Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, November 20, 2013

NGƯỜI VỢ BỊ BÁN - truyện ngắn Ngọc Châu

       
Phụ nữ Tày xưa

Thời gian như dòng sông, cứ kiên trì xói mòn và bồi lấp đi mọi sự kiện của cuộc đời khiến cho những gì xấu xa, đau đớn của một thời giờ đây không còn thấy nhức nhối như xưa. Có điều, cả những gì tốt đẹp cũng mờ dần, mờ dần theo năm tháng. Có lẽ đến vòng luân hồi thứ một triệu của kiếp nhân sinh hiện hữu, thế gian này sẽ không còn núi cao, cũng chẳng còn vực sâu. Mọi thứ đối lập sẽ dung hoà, san xẻ cho nhau để trái đất này chỉ còn là bình nguyên phẳng lặng và mặt biển không có sóng. Văn chợt nghĩ vậy sau lần anh tình cờ gặp lại một con nguời của ba muơi năm truớc trong cuộc hội thảo của ngành Giáo dục.

Bấy giờ Văn đang dạy một lớp học chỉ có khoảng non ba chục học sinh mà lẫn lộn đến ba hoặc bốn chủng tộc là Tày, Hmông và Dao mà ngày ấy những người miền xuôi như anh lúc thì bảo họ là người Mèo, có lúc lại nghĩ họ là người Mán. "Sinh ngữ" của anh có thêm được  mấy từ "noọng ơi", "kin khẩu", "kin nậm"…nghĩa là "nàng ơi", "ăn cơm" với "uống nuớc"! Đấy là học lỏm theo tay Tằng đồng nghiệp của anh, hắn bảo đấy là tiếng Tày, thứ tiếng hay dùng nhất đối với cư dân sở tại. Không biết có đúng thật không vì ông bạn người Hmông này khôn như rận, nhiều lúc hắn còn dạy  những câu mà nếu anh áp dụng sẽ bị các cô gái trong bản đấm cho thùm thụp hoặc phá lên cười như nắc nẻ.

Thời gian Văn dạy học ở đó không lâu vì chỉ hơn năm sau anh đã được cử đi học Trung cấp Sư phạm, ra dạy vài năm ở một truờng miền trung du lại đi học tiếp Đại học, ra trường thì về đóng đô luôn ở Thái Bình. Bạn bè anh gọi đó là giai đoạn vừa lên cao vừa xuống thấp, nghĩa là leo lên cao về học vấn và lương bổng, đồng thời tụt xuống thấp theo cao độ so với mực nước biển, tóm lại họ cho Văn cũng thuộc loại khôn như rận theo cách so sánh của người Mán, vì con rận - bây giờ nhiều người không biết hình thù nó như thế nào- luôn biết chọn chỗ nào an toàn nhất trong chiếc áo để ẩn thân và chỗ nào thơm thịt nhất trên cơ thể người ta để cắn và hút máu!

Chuyện xảy ra là vào hồi anh đang dạy cấp 1. Một hôm tay Tằng bảo Văn "Mai tao phải nghỉ một ngày đi chợ phiên để bán con vợ."

- Cái gì? - Văn kinh ngạc - Cậu bảo bán con gì ?

- Cái con vợ tao. Bảo nó không nghe, với lại nó không thích đẻ!

Văn há hốc mồm trước câu trả lời tỉnh khô của anh bạn đồng nghiệp. Anh cũng biết là tập tục cưới hỏi, lấy vợ lấy chồng ở trên này mang nặng tính chất gả bán. Người đàn bà về làm dâu là thành con ma của họ nhà chồng, chẳng may chồng chết sớm thì phải làm vợ tiếp cho một ai đó trong gia đình nhà chồng, anh chồng hoặc em chồng chẳng hạn. Nhưng anh không nghĩ là có thể đem vợ ra chợ để bán như tay Tằng vừa nói.

Văn đã hết sức khuyên can, nói rằng bây giờ Chính phủ không cho làm thế nhưng Tằng  nói là đã có sự bằng lòng của Khán (già làng) và hú sinh (ma bếp) rồi. Hôm sau hắn nghỉ thật, chiều muộn hôm sau nữa mới quay lại truờng trong tư thế chân nam đá chân chiêu. Không nói năng với ai câu gì, hắn lảo đảo đi vào nhà ở tập thể của  giáo viên, nhưng đến cửa lại quay ra bờ vực quăng chiếc túi thổ cẩm xanh đỏ đang cầm trong tay xuống khe núi. Mấy thứ đồ lặt vặt trong đó văng ra ngoài, rơi lả tả rồi gió cuốn xuống vực sâu, sau đó hắn vào giường ngủ li bì đến tận trưa hôm sau.

Sau giờ lên lớp buổi chiều, lúc ăn tối cùng với Tằng, Văn tò mò hỏi mấy hôm vừa rồi hắn làm gì, việc bán vợ của hắn ra sao.

- Mải (bán) không được, mất rồi.

- Mất rồi! Sao mà mất? - Tưởng vợ hắn đã chết Văn hốt hoảng - Vợ cậu mất thật rồi à?

- Mất, không phải slay (chết) - "con rận Mán" này hiểu suy nghĩ của Văn khá rõ - Tao đưa nó đi chợ nhưng lúc qua san (rừng ) nó thíu (chạy đi) à. Tao đuổi theo không thấy nó đâu nữa.

Cứ há mồm vì kinh ngạc, mãi Văn mới hỏi được thêm vài câu "Tại sao mày nhanh thế mà không đuổi bắt được nó? " với "Không tìm thấy thật à?" Đáp lại hắn ậm ừ giải thích rằng ở chỗ ấy có nhiều khe đá với vực sâu, không biết  vợ hắn đã ẩn vào hốc đá nào đó hoặc ngã xuống vực.

- Nhưng nó không còn là quây (con ma) nhà tao nữa nên còn cái gì của nó tao  vứt hết đi rồi. - Hắn giải thích thêm như vậy rồi cắm cúi ăn, không nói chuyện nữa.

Văn sực nhớ đến chiếc trâm bạc, chiếc vòng màu xanh ngọc thạch và mấy tờ giấy dó, hôm qua còn mắc lại trên bờ vực lúc Tằng ném cái túi  xuống khe núi. Anh đã nhặt lên, định lúc hắn tỉnh rượu thì đưa lại cho hắn, nhưng giờ biết là Tằng sẽ không nhận lại những thứ đã vứt đi theo con ma.

Khi xem lại, Văn thấy mấy tờ giấy dó được khâu vào với nhau thành như cuốn sổ, đã viết được nhiều nhiều bằng loại mực gì tim tím, chắc là nhựa cây hay nước quả. Chữ viết lẫn lộn tiếng Kinh, tiếng Tày và cả tiếng Sán Chí, Cao Lan gì đó. Đọc được ít dòng Văn đâm ra tò mò vì biết đây là cuốn sổ của vợ tay Tằng, trong đó ghi một số việc gần giống như ta ghi nhật ký. Thật là lạ, một người đàn bà Mán mà ghi nhật ký!? Thế nên Văn đã bí mật chép lại những chữ mà mình không hiểu rồi đi hỏi người nọ người kia - nhưng giấu không cho tay Tằng biết chuyện anh còn giữ cuốn sổ của vợ hắn - Dần dà Văn  hiểu được khá nhiều về  những điều mà người đàn bà ghi lại.

Người vợ mà tay Tằng đem đi bán  hoá ra không phải là người Mán chính gốc. Các cụ của chị vốn là người Kinh, quê tận xứ Trung Kỳ, đã từng tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, vị cận thần của nhà vua đã lẩn lên miền núi, sống  trà trộn với những người dân tộc để tránh việc truy tìm hết sức gắt gao của triều đình đã trở thành tay sai của thực dân Pháp.  Về sau người ấy lấy vợ Hmong, được nhận là con rể bán đầu vì gia đình vợ không có con giai, sau này sẽ được thừa kế và chịu trách nhiệm hương hoả cho bên vợ. Đó là người cụ của Bàng A Lình (là tên cô vợ mà Tằng đem đi bán).

Chính người cụ  của Bàng A Lình đã đóng cuốn sổ bằng giấy dó này truyền lại cho con cháu, dặn rằng " Khi nào nước Nam hết giặc Phú Lãng Sa thì hậu duệ phải quay về sống với người Kinh, nhớ rằng quê gốc là ở huyện Hoà Vang tỉnh Thừa Thiên, thuộc dòng họ Tôn Thất". Phía trên của mỗi  tờ giấy trong cuốn sổ cụ đều có ghi sẵn câu trên  bằng tiếng Kinh, tiếng Cao Lan và tiếng Tày để  truyền đời ghi nhớ. Cụ dặn con cháu phải ghi lại những việc gì quan trọng xảy ra vào sổ này để các đời sau không quên gốc tích.
Những trang giấy dó này không ngờ lại là cuốn sử biên niên đã ba bốn đời nay của một dòng họ thuộc Hoàng tộc- Văn nghĩ. Anh đã mất hai ngày chủ nhật lần theo con đường từ nhà Tằng đến chợ để thử tìm tung tích cô Bàng A Lình nhưng không có kết quả gì vì đúng như tay Tằng nói, dọc đường có khá nhiều hang động bị cây rừng che phủ, cũng có một số khe sâu nữa. Nếu rơi xuống đấy thì.. Anh thầm cầu mong cho người đàn bà không quen biết bằng tất cả lòng thương cảm của mình…

Câu chuyện rồi bị vùi trong quên lãng. Nửa đời người đã trôi qua cho tới một lần, vào giờ nghỉ ăn trưa của một cuộc hội thảo về Cải cách giáo dục của Bộ tổ chức, Văn tình cờ ngồi cùng mâm với hai người phụ nữ xấp xỉ tuổi mình.  Anh bạn Vụ phó với vẻ quen thân hỏi một chị là bây giờ còn giữ tên Bàng A Lình không, hay chính thức đổi thành Tôn Nữ Nguyệt Mai rồi. Họ cười vui với nhau trong khi cái tên Bàng A Lình của người đàn bà ăn mặc hoàn toàn theo kiểu người miền xuôi, ngay cả dáng vẻ và phong thái cũng vậy, gợi lên trong Văn một điều gì đó nhưng anh không thể nhớ ra. Mãi đến khi câu chuyện giữa hai người phụ nữ nhắc đến tên một vài địa danh miền rừng núi Bắc San thì hồi ức về những năm tháng dạy cấp một ngày xưa bỗng nhiên tái hiện. "Chẳng lẽ  người vợ tay Tằng, người đàn bà ngày xưa hắn đem bán đã bỏ trốn đi là chị ta hay sao?" - Văn thấy thảng thốt.         

- Xin chị thứ lỗi nếu điều tôi hỏi làm chị không vui - Đợi khi chỉ còn lại rất ít người uống trà trong phòng ăn, Văn mới dám lại gần để hỏi chị ta - Có phải chị đã... đã từng là vợ anh La Á Tằng ngày xưa... Tôi muốn nói là vào những năm sáu mươi, tôi cùng anh ấy dạy học ở một trường cấp một của huyện Bắc San…

Người phụ nữ nhìn anh kinh ngạc. Khuôn mặt khả ái đột nhiên biến đổi bất ngờ như bị nước dơ, do một người vô ý hắt từ trong nhà ra dây vào đầu tóc. Văn chợt hoảng hốt vì thấy mình đã nói ra chuyện gì đáng lẽ không nên nói.

- Xin chị thứ lỗi nếu như tôi... tôi - Anh lắp bắp - Sở dĩ tôi hỏi vậy là vì từ ngày đó tôi tình cờ còn giữ một cuốn sổ có bút tích mấy đời của một người tên là Bàng A Lình như.. như chị. Tôi chỉ muốn hoàn nó về cho người ta.. Còn, còn có chiếc trâm bạc và chiếc vòng màu xanh ngọc thạch... - Văn rụt rè bổ  sung, anh vẫn lấy làm tiếc là đã khơi ra câu chuyện này.

- Thật vậy ư?! - Vẻ mặt người phụ nữ đã bình thường trở lại. Chị ta như bất chợt đắm chìm vào dĩ vãng, quên cả người đồng nghiệp vẫn đang đứng trước mặt trong trạng thái khó xử.

- Xin lỗi anh, thật hết sức bất ngờ đối với tôi khi anh hỏi vậy. Không sao đâu, anh đừng tự trách mình nữa... - Chị ta cầm lấy tay Văn như an ủi - Tôi với anh lại đằng kia nói tiếp câu chuyện này đi...

Quả thực đó là Bàng A Lình, người đàn bà Mán ngày xưa La Á Tằng đã định đem đi chợ bán. Câu chuyện gợi lại bao nhiêu xúc cảm cho người phụ nữ và cả cho Văn, mặc dù anh đã quên đi sau ngày rời khỏi miền rừng núi Bắc San. Một tuần sau đó họ  lại gặp nhau ở Hà Nội trước ngày Tôn Nữ Nguyệt Mai trở về Huế. Văn giao lại cho chị cuốn sổ bằng giấy dó, chiếc trâm bạc và chiếc vòng đeo tay màu xanh vẫn được anh giữ gìn qua bao năm tháng. Người đàn bà rơi lệ khi nhìn thấy những kỉ vật của tổ tiên để lại. Ở cuốn sổ mỏng bằng giấy dó vẫn còn đọc được những bút tự của người cụ là cận thần của nhà vua, sau đấy là bút tích của ông và cha chị. Chiếc vòng là báu vật của cụ, còn trâm là vật gia bảo của cụ bà của chị, mang về nhà chồng khi trở thành vợ  viên  cận thần của ông vua yêu nước đã bị giặc Phú Lãng Sa đầy ải.

Nguyệt Mai đưa cho Văn một cuốn sổ khác, dặn anh phải hết sức giữ gìn để trả cho chị khi gặp lại lần sau. Chị cho biết anh là người duy nhất được chị cho đọc cuốn sổ này và đấy là cuộc đời không chỉ của một người, gói ghém trong đó  bao nhiêu thiêng liêng trân trọng. Tôn Nữ Nguyệt Mai đưa cho anh đọc vì chị nói là con tim mình bây giờ  không còn đủ sức chịu đựng khi phải kể lại câu chuyện bằng lời.

Cuốn sổ thứ hai này có bìa tốt, có thể đã được đóng mới lại nhưng giấy thì rất xấu, đó là loại giấy gai nửa vàng nửa trắng anh đã từng dùng vào những năm sáu mươi. Phải nói là phần đầu của cuốn sổ đó Văn đọc mà chẳng hiểu gì lắm, không chỉ vì nét mực đã nhoè nhoẹt mà còn vì nó được viết bằng thứ chữ hết sức nguyệch ngoạc, lại lẫn lộn giữa tiếng Kinh, tiếng Tày,  Cao Lan... Đây đích thực là chữ của cô Bàng A Lình ngày đó, giống như  ít dòng chữ ở phần cuối cuốn sổ khâu bằng giấy dó anh đã trao lại cho Nguyệt Mai.

Đến nay thì vốn "sinh ngữ" của các dân tộc miền Việt Bắc trong anh thật không còn chút nào tồn đọng. Anh chỉ hiểu lơ mơ rằng cô đã cố ghi  lại những việc còn nhớ được ở cuốn sổ giấy dó đã bị mất, tiếp đó là chuyện chạy trốn và bị thương. Tuy nhiên Văn cũng hình dung ra đuợc những gì mà anh đã cố bỏ công để kiếm tìm vào ngày đó.

... Một buổi sớm cuối đông mù sương như vẫn thường thấy ở miền rừng núi Bắc San. Tiếng chim từ qui suốt đêm gọi nhau đã tắt hẳn, mấy con lợn rừng vừa hộc vừa chạy ào ào làm gãy răng rắc các cành cây cản lối,  con mang cũng tác lên giã bạn  lần chót truớc khi tìm về nơi trú ẩn. Lình chỉ còn mỗi chiếc áo lót trên người đang chạy hối hả, sau khi cô bất ngờ dập đầu tay Tằng vào một thân cây, giằng thoát khỏi con đực trần trụi đang cố sức chiếm đoạt người vợ "không muốn đẻ" truớc khi đem đi bán.

Cô gái loã thể chui qua một hang đá hẹp, khuất kín bởi các bụi mây gai và cành dang dẻo dai, ngoằn ngoèo đan bện vào nhau như bầy rắn ở thuở hồng hoang. Cửa hang này cô đã tình cờ phát hiện ra trong một lần vào rừng đặt bẫy bắt dúi, Tằng không biết nên mặc dù hắn ta nhanh và khôn như rận cũng đành ngẩn ngơ quay về với chiếc túi thổ cẩm của cô vợ chạy trốn bỏ lại.

Đúng ra thì cô Lình về làm dâu nhà họ La đã gần chục năm nhưng chưa bao giờ làm vợ của Tằng.  Nhỏ hơn "vợ" ba tuổi, từ lúc còn thò lò mũi xanh cu Tằng đã vào học ở trường Thiếu sinh quân, sau đó do tầm vóc bé nhỏ anh ta được chuyển sang làm giáo viên. Đến khi tay Tằng tấp tểnh trở thành người đàn ông thì cô  biết việc giặc Phú Lãng Sa (tức thực dân Pháp) đã hoàn toàn bị đánh đuổi. Lình quyết tâm thực hiện lời của ông cha để lại là tìm về với người Kinh  dù chưa biết làm bằng cách nào, chỉ lẩn trốn mỗi khi Tằng về nhà vào các ngày chủ nhật. Có lẽ vì vậy mà Tằng đã nói với Văn "Bảo nó không nghe, với lại nó không thích đẻ!".

Vội vàng chui qua hang đá hẹp sang phía núi bên kia, một bước trượt làm cô rơi xuống khe núi sâu. Có lẽ các vong linh của dòng họ Tôn Thất không muốn để mất đi móc xích cuối cùng của một chi tộc anh hùng đã phải chịu nhiều gian truân khổ ải, nên dây leo chằng chịt đã níu kéo cô giữ lại. Lình không chết, chỉ ngất đi. Khi tỉnh lại cô thấy mình đang nằm trên sạp ghép bằng gỗ cây trong lều cỏ, một chiếc quần dài, rộng đã che đi phần thân thể loã lồ. Có một người đàn ông đang lúi húi đun nấu, chắc là ông ta sắc thuốc, cô đoán thế vì phụ nữ  Mán phần đông đều biết cách tìm, chế biến và sử dụng dược thảo.

Người đàn bà chạy trốn cảm thấy tuyệt vọng vì lại rơi vào tay một người đàn ông, đến mức không cảm thấy may mắn là mình vẫn còn sống. Mồ côi mẹ từ lúc còn chưa biết gì, cha cũng mất sớm nên từ năm lên mười cô đã bị gả bán để làm vợ chú bé La Á Tằng. Tài sản của cô bé mang về "nhà chồng" chỉ có một  chiếc túi thổ cẩm đựng đồ lặt vặt, duy nhất đáng giá là chiếc trâm bạc, chiếc vòng đeo tay màu xanh bằng ngọc thạch của cụ nội để lại và mấy tờ giấy dó mà từ hồi lên năm lên sáu bố cô đã giảng giải, bắt phải học thuộc những gì đã ghi ở đó. Được bố dạy nói và viết tiếng Kinh, nhưng do ông mất sớm nên tiếng Kinh của cô chẳng nhiều nhặn gì hơn so với các thứ tiếng khác đã học được khi chơi đùa, tiếp xúc với lũ trẻ con của một khu tự trị đa dân tộc.

Nếu như người đàn ông đó có một hành động gì làm cô kinh sợ thì chắc Bàng A Lình đã không còn sống để viết tiếp vào cuốn sổ này vì trong người cô đã giắt sẵn một nắm lá ngón từ lúc Tằng đưa đi bán, lúc này nó vẫn còn  cộm lên ở bên hông…

Cuốn sổ cho Văn thấy là có một khoảng thời gian tương đối dài cô Lình không ghi chép gì, vì sau mấy trang có nét chữ giun dế với ngôn ngữ tả pí lù ghi lại những điều anh vừa đoán hiểu trên thì có những dòng chữ mới, càng ngày càng khuôn phép và rõ ràng bằng tiếng Việt chính thống. Chắc chắn là đã có sự thay đổi lớn lao trong giai đoạn này - Văn nghĩ một cách tò mò và bắt đầu bị những dòng ghi chép  riêng tư của người đàn bà chạy trốn lôi cuốn. Cách ghi bây giờ đã có vẻ như nhật kí nhưng không có ngày tháng và sự việc cũng không liên tục, chắc hẳn hồi đó chị ta vẫn chưa biết đến cuốn lịch, mỗi lần ghi chỉ biết đánh một khuyên tròn vào đầu đoạn viết  mà thôi.

   .     Vậy là thày đã nuôi dạy Lình một năm rồi. Giá không có những cây mai nở ra hoa trắng mỗi khi xuân đến thì hai thày trò chẳng biết bao nhiêu ngày tháng đã qua. Không, chỉ mình Lình không biết thôi, điều gì thày cũng biết đấy. Lình tin là thế, Lình chỉ muốn có hai cái bụng để ghi nhớ hết những điều thày dạy. Người Dao ta... À không, thày bảo không nói thế nữa nếu như  muốn trở về với dòng họ Tôn Thất như lời ông cha dặn lại. Mà sao thày lại không vui khi khuyên Lình thế nhỉ, thày còn bảo tất cả là do mềnh phần, ô, không phải rồi, là do mệnh trời, tiếng Kinh nói như vậy cơ, không phải ai ở với người Kinh cũng sung sướng đâu. Chính thày  đang làm điều ngược lại với Lình khi chọn vào sống ở trong rừng này...
·         Sao thày không nói tên của thày, chỉ bảo Lình sau hôm nghe kể lại câu chuyện từ bé đến lúc ấy  là "Từ giờ em hãy gọi tôi là thày, thày sẽ giúp em hoàn thành tâm nguyện của các bậc tiền nhân dặn lại, nhưng để làm được điều đó phải dạy em học nhiều thứ lắm. Thày đã nghĩ  không bao giờ còn được dạy ai học nữa, nhưng chắc đây cũng là mệnh trời..." Thày nói những gì Lình không hiểu và cũng quên mất nhiều rồi, chỉ thấy lúc nói câu  đó thầy có vẻ đau buồn lắm, đau buồn hơn lúc Lình bị Tằng dắt tay đem đi bán như con chó con ngựa ở chợ. Lình là đàn bà nên đã giắt theo người một túi nhỏ lá ngón. Đàn ông không ai dùng lá ngón, họ chỉ uống rượu, có người uống rượu tới chết. Nhưng thày không bao giờ uống rượu, Ô! cũng không phải rồi, thày có một bình rượu đấy, ngâm hai con rắn gì lạ lắm. Một tháng chỉ uống một hai chén, sau đó thưòng bảo Lình ở nhà coi nhà để thày đi tìm cây thuốc hàng mười ngày mới về.
·         Những ngày thày đi vắng Lình nhớ lắm, chỉ muốn được thày cho đi theo nhưng mặt thày nghiêm nghị làm Lình sợ. Lại dặn Lình ở nhà phải nấu canh với cây rau trồng nhiều ở ven suối ăn cho bổ huyết. Thày không nói nhưng Lình biết đó là rau răm. Người Dao có dùng cây này làm thuốc bổ huyết bao giờ đâu. Chẳng lẽ thày lại nhầm?  Cái gì thày cũng biết cơ mà, hay người Kinh có bài thuốc khác với người Dao? Vắng thày Lình thường tắm tự do rất lâu ngoài suối, kì cọ và ngắm nhìn thân thể đầy đặn của mình. Thân hình này thày đã nhìn thấy trong ngày Lình ngã xuống vực. Vậy mà sao thày không..?
 Thày lúc nào cũng nghiêm nghị. Lình chưa phải đàn bà, chưa lần nào cu Tằng kéo đuợc mình lên giuờng nhưng nếu như thày... Thôi, không viết nữa, xấu hổ lắm.
·         Thày dạy Lình học cả tiếng Pháp, tức là tiếng của người Phú Lãng Sa đấy! Thấy Lình tròn mắt nhìn vì kinh ngạc, thày giải thích rằng Phú Lãng Sa cướp nước mình nhưng không phải tất cả người Phú Lãng Sa đều xấu. Ngay người Vịệt mình cũng có nhiều kẻ xấu, mà kẻ đã xấu thì còn xấu hơn Phú Lãng Sa nữa cơ. Thày nói giờ thày chỉ còn Lình là học trò, mềnh phần của Lình vất vả nên thày rất thuơng. Tuy người Pháp đã rút hết về nuớc họ rồi, nhưng chẳng biết đến ngày nào thày mới đưa đuợc Lình về miền quê cha đất tổ Thừa Thiên...

Cuốn nhật ký khá dài, càng xem Văn càng hiểu thêm về cả hai thày trò họ. Nhiều lần anh phải ngừng đọc, xúc động với hoàn cảnh éo le của một người thày giáo cũng dòng dõi Hoàng tộc, sinh ra trong một gia đình mấy đời là giáo học, đã từng bị thương trong những năm đánh đuổi thực dân Pháp. Giờ đây người đàn ông cô đơn ấy bị xã hội hắt hủi, bị tuớc đoạt quyền làm thày (tuy cô Lình không viết rõ nhưng Văn chắc là ông bị mắc vào vụ tai nạn văn chương hồi đó).  Hãy còn trẻ  mà sống cạnh người con gái, cô học trò duy nhất còn có đuợc, ở giữa rừng. Cô Lình hồi đó trẻ trung, đầy sức quyến rũ của nét đẹp thiên nhiên hoang sơ mang nửa dòng máu của những sắc người sống giữa đại ngàn. Cô quý thày, và cô yêu thày giáo của mình bằng mối tình đầu hồn nhiên, dạn dĩ.  Nhiều lúc vẻ đẹp hoang dã của cô đã khiến thày giáo  phải lẩn trốn, phải uống, phải ăn những thứ nhằm triệt giảm bản năng đực cái của con người.

Sao họ không trở thành một đôi chồng vợ nhỉ? - Văn tự hỏi - Có gì và có ai cản trở họ đâu. Để nhiều lúc cô Lình oán thày, có lần đã bỏ đi nơi khác làm nghề thày lang và bán thuốc dạo, nhưng rồi cô lại quay về. Cô kinh sợ những người đàn ông khác. Họ cũng như  tay Tằng, dễ dàng xử sự với cô như với con chó, con ngựa nuôi trong chuồng nhà họ.

Cũng vì điều tò mò đó, Văn lật giở đến phần cuối của cuốn sổ ghi chép. Kết thúc cuốn sổ là những dòng chữ không phải của Bàng A Lình. Văn hiểu ngay đây là chữ của thày giáo cô:

"Lình ạ, mặc dù  dạy em chỉ hơn năm năm nhưng giờ đây thày nghĩ rằng em đã có thể hòa nhập bình thuờng với cộng đồng người Kinh ở quê hương em. Em là một học trò thông minh, không uổng công dạy dỗ của thày. Tiếc rằng thày chỉ có thể truyền đạt cho em những tri thức nghề nghiệp để làm một nhà giáo. Thày đã nhờ một người bạn rất thân - cũng là người bạn duy nhất của thày còn có cho đến lúc này - bố trí công việc cho em. Tất cả những giấy tờ cần thiết cùng các chỉ dẫn chi tiết  đều ở trong chiếc phong bì thày để kèm đây. Em có thể theo các chỉ dẫn đó để về Hà Nội gặp người bạn của thày, nhưng đó là trong truờng hợp thật đặc biệt thôi vì thày ấy đã hứa sẽ lên đây đón em về trong vòng nửa tháng nữa.

Đã đến lúc em nên rời khỏi rừng này để làm việc gì đó mà em thích. Thày còn nợ em một nửa phần việc mà thày đã hứa, đó là đưa em về tận miền Thừa Thiên quê hương  em và cũng là quê hương của thày. Chưa chắc thày  đã đuợc phép tái ngũ nhưng sẽ tìm cách trở về quê hương để cùng tham gia giải phóng nốt một nửa đất nứơc, trong đó có quê của thày trò mình, dù làm một đội viên du kích thôi cũng đuợc.

Thày tin rằng sẽ có ngày gặp lại em ở Huế nhưng dẫu sao chuyến đi này cũng đầy hiểm nguy. Vì vậy phải nói cho em biết đôi điều về con người đã tình cờ sống và truyền đạt kiến thức cho em ở giữa rừng già. Gia đình thày  cũng thuộc dòng họ Tôn Thất như em, mấy đời làm nghề dạy học, chỉ có thày  phải rời bút nghiên một thời gian để đánh đuổi Phú Lãng Sa. Thày đã vui sướng biết bao khi đuợc quay lại nghề dạy học,  nhưng sống trên đời này nhiều gian nan lắm em ạ, thày phải nói để em biết cách dè chừng. Chỉ vì cần chiếm đoạt tình yêu của  một cô gái mà  hiệu truởng nhà truờng, cũng từng là học trò của thày, đã dùng mấy bài văn thơ làm cớ tạo ra vụ án văn chuơng để họ kỷ luật thày, không cho làm nghề dạy học nữa.

Lình ơi, em mãi mãi là học trò của tôi, là người học trò duy nhất tôi còn được quyền dạy dỗ. Thiên chức của tôi sinh ra trên đời này là để dạy học nhưng người ta đã tước bỏ quyền làm thày của tôi. Chỉ còn có mình em là học trò nên tôi phải giữ gìn, mãi mãi tôi là thày và em là học trò của tôi. Điều đó thiêng liêng biết bao đối với một người đựơc sinh ra để làm thày như tôi, mặc dù tôi đã phải quên rằng mình còn có trái tim, rằng tôi là người đàn ông và em là người đàn bà, đã cùng sống một cách chân thành với nhau năm năm ở giữa rừng...

Thực ra thì còn hơn thế, hơn thế rất nhiều em ạ. Có lúc tôi phải tự hỏi mình rằng nghề làm thày có đúng là cao quí đến mức tôi phải hy sinh đến thế hay không. Sao có những người  được quyền làm thày một cách dễ dàng mà họ có coi trọng nó đâu…

Văn đặt cuốn sổ xuống bàn. Bỗng dưng anh lặng người vì lần đầu tiên chợt nhìn lại suốt quãng đời hành nghề sư phạm của mình. Nó trơn tru, bằng phẳng, giúp anh qua những năm khó khăn thiếu thốn nhất và nuôi dạy con cái nên người. Nhưng quả thực với anh sư phạm chỉ là một nghề, cũng như một số nhà tu hành ngồi trong chùa, đợi đến giờ thì đọc kinh, gõ mõ truớc những bức tuợng gỗ và yên tâm với nghề làm sư  của họ.

Lặng lẽ gấp lại cuốn sổ, quả thực Văn không dám đọc nữa vì thấy rằng nhìn sâu vào đời tư nguời khác nhiều khi làm cho chính mình thấy áy náy. Lần trao lại nó cho Tôn Nữ Nguyệt Mai anh đuợc biết thêm rằng người thày giáo đầu tiên của chị đã không còn nữa. Truớc khi tìm cách  trở về quê huơng đánh Mỹ ông về thăm ngôi truờng cũ, gặp ngay lúc máy bay Mỹ đến bắn phá. Ngôi truờng bốc cháy, ông đã lấy thân mình che bom bi cho hai đứa bé con, lúc chết cũng không biết nó là con của những ai.

Không phải người trong cuộc, thế mà Văn thấy choáng váng. Như một người mộng du, phải cố lắm anh mới hiểu đuợc lời kể của Tôn Nữ Nguyệt Mai rằng chị chỉ có một đứa con nuôi. Chính là bé gái, một trong hai đứa trẻ mà thày giáo của cô đã lấy thân mình che chở, vì rằng cha mẹ của nó đều chết  trong trận oanh tạc đó. Cũng có thể nó là con của tay hiệu truởng từng là học trò của thày giáo cô, vì hai vợ chồng ấy cùng một số giáo viên và gia đình họ đều chết cháy trong lần oanh tạc của không quân Mỹ.

 "Ôi  một thời, đã có một thời như vậy đấy!  Chẳng lẽ xu thế của cuộc sống bây giờ là cái vỏ vô cảm của người  ta cứ càng ngày càng dày lên mãi, để  tất cả những gì mà người thày giáo ấy coi là thiêng liêng, dần dà chỉ còn đuợc thấy trong chuyện cổ tích thôi sao!" - Văn chợt nghĩ.                                      
                                       

Ngọc Châu
(Hải Phòng)
READ MORE - NGƯỜI VỢ BỊ BÁN - truyện ngắn Ngọc Châu

Tuesday, November 19, 2013

VIÊN PHẤN MÀU HỒNG - thơ Nguyễn An Bình



Thơ NGUYỄN AN BÌNH

VIÊN PHẤN MÀU HỒNG

    *Kỷ niệm 20-11

Tôi lại đặt vào chiếc hộp xinh xắn
Chiếc hộp ngày xưa lần đầu tiên tôi được tặng
Chiếc cà vạt dễ thương từ cô học trò nhỏ
Bao năm rồi không còn nhớ
Một viên phấn màu hồng
Đây là viên thứ năm
Đủ năm màu xanh vàng hồng đỏ trắng
Những viên phấn đã cùng tôi đi qua mưa nắng
Tình yêu của một thời
Luôn thao thức không thôi
Bên đám học trò hồn nhiên buồn vui vô cớ.

Tôi tự dặn mình mỗi năm nếu mình còn thở
Đặt vào chiếc hộp một viên phấn khác màu
Để nhớ mái trường từng chiếc ngói lao xao
Để nhớ bao mùa cây phượng già  thay lá
Tiếng chim gù trên cành xoan kêu rất lạ
Học trò tôi ngày ấy mấy đứa được làm quan
Mấy đứa một đời cơm áo lang bang
Đầu đường xó chợ
Lên voi xuống chó?

Viên phấn màu hồng mang nỗi nhớ trong tôi
Hãy ngủ yên trong ngăn đời đi nhé
Giữ cho tôi một tình yêu dù rất nhẹ
Có ngày xưa cùng chung bước đến trường.



READ MORE - VIÊN PHẤN MÀU HỒNG - thơ Nguyễn An Bình

TIẾT VĂN KÉO DÀI 46 NĂM - Hoàng Đằng



Năm nay, chiều 15/11/2013, tôi được nhóm học sinh cũ Nguyễn Hoàng – Quảng Trị khóa 1963 – 1970 mời dự họp mặt chào mừng Ngày Nhà Giáo Việt Nam (20/11) tổ chức tại tư gia anh Đinh Quang Tạo ở 228 Lý Thường Kiệt – thành phố Đông Hà.

Bên ngoài, trời mưa nặng hạt. Từ Thừa Thiên-Huế vô tới Bình Định, lũ lụt rất lớn. Lớn do mưa nhiều, mưa to, do rừng rú đã mất nhiều độ che phủ và do các đập thủy lợi, thủy điện xả nước vì sợ vỡ.

Căn phòng không lớn lắm được trang hoàng cẩn thận: banderole, lẵng hoa, hệ thống âm thanh, đàn organ. Bốn chiếc bàn tròn được xếp ngăn nắp kèm ghế nhựa, cứ mỗi bàn 10 ghế.

Người tham dự, ngoài khoảng 30 anh chị em là chủ, có một số khách: về thầy cô giáo có thầy Đỗ Tư Nhơn, thầy Hoàng Đằng, về đại diện ban liên lạc Nguyễn Hoàng tại Quảng Trị có anh Nguyễn Lớn, anh Nguyễn Văn Hoàng, chị Lê thị Dũng, về đại diện các khóa bạn có anh Văn Mạnh, anh Đoàn Văn Tầm, anh Lê Đình Phiến. Tất cả mọi người ngồi xây quanh đầy cả 4 bàn.

Anh Đinh Quang Tạo, một cây văn nghệ có tiếng của Nguyễn Hoàng xưa, đóng vai MC. Chương trình họp mặt chia 2 phần rõ rệt:

Phần I: Phần nghi thức

Mở đầu chương trình là lời phát biểu chào mừng của anh Nguyễn Công Huệ, đại diện nhóm; tiếp đến là phần phát quà cho thầy giáo cũ được đạo diễn khá long trọng, tiếp theo là lời phát biểu cảm ơn của thầy Hoàng Đằng, đại diện cho cả hai thầy có mặt; cuối cùng là phần phát biểu tâm tư của anh Nguyễn Lớn, đại diện ban liên lạc Nguyễn Hoàng tại Quảng Trị. Mỗi lần có người phát biểu, cả hội trường im lặng, lắng nghe chú ý. Đó là một trong những nét văn minh hiếm thấy ở những buổi tụ tập đông người.

Phần II: Tiệc và văn nghệ mừng

Tiệc liên hoan được dọn dần. Thức ăn rất nhiều món, món nào cũng ngon; thức uống chủ yếu là bia Huda loon, cứ uống “thả giàn” điểm thêm nước ngọt, nước khoáng cho những ai đang trong chế độ ăn kiêng. Chắc mỗi anh chị em trong nhóm phải đóng khá “bộn” tiền.
Trong lúc “xử” tiệc, không có ồn ào, không có cảnh ép nhau uống rồi hô: dzô, dzô ... Mà phải rồi! Anh em đều trong độ tuổi O60 (trên 60) và U70 (dưới 70), họ không còn cái rộn ràng của lớp trẻ. Đó là điểm đặc biệt mà những người thích yên tĩnh như tôi đánh giá cao.

Vừa ăn uống vừa chuyện trò, vừa nghe “nhạc sống”. Anh chị em giới thiệu nhau lần lượt lên biểu diễn. Ngoài các nghệ sĩ thuộc nhóm, còn có hai nghệ sĩ ngoại: Đỗ Tư Nhơn và Lê thị Dũng. Mặc dù tuổi tác đã cao,  các ca sĩ đều có giọng hát réo rắt, thánh thót, du dương; còn có đôi giọng hát hùng dũng, kích động. Ngoài phần biểu diễn bằng miệng, phần biểu diễn bằng cơ thể rất đặc sắc. Chân tay chỉ trỏ, tiến lùi, lên xuống điệu nghệ. Thân hình uốn lượn nhẹ nhàng, thanh thoát. Có cặp dìu tay nhau khiêu vũ theo điệu nhạc lâm ly. Thật là vừa mãn nhãn (sướng mắt) vừa mãn nhĩ (sướng tai). Thêm một ưu điểm của buổi họp mặt là ai nghe giới thiệu đến tên thì vội lên liền, không từ chối, không chậm trễ. Máu văn nghệ và máu cộng đồng hình như đang rần chảy trong mỗi anh chị em.

Trao quà cho thầy
(Từ trái qua phải: anh Nguyễn Công Huệ, thầy Hoàng Đằng, 
thầy Đỗ Tư Nhơn, anh Trịnh Đình Song)

Thật hạnh phúc cho tôi được dịp dự buổi họp mặt này. Cảm ơn anh chị em Nguyễn Hoàng khóa 1963 – 1970 đã có lòng nhớ nghĩ đến tôi.

*
*     *

Vậy là tôi đã được nhóm này mời tới dự họp mặt hàng năm 3 lần.
Lần đầu năm 2011, hôm ấy có thầy Phan Khắc Đồ từ Đà Nẵng ra dự.

Lần thứ hai năm 2012. Tôi được mời nhưng không dự được do sức khỏe của tôi lúc ấy quá tệ. Nghe nói, ngoài thầy Phan Khắc Đồ từ Đà Nẵng, còn có thầy Lý Văn Nghiên từ Huế ra dự dù đường sá xa xôi.

Một số anh em trong nhóm hiểu lầm về sự vắng mặt của tôi năm 2012. Tôi không dự vì lý do sức khỏe. Tuổi già, khi khỏe, khi mệt, khi đau, khi lành. Vậy mà họ nghĩ tôi không đến dự do tôi ngại vì không dạy khóa này.

Thật sự, vào năm học 1967 – 1968, năm học mà khóa này lên lớp 10, tôi được nhà trường phân công dạy văn vài ba lớp, tiếc là tôi chỉ đứng lớp được mấy tháng đầu năm; sau đó, tôi phải tạm biệt trường lớp lên đường thi hành lệnh tổng động viên. Chắc chắn là không phải tất cả nhưng một số anh em đã học với tôi, có nghĩa, dù dạy nhiều hay dạy ít, tôi là thầy thật sự. Hơn nữa, theo truyền thống của trường Nguyễn Hoàng, “học nhất sư kính vạn sư”, ai có dạy Nguyễn Hoàng trước hay sau, nhiều hay ít đều được học sinh Nguyễn Hoàng gọi bằng từ thầy thân thương – thầy danh dự.

*
*      *

Nhân dịp này, tôi có một điều cần nói với các bạn học sinh khóa 1963 – 1970 có học với tôi.

Năm 2011, khi họp mặt tan, một bạn trong nhóm tới hỏi tôi: Trước đây, thầy dạy văn, thầy còn nợ chưa giải thích “nụ tầm xuân” trong bài ca dao:

- Trèo lên cây bưởi hái hoa.
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc.
Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!

- Ba đồng một mớ trầu cay.
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng.
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gở!
Chim vào lồng biết thuở nào ra!

Lúc đó, vì không nghe ai hỏi, tôi không đặt nặng ở nghĩa của cụm từ “nụ tầm xuân” mà giải thích. Bây giờ, dù muộn màng, tôi xin chia xẻ ý kiến của tôi với các bạn.

Qua bài ca dao, khi dạy, tôi muốn nhấn mạnh hai điều: (1) thân phận phụ nữ ngày xưa bị xã hội coi rẻ (Ba đồng một mớ trầu cay) và (2) thân phận phụ nữ ngày xưa bị đối xử bất bình đẳng so với nam giới. Đàn ông được năm thê bảy thiếp, còn đàn bà chỉ chính chuyên một chồng (Bây giờ em đã có chồng; như chim vào lồng, như cá cắn câu).

Mà giả như ngày ấy, có bạn nào hỏi: “Nụ tầm xuân là gì?”, tôi cũng trả lời: Tác giả bài ca dao muốn nói đến hoa cà, đấy thôi. Cây cà được trồng đầu hay giữa mùa đông, cây cà có thể ra hoa vào cuối đông hay đầu xuân (tầm xuân nghĩa là tìm xuân, trông chờ chào đón tiết xuân).

Trong thực tế, từ kép “tầm xuân” dùng để chỉ một loài hoa hồng leo, cây cao từ 1 – 5 mét; có cây còn leo cao hơn ngọn các loài cây khác (theo Wikipedia). “Tầm xuân” còn là tên một loài cây thuộc họ đậu, chỉ mọc ở duyên hải miền Trung vì nơi đây khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp (theo giáo sư Nguyễn Thiện Tích ở Đại Học Khoa Học Sài Gòn). Nụ tầm xuân trong bài ca dao không thể thuộc giống cây leo vì ở vườn cà, làm gì có giống cây leo!. Nụ tầm xuân trong bài ca dao cũng không thể thuộc giống cây họ đậu mọc dại vì ở vườn cà, cây dại cỏ dại luôn được làm sạch. Thế thì trăm phần trăm, đó là hoa cà – hoa cà và hoa tầm xuân có hình dáng và màu sắc gần giống nhau.




Hoa tầm xuân (ảnh mượn từ trên Internet)





Hoa cà (ảnh mượn từ trên Internet)

Có nguồn cho rằng bài ca dao là lời tiếc nuối của chúa Trịnh Tráng (1577 – 1657) ở Đàng Ngoài, do chê Đào Duy Từ thuộc dòng dõi xướng ca mà không sớm dùng để người hiền tài ấy vào phục vụ cho Đàng Trong:

- Trèo lên cây bưởi hái hoa.
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc.
Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!

 Và lời đáp của Đào Duy Từ nói lên thân phận và tinh thần của mình đã gắn kết với chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1563 – 1635).

- Ba đồng một mớ trầu cay.
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng.
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gở!
Chim vào lồng biết thuở nào ra!

 Đó chỉ là giai thoại – một tin đồn, không có bằng chứng trong sử sách.

Tôi, một thầy giáo dạy văn, chỉ xem bài ca dao là lời tâm tình của đôi trai gái yêu nhau nhưng ngỏ ý quá trễ.

Mấy lời dông dài với học trò cũ. Mong độc giả thông cảm./.

17/11/2013
(15/10/Quý Tỵ)



READ MORE - TIẾT VĂN KÉO DÀI 46 NĂM - Hoàng Đằng

VỊNH THẦN KIM QUY - thơ Kha Tiệm Ly

Tượng thần Kim Quy ở đền Ngọc Sơn, gốm của Trần Độ.
                     Tranh từ Diễn Đàn Doanh Nghiệp - dddn.com.vn


VỊNH THẦN KIM QUY

Hơn cả đế vương, sá kể hầu,
Người người nể mặt, há chơi đâu.
Miếu đền bá tánh luôn hương khói,
Sao lại co đầu rút dưới mu?! *

                                 Kha Tiệm Ly

Chú:
· Tự điển: Mu: 1. Mai con rùa, mai con cua.  2. Chỗ thịt gồ lên phía trên bàn tay bàn chân.
·  Y học: Người ta dễ dàng phân biệt xương người nam hay người nữ là nhờ nhìn XƯƠNG MU của hai bộ xương: Xương mu người nữ nhô lên cao hơn xương người nam
·  Tác giả: Nam bộ không gọi  MAI RÙA, MAI CUA, mà gọi là MU RÙA, MU CUA. Người ngoài miền gọi là MAI, có lẽ để khỏi nhầm với mu… gì đó chăng? Tuy nhiên, họ cũng không gọi mai bàn tay, mai bàn chân, mà vẫn gọi là mu…!


READ MORE - VỊNH THẦN KIM QUY - thơ Kha Tiệm Ly

TƯƠNG DUYÊN - thơ Trương Nguyễn


Tranh của họa sĩ Lê Sâm


Bài thơ nào dung chứa yêu thương ?
Cho những người cày sâu cuốc bẫm
Hằng tỷ tế bào chảy ra muối mặn
Chiếc áo nâu thâm tím nỗi buồn

Hỡi chị ! Hỡi em lấp loáng trên đường
Tiếng xào xạc quét đêm vời vợi
Xe cút kít réo lên chới với
Vọng âm thanh lạnh lẽo kiếp người

Đám công nhân ngất ngưỡng lưng trời
Kết dính mồ hôi bê tông cốt sắt
Tay quệt vội cơm chan nước mắt
Khuôn mặt gầy gò nắng rám da thơm

Nụ cười ngây thơ váy-áo tinh tươm
Màu đỏ màu xanh lượn qua lòng phố
Cuộc săn đuổi dưới thời công nghệ
Vẹt gót bàn chân hiển lộ gian nan

Mỗi khi bưng bát cơm trắng nồng nàn
Mỗi hạt lúa ẩn ngàn tinh tú
Mỗi hạt lúa tóm thâu vũ trụ
Mặt trời…
            Mặt trăng …
                        Phân rác tương duyên.

                       Trương Nguyễn
READ MORE - TƯƠNG DUYÊN - thơ Trương Nguyễn

ƯỚC MƠ - thơ Độc Hành




Quê tôi ma túy không xài
Vợ chồng chỉ có sinh hai là vừa
Rượu chè không uống say sưa
Honda tốc độ chạy vừa mà thôi
Quê tôi cờ bạc giảm chơi
Mại dâm trộm cướp khắp nơi giảm dần
Hộ nghèo xóa bớt xuống dần
Vùng sâu, miền núi giàu lần tiến lên
Tuổi cao, phụ nữ thanh niên
Dưỡng sinh thể dục thường xuyên tập rèn
Học sinh quyết chí sách đèn
Cố công học tập giấy khen đầy nhà
Vệ sinh công cộng tư gia
Giữ gìn sạch sẽ từ xa đến gần
Nâng cao dân trí toàn dân
Đoàn kết xây dựng tương thân cộng đồng
An ninh trật tự tư công
Đề cao cảnh giác canh trông từng giờ
Bài thơ mơ ước, ước mơ
Quê hương sạch đẹp như tờ giấy tinh.


                                              Độc Hành
READ MORE - ƯỚC MƠ - thơ Độc Hành

THƯƠNG QUÁ QUÊ MÌNH - Linh Thy

Thân ái gửi Miền Trung.
Nhân đọc bài TRẮNG LŨ của Lê Thiên Minh Khoa, LT có đôi dòng để gửi về KHÚC RUỘT đang đau.





THƯƠNG QUÁ QUÊ MÌNH

Hai mươi mười một nầy chẳng có hoa
Vì lũ cuốn chôn vùi … dạ cắt
Nhìn người - của bềnh bồng mà quặn thắt
Thương Miền Trung khúc ruột quá mong manh!

Cao xanh ơi! Sao người nỡ phá tan tành
Bao công sức, mồ hôi, nước mắt
Bao trẻ thơ chết mà tay còn nắm chặt
Quyển tập vở lòng mực tím chưa phai…

Đêm thức trắng nhìn nước như sao băng
Bao trang sách thầy trò cũng vùi theo lũ
Tình người cả nước luôn ấp ủ
Giàn bí xanh bầu sẽ tươi xanh

Sau cơn lũ cây sẽ đâm cành..
Dang tay cứu hỡi đồng bào cả nước
Cho em thơ còn bầu trời mơ ước!
Cùng thầy cô đến trường ươm cái chữ TƯƠNG LAI.!!!
       
Linh Thy

Bến Tre, 23h50/18/11/2013
READ MORE - THƯƠNG QUÁ QUÊ MÌNH - Linh Thy

VỀ ... - chùm thơ Hoàng Yên Lynh



VỀ ...

Ta con chim già cánh mỏi
Lang thang cuối bãi đầu ghềnh
Chợt nghe cuối trời vô định
Vọng tiếng chuông buồn trăm năm.


ĐỜI

Ta một mình trông ngóng
Đếm thời gian mênh mông
Với bao điều tâm nguyện
Hỏi người có biết không ?

Rồi mai là cát bụi
Bao u uất ngậm ngùi
Được, mất vòng thế sự
Chuyện đời bến đục mê.


TÌM EM

Trời xanh và mắt em xanh
Mặt hồ xanh áo em xanh phố chiều
Tôi đi tìm mãi hương yêu
Bờ xa bến vắng quạnh hiu nẻo về
Áo đời mòn gót sơn khê
Tìm em như thuở đam mê với đời
Một màu xanh, xanh mây trời
Mà tôi bạc tóc cuối đời tìm em .


HOÀNG YÊN LYNH
READ MORE - VỀ ... - chùm thơ Hoàng Yên Lynh

THANH MINH VIẾNG MỘ THÀY - thơ Ngọc Châu

 Thơ nhân ngày 20/11


Chúng em gọi thày là thày Văn
Từ buổi đầu, thấy mái tóc quăn
Với đôi mắt sáng, trên bục giảng
Những câu Kiều đau đớn nhân gian.

Chốn lầu xanh nước mắt chứa chan
Nơi chiến trường anh hùng chết đứng
Những thế kỷ chìm trong gươm súng
Chúng sinh còn vương vất hồn oan.

Thày  nói về vẻ đẹp trần gian
Gợi ước mơ tới chân, thiện, mỹ
Đất anh hùng, người không vị kỷ
Tử sinh cùng hai chữ  Việt Nam

Học trò thầy đâu thể nào quên
Vách đá cao, gío giật, sấm rền
Vỡ ngực rồi  ưng còn tung cánh
Khinh rắn bò hòng sống bách niên*

Học trò thày đâu thể nào quên
Khi Đan-cô xé tim làm đuốc
Vạch rừng đen xông lên phía trước
Soi đường cho bộ lạc đi lên.*

Thày ơi khi em ở chiến trường
Bị thương nằm trạm xá tiền phương
Tin thày ngã xuống bao đau đớn
Xót lòng em hơn cả vết thương

Ngày đó trường ta về ven núi
(Kẻ thù hăm cày nát hậu phuơng!)
Những ngày sơ tán cơm rau muối
Văn với đời cùng trải đau thương.

Thày quên mình để cứu trẻ thơ
Khi bom bi rải xuống bất ngờ
Giữa mảnh vườn vàng xanh hoa  cải
Dập vùi làn môi trẻ bi bô.

Lúc đó thày đâu nhớ Đan-cô
Quên chim ưng với lũ rắn bò
Thày đứng anh hùng hơn Từ Hải
Chết còn che cho  tuổi ngây thơ.

Thày dạy "Văn học là Nhân học"
Nén nhang này ghi nhớ lời thày
Thanh minh cúi bên mồ, tim khóc
Lời của thày còn vọng đâu đây...

                   Ngọc Châu
                         

* Thày bình giảng "Bài ca chim ưng" của M.  Gorki

* Thày bình giảng "Bà lão Iderghi"  của M. Gorki
READ MORE - THANH MINH VIẾNG MỘ THÀY - thơ Ngọc Châu

MÙA XUÂN QUANH TA - thơ Mặc Phương Tử




Khi rét buốt
Về vùng cao, xa xôi đất nước
Cắt thịt da như vết chém thương đau!
Dáng khẳng khiu, nhìn bàn tay năm ngón
Mắt lệ đăm chiêu
Rừng núi lạnh nghiêng sầu !

Sương tuyết phủ
Gió rít từng cơn hờn lạnh giá
Bao nỗi…
Trơ buồn,
Bấm chặt ước mơ con.
Không đủ sức,
Nên có những loài gục ngả
Cóng thân đời vùi mộng dưới hoàng hôn.

Phong phanh chiếc áo đời không đủ ấm
Bóng trăng sương
Nhòa vết lệ xuống đêm gầy !
Những canh trắng
Nghe tiếng thở dài trong sâu thẳm
Đối diện mình, lòng chiết giọt thầm cay !

Bão lũ về
Những vùng quê ta
Có những mảnh đời nghiệt ngã,
Dấu thương đau trong ánh mắt phong trần.
Nỗi đày đọa
Lên bao kiếp hoang sầu sa mạc,
Dù mùa Đông, Thu, Hạ, hay mùa Xuân !
Mùa xuân đến
Phải đâu riêng từng cuộc sống ?
Mà thầm thương
Cho cuộc sống muôn nhà !
Nếu nhân rộng từ những tâm hồn “hạt giống”
Cảm nhận nào…
Hơn giá rét khắp quanh ta…!

                         Sau những ngày tin bão lũ 2013.


                                MẶC PHƯƠNG TỬ
                                               macphuong52@yahoo.com
READ MORE - MÙA XUÂN QUANH TA - thơ Mặc Phương Tử

Monday, November 18, 2013

ĐẾN HÀM TÂN, NHỚ DÁNG THẦY - thơ Lê Ngọc Phái

Họp mặt Nguyễn Hoàng đầu xuân 2013 tại La-gi, Bình Thuận


Để tưởng nhớ  thầy Thái Mộng Hùng và thầy Lê Văn Quýt đã tham dự buổi họp mặt cùng với chúng em tại Hàm Tân ngày 11.4. 2006

Hàm Tân (1) tái ngộ buổi chiều nay
Chạnh tưởng năm nao bóng dáng Thầy!
Sóng biển rì rào rung nắng gió
Rừng dương xao xuyến vút trời mây
Nguyễn Hoàng (2) tha thiết tìm đâu nhỉ?
Quảng Trị thân thương ở chốn này?
Cho dẫu sông đời bao thác lũ
Nhịp cầu Quê Mẹ vẫn còn đây.

Còn đây hình ảnh mái trường xưa
Kỷ niệm thư sinh chẳng xóa mờ
Giọng nói thật thà vang cả lớp
Nụ cười rạng rỡ đến trong mơ
Ngoài sân rộn rã giờ tan học
Trước cổng nôn nao phút đợi chờ
Áo trắng phai màu, trang giấy cũ
Phượng hồng tô thắm chuỗi ngày thơ.

Ngày thơ sánh bước với thời gian
Tóc ngã hoa râm mộng chẳng tàn
Xuống biển, băng đồng khi khốn đốn
Vượt đèo, lội suối lúc lầm than
Xuân về gió sớm lời oanh kể
Hè đến trăng khuya tiếng dế đàn
Chinh chiến mấy mùa bom đạn thế
Khung trời Hoàng thị vẫn bình an.

 Bình an trở lại với quê hương
Ngơ ngác nhìn nhau giữa phố phường
Trường cũ tiêu tan người mỗi ngả
Lớp xưa li tán đứa mười phương
Nơi anh lúa chín vàng bên ngõ
Xứ bạn hoa thơm rộ khắp đường
Bằng hữu, Thầy Cô tình nghĩa nặng
Nguyễn Hoàng sống mãi vạn niềm thương.

                           Lê Ngọc Phái

(1) Huyện Hàm Tân thuộc tỉnh Bình Thuận, nơi người dân Quảng Trị di tản đến ở trong mùa hè năm 1972.

(2) Trường Trung học Nguyễn Hoàng thành lập năm 1952 tại tỉnh lỵ tỉnh Quảng Trị, đã bị bom đạn làm đổ nát trong mùa hè đỏ lửa 1972 cùng với tỉnh lỵ Quảng Trị.
READ MORE - ĐẾN HÀM TÂN, NHỚ DÁNG THẦY - thơ Lê Ngọc Phái