Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, July 13, 2012

GỢI Ý VỀ MINH TRIẾT TÂM LINH VÀ CUỘC SỐNG (tt) - Tuệ Thiền (Lê Bá Bôn)


11. Thiền định, tự tri, hơi-thở-thiền, mọi sự tu tập thăng hoa trí tuệ tâm linh, sự cầu nguyện chân chính, đó là những hành động tích cực của tâm linh, mang năng lượng cải thiện sức khoẻ tổng quát, thiện ích cho mình và tha nhân.

   “Không còn hoài nghi gì nữa về ảnh hưởng to lớn của năng lượng tâm thần tới cơ thể con người; mà có được trạng thái xô-ma-chi chính là nhờ tham thiền đấy thôi.” (E. Mun-đa-sep).

   “Các nhà khoa học cũng đang quay lại và hướng sự tập trung vào việc tìm hiểu cách thức suy nghĩ và trạng thái của chúng ta thực sự ảnh hưởng đến lực từ trường bên trong và xung quanh chúng ta. (…) Những phát hiện này có thể chứng minh cho tuyên bố từ lâu của những người luyện thiền và những người tập luyện yoga, rằng những sự rèn luyện này thực sự làm tăng sinh khí cho chúng ta và tiếp thêm năng lượng cho ta.(…) Nhiều nghiên cứu khoa học đã khiến cho melatonin ngày càng được biết đến với giá trị như một phân tử chống ung thư. (…) Thú vị là việc luyện thiền được coi là một hành động kích thích tuyến tùng và giúp tạo ra được đủ lượng melatonin cần thiết.” (Karen Nesbitt Shanor - tiến sĩ sinh học. “Trí tuệ nổi trội”; dịch giả: Vũ Thị Hồng Việt).

   Tác giả trên viết chung với John Spencer, tiến sĩ y học danh tiếng: “Các phương pháp thiền khuyến khích sự thở sâu từ cơ hoành, được biết đến với chức năng nuôi dưỡng các cơ quan cần thiết và làm tăng các mức độ năng lượng, tăng tỉ lệ trao đổi chất và tái sinh các khu vực trì trệ của cơ thể.”

   Đặc biệt, hai tác giả này viết trong tác phẩm “Trí tuệ nổi trội”: “Một nghiên cứu xuất sắc đánh giá vai trò của sự cầu nguyện (cho người khác) trong việc chữa bệnh do bác sĩ chuyên khoa tim Randolph Byrd tiến hành đã khích lệ rất nhiều các nghiên cứu sau đó. (…) Các nhóm tôn giáo khác nhau được cử đến để cầu nguyện cho các bệnh nhân trong nhóm được cầu nguyện (bệnh nhân không biết). (…) Các bệnh nhân trong nhóm được cầu nguyện ở một số khu vực so sánh với những người trong nhóm không cầu nguyện: Họ dùng thuốc kháng sinh ít hơn năm lần; họ ít bị mắc chứng phù ở phổi hơn ba lần; không ai trong số họ cần đến ống thở (…); và có rất ít bệnh nhân trong nhóm được cầu nguyện bị chết.”

   Để dễ hiểu vấn đề hơn, chúng ta đọc thêm một đoạn, trong tác phẩm đã nêu, của D.Chopra: “Những người nghi ngờ khả năng tâm linh đặc dị làm ngơ trước vô số những nghiên cứu cho thấy ý nghĩ thông thường có thể thực sự tác động đến thế giới. Điều này đặc biệt quan trọng nếu tâm trí là trường.”
  
  12. Thiền là “tự tri-tỉnh thức-vô ngã”, là siêu vượt khái niệm-tướng trạng, là tự do tinh thần, là sống với ý-thức-mở; ý thức mở là tâm giải thoát, là vô sư trí, là điều kiện để cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp cuộc sống, để Chân-Thiện-Mĩ hiện tiền trong cuộc sống của ta.

   “Tự tri là thấy mình, nhìn thấy tâm trí mình từ giây phút này đến giây phút  khác trong lăng kính của tương giao tương hệ của mình đối với tài sản, đối với những sự việc, đối với con người, đối với những ý tưởng… (…) Đây là việc chính yếu: khi mà tôi chưa hiểu được mình, tôi không thể có được căn bản để suy tư, và tất cả sự tìm kiếm của tôi chỉ là vô vọng hão huyền. (…) Chính sự kiện ý thức trực tiếp về hiện thể (cái đang là) là chân lí rồi. (…) Đừng phân tích tâm thức để tâm trí tĩnh lặng.” (Jiddu Krishnamurti – danh nhân giác ngộ. “Tự do đầu tiên và cuối cùng”; dịch giả: Phạm Công Thiện).

   “Ngộ là ngộ bằng trí tuệ, và trí tuệ phát ra từ ý chí – ý chí muốn tự tri tự giác, và tự thực hiện trong chính nó. (…) Ta nên ghi nhận, cái bị huỷ diệt ở đây là cái già và cái chết, chứ không phải cái sống; vì chính xuyên qua giác ngộ cái sống ấy, lần đầu tiên, khôi phục lại tinh thần tự do và tinh lực sáng tạo nguyên thuỷ.”  (Daizets Teitaro Suzuki. “Thiền luận-quyển thượng”; dịch giả: Trúc Thiên).
   “Theo Đạo học Đông Phương, tâm là một bản thể tĩnh lặng. Tâm như bầu trời là một khoảng trống mênh mông, không màu sắc, không tiếng động, không quá khứ, không tương lai. Trong khi đó tư tưởng như những đám mây vần vũ, luôn luôn di chuyển, thay hình đổi dạng, và che khuất bầu trời. Người chứa đầy tư tưởng trong trí óc cũng như bầu trời bị mây phủ dầy đặc. Như vậy tâm vốn an tịnh, mọi rắc rối đều bởi trí óc mà ra. Chúng là tiến trình của những chuỗi tư tưởng đến rồi đi. Do đó tư tưởng chỉ là cái nhất thời. Chúng không phải là ta, nhưng là những kẻ bên ngoài tới rồi đi như những vị khách. Ta đón nhận chúng, khách tốt lẫn khách xấu, nhưng không thay đổi vị thế chủ nhà của mình. Có nghĩa là trí biến dịch nhưng ta vẫn tồn tại ở đây với tâm thanh khiết và đơn thuần. Vén mây để nhìn vào bầu trời, đặc ngữ thiền gọi là “quán tâm” (nhìn vào nội tâm). Nhìn ra sự thanh khiết của bầu trời (tâm) gọi là “ngộ” (trực giác biết không qua trí thức). Muốn nhìn vào bên trong tâm, đơn giản chỉ là ngồi im lặng gạt bỏ mọi tạp niệm, tức ngồi thiền. Thiền là đẩy những đám mây mù đặc để bầu trời (tâm) yên tĩnh hiện ra.” (Đỗ Trân Duy – nhà nghiên cứu Kitô giáo. “Thiền Kitô giáo”).
      “Nhược ngộ tịch vi lạc / Thử sinh nhàn hữu dư.” (Nếu ngộ tịch là lạc / Đời này nhàn có dư).   (Vương Duy - thiền thi sĩ).

  13. Tu tập thăng hoa trí tuệ tâm linh mang năng lượng tích cực; thiện ích cho tất cả chúng sinh, cho toàn vũ trụ, cho sự nghiệp giác ngộ chung.

    E.Mun-đa-sep (“Chúng ta thoát thai từ đâu”) cho chúng ta có ý niệm về vấn đề này. Nhà bác học này viết: “Thế giới vi tế tức thế giới năng lượng tâm thần (thế giới tần số siêu cao) phải có sự chuyển đổi qua lại, và có mối quan hệ tương hỗ với thế giới vật thể theo kiểu năng lượng sóng chuyển sang dạng vật chất và ngược lại. Nói một cách khác, phải có vật chất hoá ý nghĩ và phi vật chất hoá vật thể thành ý nghĩ. Các nhà vật lí thường nhấn mạnh ý nghĩ có tính vật chất, và hình như điều đó đúng.”

   Ông viết tiếp: “Trước mắt, nền văn minh của chúng ta còn chưa biết sử dụng năng lượng vũ trụ. Mà năng lượng đó lại rất to lớn. Một số nhà vật lí học hiện đại cho rằng, một mét khối Tuyệt đối có tiềm lực năng lượng bằng công suất 40.000 tỉ quả bom hạt nhân.(…) Mà chỉ có con người mới nắm được năng lượng này, bởi con người chính là tiểu vũ trụ của đại vũ trụ. (…) Để nắm được năng lượng vũ trụ, người Lê-mu-ri đã sử dụng các phương pháp vốn có ở Cõi kia. Cơ sở của các phương pháp đó (thời nay nghe thật lạ tai) là các khái niệm giản đơn: “thiện” và “yêu thương”.

   Tác giả “Trí tuệ nổi trội” nói: “Các nghiên cứu tại trường Đại học Stanford đã chỉ ra rằng thông qua suy nghĩ, chúng ta có thể gây ảnh hưởng tới huyết áp và nhịp tim của một người ở cách xa chúng ta. Còn các nhà khoa học tại trường Đại học Princeton đã chứng minh được quá trình trao đổi thông tin giữa hai người ở cách xa nhau hàng nghìn dặm.”

   Những hiện tượng được trình bày ở trên không khó hiểu, bởi vì cơ học lượng tử đã cho thấy rằng: “Thế nên thuyết lượng tử trình bày cho thấy thể thống nhất của vũ trụ. Nó cho ta thấy rằng không thể chia chẻ thế giới ra từng hạt nhỏ rời rạc độc lập với nhau. Khi nghiên cứu sâu về vật chất, ta sẽ biết thiên nhiên không cho thấy những “hạt cơ bản” riêng lẻ, mà nó xuất hiện như một tấm lưới phức tạp chứa toàn những mối liên hệ của những phần tử trong một toàn thể. Những mối liên hệ này gồm luôn cả người quan sát. Con người quan sát chính là mắt xích cuối cùng của một chuỗi quá trình quan sát, và tính chất của một vật thể nguyên tử chỉ có thể hiểu được trong mối quan hệ giữa vật được quan sát và người quan sát. Điều đó có nghĩa là hình dung cổ điển về một sự mô tả khách quan thế giới tự nhiên không còn giá trị nữa.” (Đạo của vật lí; F.Capra).

  14. Tự tri là soi sáng, là thấy biết cái “tôi”; thiền định tự tri là hành động tích cực để giải thoát khỏi trạng thái bị khuôn đúc của trí não, để giải thoát khỏi tình trạng kiến chấp vô minh.

   Để rõ hơn về tình trạng vô minh của trí não, xin nêu một phát biểu trong Vật Lí Lượng Tử Và Ý Thức (tác phẩm Trí Tuệ Nổi Trội). Phát biểu của ngài Deepak Chopra, tiến sĩ y khoa, từng giảng dạy ở Đại học Boston (Mĩ):

  “Một vài năm trước đây, một thí nghiệm với các con mèo con đã được các nhà khoa học tại Trường y khoa Harward thực hiện. Ngay từ khi sinh ra, người ta đã nuôi một số mèo trong một khu vực sơn bằng các vạch kẻ ngang; tất cả các tác nhân kích thích thị giác trong môi trường của chúng đều nằm ngang. Một nhóm khác được nuôi trong một khu vực với các vạch kẻ sọc thẳng, và đó là tất cả những gì mà chúng có thể nhìn thấy. Khi những con mèo này lớn lên, trở thành những con mèo già khôn ngoan; còn những con mèo chỉ tiếp xúc với những vạch ngang thì chỉ nhìn thấy thế giới nằm ngang, ví dụ như chúng va đụng vào những chân đồ đạc như thể những cái chân này không có ở đó. Những con mèo được nuôi dưỡng trong thế giới thẳng đứng cũng gặp vấn đề tương tự với thế giới ngang. Lẽ đương nhiên những điều này không có gì liên quan đến hệ thống lòng tin ở những con mèo này. Khi người ta nghiên cứu trí não của chúng, một nhóm mèo sẽ không có sự nối kết liên thần kinh để nhìn thấy thế giới ngang, còn nhóm kia cũng không có sự nối kết liên thần kinh để nhìn thấy thế giới thẳng đứng. Sự trải nghiệm giác quan ban đầu của những chú mèo này và cách thức chúng hiểu sự trải nghiệm đó theo nhận thức của chúng ngay từ những ngày đầu mới sinh khi thị lực của chúng phát triển, đã thực sự hình thành sự phân tách hệ thần kinh của chúng. Rốt cục, những chú mèo này chỉ nhận biết được những gì mà người ta đã tạo ra cho chúng và chúng nhận biết được lập tức.

   Một số nhà tâm lí học đã có thuật ngữ rất thú vị về hiện tượng này - họ gọi nó là “sự cam kết nhận thức sớm”. Sớm là vì chúng ta tiến hành việc này ngay từ giai đoạn đầu cuộc sống của chúng. Nhận thức là vì nó ảnh hưởng đến sự phân tách hệ thần kinh mà chúng ta nhận ra hay nhận biết về thế giới. Và sự cam kết là vì nó cam kết với chúng ta một thực tế nhất định. Một số nhà khoa học có thể nói với bạn rằng ngay lúc này hệ thần kinh bạn đang sử dụng sẽ tiếp nhận dưới một phần tỉ của các tác nhân kích thích hiện hữu. Các tác nhân kích thích mà hệ thần kinh của bạn tiếp nhận được là những tác nhân tăng cường sự vận động, ý tưởng, cách hiểu của bạn về những gì mà bạn nghĩ là tồn tại ngoài kia. Nếu bạn đã có cam kết với thực tế thì những thứ mà tồn tại bên ngoài khung cam kết sẽ bị hệ thần kinh của bạn loại ra, hệ thần kinh mà bạn sử dụng để tạo ra sự quan sát. Tuỳ thuộc vào loại cơ quan thụ cảm mà bạn có, tuỳ thuộc vào loại hình các sự quan sát mà bạn muốn tạo ra và các câu hỏi mà bạn tự hỏi khi bạn tạo ra những quan sát này, tuỳ thuộc vào tất cả những điều đó, bạn tiếp nhận một phần giới hạn nhất định của thực tế. Rốt cục, hệ thần kinh của con người chỉ có thể tiếp nhận bước sóng ánh sáng từ 400 đến 750 nanomet. Và nếu chúng ta ngẫu nhiên đồng ý với các quan sát từ các giác quan của chúng ta và sự lí giải cho những quan sát này, thì chúng ta đã tạo ra một khuôn khổ cho những lí giải mà chúng ta thống nhất.

   Chúng tôi gọi phương pháp này là “khoa học”. Chúng tôi thường coi khoa học như là một phương pháp khám phá sự thật khi mà trên thực tế, khoa học - như cách nó được kết cấu và hoạt động cho đến nay - thực sự cũng chẳng phải là một phương pháp để khám phá sự thật. Nói đúng hơn, nó là một phương pháp khám phá khung khái niệm hiện tại của chúng ta về những gì chúng ta cho là sự thật. (…)”.

   Qua phát biểu trên, có thể tin hiểu thêm về tình trạng vô minh của tâm trí. Càng vọng tưởng thì càng củng cố kiến chấp vô minh.
   Ngày nay nhiều công trình khoa học đã phát hiện rằng, thiền định và các phương pháp tu tập chân chính làm thay đổi cấu trúc não theo chiều hướng tốt.

  15. Sự chứng ngộ xuất sinh từ khát vọng giác ngộ vì tự lợi-lợi tha tối thượng; chứng ngộ là sự đột chuyển (chuyển y) ở tâm thức: ánh sáng tâm phi thời gian (tâm thấy biết vô niệm vô ngôn) hiện tiền và soi sáng mọi tạo tác, mọi sáng tạo.

   Đọc trong Pháp Bảo Đàn Kinh (Lục tổ Huệ Năng; dịch giả: Thích Thanh Từ):

   “Ngài Pháp Hải bạch rằng: Hoà Thượng để lại giáo pháp gì khiến cho những người mê đời sau được thấy Phật tánh?

   Tổ bảo: Các ông lắng nghe, những người mê đời sau nếu biết chúng sinh tức là Phật tánh, nếu chẳng biết chúng sinh muôn kiếp tìm Phật cũng khó gặp. Nay tôi dạy các ông: biết tự tâm chúng sinh, thấy tự tâm Phật tánh. Muốn cầu thấy Phật, chỉ biết chúng sinh; chỉ vì chúng sinh mê Phật, chẳng phải Phật mê chúng sinh. Tự tánh nếu ngộ chúng sinh là Phật, tự tánh nếu mê Phật là chúng sinh; tự tánh bình đẳng chúng sinh là Phật, tự tánh tà hiểm Phật là chúng sinh. (…)”.
 
  16. Nguyện hạnh Đại thừa xuất sinh năng lực gia trì cho tha nhân; năng lực gia trì mang công năng ý giáo nhiệm mầu.

   Một trích dẫn về năng lực gia trì:

   “Được gia trợ bởi năng lực của chư Phật, chư Bồ-tát Ma-ha-tát đang ở cấp độ thứ nhất của mình (sơ địa) sẽ đạt đến Bồ-tát Tam-ma-địa gọi là Ánh sáng đại thừa (phát quang địa), thuộc về chư Bồ-tát Ma-ha-tát.” (Kinh Lăng Già).

  17. Hiện thực giác ngộ mang phẩm tính “tam thân nhất thể” (pháp thân-báo thân-hoá thân); vì thế chứng ngộ Tánh Không không phải là ở trong trạng thái của sự trống rỗng vô dụng, mà chính là Tâm Không-diệu dụng (Chân Không-diệu hữu).

   Chúng ta thưởng thức một đoạn trong Thiền Luận (quyển hạ):

   “Khi quan niệm về “Hoá thân” đó trải qua một cuộc biến thái nữa, Bồ tát đích thực là láng giềng của chúng ta. Ngài Bồ tát ông hay Bồ tát bà cũng đi chợ mua đồ, ngài bửa củi, ngài chép kinh, ngài làm việc trong công xưởng, ngài làm thư kí trong văn phòng; thời xưa bà Bồ tát thậm chí còn làm kĩ nữ.

   Diễn tả theo cách khác, điều này có nghĩa rằng Phật tính (Buddhata) có trong mỗi người chúng ta, trong mọi chúng sinh. Chỉ khi nào nhìn thấy, chúng ta trực nhận Bồ tát trong một hoá thân nào đó của ngài. Khi một Văn Thù, hay một Phổ Hiền, hay một Quan Thế Âm hiện thân trong đẳng cấp xã hội của chúng ta theo kiểu đó, chúng ta gặp ngài Bồ tát ông hay ngài Bồ tát bà mỗi ngày và mỗi nơi trong mỗi bước đường thường nhật của đời sống. (…) Điều cần thiết để ý thức được sự kiện đó, để thấy phải thực hiện ra sao, chính là việc mở ra con mắt Bát Nhã của riêng chúng ta.” (D.T.Susuki; dịch giả: Tuệ Sỹ).

  18. Giác ngộ (ở kiếp này hoặc vào các kiếp sau) là trở về với quê hương tâm linh (tức là trở về với tự tánh nhiệm mầu, ngộ nhập pháp giới); gặp lại vô số bạn lữ giác ngộ; tiếp tục con đường sự nghiệp tối thượng tự lợi-lợi tha.

   Trích dẫn sau đây không phải là nêu lên đúng đắn nội dung giác ngộ, cũng không phải nhằm mục đích nuôi dưỡng vọng tưởng siêu hình, nhưng để có chút cảm hứng giải thoát bớt trạng thái tâm chấp thân-chấp cảnh kiên cố. Đây là trích dẫn về một hiện tượng tâm linh kì bí mà Eduard Sagalayev, một nhà khoa học lớn của Nga, đã trải nghiệm:

   “… Và đột nhiên, trong một khoảnh khắc không ngờ, tôi thấy chính bản thân mình từ một góc độ bên ngoài (như nhìn một người khác). Tôi thấy tôi đang ngồi ở ghế và nghe nhạc. Sau đó, tôi bắt đầu thấy rộng ra. Thấy rõ ràng tất cả những gì xảy ra trong các căn phòng khác, ở các căn hộ khác của toà nhà chung cư ấy, rồi thấy rõ tất cả mọi thứ trên một đường phố gần đó. Tôi nhận thấy mình ở một kích thước hoàn toàn khác của thực tại. (…)

    (…) Tôi vẫn tiếp tục “bay đi”. Tâm trí của tôi đã mở rộng ra rất nhiều và tôi cảm thấy mình không chỉ trong một số không gian đa chiều, mà hiện hữu trong một thế giới đặc biệt – nơi mà thiên hà của chúng ta trở nên ít bụi tinh vân hơn nhiều, so với các vùng khác. Tôi cảm thấy cõi đó rất tốt, thật ấm áp và chính tại nơi đó, tôi đã gặp lại người mẹ quá cố từ lâu của mình. Tôi không nhìn thấy rõ khuôn mặt của bà, nhưng chúng tôi đã nói chuyện với nhau – không phải bằng những từ ngữ, mà bằng thông điệp trong tim. Tuy nhiên, tôi vẫn cảm thấy rõ rệt cùng lúc có hai nơi: trong căn hộ của người bạn và đồng thời, trong một thế giới chứa đầy năng lượng tốt lành và tràn ngập các thông tin – nơi có hàng tỉ linh hồn con người đang bình an cư trú. Tới lúc chợt nhận ra mình đã “Trở về bản thân mình” thì thời gian ước tính đã qua mười lăm phút… Sau sự kiện đó tôi đã từ bỏ thói hư tật xấu không chút khó khăn mà nếu như trước kia, tôi vẫn không đủ nghị lực để từ bỏ. (…)” (T/c Tài Hoa Trẻ số 616/2010; Hoa Cương dịch theo Pravda).

  19. Khi không ý thức cái “tôi”, khi vô minh và ảo tưởng ngã chấp còn làm chủ hoàn toàn tâm trí, thì không thể có nhãn quan minh triết và đạo đức nhân văn đích thực.

   “Muốn chuyển hoá thế giới, chuyển hoá sự khốn khổ, chiến tranh, nạn thất nghiệp, nạn đói, sự phân chia giai cấp và tất cả sự hỗn loạn khắp nơi thì chúng ta phải chuyển hoá chính bản thân mình. Cuộc cách mạng phải bắt đầu được nhóm dậy trong chính tâm tư mình, chứ không phải lệ thuộc vào bất cứ tín ngưỡng hay ý thức hệ nào (…)”. (J.Krishnamurti; “Tự do đầu tiên và cuối cùng”). 

  20. Không có người nào không chất chứa phiền não, không có người nào không có tâm xấu ác, vì thế rất cần có Ngày quốc tế “tự tri-tỉnh thức-vô ngã” để định hướng cho văn hoá-giáo dục, để đánh thức tâm trí con người, để xây dựng mẫu số chung cho ý nghĩa cuộc sống.

   Tham khảo tác phẩm danh tiếng Chúng Ta Thoát Thai Từ Đâu: “Thầy Đa-ram nói: Năng lượng linh hồn là năng lượng ở ngoài electron và ngoài proton. Nhưng tâm năng mạnh mẽ vô cùng, nó có khả năng tác động lên lực hấp dẫn. Năng lượng của nhiều tâm có một sức mạnh lớn lao. Có tâm năng tích cực và tâm năng tiêu cực, chúng gắn liền với nhau.(…) Tâm năng tiêu cực (xấu ác) có thể thu hút các đối tượng phá phách của vũ trụ, tác động lên thiên nhiên. Bởi vậy, cùng với xung đột và chiến tranh, khá thường xuyên xảy ra động đất, rơi thiên thạch…

    (…) Chúng ta cần nhớ rằng, lòng thiện và tri thức sẽ thúc đẩy quá trình hiện  thực hoá dự báo tích cực về sự phát triển của loài người; còn cái ác và thói hám quyền có thể dẫn đến thảm hoạ toàn cầu trong tương lai, kể cả ngày tận thế, hoặc tạo điều kiện phát triển yếu tố thụt lùi, dẫn đến hoá hoang.

    (…) Tôi tin rằng, trong tương lai, những lực lượng tích cực trên Trái đất sẽ áp đảo lực lượng tiêu cực và sẽ không có thảm hoạ toàn cầu.” (E.Mun-đa-sép).

                                                             4/7/2012
Tuệ Thiền (Lê Bá Bôn)
READ MORE - GỢI Ý VỀ MINH TRIẾT TÂM LINH VÀ CUỘC SỐNG (tt) - Tuệ Thiền (Lê Bá Bôn)

Thursday, July 12, 2012

TẦM VÓC LÀNG HƯNG NHƠN - Nguyễn Thanh Xuân

Đồng làng Hưng Nhơn - Ảnh Ng. Như Khoa


    Vóc dáng và tâm hồn người làng
  
      Nhìn cơ ngơi làng Hưng Nhơn, người ta dễ nhận ra người khai sinh và hậu duệ của họ có tầm nhìn rộng và khoáng đạt. Không phải một sớm một chiều mà đã trải qua 500 năm gây dựng, từ một vùng hoang vu đầy lau sậy, mênh mông nước và nước, nhờ có những tâm hồn nhạy cảm, biết dung hoà trong những diễn biến phức tạp của cuộc sống mới có được bức tranh quê hương hài hoà và lộng lẫy như hôm nay.
  
    Bước vào đầu làng:

-         Một nhà thờ thờ các vị khai canh Làng
-         Một ngôi chùa thờ Phật
-         Một nhà thờ Thiên Chúa giáo
-         Một nhà thờ Văn Thánh (còn phế tích)
     Dọc con đường cái thẳng tắp cứ cách 30 – 50m ưu tiên đặt địa điểm làm nhà thờ của các Họ, các Nhánh.
  
    Đến cuối làng:
    Miếu thờ Ngài Nguyễn Quí công Võ Địch Đại Tướng Quân. Ngài là một trong ba anh em khai canh họ Nguyễn, họ xếp thứ hai khai canh Làng.
    Làng có một miếu thờ ngài Trần Quí Công (tục xưng Ngài Đèn), nhưng nay không còn (tôi chưa rỏ nguyên nhân)
    Phía sau, nơi đắp hậu bạng làm luỹ “cây” kiên cố chống bão lũ bảo vệ cho khu dân cư. Đồng thời ở đó, xây một nơi thờ vong linh các cô hồn và cũng là tổ ấm của họ, có tên là Âm Hồn nhìn ra một vùng Nghĩa Địa của Làng để cô hồn thuận tiện :
Nghe gà gáy tìm đường lẫn trốn
Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra
Lôi thôi ẵm trẻ dắt già
                    …………………
                       (Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du)

     Nhìn chung bức tranh làng ta thực hài hoà: ĐỜI- ĐẠO-ÂM-DƯƠNG, một mối tương quan cộng đồng khăng khít, nương tựa nhau để vươn lên trong cuộc sống. Thât đáng tự hào!
    
     Có được như trên, trước hết ta thấy nét gốc văn hiến đã có từ khi các ngài từ đất Hoan Châu Nghệ An vào lập làng và các hậu duệ điều chỉnh trong quá trinh sinh sống mà trong đó chính là các sĩ phu như ngài Võ Địch Đại tướng Quân, võ tướng phò tá Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng năm 1558; ngài Trần Quí Công - tục xưng "Nghè Đèn" Thí Trung Văn Thức Hàn Lâm năm Ất Mùi,1715. Ngài Thượng Thư Tuyết Quang Hầu Nguyễn Đức Mậu (1); Ngài Thượng Thư Chính Trực Hầu Nguyễn Đức Kỳ (2); Ngài Bố chánh Nguyễn Đức Trứ; ngài Viên ngoại lang Nguyễn Đức Giản; ngài Tri phủ Nguyễn Đức Dĩnh…và bao thế hệ nho sinh, bao thế hệ chức sắc trong làng, đã để lại một bề dày trí tuệ, giữ nét đẹp văn hoá cộng đồng quê hương đáng khâm phục và tự hào với nhận định của Thượng Thư Dương Văn An cách đây hơn 500 năm trong Ô châu Cận lục “Vĩnh Hưng có chí chuộng văn”.“Giáo hóa thịnh hoài!

      (1) (2) Dân làng gọi hai Ngài là già Cha và già Ông để nhớ ơn hai Ngài nuôi dân làng Vĩnh Hưng (Hưng Nhơn) thoát khỏi nạn đói khủng khiếp năm Giáp Ngọ 1774.

     Tôi lấy một việc làm rất nhạy cảm của các cụ Nho sinh, bô lão và dân làng:
     Cuộc CM năm 1945, nhà nước VNDCCH dùng chữ Quốc ngữ làm ngôn ngữ giao dịch trong nước cũng như quỗc tế. Ngay  sau đó, các cụ đã lập tức dịch các giấy tờ trước đây là chữ Hán sang chữ Quốc ngữ, chú trọng trước tiên là Tộc phả, gia phả. Tôi thiết nghĩ nếu không có trình độ Nho học cao như các ông Nguyễn Đức Hà, Nguyễn Đức Ngạn, Lê Văn Phổ, Lê Ngọc Ký, Nguyễn Đức Thâm, Trần Văn Châm… và những học trò học giỏi Quốc ngữ như Nguyễn Đức Phụng (Trịnh), Nguyễn Hữu Quế, Nguyễn Như Lãm, Nguyễn Đức Dương, Lê Văn Phố… với tri thức phong phú, thông minh và nhạy bén đã khẩn trương dịch thuật chính xác chép ra chữ quốc ngữ rất tỉ mỉ công phu và chu đáo trong năm 1946.
     Cuối năm 1946 mặt trân Huế vỡ và chiến tranh liên miên, nếu không làm xong trong năm 1946 liệu biết khi nào làm được? Nói để biết cho hay thôi: hiện nay có một số làng đang nhờ (thuê) Viện Hán Nôm làm việc này, bởi các cụ Nho xưa trong làng đã qui tiên cả rồi.

    Đối với vùng ta, khi tôi ở ngoài Bắc được biết là “vành đai trắng”, nghĩa là không một tấc đất không bị cày xới, không một ngôi nhà còn nguyên vẹn, mà thực tế phía VNCH đã làm như vậy, thêm vào lũ lụt triền miên thế nhưng các bô lão cùng con cháu một lòng vì công đức cao dày của tiên tổ mà đã tìm cách cất dấu, di chuyển, bảo quản còn nguyên vẹn các tập gia phả, tộc phả và các sắc tặng của Triều đinh của các ngài khai canh và các vị có công trạng với quốc gia.
  
     Trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, quê ta ở trong thế cài răng lược và cả khi phân chia hai miền, dù ở bên nào, người dân hiền lành quê ta không có người làm điều ác. Phải chăng tâm hồn hướng thiện đã được “gen” di truyền của cha ông để lại.
  
     Những cô gái làng nết na sáng, đẹp lấy chồng trong làng hay lấy chồng làng khác sao mà giống các cô gái làng khác đến làm dâu làng mình. Dáng e thẹn rụt rè ban đầu, khi đã có con và nhất là khi có cháu, họ nhảy lên làm chủ gia đình tự lúc nào, nội trị ngoại giao họ rất sành sỏi…Có lẽ vậy mà người đàn ông làng Hưng Nhơn và người đàn ông làng khác lấy vợ người Hưng Nhơn đều có dáng sang (giàu vì bạn sang vì vợ). Ví dụ như các mụ: mụ Ấm Năm người làng lấy chồng Phước Tích, mụ cửu Liên người Hoà Viện lấy chồng Hưng Nhơn và mụ Thừa, mụ lý Thuỵ, mụ Lý Hà, mụ Thất Chiểu, mụ thất Cẩn, mụ cửu Kiến… nhiều thật là nhiều không kể hết. Các Mụ rất sắc sảo và đôn hậu.
    Chúng ta thấy rất rỏ hầu hết các chị có chồng đi tập kết ngoài Bắc đều kiên trinh ở vậy chờ chồng, nuôi con. Thương quá, những người chưa có con cũng đợi chồng không tin tức suốt cả hai mươi mốt năm tuổi trẻ. Biết lấy gì tri ân những tấm lòng vàng ấy hỡi Quê Hương?

---***---***---***--

   Nói gì thì nói, chiến tranh là đau thương, là nát tan, nhất là vành đai trắng quê ta. Ý thức rằng mất mát là không tránh khỏi. Sau khi thống nhất đất nước, với tâm hồn nhạy cảm và cần cù có sẵn, bà con đã đồng cam cọng khổ vượt qua những năm thiếu thốn nhất, nhanh chóng ổn định, xoá nghèo và thực sự đang giàu lên! Đang giàu lên! Phải không quê ta ơi!
        Xem xem: Hưng Nhơn, phía đầu làng trước kia có cầu nhưng bây giờ “chê” nhỏ, bắc cầu mới chịu trọng tải trên vài chục tấn, cuối làng một cầu bê tông vĩnh cữu bắc qua bờ Nam (Thừa Thiên Huế)  Không dám khoe với thành thị, khiêm tốn rằng: có đường bê tông 4,5 m láng bóng, thẳng tắp đi sâu vào từng ngõ, từng nhà; có trường cao tầng thu dụng hết con em đến độ tuổi đi học; có nước sạch nông thôn; có hố xí tự hoại; đặc biệt có chợ đông đúc, hàng hoá thoải mái mua sắm, nhất là thức ăn: ăn sáng mua sáng, ăn chiều mua chiều, không dùng thức ăn hâm lại. (Tuy là chợ Hưng Nhơn, Hải Hoà nhưng chung cho cả bờ Nam vùng Phong Điền, TTH, nên đông lắm, đông lắm).
 
    Các tổ chức Chính quyền và Đoàn thể vững mạnh, các bô lão nhàn nhã trong y phục truyền thống chăm lo hương khói đền thờ miếu mạo, thiện nam tín nữ cũng như các tín đồ Thiên chúa giáo vui vẻ đến Chùa, đến Nhà thờ niệm tâm tín ngưỡng. Thật là  tự do thoải mái và yên bình trong tâm tưởng.
    
    Con em ở làng như Nguyễn Như Khoa, Nguyễn Thị Thi Thơ và Lê Ngọc Quốc người làng đang cư trú ở thành phố Biên Hoà Đồng Nai có blogspot thường xuyên và kịp thời đưa hình ảnh và bài viết về quê hương, người làng dù ở xa đều được biết những đổi thay của làng mình, để phấn khởi và tự hào. Phần tôi rất hoan nghênh và cám ơn ba bạn, vì tuy ở xa nhưng biết ngày lễ Thanh Minh, ngày khánh thành cổng chùa, ngày Thanh niên tình nguyện đi Hải khê, TN tình nguyện ra đồng ruộng, xây trường Tiểu học mới 600m2, ngày VTV do MC Quyền Linh tố chức “Vượt lên chính mình” v.v…
   Tôi khoe những hình ảnh quê nhà với bạn đến chơi, họ thừa nhận: Hơn ở đây…hơn ở đây!
    Bất giác: “Thế mà mình phải xa quê!”


Nguyễn Thanh Xuân
                         
    Email: nhuxuan29@gmail.com



READ MORE - TẦM VÓC LÀNG HƯNG NHƠN - Nguyễn Thanh Xuân

Tuesday, July 10, 2012

Tuệ Thiền (Lê Bá Bôn) - GỢI Ý VỀ MINH TRIẾT TÂM LINH VÀ CUỘC SỐNG


Bài văn vần và phần đọc thêm:

Bài văn vần:

NGỌN GIÓ MÁT LÀNH


1.
Giữa trưa hè nóng bức
Bác nông dân mệt nhoài
Giọt mồ hôi cơ cực
Dưới mặt trời trần ai

Chợt ngọn gió mát lành
Cứu khổ bác nông dân
Bác lấy lại sức sống
Mỉm cười với đồng xanh…

2.
Giữa cuộc đời bể khổ
Đầy gánh nặng thị phi
Lửa vô minh thiêu đốt
Hừng hực tham sân si

Chợt ngọn gió Chánh pháp
Làm mát dịu tâm hồn
Lời minh triết mầu nhiệm
Cứu khổ chốn trần gian…

Ai sống thật với đời
Mà lòng không thao thức?
Ai thương xót phận người
Mà quên nguồn Chân Phúc?

              (Văn vần-2012)

      ****
      Phần đọc thêm:
                   
      GỢI Ý VỀ MINH TRIẾT TÂM LINH VÀ CUỘC SỐNG

                                                             
   (Mong được độc giả đọc các phần làm đậm chữ trước khi đọc toàn bài, để có thể góp phần khêu  gợi một cái nhìn nhất quán.
   Ngày nay có nhiều nhà khoa học xiển dương các giá trị của tôn giáo, vì thế tôi xin trích dẫn một số quan điểm của vài vị. Ngoài ra, còn có một số trích dẫn khác. Các trích dẫn chỉ nhằm mở rộng tham khảo).

   1. Vũ trụ là biểu hiện của tâm (tinh thần); tìm hiểu về minh triết tâm linh là việc làm vô cùng cần thiết để nâng cao chấtlượng-thực của cuộc sống.

   Tôi tin rằng vũ trụ là biểu hiện của tâm (“Tam giới duy tâm”- Kinh Lăng Già). Một số nhà khoa học đương đại cũng tin như vậy.

   “Vũ trụ mà tôi và bạn thể nghiệm bây giờ, với cây cối, nhà máy, con người, nhà cửa, xe cộ, hành tinh và các thiên hà, chính là ý thức biểu hiện ở một tần số đặc biệt nào đó.” (Deepak Chopra - tiến sĩ y học; được tạp chí Time bình chọn là một trong 100 anh hùng và biểu tượng của thế kỉ XX. “Sự sống sau cái chết-gánh nặng chứng minh”; dịch giả: Trần Quang Hưng).

   “Tôi tuyệt đối tin rằng sự sống vật thể trên trái đất đã được tạo ra bằng cách hồn cô đặc dần. Mọi học lí cho rằng, sự sống trên trái đất xuất hiện do những phân tử phức tạp tự phát sinh và cô đọng thành những cơ thể sống, không vững vàng, xét cả trên quan niệm tôn giáo lẫn quan niệm vật lí học và hoá học hiện đại.” (E-rơ-nơ Mun-đa-sép – giáo sư tiến sĩ y học, nhà bác học tên tuổi quốc tế. “Chúng ta thoát thai từ đâu”; dịch giả: Hoàng Giang).

   2. Nên hiểu về Thượng Đế theo quan niệm: Thượng Đế là chân lí tuyệt đối, là bản thể vũ trụ, là Viên Giác.
  
   “Chúng ta có thể xem Pháp thân (Dharmakàya) tương ứng với ý niệm của Thiên Chúa giáo về đức Chúa Cha. (Daizets Teitaro Suzuki - thiền sư học giả. “Nghiên cứu Kinh Lăng Già”; dịch giả: Thích Chơn Thiện, Trần Tuấn Mẫn).

   “Trên phương diện thực hành tâm linh, niềm tin vào Thượng Đế, đối với một số người, có thể tạo ra một số tình cảm thân thiện với người sáng tạo ra chúng ta và kích thích chúng ta nuôi dưỡng tình yêu và lòng vị tha, để thể hiện lòng biết ơn của mình và để tham gia vào tình yêu của Thượng Đế đối với mọi chúng sinh. Theo một số người khác, sự hiểu biết sâu sắc về sự phụ thuộc lẫn nhau và về các quy luật nhân quả, cũng như mong muốn đạt đến Giác ngộ để có thể giúp đỡ người khác hiệu quả hơn, là những nguồn cảm hứng mạnh mẽ để phát triển tình yêu và lòng trắc ẩn.” (Mathieu Ricard - tiến sĩ sinh học, tu sĩ Phật giáo. “Cái vô hạn trong lòng bàn tay”; đồng tác giả: Trịnh Xuân Thuận; dịch giả: Phạm Văn Thiều, Ngô Vũ).
   3. Mỗi một chúng ta là một sinh mệnh tâm linh; tâm linh vừa mang tính chất cá thể, vừa mang tính chất tổng thể.

   Về vấn đề này, chúng ta tham khảo quan điểm của nhà bác học Nga, E-rơ-nơ Mun-đa-sep (ở tác phẩm đã nêu):
   “Dần dà trong quá trình tiến hoá trong thế giới tế vi xuất hiện đu-khơ - là khối năng lượng tâm thần kết đông dưới dạng các trường xoắn có thể bảo toàn vĩnh cửu trong mình một khối lượng thông tin to lớn. Nhiều đu-khơ tạo thành giữa chúng những mối liên hệ thông tin và tạo ra Không gian thông tin toàn thể, tức Cõi kia(…).
      Liệu con người trong thế giới vật thể có thể sống thiếu Cõi kia không? Sau khi tạo bộ gen và nhờ đó tiến hành quá trình tái tạo con người (sinh đẻ đứa trẻ) trên Trái đất, đu-khơ giữ lại cho mình chức năng tư duy chủ yếu. (…). Sau khi xác thân chết, nhiều bộ phận tạo thành đu-sa (các thể thanh bai) cũng bị phá huỷ, còn lại đu-khơ thì bay về Cõi kia và tiếp tục sống ở thế giới tế vi để rồi lúc nào đó lại bước vào kiếp mới. Vậy là con người, sau khi được tạo ra trong thế giới vật thể nhờ các “nỗ lực” của thế giới tế vi, là sự kết hợp các hình thái sự sống ở thế giới vật thể và thế giới tế vi.”

   4. Tất cả chúng ta đều lưu lạc từ một quê hương tâm linh chung, và quên mất đường về từ nhiều kiếp sống; càng xa quê hương tâm linh thì càng vô minh, bất thiện, gặp nhiều đau khổ  phiền não, trói buộc trong nghiệp chướng.

   Theo nhiều nhà khoa học, quê hương tâm linh của chúng ta chính là Trường ý thức.
   “Trường ý thức là cơ sở của mọi hiện tượng trong Tự nhiên, bởi vì khe hở tồn tại giữa mọi electron, mọi ý nghĩ, mọi khoảnh khắc thời gian. Khe hở là điểm khống chế, sự tĩnh lặng ở tâm của sáng tạo, nơi vũ trụ liên kết mọi sự kiện. (…) Chúng ta cần nhớ nguồn gốc chung của mình. Tinh thần con người suy thoái khi chúng ta hạn chế mình trong một kiếp người và giam trong một thể xác.” (Deepak Chopra – “Sự sống sau cái chết”).
   Trong tôn giáo, có nhiều cách nói về quê hương tâm linh gợi cảm hơn.

   5. Cái chết của thân xác không làm chấm dứt dòng sinh mệnh tâm linh; sinh mệnh tâm linh vô minh vẫn tiếp tục trong vòng sinh hoá luân hồi theo nhân quả (nghiệp báo).
  
   Một viện sĩ khoa học Liên Xô (cũ), ông M.A.Mikhiher phát biểu về vấn đề này như sau (Báo Giáo dục & Thời đại CN 9/3/1997): Mỗi con người là một năng lượng tinh thần trong một vỏ vật chất. Chết chỉ là băng hoại vỏ vật chất, còn năng lượng tinh thần thì tiếp tục luân hồi, tiếp tục vòng phát triển mới.

   Trong “Chúng ta thoát thai từ đâu” (E.Mun-đa-sep) có nói rằng:”Mọi ngưòi đều biết rõ khái niệm karma (nghiệp), tức là các “vết tích” của các tiền kiếp để lại trong đu-khơ. Giai đoạn trần thế ở thế giới vật thể, đu-khơ có thể hoàn thiện mà cũng có thể thoái hoá.”

   Tham khảo thêm D.Chopra (theo sách đã dẫn): “Tiến sĩ Lommel, người lãnh đạo chương trình kinh nghiệm cận tử (…) thẩm tra 344 người bệnh loạn tim trong bệnh viện (tim đáng lẽ đập bình thường thì lại co thắt hỗn loạn). Tiến sĩ Lommel nói chuyện với họ trong vòng vài ngày trong khi họ sống lại và phát hiện ra việc gây mê và các loại thuốc không gây ảnh hưởng kinh nghiệm của họ. Tuy nhiên ông kinh ngạc hơn cả với các báo cáo về ý thức trong khi não không hoạt động. Nhiều năm sau nghịch lí này vẫn khiến ông sợ hãi: “Vào thời điểm đó những người này không chỉ có ý thức; ý thức của họ thậm chí bao quát hơn lúc nào hết. Họ có thể tư duy hết sức sáng suốt, có trí nhớ về tuổi thơ xa nhất và thể nghiệm sự liên kết chặt chẽ với mọi người, mọi vật xung quanh. Và bộ não hoàn toàn không có một chút biểu hiện hoạt động nào”. (…) Có thể là ý thức không nằm trong bộ não. Đó là một khả năng gây sửng sốt, nhưng phù hợp với truyền thống tâm linh cổ đại nhất thế giới. (…) Khoa học trong thời đại vật lí lượng tử không phủ nhận sự tồn tại của các thế giới vô hình. Hoàn toàn ngược lại.”

   6. Sau cái chết của thân xác, nếu linh hồn còn luẩn quẩn ở nơi thờ cúng và chốn mồ mả thì đó là những kiếp sống của linh hồn ngạ quỷ (quỷ đói).

   Kinh Thủ Lăng Nghiêm có nói rõ điều này.
   Bà Phan Thị Bích Hằng, một nhà ngoại cảm nổi tiếng, cũng có đề cập và khuyên thân nhân nên tổ chức tụng kinh, cầu nguyện trợ lực cho các linh hồn cõi khổ được siêu thăng.

   Trong “Sự sống sau cái chết” (D Chopra) có nói rằng: “Những linh hồn bấn loạn mắc kẹt giữa hai thế giới, và nếu những người thương yêu bị bỏ lại cứ cầu nguyện gọi hồn, cứ đau khổ, hoặc toan tính tiếp xúc với người đã mất, linh hồn sẽ tiếp tục xốn xang.”

   7. Sự sống của chúng sinh là một diễn trình gieo nhân-gặt quả của hành vi thân khẩu ý (diễn trình của nghiệp), trong đó tính chất tâm ý là trọng tâm.

   “Có thể nói rằng gien nghiệp là cái do chính mỗi người tự tạo cho mình. Khi một người chết đi, thân thể vật lí của người ấy tan hoại, nhưng cái nghiệp ấy vẫn tiếp tục di truyền qua nhiều đời sống của người ấy”. (Nguyễn Chung Tú – giáo sư tiến sĩ vật lí. “NS Giác ngộ số 17/1997”).

   Tham khảo thêm một đoạn trong “Sự sống sau cái chết” (Chopra):
   “Tiếp theo, như người chết đuối nhìn thấy cả cuộc đời mình trôi qua trước mắt, nghiệp của một người bung ra như chỉ gỡ khỏi suốt, và các sự kiện của cuộc đời này diễu ngược lại qua màn ảnh của tâm trí. Bạn thể nghiệm lại tất cả các thời điểm trọng đại từ khi sinh ra, chỉ có điều lúc này rất sinh động và rõ ràng khiến bạn nhìn thấy chính xác từng thời điểm có nghĩa gì. Cái đúng và sai cũng hiển hiện rõ ràng, không có sự tha thứ hay những giải thích duy lí. Bạn chịu trách nhiệm cho mọi điều đã làm.”

   8. Con người cần biết học tập (có thể tự học) ở các tôn giáo thánh thiện và các minh triết tâm linh để tu chỉnh tâm ý; cần biết hướng về quê hương tâm linh (có thể có nhiều tên gọi khác nhau) để giảm bớt nghiệp chướng phiền não, tăng trưởng trí tuệ tâm linh (trí tuệ siêu việt).

   Einstein, một tên tuổi bác học hàng đầu, từng nói rằng: Khoa học không có tôn giáo là khoa học khập khiễng.
   Qua phát biểu đó, cho thấy ông nhận thức được giá trị minh triết và nhân văn lớn lao của các tôn giáo thánh thiện.

   Nhà bác học Nga nói trong “Chúng ta thoát thai từ đâu”: “Sự sống và cái chết thay đổi luôn là để nhanh chóng thay con người độc ác, ích kỉ và hám danh bằng một người khác với hi vọng, sau khi con người ở Cõi kia bị thần linh “trừng phạt” sẽ đầu thai tái sinh trở thành người tốt hơn, thiện hơn. Vì vậy có lẽ huyền thoại  về địa ngục và thiên đường có cơ sở.” Và : “Nền khoa học hiện đại đã đạt tới tầm mức nhận thức được tôn giáo và hiểu rằng, học thuyết con người phát sinh từ con khỉ của Đác-uyn quá thô thiển, còn tôn giáo chẳng là cái gì khác ngoài một cách trình bày phóng dụ tri thức của các nền văn minh cổ đại.”

   9. Giác ngộ là soi sáng cái “tôi” và chuyển hoá thành trạng thái vô ngã, nhất thể; giác ngộ là từng bước trở về với sự sống vĩnh hằng bất sinh bất diệt; tuỳ cường độ giác ngộ mà có các phẩm chất tâm linh mang năng lượng tự lợi-lợi tha khác nhau.

   “Mặc dù các trường phái đạo học phương Đông khác nhau về nhiều chi tiết, nhưng tất cả đều nhấn mạnh đến tính nhất thể của vũ trụ, đó là điểm trung tâm của mọi giáo pháp. Mục đích cao nhất của kẻ tầm đạo - không kể Ấn Độ giáo, Phật giáo hay Lão giáo - là luôn luôn tỉnh giác về sự nhất thể và về mối tương quan của mọi pháp, vượt lên khái niệm về một cái ngã độc lập, và tự hoà mình vào “thực tại cuối cùng” đó. Sự tỉnh giác này - có khi gọi là “giác ngộ” - không phải chỉ là một tiến trình hiểu biết mà là một kinh nghiệm tự nếm trải, kinh nghiệm này chiếm toàn bộ thân tâm hành giả và vì thế có tính chất tôn giáo.” (Fritjof Capra – giáo sư vật lí ở các đại học danh tiếng Anh, Mĩ. “Đạo của vật lí”; dịch giả: Nguyễn Tường Bách).

   “Đâu là miếng đất thuần nhất bất nhị (non-dualism) để ta được nghỉ yên trong vui tươi và hạnh phúc? Xin dẫn lại lời Eckhart: “Có lắm người tưởng rằng ta phải thấy Chúa y như Chúa đứng bên này, còn ta đứng bên kia. Đâu phải vậy. Chúa với tôi chỉ là một trong động tác thấy Chúa của tôi”. Chính trong cái “chỉ là một” tuyệt đối ấy Thiền đặt căn bản cho đạo pháp. Khái niệm “chỉ là một” không thuộc độc quyền của Thiền; nhiều tôn giáo, triết học khác cũng giảng chung giáo lí ấy.” (Daizets Teitaro Suzuki. “Thiền luận-quyển thượng”; dịch giả: Trúc Thiên).

 10. Để góp phần cải thiện sức khoẻ, hạnh phúc và nâng cao mọi chất lượng tâm linh-cuộc sống, để góp phần vào sự chứng ngộ Chân Tâm vô ngã, xin giới thiệu bài Hơi Thở Minh Triết (của tác giả).

                                   HƠI THỞ MINH TRIẾT
         (Bài vè thực hành)
                                       
Thở vào, cảm nhận hơi vào
Thở ra, cảm nhận hơi ra
Chú tâm lắng nghe hơi thở
Vọng tâm vọng tưởng dần xa

Toạ thiền hoặc không toạ thiền
Miễn sao ngồi thật an nhiên
Thở đều, hơi dài và nhẹ
Vơi bao nghiệp chướng ưu phiền

An định: dễ thấy cái “tôi”
Cái khuôn tâm não tháo lơi
Tự tri là gốc minh triết
Tỉnh thức vô ngã chiếu soi

Thở vào, cảm nhận hơi vào
Thở ra, cảm nhận hơi ra
Chú tâm lắng nghe hơi thở
Trí tuệ tâm linh thăng hoa

Y học có nhiều chứng minh
Công năng của hơi-thở-thiền
Nhân điện điều hoà cơ thể
Năng lượng vũ trụ diệu huyền

Vật lí có nhiều chứng minh
Tâm năng của hơi-thở-thiền
Lan toả duyên lành vô tận
Thiện ích khắp nẻo chúng sinh

Thở vào, lắng nghe hơi vào
Thở ra, lắng nghe hơi ra
Dần dần biết nghe vọng tưởng
Chân Tâm cực lạc khai hoa…

   “Tự tri-tỉnh thức-vô ngã” là đạo lí của vũ trụ, là mẫu số chung của ý nghĩa cuộc sống, là Thiền; mang năng lượng tích cực có lợi cho toàn vũ trụ, cho sự thăng hoa trí tuệ-tâm linh chung của tất cả”.          
   “Tự tri-tỉnh thức-vô ngã” là minh sư vĩ đại nhất của chính mình”.
   (Đường Về Minh Triết; Tuệ Thiền (Lê Bá Bôn); Docx.vn).


(Còn tiếp)
READ MORE - Tuệ Thiền (Lê Bá Bôn) - GỢI Ý VỀ MINH TRIẾT TÂM LINH VÀ CUỘC SỐNG

LỐI CŨ TA VỀ - Nguyễn Thị Tuyết Mai



Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai
Nguyên giảng viên ĐHKH Huế
Chủ biên Tập san HQN - Nguyễn Hoàng, TP.HCM

         Đã nhiều lần tôi về thăm Quảng Trị nhưng chưa lần nào tôi thấy hạnh phúc và vui như lần này. Trở lại Sài Gòn gần hơn nửa tháng rồi mà lòng vẫn nao nao nhớ những hình ảnh bạn bè ngày họp mặt, những giây phút đi cùng nhau  trên chuyến xe 12 chỗ tham  quan những địa danh lịch sử, những sáng chiều chúng tôi đèo nhau trên chiếc xe cộc cạch đi khắp những con đường phủ đầy bóng cây xanh xuyên qua các làng mạc thân thương của quê hương. Lần về quê này tôi quyết tâm tìm hiểu và thưởng ngoạn hết tất cả những gì của mảnh đất mình được sinh ra và lớn lên, để cùng thương cùng nhớ cùng chia vui sẻ buồn khi có ai nhắc đến những khắc khổ cũng như những lớn mạnh của quê nhà.  Thời thơ ấu tôi sống hơi khép kín, nên vốn mang tiếng là dân xứ gió Lào cát bụi mà tôi chưa hề biết chợ Sãi có món nem lụi thơm lừng, chưa một lần dừng chân ở chợ Diên Sanh để ăn cháo bột đậm mùi ném ruốc, chưa hề ngắm được bãi cát trắng với hàng dương xanh của Cửa Tùng, Mỹ Thủy... Lần này tôi đã đi hết và bây giờ ngồi đây, giữa đất Sài Gòn xa vạn dặm tôi có thể vẽ bản đồ quê hương Quảng Trị trong tầm tay. Ôi! Hạnh phúc làm sao khi có những ngày tôi đã tắm mình trong không khí dịu ngọt của quê nhà, nơi đó bây giờ không còn nghe tiếng đạn pháo rì rầm ngày đêm mà ngập tràn một màu xanh vui tươi của đất nước hòa bình . Đẹp và quyến rũ lắm bạn ơi. Các bạn hãy cùng tôi đi qua những lối cũ ngày xưa nhé!

                                                               * * *

      Qua 20 tiếng đồng hồ nằm nghe tiếng con tàu  SE6 chạy băng qua bao nhiêu tỉnh thành cuối cùng tôi cũng đến được Đông Hà vào lúc 6 giờ  chiều ngày 3 tháng 8 . Tôi tưởng sau những ngày bị bệnh mình không khỏe kịp để ra dự ngày hội trường, lòng nôn nao quá vì cứ nghe bạn bè réo gọi nên tôi cứ thúc dục cơ thể mình mau mau bình thường bằng những vĩ thuốc kháng sinh kèm với những viên thuốc bổ, những miếng nhung do bạn bè gửi tặng. Cuối cùng tôi cũng kịp dậy đồng hành với ông Phái bằng chuyến tàu trễ nhất trong đêm. Đông Hà hiện ra đã vào tối, không khí mát dịu làm tôi quên hết mệt nhọc của chuyến đi. Có tiếng điện thoại reo khi vừa bước chân đến nhà cô em. Nhà thơ Phan Văn Quang, anh Trần Tích, Y Thi và cậu chú em Nguyễn Đức Tiên mời ra quán Gió Lào ở bờ sông uống cà phê tâm sự, tôi không dám đi vì phải lo chuẩn bị cho ngày mai. Anh Phái không khước từ được nên theo bạn lai rai mãi cả gần hơn tiếng đồng hồ mới về.  Nghe đâu nhóm Trị, Mừng, Liên Hưng, Quang Tuyết cũng đang xôn xao ở một góc nào đó còn nhóm anh Bảo, Thăng, Hạt, Loan . . .  thì đang ở Hương Biển thị xã xưa.

 Sáng sớm hôm sau, ngày 4 tháng 8, tôi vinh dự được cậu chú em  cho quá giang xe vào Quảng Trị tham dự ngày họp mặt. Cậu chú em mời ra mắt bà chị một chầu ăn sáng thật ấn tượng: Cháo đầu heo. Đúng là ấn tượng vì khi ra đi thì ai cũng đồn đãi QT đang có dịch heo tai xanh mà về đây người ta vẫn bình thản ăn và sống, có sao đâu. Và thế là từ  đó vợ chồng tôi cứ ăn thịt heo thoải mái không kiêng cử gì ráo. Ăn sáng xong tôi được xe đưa đến trước cổng trường trung học thị xã Quảng Trị,  dè dặt bước chân vào đất của trường Nguyễn Hoàng xưa, tôi thấy một chút vừa thân quen vừa xa lạ,  xa xa lác đác vài người tìm bạn. Không lẽ mình đi sớm quá, tôi vừa đi vừa cố tìm xem hội trường tổ chức nằm ở đâu, té ra sau ngôi nhà lớn và đang đông nghịt người . Vui quá là vui. Bạn bè thấy tôi reo lên rồi cứ thế kéo nhau ghi hình. Lớp mình đâu, chụp hình. Tiếng Ngọc Lan vừa nói vừa kéo từng người để chụp hình mà có ai chịu đứng yên đâu. Máy đang nháy, chưa nháy thì đã có người ôm, người la … Trời ơi Thủy rồi trời ơi Thảo, Nhụy, Vinh, Thúy, Liễn, Tĩnh và cứ như thế mãi nên bây giờ tấm hình nào rọi ra cũng lộn xa lộn xộn . Tôi vừa là phó nhòm vừa là người trong ảnh nên chạy ra chạy vào lăng xăng hơn. Ai cũng hỏi ông Phái đâu . Trời, ông theo bạn ông, bạn làng, bạn thơ, bạn văn nghệ, bạn học trò của ông, tôi đâu có thì giờ tìm ông trong đám người đông gần cả ngàn thế này. Giờ xem ảnh thấy không có mình, anh cứ bảo sao không thấy anh đâu cả. Cho anh rút kinh nghiệm một lần không sao. Chung quanh mình ai cũng quen quen lạ lạ nhìn nhau cười cười và phải tự giới thiệu tên mới hy vọng ký ức cho nhớ lại.  Tội nghiệp anh Thái Tăng Trai, Ngọc Lan kéo tới giới thiệu với tôi, anh Trai học cùng lớp nhị A với tụi mình đây này. Ôi! Anh Trai lạ hoắc và cái tên tôi nghe cũng lạ luôn. Không nhớ nỗi. Thế mà trong suốt buổi họp mặt anh cứ luẩn quẩn bên chúng tôi và chụp hình với chúng tôi, chắc anh xúc động lắm. Về tới Sài Gòn tôi vội vàng đem tấm hình lớp nhị A đã phóng lớn tìm anh Trai và nhận ra nét mặt ngày xưa của anh rồi. Xin lỗi anh Trai nghe, ngày xưa đẹp trai trắng trẻo vậy mà bây giờ anh ốm đi,  răng đã rụng bớt vài cái và thật thà làm sao. Hồ Viết Cần cũng vậy, bạn cứ khép nép bên chúng tôi như con gái nhà lành. Gặp ai trong lớp tôi cũng nói Hồ Viết Cần đây nè, có người biết, người không . Nhưng vui nhất là anh Nguyễn Khắc Am, lớp trưởng lớp nhị A chúng tôi. Người mà tôi nghe đồn đã chết trận lâu rồi và ai hỏi thăm về anh tôi đều nói như vậy. Té ra anh vẫn còn trên đời này, chững chạc, đẹp trai nhưng chẳng giống anh Am ngày nào. Nghe đâu anh Am là cậu của Tú, phu nhân thầy Đỗ Tư Nhơn và có bà con với hai ca sĩ nổi tiếng Nhã Phương- Bảo Yến. Cũng vui và hay hay. Về phía bạn gái người làm cho chúng tôi ngạc nhiên là Trợ. Nhìn không ra. Trợ bây giờ mập và trắng, không còn điệu bộ của Trợ ngày xưa. Tôi chụp cho Trợ một tấm ảnh riêng vì có người bên đất Mỹ muốn thấy lại dung nhan của người xưa thế nào.  Còn Lê Thị Chi, con bác Phúng thì không thay đổi lắm mà còn thấy xinh hơn  nữa cơ. Kể ra gặp lại bạn cũ như Trợ, như  Chi lòng đỡ xốn xang hơn như Lộc, như Em ... Trương Xuân Cương thì như một nghệ sĩ thực thụ với đầu tóc lấm tấm nhiều sương xõa dài ngang vai, mà nghe đâu Cương bây giờ sáng tác nhiều thơ nhiều nhạc lắm.  Đoàn Sài Gòn ra không theo một tổ chức nào cả, nghĩa là tự rủ nhau đi theo lớp, theo nhóm và hẹn gặp nhau tại Quảng Trị,  tôi cố dòm dòm để xem thử có được bao nhiêu người chịu khó ra đây. Thấp thoáng đây đó thấy thầy Liệu, anh chị Bảo- Mai, anh chị Hoàng- Thuần, anh chị Hạt- Mai, Kim Loan, Ngọc Lan, Thu Thủy, anh chị Thăng- Liên, anh Võ Cẩm, chú Nguyễn Xiển, anh Kỳ, Mừng, Trị, Liên Hưng, Quang Tuyết, Ai Đông, Diệu Hoà, anh Hồ Thế Vĩnh, vợ chồng Lê Quang Ngân, Mỹ Liên và hai chúng tôi, Mai Phái, thêm hai cô Việt kiều dễ thương nữa là Vinh Tân Mỹ và Vân Hương... Đoàn Huế và đoàn Đà Nẵng thì tổ chức chu đáo hơn. Các thầy cô học trò  thuê xe ra về trong ngày. Đón đoàn Huế tôi thật mừng khi gặp lại thầy Tuấn, thầy Sét, thầy Duyên, cô Tường Vy, thầy Lý Văn Nghiên với một số bạn tôi biết mặt vì đã có thời gian 26 năm tôi ở Huế nên không xa lạ lắm như chị Liễn, chị Tĩnh, Lê Thị Hoa, Lê Thị Chi, Võ Thị Thúy, Phú, Ninh, Nhụy, Võ Quê, bác sĩ Thắng, bác sĩ Hải Thủy, bác sĩ Thuyết, anh chị Tám- Ngộ ( Ngộ ngày xưa học sau tôi một lớp tại Đại học sư phạm Huế và hai vợ chồng đều ra dạy NH), anh chị  Kim-Hòa, anh Nguyễn Đăng Am, anh Tạo, anh Yến  và Võ Thị Quỳnh đều là những người đang giảng dạy tại Huế ... còn nhiều thầy cô và bạn bè nữa tôi không biết tên.

 Đã quá giờ khai mạc mà đoàn Đà Nẵng không thấy đâu cả, thầy Trác lo lắng hỏi tôi có ai điện thoại nói chi không. Tôi nói thầy bảo anh Phái hỏi thầy Thanh xem sao. Nhưng hình như phải khai mạc thôi, thầy Nguyễn Viết Trác, trưởng ban tổ chức, trước đó vài ngày nghe bị xe đụng nên chân còn đau người còn mệt mà vẫn phải làm tròn nhiệm vụ. Tội nghiệp, vì thầy là linh hồn của buổi họp mặt, không có sự nhiệt tình của thầy, từ việc làm đơn xin phép đến đứng ra tổ chức họp hành kêu gọi bạn bè xa gần thì khó có ngày hôm nay, thầy rất mệt nhưng vẫn cười tươi như hoa. Anh Đỗ Tư Nhơn không dám bỏ vị trí để ra đón bạn năm phương, tay anh cứ cầm mãi loa kêu gọi, sắp xếp. Những người  khác như anh Văn Mạnh, Nguyễn Văn Nuôi, Lê Viết Lào, Hoàng Đằng, Đoàn Hoàng Thạch, Nguyễn Lớn và Trần Thiện Ngữ vân vân và vân vân cũng rất bận rộn. Họ ngồi ở bàn tiếp tân và làm việc không ngơi nghỉ. Trang trọng và dễ thương quá .  Buổi lể đang tiến hành thì nghe lao xao và chững lại . Ồ đoàn Đà Nẵng đang tiến vào hội trường. Thầy Thanh tổ chức thật chu đáo và đẹp mắt. Tất cả các chị đều mặc áo dài và các anh thì thắt cravate. Một lẵng hoa được mang lên chúc mừng ngày hội trường. Tôi liếc thấy có Bạch Thảo, Minh Tâm, Phạm Thị Hồng, Nguyễn Thị Thương ( vợ anh Trần Toàn), Nguyễn Thị Lý ( vợ anh Võ Lượng ), chị Lê Thị Em, thầy Thanh, thầy Lữ, anh Thạnh, anh Lê Văn Thái, bác sĩ  Khàn, anh Thái Tăng Phương, Bích Hường, Nguyễn Khắc Phước  và nhiều nhiều lắm, có đến 40 người lận tôi không biết hết. Đặc biệt  có hai người con trai của thầy cố hiệu trưởng Thái Mộng Hùng, Thái Hoàng Nam và Thái Hoàng Phong đi theo đoàn.  Nhìn hai em lòng ai cũng nao nao buồn nhớ thầy và thương tiếc vì sự thiếu vắng của vị thầy khả kính trong ngày hội trọng đại này.  Không biết thầy Thanh dặn dò sao mà tôi rủ ai trong đoàn  ra sân chụp hình hay nói chuyện đều bị từ chối, các bạn nói sợ  lạc đoàn, trễ xe.  Đúng giống như trẻ con quá đi thôi . Cũng vì thế nên tôi không ghi được một tấm hình đầy đủ cả đoàn để làm tư liệu nữa... Nghe đâu đoàn Đà nẵng đã tập sẵn một bản nhạc và dự định sẽ lên đồng ca trên sân khấu mà không thực hiện được vì khi tới nơi thì như đàn ong vở tổ. Anh Thạnh, trưởng ban văn nghệ đoàn đành chịu thua sự cuốn hút của bạn bè xưa cũ .

     Gần một phần ba người tham dự  không ở trong hội trường vì thích ngồi ngoài tâm sự và hội trường cũng đã chật kín. Khi tổ chức không ai ngờ đông như vậy, gần 800 người đến tham dự, một con số kỷ lục chưa thấy ở buổi họp mặt nào. Mới thấy được những con chim lạc bầy đã gần và hơn 40 năm quay về tổ mẹ sao mà xúc động lắm thế. Bao nhiêu giọt nước mắt, bao nhiêu nụ cười như hòa và tan loãng trong niềm vui của ngày quay về tổ ấm. Tôi thấy lòng mình như quặn lại khi thấy thầy Sét khóc lúc gặp Thu Thủy, thầy thương thầy Thiện đang lâm trọng bệnh ở nhà không về được. Các bạn cùng lớp ngày nào bây giờ đang nằm dưới lòng đất lạnh có về đây vui với bạn bè không, sao thấy nhớ thấy thương các bạn lắm thế. Tôi chợt nhớ anh Đáng, Trần Văn Sơn, Võ Lượng, Trần Toàn, Mai Đức Đá ... và nghĩ rằng các anh đang lãng vãng đâu trong không gian này. Một nén nhang lòng dành cho các anh đây. . .

  Buổi lễ chấm dứt bằng một bữa cơm thân mật và nỗi luyến tiếc vì chưa ai thấy đủ cả, gặp bạn chưa bưa, tâm sự chưa hết, chào và nhận ra nhau chưa được bao nhiêu nên mãi đến 2, 3 giờ chiều vẫn còn bịn rịn  chưa muốn chia tay...

Thôi hẹn dịp khác vậy. Làm sao bây giờ, cuộc đời có khi nào đầy đủ đâu bạn ơi. Cứ hẹn cứ thiếu cứ vấn vương và cứ đợi chờ, mãi mãi như thế, như thế thôi.
                                           

Lịch của tôi đã kín hết rồi, ngày 5 về làng chồng, ngày 6 lên đường đi Lào với nhóm bạn Sài Gòn. Có đến Lào mới thấy thương nước bạn. Tôi nghĩ sao bạn nghèo thế, nghèo ngoài sức tưởng tượng của tôi. Các bạn tôi không có thời gian đi 5 ngày nên không thể đi xa hơn mà chỉ dừng lại ở Savanakhet. Một thành phố có tên tuổi mà không lớn hơn thị xã Đông Hà của ta. Ngồi trên xe chạy xuyên qua hơn 200 cây số mới tới được đây, tôi thấy hai bên đường toàn rừng núi và nhà sàn, mái lá vách rất sơ sài, những con người Lào bình dị và yên thân trong cuộc sống của họ, không biết bon chen và vượt khó . Có một điều làm tôi suy nghĩ, thế giới năm châu có ai nghĩ  đến Lào là đất nước cần giúp đở nhiều lắm không, chúng ta không thể sống ích kỷ khi có người bên ta như Lào. Tôi đúng là loại người hay nghĩ vẩn vơ nếu ai đọc những dòng này đừng cười tôi nhé. Cũng vì thế mà chúng tôi  thay đổi chương trình không ở Lào nữa mà về tham quan Việt Nam. Xin tạm biệt đất nước hiền hoà 4 không “Không biển, không đường sắt, không thủy lợi và không nghĩa trang”
 Đêm 7 tháng 8 vì thế chúng tôi được ngủ tại khách sạn Sepon ở cửa khẩu Lao Bảo. Về đêm ngồi trên khách sạn ngắm vẻ đẹp thành phố lạnh trong hoang sơ của núi rừng, tôi thấy nhớ những ngày ở cao nguyên Genting của Malaysia rồi tự hỏi, tại sao chúng ta không làm được như  họ. Cảnh đẹp, hàng hóa rẻ, khí hậu dễ thương đủ làm nao lòng khách du lịch  đến và đi, thế mà tôi thấy lượng người ở đây quá ít so với người ta. Một địa danh như vậy mà nằm gần Sài Gòn thì tha hồ hốt bạc rồi. Đúng là thiên nhiên đâu có chiều hết lòng người, người Quảng Trị mình nghèo khiến không ai dám đầu tư vào đây cả. Tại đây tám đứa chúng tôi được dịp mua sắm ở Trung tâm thương mại với giá rẽ hơn Sài Gòn nhiều,  có lẽ toàn bộ việc tốn kém trong chuyến đi chúng tôi đã mất tại đây, mỗi đứa cũng gần cả 2 triệu đồng. Về nhà con tôi ngạc nhiên nói rằng ba me đi Quảng Trị mà quà nhiều hơn nước ngoài nữa.

Sáng ngày 8 chúng tôi lên đường thăm nghĩa trang Trường Sơn, cầu Hiền Lương lịch sử, địa đạo Vịnh Mốc và Cửa Tùng. Một ngày nắng ấm sau những cơn mưa dai dẳng mà được xe chở chạy bon bon trên các con đường xuyên núi rừng Trường Sơn mới toanh màu nhựa đen láng, tôi thấy Quảng Trị mình đẹp làm sao.Tôi bị cuốn hút vào phong cảnh hai bên đường tràn ngập màu xanh của núi rừng mà không hoang vắng, trái lại một cuộc vui sống đang hình thành tại nơi đây. Tiếng chuông chùa ngân lên cùng với tiếng cầu kinh của các thầy làm ấm thêm vùng đất ngày xưa toàn bom đạn và rờn rợn xác người. Không còn nhiều thời gian để tôi mải mê theo sở thích thiên nhiên của mình và chúng tôi lại lên đường về Vịnh Mốc. Thêm một địa danh lạ lùng về ý chí con người chỉ có trên đất nước Việt Nam giàu nghị lực, những người Mỹ hình như không bao giờ bỏ qua những chỗ như thế này khi đặt chân đến đây vì tôi thấy họ tham quan rất nhiều, cô hướng dẫn viên nói một tháng cô đón đến 7000 lượt khách. Nhưng chúng tôi cũng xin chia tay Vịnh Mốc vì chúng tôi phải về Đông Hà tối nay.

  Để chiêm ngưỡng được Cửa Tùng như dự kiến, người tài xế cho xe chạy qua một hướng khác để cả đoàn tới được chiếc cầu bắc qua sông Hiền Lương tại nơi sông gặp biển. Đứng trên cầu chúng tôi ngắm bãi biển Cửa Tùng vào trưa, nhiều chiếc tàu đánh cá nằm san sát trên bờ, có lẽ mấy ngày nay nghe mưa lũ lớn nên họ không ra biển. Cầu thì  mới xây xong nhưng chưa thông xe vì hai đầu cầu vẫn còn dang dở, có lẽ năm sau về lại thì con đường này đã nối liền  Cửa Tùng với Cửa Việt  và xe cộ tha hồ mà chạy dọc bờ biển đẹp như mơ  của xứ  Quảng nắng gió quê mình . Xe chúng tôi hôm nay phải quay lại quốc lộ I về cầu Hiền Lương , chiếc cầu mà ngày nay chỉ giử lại làm kỷ niệm một thời. Với các bạn có thể xa lạ còn với tôi thì quá quen thuộc, tám chiếc loa phóng thanh ngày xưa tôi vẫn thường nghe rõ mồn một trong những đêm hè nay vẫn còn đó, cũng được giữ lại làm chứng tích cho một thời đã qua. Qua khỏi cầu Đông Hà trời vừa tối, chúng tôi chia tay các bạn cùng đi và trở về nhà em tôi ở xóm chợ.
                                          
                                

Ngày 9 tháng 8, tôi và Ngọc Lan thực hiện lời hẹn với Phan Lăng nên cố thuyết phục anh Phái đi Diên Sanh . Đâu ngờ tới Diên Sanh tôi lại thích ở lại để Ngọc Lan bớt buồn và để có thời gian ngồi chơi với các nhà thơ Võ Văn Hoa, Hoàng Tấn Trung và Thái Đào. Một buổi tối  khá vui và ấn tượng, Phan Lăng vốn hiền lành nhưng đêm nay cũng phát biểu nói nên lời hạnh phúc, các bạn trong bàn hầu hết đồng nghiệp với nhau nên dễ cảm thông. Dấu ấn trong tôi là khi Thái Đào và Tấn Trung xuất hiện, các bạn đã từ Quảng Trị vượt đêm tối về đây để chung vui, một vài chuyện xẩy ra không đáng trách mà đáng nhớ lắm  đó nghe. Dân lãng tử  là vậy đó,  có thế làm thơ mới hay phải không các bạn . Rất tiếc là chưa có dịp gặp nhau lần nữa để cho các bạn thỏa mãn hơn và hiểu thêm tấm lòng mê bạn của chúng tôi.   Sáng hôm sau tôi mới thưởng thức được món cháo bột cá lóc Diên Sanh đã đi vào huyền thoại, do lời mời của  ông chú trẻ Lê Lô, đang là giáo viên dạy Toán tại trường Phổ thông Trung học Hải Lăng, phải nói nó ngon nhờ mùi ném ruốc quê nhà . Như vậy thì quyết định ở lại Diên Sanh của tôi  quá sáng suốt, nhưng rồi  chúng tôi cũng phải chia tay Phan Lăng và Ngọc Lan, tiếp tục cuộc  hành trình trên con ngựa sắt.

Tôi nghe Mỹ Thủy đẹp lắm và anh Phái sẵn sàng đưa tôi tới đó. Trên con đường này anh Phái giới thiệu với tôi một số làng mạc đã băng qua thật quen thuộc như làng Cu Hoan, Trung Đơn, Hội An. Qua Trung Đơn chợt nhớ đến Thư viện của gia đình cô Hoàng Thị Chanh mà báo Tuổi Trẻ đã một lần nhắc đến nhưng sợ không kịp nên đành hẹn lại lần khác sẽ ghé thăm. Chúng tôi cũng định vào thăm Nguyễn Đắc Trí  nhưng khi hỏi ra nhà thì đã đi xa lắm rồi. Trí bị bệnh và tôi có gửi về 1.200.000 đồng theo lời kêu gọi của thầy Tuấn, trong đó 1.000.000 đồng của hai bạn Phương Mai và Ngọc Thụy ở Mỹ, tôi chỉ đóng phần nhỏ nhoi của mình thôi. Chúc Trí mau khoẻ để có dịp về lại Quảng Trị được gặp nhau. Con đường về Mỹ Thủy hơi vắng vẻ nhưng đẹp vô cùng, bóng của những hàng cây nối tiếp nhau  rủ xuống đường dâm mát và gió vi vu thổi  khiến lòng người mê mẩn. Hai đứa chúng tôi không dừng lại và chạy thẳng, dựng xe trên bãi cát biển Mỹ Thủy.  Một vài chiếc ghe đánh cá nằm nghiêng ngửa phơi mình trong nắng,  xa xa là xóm chài có đông người sinh sống, tôi ghi vội vài tấm hình làm kỷ niệm rồi chào biển ra về mong rằng lần sau chúng tôi mới có dịp tắm được nước mặn quê hương. Tiếp tục đi trên những con đường làng đã tráng nhựa của làng Cổ Lũy, Phương Lang ngập trong màu xanh của những cánh đồng lúa bao la, tôi quá mải mê mà quên rằng đã đến chợ  Phương Lang, nơi nổi tiếng món bánh ướt thịt heo ngon đúng vào lúc cái bụng đói meo của hai chúng tôi . Tôi mua về nhà ông chú ở La Duy ngồi ăn rồi ra khu lăng mộ thắp nhang cho ông bà nội các cháu. Trưa nay chúng tôi hẹn với vợ chồng Hạt Mai sẽ ghé nhà dự đám giỗ  ông thân Hạt.  Để  có thêm bạn, chúng tôi rủ anh Nguyễn Văn Nuôi ở Ngô Xá Đông và anh Đổ Tư Nhơn ở thị xã Quảng Trị đi cùng và cũng nhờ thế anh Phái thoát khỏi cầm lái. Anh Nhơn chở anh Phái, anh Nuôi chở tôi bắt đầu một chặng đường mới,  hai anh đưa chúng tôi đi trên con đường mới làm dọc bờ sông Thạch Hãn, ghé xem  khu di  tích Lê Duẩn ở Hậu Kiên  trước khi kịp về Nại Cửu 11 giờ trưa. Tại đây bạn của hai anh chị  Hoàng-Thuần và  Hạt-Mai ở Quảng Trị không thiếu ai, tôi thấy hai anh thật hạnh phúc vì được về tận quê  nơi có mộ của ông cụ thực hiện đám giỗ. Cũng nhờ vậy mà tôi biết được Nại Cửu  và thấm hiểu thêm những dòng thơ trữ tình ca tụng quê hương của anh Hạt lâu nay. 

  Chia tay với Nại Cửu, hai anh lại chở chúng tôi vào khu du lịch sinh thái Tích Tường uống cà phê, ngược lên La Vang thăm khu Thánh Mẫu nhiệm mầu, nơi đâu với tôi cũng lạ lạ quen quen cảnh cũ người xưa một thời xa vắng. Định về luôn Đông Hà nhưng nghe nói ngôi nhà bánh ú của nhà thư pháp Hoàng Tấn Trung đẹp lắm nên không vào sẽ hối tiếc, Trung không có nhà nhưng cậu con trai đón các cô chú bằng món nước lá rất thích hợp phong cách nhà cổ của Trung. Một  CHSNH mà chúng tôi muốn thăm nữa là anh Nguyễn Văn Quang, hiện anh đang là thầy giáo trường Thị xã Quảng Trị,  nhà anh Quang khá lớn nằm ở gần Góc Bầu xưa và phù hợp với người viết văn của anh , anh Quang tặng chúng tôi một đĩa sứ khắc hình Thành Cổ rất đẹp hợp với sở thích tôi lắm.  Anh Phái  đang ghé tiệm sách mua tập gồm 5 quyển  Đại Nam Thống nhất Chí  thì  Hoàng Tấn Trung tới mời đi ăn nem lụi chợ Sãi, tại cái quán ăn của cháu bà bán nem lụi ngày xưa, tại đây chúng tôi được Trung cho nghe thơ và tài nói tếu thông thái làm ai cũng cười vỡ bụng, món nước chấm và vị ngọt của nem lụi nhờ thế ngon thêm . Anh Phái hình như còn mê món nem này nên hôm sau trở lại với bạn và thầy Trần Đức Thành dạy anh lớp nhì thưởng thức một lần nữa.

Ngày 11 tháng 8 tưởng rằng hết việc, chúng tôi lại nghe điện thoại gọi vào thị xã Quảng Trị dự buổi tổng kết của ban tổ chức... Vẫn còn chưa muốn chấm dứt tuần lễ Nguyễn Hoàng xôn xao hai thị xã cả tuần nay, chúng tôi lại tiếp tục hành trình đi thăm mộ thầy Phan Phụng Thạch theo lời đề nghị của thầy Thị. Lần này ngoài 4 đứa chúng tôi, Nhơn, Nuôi, Phái, Mai còn tăng thêm các bạn Hạt, Cẩm, Lào, Đạc cùng với thầy Thị đến Đạo Đầu tìm em thầy Phan Phụng Thạch dẫn ra thắp một nén nhang cho người thầy có nhiều vần thơ làm nao lòng bao thế hệ học trò Nguyễn Hoàng.

                   Như một đàn chim sau cơn bão hạ
                   Các em trở về sau nắng thu xưa
                   Sân trường cũ áo dài em trắng quá
                   Cỏ cũng mềm lòng theo bước chân đưa

                    . . .. . .. . . .. . . . . . . . . . . . . . . . ….. . . . ..

Sau lần  này chúng tôi chia tay nhóm bạn Nguyễn Hoàng Quảng Trị thân yêu tuy lòng còn lắm vấn vương , biết bao bạn nữa chúng tôi chưa có thì giờ đến thăm nhà được . Cho tôi để lại một lời hẹn hò lần sau. . . . .

                                                                               Tuyết Mai
READ MORE - LỐI CŨ TA VỀ - Nguyễn Thị Tuyết Mai

Monday, July 9, 2012