Bùi Ngọc Phúc, chi hội VHNT Xuyên Mộc) sau đó nhắm hướng Bình Châu qua quốc lộ 1A xuyên về Bình Thuận. Lăn theo quốc lộ 1A chưa kịp nóng chân chiếc “tank” rẽ trái tiến về Di Linh theo Quốc lộ 28.
Qua khỏi ga Ma Lâm, phía trước đồi núi, mây trời cao nguyên đang kiểng chân đứng nhìn, từng hàng cây, phiến đá lấp ló, tò mò trông đám người miền xuôi với cái nhìn ngơ ngác. 12g00 đoàn tiến vào Gung Ré, cao nguyên Di Linh từ từ hiện ra với dáng đứng chênh vênh, khuôn mặt hút hồn, cái nhìn sâu thẳm loạng choạng lòng người. Còn đường hẹp, ngoằn nghoèo, vắng lạnh, nhưng cái cùi chỏ như chực chờ lòng người vô ý….
Rạo rực với cảnh hùng vỹ của núi rừng Di Linh, các thành viên thi nhau bấm máy kể cả các tay ảnh không chuyên. Khó ai có thể bỏ lỡ những cơ hội sáng tác hoang dã, ấn tượng thế này. Hai tài xế của đoàn cũng là hai nghệ sỹ nên họ lái xe như xiếc, bay bổng, biến hóa...phiêu diêu.. Là dân phượt cả nên chẳng mấy ai để tâm, cũng may trong đoàn không có bóng hồng nào, nếu có chắc hẳn sẽ có những tiếng la hét thất thanh, còn không cũng phải đành lòng nhắm mắt ..đưa chân.
Một quán cà phê được treo trên lưng chừng đèo có bảng hiệu hẳn hoi: “Café Đa- Kơnia”. Chiếc “Tank” nghiêng lưng, tấp sát lề phải đổ quân xuống hiện trường để đoàn tham quan cây Kơnia cổ thụ với lời đùa: sợ ngày mai sẽ không còn cây Kơnia nào để ngắm. Như lời vận vào cây, khi đến nơi đoàn mới phát hiện ra cây Kơ nia cô đơn kia đang bị cây Đa ôm chặt từ chân cho đến ngực, đây chẳng phải là một hình thái cộng sinh như những loài thực vật khác mà là một sự bức tử đến từ phía cây Đa. Với những vòng tay xiết chặt như chú trăn Anaconda chẳng bao lâu cây Kơnia kia sẽ từ từ tắt thở, lụi tàn. Tạm biệt hai vợ chồng chủ quán người gốc Hà Tỉnh với những câu chuyện, lời chào trìu mến, đoàn tiếp tục lên đường.
Bữa cơm trưa quá giờ tại Di Linh ai cũng cảm nhận ngon hơn món ăn Trạng Quỳnh đãi Chúa, chỉ một loáng đã sạch nhẳn, thời gian không kịp cho những toan tính thường thức của da dày về việc nghỉ ngơi sau bữa. Hướng về Đức Trọng theo quốc lộ 20 sau đó đoàn rời Lâm Đồng rẽ trái tiếp tục tiến quân về Dalk lak theo quốc lộ 27. Không heo hút, mỏng manh như quốc lộ 28, nhưng quốc lộ 27 qua mặt bạn nhiều lần về độ quái của đèo dốc và hun hút vực sâu. Con đường trông như sợi dây cáp điện thoại vắt vẻo mắc qua những hàng cây, chiếc xe bám gót trườn đi trong sự uốn lượn của núi rừng, có những quảng đường, lòng người như chùng lại: rát buốt, quặn thắt, thảng thốt nhìn những thân cây ngã gục, những lòng suối trơ đáy. Sự bức tử của con người đối với rừng quá kinh khủng và tàn bạo. Hành trình đi tìm cái đẹp của những người cầm máy, cầm bút… bất chợt bị những nhát roi thiên nhiên quất vào mặt nghe bầm tím xa xót tận tim, tất cả đều im lặng lắc đầu.
Mưa bất ngờ ập xuống, xe vẫn lao đi, ánh mắt bác tài dán chặt xuống đường, không dám chớp, cái gạt nước hì hục lau mỏi tay, nhìn hàng cây hai bên đường sũng nước đứng run rẫy giữa cái lạnh cao nguyên mọi người bất chợt nhớ về Châu Đức, xứ sở của đoàn quân đang từng ngày, từng giờ rát mặt, gồng mình chờ đợi những cơn mưa đầu mùa.
Qua khỏi Đam Rông, trời ráo hoảnh, huyện Lak hiển thị trên smart phone, vẫn là những cung đường gập ghềnh, khúc khủyu. Hồ Lăk lấp loáng nhảy múa trước mắt. Dừng lại, dừng lại!. Nhiều mệnh lệnh đồng thanh phát ra, xe thắng gấp trên nền cầu, toàn đoàn phóng xuống đường với vũ khí lăm lăm trong tay ....nhưng không kịp nữa rồi! mặt trời đã trườn xuống bên kia sườn núi. Một cảnh hoàng hôn rực rỡ trên hồ Lăk đã bị vuột khỏi tầm tay, mọi người đành chia nhau gom nhặt những mảng lờ mờ được mặt trời bỏ lại trên mặt hồ một cách tiếc nuối.
Tiếp tục hành trình, Buôn Mê Thuột đang trôi dần vào giấc ngủ, xe lướt qua thành phố trong cái đói cồn cào, cả đoàn tạm qua đêm tại Buôn hồ sau một bữa ăn muộn…

Đón đọc phần 2: “Vương quốc” hào nhoáng và những ngừời giữ hồn cho lửa.

&&&


KÝ SỰ: VỀ NHỮNG MIỀN ĐẤT HỨA
Phần 2: “VƯƠNG QUỐC” HÀO NHOÁNG VÀ NHỮNG NGƯỜI GIỮ HỒN CHO LỬA

Những tưởng Pleiku chỉ quyến rũ bởi môn túc cầu, với học viện bóng đá Hoàng Anh Gia Lai - Arsenal JMG, nơi có dàn cầu thủ “nhí” Công Phượng, Tuấn Anh, Văn Toàn… và những trận cầu chật kín khán giả, lay động lòng người. Thế nhưng điều làm chúng tôi ngỡ ngàng: thành phố đang khoác lên mình chiếc áo choàng mới lạ. Phố núi điệu đàng khoe mình bởi một rừng... xe. Hàng hàng, lớp lớp những chiếc xe hơi thuộc phân khúc sang trọng của các hãng nỗi tiếng ken đầy lối đi, tìm được chổ đậu xe tại trung tâm thành phố là một điều không dễ dàng. Phải mất gần dăm phút, sau một hồi loay hoay, khép mình chiếc “Tank” biển số 72A bụi bặm mới chen được một chổ đậu khiêm tốn bên góc đường.
Chưa hết ngạc nhiên! Đến giờ anh em văn nghệ Pleiku hẹn mời café sáng, đặt chân vào quán, chúng tôi cảm giác như bước vào một biệt điện, không gian thoáng đãng, sang trọng, ngoài hương vị đậm đà của café cao nguyên, chúng tôi bị thôi miên trước những tà áo dài màu Bordeaux duyên dáng, lịch lãm của những tiếp viên. Đã đi qua nhiều “thủ phủ” của các tỉnh thành với những quán cafe được đầu tư khủng, nhưng đẳng cấp và phong cách phục vụ là một điều khó có thể so bì ở đây. Đẹp, quý phái, thân thiện là điều chúng tôi không thể kiệm lời với những “siêu mẫu” của quán cà phê phố núi nầy (xin không nêu tên quán vì sợ hiểu nhầm đang quảng cáo).
Chia tay những người bạn Gia Lai, chúng tôi theo quốc lộ 14 xuôi về Kon Tum, vùng đất được cho là “Ba quốc gia nghe một tiếng gà gáy sáng”. Lần theo thông tin của những người bạn, chúng tôi tìm đến tác nghiệp tại quán Evacoffee.
Nằm yên ắng dưới những hàng cây um tùm hoang dại, Evacoffee như lọt thỏm giữa rừng sâu, chủ nhân là một họa sỹ kiêm điêu khắc gia đã ngoài sáu mươi, anh thiết kế quán theo kiến trúc xanh- một mô hình thân thiện với thiên nhiên, điều đáng nói là trong lòng quán vị chủ nhân đã sắp bày một “rừng” tác phẩm nghệ thuật do anh sáng tác. Phong phú và đa dạng về nội dung, hầu hết các tác phẩm được sáng tác theo hai thể loại và hai chất liệu hoàn toàn khác nhau: đó là nghệ thuật tạc tượng gỗ truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên và những tác phẩm sắp đặt trừu tượng với nguyên liệu được tìm kiếm từ những kim loại phế thải.



Dưới bàn tay điêu luyện của anh, những khúc gỗ vô tri trở thành những bóng dáng, hồn cốt của Tây Nguyên, chúng lung linh nhảy múa qua từng chân dung tác phẩm. Với vật liệu là khí tài của cuộc chiến còn sót lại: những chiếc nón sắt hoen rỉ, nằm yên úp mặt; dăm bảy mảnh bom quắt queo, ố màu tử khí; đôi ba khoanh kẽm bùng nhùng đen đũi, lạnh lùng; đôi trái mìn claymor lổ chổ vết thương… Qua nghệ thuật sắp đặt anh đã kết tạo nên những hình tượng đắt giá, đầy tính biểu trưng, tất cả đều mang nặng hồi ức của một cuộc chiến đau thương, tàn khốc. Những vật dụng, nông cụ được bài trí theo nghệ thuật cách điệu, những lối đi, hàng cây được uốn nắn sắp đặt hòa quyện với thiên nhiên.
Tất cả kho tàng trên đều được diện kiến trong ống ngắm của những nhiếp ảnh gia hăm hở đến từ thành phố biển.
Chắc cũng lâu lắm rồi mới có người cảm nhận, chia sẻ, tâm sự về những đứa con mang nặng đẻ đau của anh, việc chạm đúng vào ruột gan, làm anh vỡ òa trong hạnh phúc. Anh phấn chấn, niềm nở, thân tình tiếp chúng tôi như những người ruột thịt từ xa mới về, kể cho chúng tôi nghe về núi rừng Tây Nguyên, về công việc hướng dẫn khách Tây đến Kon Tum du lịch, qua câu chuyện chúng tôi thật sự thán phục cách làm du lịch của vị trí thức này, nhất là mảng du lịch khám phá. Với tư duy sáng tạo sâu sắc và tính phóng khoáng của người nghệ sỹ, chúng tôi tin: bất kỳ ai, cho dù họ là những vị khách khó tính nhất khi đã đến đây chắc hẳn sẽ lần tìm… trở lại.
Gọi tiếp viên châm thêm cho đoàn hai ấm trà ngon nhất, anh tiếp tục kể cho chúng tôi về huyền thoại Tây Nguyên, đặc biệt là hình tượng ngọn lửa thiêng, ngọn lửa núi rừng....Không bí ẩn như ngọn lửa công viên Chestnut Ridge trong khu bảo tồn Shale Creek ở Bắc Pennsylvania; Không kỳ dị như ngọn lửa trong đền Jwalamukhi ở Ấn Độ hay huyền hoặc như ngọn lửa bất diệt Baba Gurgur ở Iraq, ngọn lửa Tây nguyên mang tính sử thi sâu sắc và thấm đẩm tính dân tộc.
Ngọn lửa, hay là bếp lửa theo cách gọi của dân tộc Tây Nguyên là nơi thiêng liêng, được nằm ở vị trí cao quý nhất của ngôi nhà, người Tây Nguyên coi lửa là nguồn gốc của hạnh phúc, biểu hiện sự no đủ, lửa giữ ấm ngôi nhà, hong giữ thức ăn dành lại, lửa chống lại muỗi vắt... kể cả các loài thú dữ. Bếp lửa là hiện thân của cuộc sống vợ chồng, là nơi giữ gìn hạnh phúc lứa đôi từ thế hệ này sang thế hệ khác, bếp lửa ở gian khách luôn đỏ suốt đêm ngày, nó là “con cúi” cho gia đình mang theo lên rẫy nấu nướng, mồi thuốc....phát nương.
Nói đến ngọn lửa thiêng, người dân Tây Nguyên không thể quên nói về củi, một số dân tộc vẫn còn phong tục giữ đóng củi làm lễ hứa hôn, Người con gái khi lên tuổi mười ba, mười bốn phải biết mang củi về nhà mỗi khi đi rẫy. Củi được chọn để dành là loại củi tốt, khi cháy thường ít khói và cho nhiều than hồng, cứ thế đống củi lớn dần theo năm tháng. Khi lấy chồng, cô gái cũng được chia một phần củi mang theo về nhà chồng... Số lượng củi tỷ lệ với sức khỏe, sự siêng năng và tình yêu của cô gái...
Qua không gian bài trí của Evacoffee cùng câu chuyện của người kể về huyền thoại Tây Nguyên chúng ta dễ nhận ra: việc phát triển ngành công nghiệp không khói hay vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc ở Việt Nam không chỉ là những lễ hội hoành tráng hay những dự án, kế hoạch tiền tỷ mà cần phải có những con người trí thức đúng nghĩa như chủ quán Evacoffee. Với tâm huyết cháy bỏng và những công việc thầm lặng, anh chính là những người nâng niu gìn giữ bản sắc dân tộc, người giữ lửa cho những buôn làng Tây Nguyên.

Kỳ tới: Sau lưng khúc tình ca Tây Nguyên và sự hóm hỉnh của già làng Đeng.

Khê Giang

(Chi hội VHNT Châu Đức, Bà Rịa - Vũng Tàu)
READ MORE - KÝ SỰ: VỀ NHỮNG MIỀN ĐẤT HỨA | Phần 1 và 2 | Khê Giang