Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, July 17, 2011

TUỆ THIỀN Lê Bá Bôn - Chùm LỜI DÂNG



Không có sự liêm khiết trí thức thì không có năng lực tư duy minh triết về những vấn đề trọng đại của cuộc sống, dù có học vị tiến sĩ triết học hay bất cứ gì.

Nếu giàu tri thức, giàu tài năng nhưng yếu kém lương tâm, lương tri thì chỉ là công cụ; chưa có nhân cách; còn nghèo trí tuệ; chưa trưởng thành toàn diện.

Không biết phục thiện thì không thể học được những bài học vĩ đại trong trường đời; dù có bằng cấp cao cũng chi là kẻ ấu trĩ về trí tuệ .

Tham cứu Thiền là tham cứu sự sống và ý nghĩa cuộc sống.

Theo cách nói của nhiều nhà vật lý thì vũ trụ trụ một mạng lưới chằng chịt vật chất và tâm linh tương quan với nhau. Hiểu như vậy, sẽ thấy toàn vũ trụ là một cơ thể bất khả phân.

Theo nhiều nhà khoa học tự nhiên, năng lượng tâm thức là dạng năng lượng cơ bản, có ảnh hưởng tốt hoặc xấu cho toàn vũ trụ (tuỳ tính chất tâm thức) và cho bản thân .

Có đức mà không có tài, không phải là vô dụng, vì vẫn có tác dụng giáo dục lớn lao đối với xã hội (qua lối sống), vì vẫn mang năng lượng tinh thần (thiện ích) ảnh hưởng tốt đến môi trường sống của cộng đồng (có cả giá trị giáo dục). Có tài mà không có đức, không chỉ có hại cho xã hội về hành vi xấu, mà còn mang năng lượng tâm thức độc hại cho môi trường (và cho bản thân mình). (Vấn đề này Phật giáo gọi là tạo nghiệp tốt xấu; nghiệp cũng mang năng lượng; toàn vũ trụ là những dòng chảy năng lượng).

Tâm ý xấu ác không chỉ có hại cho thế giới, mà còn rất hại cho môi trường năng lượng của mình.

Sự xấu ác là biểu hiện của cái “tôi” (bản ngã) đen tối.

Cái “tôi” càng lớn thì tình thương càng nhỏ. Càng chấp thủ cái “tôi, bệnh tinh thần càng nặng; càng ảnh hưởng có hại cho tha nhân, môi trường bằng hành vi, bằng thái độ, bằng năng lượng tâm ý.

Con người cần có sự định tâm tỉnh trí để thấy biết trọn vẹn tâm hồn mình. Không tự tri thì không tự chủ, không có sự liêm khiết và tự do tinh thần, không có Thiền.

Tinh thần càng tự do thì trí tuệ - lương tri càng sáng.

Tâm hồn đen tối tạo ra xã hội đầy tệ nạn. Muốn xây dựng xã hội tốt đẹp, phải có nền giáo dục có khả năng giáo dục tất cả mọi người (không trừ một ai) nhận thức sâu sắc các bệnh tâm hồn, phải làm cuộc cách mạng nội tâm tận đáy cái “tôi”.

Nhà giáo yếu kém nhân cách thì chỉ là công cụ tồi, có hại cho xã hội rất lớn (vì nhiều người ngây thơ tin tưởng vào họ). Tu sĩ yếu kém nhân cách cũng thế.

Một tinh thần thật sự trẻ trung và đầy sinh lực là một tinh thần trong sạch. Tinh thần đó ít lệ thuộc vào thể trạng và hoàn cảnh.

Tâm hồn không thanh bình thì cuộc sống kém chất lượng, hiệu quả công tác không cao, không có kinh nghiệm về niềm an vui tự phát, không thể ngộ nhập Tánh Viên Giác vốn có ở chúng sinh và trùm khắp mười phương.

Từ năng lượng quán tâm (tự tri) xuất sinh tình thương, niềm vui, năng lực sáng tạo có chất lượng cao, xuất sinh nhãn quan minh triết, tác dụng giáo dục.

Tâm thái vô ngã là tâm thái hòa bình, bao dung, minh triết, thông minh.

Tâm trí không tĩnh lặng thì không thể giáp mặt thực - tại - đúng - như - thực, không thể giáp mặt chân lý cuộc sống.

Thượng Đế (hay Chân Thiện Mĩ) không thuộc về phe này hay nhóm kia, không thuộc về hình tướng nào; mà thuộc về những tâm hồn trong sạch, bình đẳng, bác ái, từ bi. Đó là Tánh Viên Giác.

Sự tĩnh tâm tự tri có công năng giữ gìn lương tri, sự tự chủ, sức khoẻ tinh thần, giá trị làm người.

Người biết yêu nét đẹp của tâm hồn là người trưởng thành tâm trí, là người có tinh thần dũng cảm, biết sống với hạnh phúc chân chính.

Càng hướng đến lý tưởng vô ngã thì cái “tôi” càng giàu thiện ích mỹ.

“Vô ngã” là bản ngã (cái “tôi”) chuyển thành trạng thái tâm trí hòa bình, tỉnh sáng, “vô ngôn giữa muôn lời”.

Tâm hồn không tự do thì không có năng lực tư duy độc lập, không cảm thụ được trọn vẹn vẻ đẹp cuộc sống, nghèo nàn tinh thần sáng tạo, kém nhân cách.

Tự tri là, bằng trí tuệ nội quán, nhận biết trọn vẹn mọi cảm giác, tư tưởng, ý muốn, nhận thức phân biệt v. v…đang xảy ra trong tâm trí. Đây là sự nhận biết (kiến chiếu) một cách tự nhiên, không phê phán, không lấy - bỏ (thủ - xả), không dụng công. Có năng lực kiến chiếu này thì tâm trí sẽ tĩnh lặng (tỉnh thức) và thấy rõ bản chất của bản ngã (cái “tôi”). Bản ngã sẽ được chuyển hoá thành trạng thái tâm vô ngã - tức là tâm thái hoà bình, từ bi đích thực, mang năng lượng tích cực có lợi cho toàn “mạng lưới vật chất và tâm linh” của vũ trụ.

Khi ngồi định tâm mà vẫn nhớ nghĩ đủ chuyện (tức nói năng bên trong) thì giống như khi ngồi một mình mà nói đủ điều. Đó là tình trạng bất bình thường của tâm trí, của bộ não và hệ thần kinh.

“Tỉnh thức” là “có mặt” trong giây phút hiện tại với những gì đang xảy ra. “Có mặt” tức là tâm trí không còn vọng tưởng lang thang.

Không ai là không có tâm xấu ác, điều quan trọng là phải nỗ lực cải tạo. Thực hành “tự tri - tỉnh thức - vô ngã” là trách nhiệm của mọi người.

Khi cái “tôi” xâm lấn, bóc lột người khác, nó luôn ẩn núp sau những lời hoa mỹ.

“Vô ngã” là Sự Sống bất sinh bất diệt. “Vô ngã” là chân ngã, là giải thoát.

Không xiển dương sự thanh tẩy tâm thức thì tôn giáo, tín ngưỡng chứa đầy mê tín có hại .

Cái nhìn khách quan không thể đánh giá được nhân cách minh triết; chỉ họ tự biết. Nhân cách minh triết tối cao chính là nhân cách tự - do - tinh - thần. Đó là giá trị cao nhất.

Tâm bất bình thường thì não bất bình thường. Tâm não bất bình thường tác động bất bình thường đến sự vật và ảnh hưởng xấu đến nhận thức của ta, đến cuộc sống của ta (kể cả hoàn cảnh) . Nghề nghiệp, công việc chỉ có tính chất quan trọng (nhiều hay ít), chứ không có tính chất cao quý. Sự cao quý thuộc về nhân cách, lương tâm.

Tư tưởng xuất thế góp phần làm trong sạch sự nhập thế.

Mọi tài năng đều có giá trị về mặt công cụ, đều có thể góp phần làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn. Nhưng cái năng lực quý giá nhất làm cho con người giữ vững giá trị làm người, đó là sự tự tri tự chủ. Thiếu cái năng lực này, các tài năng khác có thể biến con người thành ác quỷ, dã thú, kẻ đê tiện.

Vắng mặt năng lực tự tri tự chủ, vắng mặt trí - lương - tri thì trí - công - cụ sẽ trở thành tôi tớ cho trí - chó - sói.

Cái “tôi" càng lớn, càng bền chắc, càng xảo quyệt, càng tự tôn, càng bè phái thì sự liêm khiết trí thức càng suy yếu, tư tưởng và hành vi “người bóc lột người” càng đa dạng .

Tâm Đại thừa là tâm khiêm hạ, hiểu rằng tội lỗi của mình từ vô lượng kiếp đã ảnh hưởng xấu đến tất cả chúng sinh.

Tâm Đại thừa khởi phát từ sự nhận thức sâu sắc rằng, tội lỗi của cá thể ảnh hưởng đến toàn thể, qua thân khẩu ý.

Giá trị làm người thể hiện ở hiệu quả thiện ích , ít tác hại (nhất là ớ mặt “tiềm ẩn” là năng lượng tâm thần) đối với xã hội , đối với vận hành của vũ trụ.

Thấu triệt lý duyên sinh - vô ngã thì tâm dễ tĩnh lặng, não dễ chuyển hóa, dễ ngộ nhập chân lý tuyệt đối.

Tâm giải thoát phiền não mang ý nghĩa hiếu nghĩa lớn nhất, mang ý nghĩa nghĩa vụ và trách nhiệm cao quý nhất, vì đó là hành động thuận đạo lý, thuận hợp đại luật vận hành của vũ trụ.

Khi ta suy nghĩ, ta chỉ tiếp xúc với một vài khía cạnh cuộc sống. Nhưng nếu muốn giáp mặt thực tại toàn diện của cuộc sống thì phải im lặng tâm trí .

Giá trị giác ngộ, giá trị Đại Thừa không nằm ở hành vi, hình tướng bên ngoài, mà ở thực chất của tâm. Nếu thật sự có giác ngộ, có tâm Đại thừa thì dù sống ẩn dật vô danh vẫn có thiện ích lớn cho chúng sinh, cho sự nghiệp giác ngộ chung.

Trái đất đang nóng dần lên; tâm hồn nhân loại đang nóng bỏng. Nhà khoa học nỗ lực vá tầng ô-dôn; thiền gia nỗ lực thiền định để góp phần chuyển hoá tâm trí nhân loại bằng năng lượng tỉnh thức, an lạc, thanh thoát, từ bi . (Nên thấu hiểu rằng, lòng tự hào tôn giáo cũng là cái “tôi” hiếu chiến vô minh ).

Chưa nghiên cứu nghiêm túc về bản ngã (cái “tôi") thì chưa thể có đường lối giáo dục đúng đắn.

Nhà tâm lý học không thể hiểu biết sâu sắc cơ cấu tâm lý nếu không thiền định tự tri. Nhà giáo dục học, nhà chính trị học sẽ không có tầm nhìn minh triết về giáo dục, về chính trị nếu không hiểu biết sâu sắc cơ cấu tâm lý con người. Nhà truyền bá tôn giáo sẽ hạ thấp giá trị tôn giáo nếu thiếu quan tâm vấn đề này.

“Tự tri - tỉnh thức - vô ngã” là đạo lý của vũ trụ, là mẫu số chung của ý nghĩa cuộc sống, là Thiền; mang năng lượng tích cực có lợi cho toàn vũ trụ, cho sự thăng hoa trí tuệ - tâm linh chung của tất cả.

“Tự tri” là quán chiếu tâm thức, là biết rõ tâm trí. “Tỉnh thức” là tâm không vọng tưởng. “Vô ngã” là tâm thái hoà bình, an lạc, yêu thương, thiện ích, tự do tự tại, diệu dụng, bất sinh bất diệt, tịch tri, tịch chiếu.

Truyền bá minh triết Thiền Định Tự Tri là góp phần cải tạo xã hội .

“Tự tri - tỉnh thức - vô ngã” là minh sư vĩ đại nhất của chính mình.

Viên mãn “tự tri - tỉnh thức - vô ngã” rất khó, nhưng chỉ có hướng đến đó mới xây dựng được mẫu số chung cho nhân cách, cho ý nghĩa cuộc sống. Chỉ có hướng đến đó mới tạo nên tiếng nói chung cho hoà bình, công bằng, nhân ái - thật sự biết tôn trọng nhau giữa người với người.

Người biết yêu điều tốt ghét điều xấu là người biết phục thiện; người biết phục thiện thì dễ tiếp thu đạo lý giác ngộ; người biết tiếp thu đạo lý giác ngộ thì dễ thực hành tự tri; người biết thực hành tự tri thì dễ thực chứng chân lý tuyệt đối, siêu vượt khái niệm - tướng trạng.

Một vấn đề lớn của thời đại chúng ta, là làm thế nào để xây dựng vững chắc cảm hứng sống có đạo đức nhân văn ở con người .

Về tôn giáo cũng như về các lĩnh vực khác, rất nhiều người đạt đến đỉnh cao bằng con đường tự học, tự đào tạo, bằng cách sống thông thường. Khát vọng lớn thì thành công lớn.

Có thể có tinh thần tôn giáo mà không theo tôn giáo nào, tín ngưỡng nào.

Một người ngoại đạo có thể sống khế hợp giác ngộ nếu có khát vọng. Ngộ đạo không khó, cái khó là có khát vọng.

Một nguyên thủ quốc gia, một nhà thơ, một bộ trưởng, một sĩ quan, một giáo sư... nếu mang nặng thói tham ô, hối lộ, bè phái thì giá trị làm người không bằng một người ăn xin lương thiện.

Không phải “danh ngôn” nào, “lễ nghĩa” nào, “truyền thống” nào cũng giá trị, cũng đáng theo.

Nền văn học nào, nền giáo dục nào không giúp được con người nhận ra các bệnh tâm hồn, không giúp con người biết cách tự chữa trị có hiệu quả, thì đó là nền văn học, nền giáo dục còn nhiều yếu kém.

Ở giữa vườn hoa, xác chuột chết vẫn thối; ở giữa đầm bùn lầy, đoá sen vẫn thanh khiết.

Có những thứ “vinh quang” dính đầy sự bẩn thỉu. Ai mới thấy hào quang danh lợi đã trọng vọng, đó là người không minh mẫn, không biết chính tà.

Muốn giác ngộ chân lý tuyệt đối, phải biết “đạt lý, quên lời”, không chấp thủ ngôn từ, hình tướng - dù hình tướng thánh nhân.

Thiền định tự tri thì không thuộc riêng tôn giáo nào hay nền văn hoá giáo dục nào; đó là tài sản cực kỳ quý giá của nhân loại muôn đời, của vũ trụ.

Tu viện lớn, lễ lược nhiều không có ý nghĩa bằng chăm lo chu đáo và khoa học cho sự tu tập và đời sống vật chất của tu sĩ.

Thiền là tự tri, là siêu vượt tín ngưỡng, hình tướng, khái niệm…, là sống tỉnh thức toàn diện với trí vô sư, với trí tuệ siêu vượt quy định nhị nguyên (tức là sống với trí bát - nhã).

Tư tưởng “trọng thầy khinh thợ” là tư tưởng của hạng người yếu kém văn hoá (dù có bằng cấp cao, địa vị cao), là tư tưởng của hạng người vong ân bội nghĩa đối với nhân dân lao động, là tư tưởng phản giáo dục (dù đang làm nghề dạy học, lãnh đạo giáo dục).

Thiền chân chính, tôn giáo chân chính không thể không lấy “tự tri - tỉnh thức - vô ngã” làm lý tưởng, làm mục đích. Đó là cốt tuỷ của Thiền học chân truyền, của hành trạng Đại thừa.

Truyền bá minh triết thiền “tự tri - tỉnh thức - vô ngã” là góp phần xây dựng nền văn hoá hoà bình, nền văn hóa tiên tiến.

Tuyên truyền quá nhiều về giá trị của kinh tế, của văn minh vật chất sẽ làm cho giá trị của nhân cách, của đạo đức, của văn minh tinh thần bị coi thường.

Khi đã biết sống với tâm vô ngôn thì tuỳ duyên ứng xử, không bị quy định bởi bất cứ gì; đó là sự tự do tự tại đích thực của tâm trí. Tâm Thiền là Chân -Thiện - Mỹ. Minh triết tối thượng là biết dừng tâm và tịch chiếu.

Nặng óc cục bộ thì không yêu dân, không yêu nhân loại; chỉ yêu cái “tôi”, luôn bao che những xấu ác.

Óc địa vị là biểu hiện của bản năng quyền lực đậm nét thú tính; nó không biết quý trọng giá trị nhân cách.

Muốn chữa cơn bệnh nặng, không thể chỉ uống vài lần thuốc. Muốn rèn luyện cơ thể, không thể chỉ cần một vài buổi tập. Cũng vậy, muốn cải tạo những tính xấu thì phải có chương trình học tập, rèn luyện lâu bền. Đây là điều mà ngành giáo dục cần quan tâm đúng mức khi bàn đến chất lượng giáo dục, hiệu quả giáo dục, đào tạo cán bộ...(Giúp cho mọi người có cảm hứng tự hoàn thiện nhân cách, đó là vấn đề cực kỳ quan trọng của giáo dục, của văn hóa).

Khi sống muốn bao la cùng trời đất thì khi chết sẽ không bị trói buộc vào chốn phiền não.

Khí kẻ ác tấn công ta, ta sử dụng trí tuệ và lòng dũng cảm để đối phó với chúng; làm như thế thì có lợi hơn là sử dụng lòng căm thù.

Vô ngã là tâm thái tịch tri, tịch chiếu, thường tịch quang. Vô ngã là Chân ngã.

Đừng coi thường việc chữa trị các bệnh tinh thần, vì nếu thế, văn minh vật chất và sự hưng thịnh kinh tế chỉ như sức lực dồi dào của một gã khùng hung hãn, sẽ rất nguy hiểm cho nhân loại.

Những người yếu kém văn hoá (có thể có học vị cao, tri thức dày) thường coi khinh dân quê, coi khinh những nghề lao động vất vả, thu nhập thấp. Tâm hồn họ bị xơ hoá, vô cảm, vong ân.

Được lên thiên đường bởi niềm vui: niềm vui mang tính chất nhân từ. Bị xuống địa ngục cũng bởi “niềm vui”: niềm vui mang tính chất gian ác.

Không quan tâm đến sự sống sau khi thể xác chết là quá thờ ơ với tương lai.

Trong ta có “tấm gương” “nghe và thấy” được tư tưởng, cảm giác, ý muốn... Tĩnh tâm một thời gian thì tấm gương này sẽ lộ rõ. Nó càng sáng, ta càng dễ thấy cái “tôi” và cái “tôi” dễ dàng được chuyển hoá thành “vô ngã”.

Tôn giáo có ý nghĩa lớn về đạo đức, về cảm hứng, nhu cầu cải tạo tâm tính, nếu tôn giáo giàu từ bi bác ái .

Gọi là “Thiền” hay từ nào khác cũng được, điều quan trọng là cái nội hàm “tự tri - tỉnh thức - vô ngã”.

Thiền học không nên chỉ dạy hạn chế ở một vài ngành đại học, mà nên phổ cập ở mọi cấp học để có nền tảng vững chắc trong giáo dục - đào tạo nhân cách.

Cái “tôi” làm cho tâm hồn nặng trĩu vì uy lực, còng xuống vì nô lệ, đen tối vì tự ti tự phụ, tự ái…

Thiền định tự tri càng cao thì càng minh mẫn hơn, chủ động hơn với cuộc sống, với công việc; năng lượng phiền não được chuyển hoá thành năng lượng an lạc, thiện ích .

Niệm (nhớ - nghĩ) luôn xuất hiện trong tâm. Chúng 1à ngôn từ (tiếng nói bên trong) và có hình tướng (sóng tâm thức). Trong thiền định (tự tri), ai thấy rõ niệm sinh diệt liên tục, thấy rõ chỗ niệm xuất hiện và chấm dứt (tức là khoảng trống giữa hai niệm) thì sẽ nhận ra (ngộ) tâm vô niệm, “vô ngôn”. Đó là tâm thể “một niệm vô ngôn" như vầng trăng toả sáng. (“Niệm” trong “niệm vô ngôn" có huyền nghĩa khác hẳn với “niệm” trong “vọng niệm”. Phải ngộ mới thấy, mới biết). Vô ngôn đó khi đã “an định”, sẽ soi sáng muôn lời (tức là soi sáng trí phân biệt tương đối), sẽ là tri giác tự do tự tại, thoát tình trạng vọng động vô minh. Đó là “tánh sáng” bất sinh bất diệt.

Phải biết “ghét” bệnh phong, nhưng đừng ghét người mang bệnh phong; cũng vậy, phải biết ghét thói xấu nhưng đừng ghét người đang có thói xấu. Sự xấu ác là bệnh tinh thần .

Nếu chưa quán tâm (tự tri) để thấy rõ tướng trạng như huyễn của bán ngã thì chưa biết “đọc kinh bằng tâm”, chưa biết đọc công án Thiền.

Nhiệm vụ quan trọng nhất của văn nghệ sĩ là giúp người khác biết sống với hạnh phúc trong sáng - thứ hạnh phúc mà người văn nghệ sĩ chân chính phải có, nhà văn hoá chân chính phải có, con người biết tự tin - tự trọng phải có.

Thỉnh thoảng có được một vài phút sống với tâm vô ngôn cũng có công đức và phước đức rất lớn.

Giới hạnh là vấn đề khoa học, vấn đề nhân quả. Chí hướng giác ngộ biết tôn trọng nhân quả, nhưng muốn siêu vượt nhân quả, luân hồi.

Thấy - biết khác với hiểu. Nếu thấy - biết của tâm chưa khế hợp với Bát Nhã Tâm Kinh thì chưa có Trí Bát Nhã.

Một trong những phương cách giúp duy trì cảm hứng sống thiền là tọa thiền mỗi ngày. Không nên bỏ trắng ngày nào cả (vì lý do gì đó cũng nên duy trì vài phút).

Tâm vô ngôn là sự tỉnh thức toàn diện của sự sống.

Khoác lác, tự đại, tự ti, khiêm tốn đều không có lợi cho Đạo .

Muốn đi sâu vào kinh sách về Thiền, phải có năng lực đọc - hiểu và đọc - thấy. Thiền định tự tri làm xuất sinh năng lực đọc - thấy. Đó là cái thấy nội tại.

Khi tâm hồn không có lý tưởng thánh thiện và minh triết thì con người rất dễ bị cái xấu lôi cuốn, rất dễ bị tha hóa biến chất.

Muốn có hiệu qủa cao trong việc chống hối lộ - tham ô - bè phái, một đại nạn của thế giới, thì tôn giáo phải vào cuộc với giới luật rõ ràng về vấn đề này.

Chưa thật thấy chúng sinh là ân nhân của mình thì chưa có phẩm chất Bồ tát, chưa tỉnh thức.

Thể xác thì tất nhiên có sở trụ, nhưng tinh thần thì cần “hướng đến” vô sở trụ .

Làm cho con người biết yêu quý nét đẹp tâm hồn mình, đó là nhiệm vụ cao cả của văn hoá, của giáo dục, của tôn giáo.

Thiền định tự tri là sống tận nền tảng, tận cội nguồn sự sống.

Có duyên lành với nền văn hoá giác ngộ là có diễm phúc cực kỳ lớn lao.

Không tôn trọng phương tiện thăng hoa tâm linh của người khác thì chưa có tâm thái hòa bình, tỉnh thức .

Nếu đã thật sự phát khởi tâm nguyện lớn (tâm Đại thừa) thì dù chưa triệt ngộ, vẫn có thể tuỳ duyên sử dụng nghịch hạnh.

Khi triết lý giáo dục chưa minh triết thì tất yếu dẫn đến suy yếu đạo đức nghề nghiệp ở người lao động, suy yếu lương tri ở người cán bộ.

Càng tôn vinh quá độ các gíá trị bản năng và công cụ (nhất là công cụ trí óc) thì thế giới càng đảo điên, khốn đốn .

Người có tâm Đại thừa thì vui mừng vì nhiều người biết hướng thượng, chứ không cố chấp “hơn thua" về khái niệm, về từ ngữ.

Giáo dục “toạ thiền - quán hơi thở - tự tri” là biện pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả giáo dục, thăng hoa tâm trí, cải thiện thế giới.

Thiền là sống tỉnh thức, thực tế và minh triết.

“Vô niệm” để chấm dứt trí nhớ tâm lý - thứ trí nhớ lấy cái “tôi”, cái chấp ngã làm trọng tâm.

Niềm tin nếu đi đôi với sự chấp ngã nặng nề thì nuôi dường lòng kiêu ngạo sân si.

Không biết tu tâm thì không thể phát triển nhân cách. Sự tu tâm chân chính là việc làm quan trọng, có ý nghĩa lớn đối với xã hội, vũ trụ.

Không tự tri, tức quán tâm, thì không thể thấy huyễn tướng cái “tôi”, tức bản ngã.

Sự giác ngộ đích thực thì đi đôi với lòng từ bi, bao dung.

Khi dục vọng vô mình và sự chấp ngã ngự trị thì không có tự do tinh thần.

Vô minh là trạng thái tâm trí trụ vào kiến chấp nhị nguyên (nhị tướng).

Tự tri là hồi quang phản chiếu, là nội quán .


Trích từ Đường về minh triết; Tuệ Thiền; NXB Văn Nghệ, 2007.

Nguồn: Đạo Phật Ngày Nay (daophatngaynay.com)


Tranh từ trang My.Opera của Phương Thảo

READ MORE - TUỆ THIỀN Lê Bá Bôn - Chùm LỜI DÂNG

Friday, July 15, 2011

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm




HÒ KHÁNG CHIẾN


1. Thà mất con không thà mất nước. Cúi đầu lạy thầy với mẹ con cất bước ra đi. Sá gì súng đạn bom bay. Sống thì dành nền độc lập, thác thì nhìn ngọn quốc kỳ có con.

2. Ngó lên trên trời ngọn cờ hồng bay lổ đổ (?). Ngó về Nam Bộ súng nổ liên thanh. Anh em chị em mình ơi tập luyện cho thành. Đuổi tụi Pháp Anh đế quốc, đồng bào nổi dậy giữ gìn Việt Nam.

3. Bom thả Đông Hà cầu rã móng tan. Khen nước Việt Nam mình quá tài, quá giỏi, quá gan. Ngày 7 tháng 7 đá đổ ba thằng quan mà dành quyền.

4. Hồ Chí Minh nên tình với nước. Hỡi đồng bào mình ơi tiến bước nhanh nhanh. Vào Nam Bộ đánh Pháp dẹp Anh. Xây thành đắp lũy dành quyền tự do.

5. Mẹ xa con vì bom vì đạn. Vợ xa chồng vì nạn chiến tranh. Kể từ ngày chàng xách gói ra đi, thiếp ở nhà sau hiu trước quạnh, khổ mấy bận ni hỡi chàng.

6. Ở Nam Bộ Tây đi tàn bạo. Ở Bác Bộ lụt bạo tiêu hao. Hỡi đồng bào mình ơi nhịn một ngày năm ba nắm gạo để cứu đồng bào lâm nguy.

7. Lúa tốt khoai tươi nhờ sức người vun xới. Hòa bình thắng lợi nhờ sức người tranh đấu giỏi dang. Anh không trở lui về với chính phủ cụ Hồ hòa giải khoan hồng, mà đi theo lũ giặc đau lòng vợ con.

8. Ngó lên trên trời tàu bay én liệng. Ngó về đường điện dây điên giăng xiên. Mấy lâu này giặc giã đã yên. Thư từ vắng gửi nên gái thuyền quyên đổi dời.

9. Lòng cứu quốc anh ơi em khuyên giữ trọn. Mau mau sửa soạn gấp rút tòng quân. Em khuyên anh lập được hai chữ chiến công. Mối ân tình em xin giữ trọn mấy thu đông vẫn chờ.

10. Đợi anh hai năm đêm nằm nghe gọi. Đợi anh bốn năm rồi trăng rọi đầu hiên. Đợi anh tám năm đêm nhớ ngày phiền. Dẫu còn đợi anh bao nhiêu năm nữa em vẫn giữ trọn lời nguyền với anh.

11. Em đứng bên ni Hiền Lương để thương để nhớ. Anh đứng bên kia Cửa Tùng nặng nợ nặng duyên. Vì quân Mỹ Diệm bạc đen nên chúng muốn dứt mối tình chung thủy hai miền Bắc Nam.

12. Nước Ba Lòng vừa trong vừa mát, tưới về đồng ruộng Triệu Hải thơm ngát lúa vàng. Quê ta tươi đẹp giàu sang. Nhờ ơn Bác Hồ lãnh đạo nên xóm làng được xanh tươi.

13. Hỡi đồng bào ơi quyết tâm bền chí. Nhìn ra chiến trường máu chiến sĩ còn nhuộm thắm chưa phai. Toàn dân xây dựng lâu dài, nước nhà thống nhất, tương lai muôn đời.

14. Lời cách mạng loan ra như màu hoa tươi thắm đượm. Khắp nẻo xóm làng như ong bướm tung bay. Nhờ ơn Bác Hồ lãnh đạo nên ngày nay được thanh bình.

15. Hỡi quân dân ta ơi ngày nay rõ tình thắm thiết. Ân huệ sâu dày ngàn kiếp không quên. Toàn dân hưởng ứng khắp miền. Cùng nhau giữa được nền độc lập được vững bền dài lâu.

READ MORE - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

Thursday, July 14, 2011

VÕ THỊ NHƯ MAI - SANG ĐÔNG NGHĨ VỀ HẠ

Hoàng hôn mùa đông ở Back Beach, Bunbury, Tây Úc


Chúng ta đang ở giữa mùa hè nóng bức và mơ về cái lạnh dịu dàng của mùa đông thì có một người trong lúc này đang ở giữa mùa đông với nhiệt độ từ 10 đến 19 độ C như mùa đông xứ ta đang thả hồn mình về một mùa hè với phượng hồng rực lửa và tiếng ve râm ran thơ mộng. Người đó là Võ Thị Như Mai hiện đang ở Tây Úc. Thật là thú vị khi mình đang ở mùa hè được nghe bạn đang ở mùa đông nói lên cảm xúc của mình, chia sẻ với mình, làm cái nóng giữa hè dường như dịu laị.


Sang Đông nghĩ về Hạ

Mùa hạ năm này ai có vui không?

Qua con dốc quanh co tham quan đây đó?

Có tập thiền cho tâm hồn nhuộm cỏ?

Thảng hoặc hành trình bình lặng khúc vô vi?


Em bắt đầu kỳ nghỉ đông rét muốt buốt lê thê

Chuông chiều lãng đãng muôn phương đong đưa nghe gió dỗi

Vấn vít mộng mơ chao ôi sao có lỗi

Rứa đó trần gian cũng triền miên hạn hẹp đến vô chừng


Hạ hồng trong em thuở ve hát tưng bừng

Mỹ Thủy, Lăng Cô chiều biển reo phượng nở

Ngựa bất kham vơi tay buông dư hương còn rực rỡ

Chỉ còn lại ngùn ngụt sương mù mây xốp rải tầng không


Trong hơi thở ngân nga của đất trời nóng lạnh cũng tự tâm

Hạ hay đông cũng lóng lánh muôn triệu hạt tin yêu chân chất

Em là hoa, hoa thu nhỏ tưởng chừng hoa biến mất

Trái tim đập nhịp nhàng nghe đông – hạ hồi sinh


vtnm 10/7/2011

READ MORE - VÕ THỊ NHƯ MAI - SANG ĐÔNG NGHĨ VỀ HẠ

VĨNH TRÀ - DẦU MÁU (Truyện dài)

Nhà báo Trần Đức Nuôi (ngồi giữa) trong một buổi giao lưu với các nhà báo trẻ của VOV. (Ảnh từ VOV.VN)


Vĩnh Trà

Tên khai sinh: Trần Đức Nuôi.

Sinh ngày 27/10/1947 tại làng Thượng Lập, xã Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.

Tốt nghiệp khoa Ngữ văn, trường đại học Tổng hợp Hà Nội, năm 1970.

Làm báo phát thanh tại Đài Tiếng nói Việt Nam từ năm 1970 đến nay.

Viết văn từ năm 1973, với truyện ngắn: “ Lửa lương” phát trên chương trình Văn nghệ, Đài phát thanh Giải phóng


Tác phẩm đã xuất bản:

Mưa chiều đất cuối (tập bút ký) NXB Chính trị quốc gia

Hoa khát (tập truyện ngắn) NXB Hội Nhà văn

Khoảnh khắc nắng (tập bút ký) NXB Hội nhà văn

Còn đường nắng lửa (truyện ký) NXB Hội Nhà văn

Dầu máu (tiểu thuyết) NXB Hội Nhà văn.

(Tiểu sử từ trang VanChuongViet.Org)

MỜI ĐỌC:
DẦU MÁU - TRUYỆN DÀI CỦA VĨNH TRÀ đăng trên trang VNTHUQUAN
READ MORE - VĨNH TRÀ - DẦU MÁU (Truyện dài)

Wednesday, July 13, 2011

TUỆ THIỀN LÊ BÁ BÔN – CHÙM THƠ


Họ và tên : Lê Bá Bôn.

Bút danh: Tuệ Thiền.

Năm sinh: 1951.

Quê quán: Quảng Trị.

Trú quán: Ấp Bắc 1, xã Hòa Long , TX Bà Rịa, BRVT.

ĐT nhà: 064 821913.

Nghề nghiệp: Giáo viên (hiện đang phụ trách công tác thư viện - thiết bị ).

Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Hòa Long A, TX Bà Rịa, BRVT.

Học vấn : Đại học.

Tác phẩm đã xuất bản: Đường Về Minh Triết ( thơ – văn – tư tưởng), NXB Văn Nghệ

(Ảnh từ VanThoViet.Com, tiểu sử từ VanChuongViet.Org)


NỖI BUỒN LẤM ĐẤT

Trút hơi thở sau một ngày kiệt lực

Bác nông dân chưa kịp giã từ con

Vết nứt nẻ trên tay bùn chân lấm

Nhìn lũ chúng tôi, thầm lặng tủi hờn

Lũ chúng tôi những hình nhân trí thức

Lánh ruộng đồng và coi rẻ nông dân

Bưng bát cơm - quên tâm hồn đất nước

Lòng đen ngòm danh lợi kẻ vong ân!…

Nhìn mặt bác, nỗi buồn tôi lấm đất

Thói tự hào bật khóc trước quê hương

Tôi quỳ xuống hôn cuộc đời chất phác

Nhớ những đắng cay - nhớ những bát cơm…



NGHE HỌA MI HÓT

Họa mi ơi

Nghe sao mà thánh thót!

Ta đang thất nghiệp vì không quen đút lót

Chim hót nhẹ thênh

Ta nặng trĩu nỗi buồn

Họa mi ơi

Nghe sao mà vui thế!

Ta đang đau tấm thân đời nổi ghẻ

Xảo quyệt, tham ô, trí thức rởm lúc nhúc

trong từng nứt nẻ

Chim đang xuân

Ta còn hạ oi nồng

Họa mi ơi

Ta yêu, yêu lắm

Mà lòng ta chưa một với tình em!



BUỒN CÙNG TAHER MADRASSWALLA

Cọc cạch nhọc nhằn vòng quanh thế giới

Ông muốn trao thông điệp hoà bình

Nhưng trải qua mấy nghìn năm

Cái bản năng quyền lực

Đã ngấm sâu vào hành tinh

Và bom đạn bất nhân đang đi tìm

Niềm vui lấn lướt!

Và UNESCO còn mập mờ lúng túng

Giữa "con” và "Người”!

(Taher Madrasswalla là tên một người Ấn Độ đi xe đạp vòng quanh thế giới. UNESCO là Tổ chức giáo dục, khoa học,văn hoá quốc tế).



ĐAU BUỒN CỦA CHỊ

Hồn phong kiến vấn vương

Chị thâm quầng ánh mắt

Cái thằng-cu-tông-đường

Vào giấc mơ nát ruột!



TÂM ĐỐI XỨNG

Một bên là Thượng Đế

Một bên là cuộc đời

Biết làm tâm đối xứng:

Tỉnh thức giữa An Vui.


(Đường Về Minh Triết; NXB Văn Nghệ, 2007)

Nguồn: VanThoViet.Com

READ MORE - TUỆ THIỀN LÊ BÁ BÔN – CHÙM THƠ

TRẦM TĨNH NGUYỆN - CHÙM THƠ



Tên thật Nguyễn Văn Tịnh
Sinh 1957
Quê ở Quảng Trị.
1963-1968 học ở trường Thánh Tâm Quảng Trị, 1969 vô Tiểu chủng viện Hoan Thiện Huế, 1974 ra khỏi chủng viện và vào học ở trường Pétrus Ký Sàigòn.
Sau 4-1975 làm ruộng rẫy ở Bình Tuy và đi lập nghiệp ở một vài nơi khác.
Hiện nay đang làm nghề tự do ở Bình Chánh, Sàigòn


VÔ THƯỜNG VÀ VĨNH CỬU

Chỉ là một giây thôi

Cánh sao khuya rụng rơi
Đoá quỳnh hương nở rộ
Đó đây khóc lẫn cười
Chỉ là một giây thôi
Từ hư vô chơi vơi
Thoắt đã ra hiện hữu
Là tôi, và là người
Chỉ là một giây thôi
Giữa muôn nghìn giây trôi
Vô thường thành vĩnh cửu
Tạ ơn Trời, ơn đời.

15.02.1995




TỰ TÌNH


Đêm qua trong cõi lặng mênh mông

Có tiếng gì rơi chạm đáy lòng
Xao xuyến bừng lên niềm linh thánh
Lan xa tới tận chốn thinh không.

13.01.1995




TĨNH NGUYỆN


Một tia sáng vụt tắt.

Hai, ba,
Rồi nhiều tia sáng vụt tắt.
Tà huy.
U tịch.
Một người ngồi lặng im
Ngước mắt nhìn trời
Chờ sáng.
Thời gian trôi…
Một tia sáng loé lên
Hai, ba,
Rồi nhiều tia sáng bừng lên.
Bình minh.

1988



CÕI LẶNG

Yên ắng như lòng không,

Mênh mang trùm mông lung.
Tĩnh mịch giăng muôn trùng,
Hư vô nhoà không trung.
Lao xao niềm cô đơn,
Nao nao muôn ngàn cơn.
Âm thanh nào dập dồn
Hay thinh không véo von?
Chao ôi là ngất ngây!
Cõi lặng chìm đắm say.
Trống không bỗng tràn đầy.
Sững sờ không dám lay!

Tịch liêu ôm tịch liêu,

Ngơ ngẫn hoà đăm chiêu,
Ngỡ ngàng dâng trời mộng,
Diệu huyền ươm tình yêu.

15.01.1995


Nguồn: vanchuongviet.org
READ MORE - TRẦM TĨNH NGUYỆN - CHÙM THƠ

Tuesday, July 12, 2011

VÕ VĂN HOA - KHE TRÁI



Bãi sắn, biền ngô đồi bát úp

Làng quê xanh ngát những đồi nương

Du thuyền Thạch Hãn lên mạn ngược

Khe Trái* hoa rì ** chót lá hương.

*

Cá bống thượng nguồn sao lắm thế!

Nước trong như lọc cứ vây chân

Trưa nắng anh săn từng viên cuội

Bàn mài Như Lệ có đầy sân?

*

Ngoài vùng phủ sóng. Em hướng đạo

Bia bọt lời ca động núi rừng

Bây giờ anh thấy ngày rất ngắn !

Se sắt chiều lên..bóng nguyệt rưng.


Ngày rằm tháng tư Kỷ sửu (2009)


VÕ VĂN HOA tốc ký thơ

READ MORE - VÕ VĂN HOA - KHE TRÁI

Monday, July 11, 2011

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm



HÒ ĐỐI ĐÁP


1. Nữ: Tiếng đồn anh học thợ đã lâu, cho em hỏi thử vài câu. Anh đâu chiếc xe ba mươi hai lá, rứa lá mô đầu, lá mô đuôi?

(Đâu= đóng; xe ba mươi hai lá= xe đạp nước, guồng)

Nam: Trước trục tiền, sau trục hậu, giữa thì địa và cầu. Em thong dây cho anh xỏ ngạt, anh chỉ lá mô đầu, lá mô đuôi.

2. Nữ: Tiếng đồn anh hay chữ, cho em hỏi thử mấy câu. Chữ chi chôn xuống đất? Chữ chi cất lên tran? Chữ chi mang không nổi? Chữ chi tạc đá bia vàng không phai?

Nam: Chữ triệu chôn xuống đất. Chữ hiếu cất lên tran. Chữ tình mang không nổi. Chữ tâm tạc đá bia vàng không phai.

3. Nữ : Đố anh con rít mấy chân, cầu Đông Ba mấy nhịp, chợ Dinh mấy người?

Nam: Con rít có bốn mươi hai chân, Cầu Đông ba mười hai nhịp, chợ Dinh có hai người.

4. Nữ: Bướm vàng đậu đọt cau tơ. Anh ơi không kiếm nơi mô nương tựa mà cứ ở lẳng lơ rứa hoài?

Nam: Bướm vàng đậu đọt câu còi. Ba o còn nhỏ mà đòi lấy dôông.

5. Nữ: Cây cao đại thọ, bóc vỏ còn da. Anh thương em thì đến cửa đến nhà. Đứng mần chi ngoài đàng ngoài ngõ mà hỏi có vịt gà bán không.

Nam: Cây cao đại thọ, bóc vỏ khó trèo. Em lui về thưa thầy với mẹ nuôi thằng rễ nhà nghèo có được không?

6. Nam: Ngó lên trển trời tàu bay như én liệng. Ngó về dưới biển sóng cuộn ba đào. Chiếc thuyền quyên em nho nhỏ ai đã cắm sào vô chưa?

Nữ: Chiếc thuyến quyên em nho nhỏ mụi đỏ lái lè. Hai bên hai con mạn giữa lại đề tên anh.

(Mụi = mũi)

7. Nữ: Ở bên trên có hai ngôi miếu, dưới có cái đồn lầu. Anh có đi ngang qua đó nhớ cất nón, cúi đầu, vòng tay.

Nam: Anh cho hai con tinh tinh lên phá hai ngôi miếu. Anh cho con quỷ vô phá cái đồn lầu. Tội gì phải cất nón, cúi đầu, vòng tay.

8. Nữ: Em thương anh khộng biết cho chi. Cho anh một cái lọng móc đồng, để che mưa tréng nắng để phòng ốm đau.

(Tréng = tránh)

Nam: Lọng móc đồng cho cha em đội, cho cố nội em che. Chơ anh đây nghèo khó, đội cái nón te quen rồi.

9. Nam: Con ai nho nhỏ, tóc bỏ ngang vai. Chưa có chồng mà đã có thai. Một mai búp lòa hoa nở biết con ai mà nhìn.

Nữ: Áo em năm khuy em cài sít rịt. Ướm em cột chặt như nịt đố đóng đinh. Chiều bữa qua anh cho thằng nó qua rình. Ý làm sao anh lại biết mình có thai.

10. Nữ: Anh đến đây mần chi cho đồng khô cỏ cháy. Anh về làng Đáy mà ăn tôm cho nhiều.

Nam: Tiếng đồn làng Đáy nhiều tôm, răng em không gắp năm ba dịa quảy cơm hôm cho mẹ bên nhà.

(Dịa = dĩa)

Những câu sau còn thiếu một vế, xin các bạn bổ sung:

11. Ong vàng châm trái bầu eo. O chê tui nhỏ cho tui trèo thử coi.

12. Súng trường nạp đạn hai viên. Họa may may họa bắn chiếc thuyền quyên cho xạc xài.

13. Em hỏi anh con rắn không chân sao rắn bò khắp hòn rú? Con gà không vú sao gà nuôi được chín mười con? Trai nam nhơn chàng đối đặng chàng dòn han (?) thiếp cũng về.

14. Bốn bề bàu biển khô khan, giữa một vùng thủy tụ, ban bốn con ngàn nó lượn bay.

15. Thê đích thì ở nhà dọc, tiểu thiếp thì ở nhà ngang. Thân anh hai nhà ngói sẵn sàng. Tiếng kêu hầu dạ, chớ rộn ràng mà bị roi.

READ MORE - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

NGUYỄN TƯỜNG: TÔI CHỈ LÀ NGƯỜI GIEO HẠT



Nguyễn Tường (người bên trái) và ba bạn Dũng, Thông, Lư cùng tổ chức sinh nhật 27/8 tại SG 2009


Nhân sinh quý thích chí. Ở tuổi 60, Nguyễn Tường tự chọn cho mình một việc xưa nay hiếm: đó là chuyển những câu chuyện anh thích sang văn vần hay chuyện thơ. Trong khoảng thời gian chừng 5 năm trở lại đây, anh đã chuyển hàng chục bài ngụ ngôn, hàng chục câu chuyện trong thánh kinh, và một số chuyện anh tình cờ đọc được trên báo, kể cả báo bằng tiếng nước ngoài. Hầu hết đều có tính giáo dục rất cao. Nguyễn Tường đã đưa toàn bộ tác phẩm của mình lên Blog Yahoo của anh, một số được in và phát hành nội bộ để tặng bạn bè. VNQT xin gới thiệụ bài phỏng vấn Nguyễn Tường do Nguyễn Khắc Phước thực hiện qua mạng Internet.


NKP: Thưa anh, cái duyên nào đưa anh đến với cái thú chuyển văn xuôi thành thơ, một hoạt động văn học hiếm ai đeo đuổi trong thế kỷ 21 này. Trong gia đình anh có ai cùng sở thích với anh không?

NT: Tôi thích sử dụng văn vần từ kinh nghiệm cá nhân. Về gia đình, có lẽ tôi thừa hưởng gene di truyền từ mẹ tôi. Bà là người có năng khiếu bẩm sinh về hò đối đáp rất thông minh và ý nghĩa sâu sắc, biết dùng những câu ca dao, tục ngữ để dạy con dù bà không biết chữ. Chị tôi thích đọc Phạm Công Cúc Hoa, Lục Vân Tiên. Một kinh nghiệm nữa là khi tôi sinh hoạt tôn giáo, đối tượng có rất nhiều lứa tuổi, trình độ văn hóa khác nhau, những bài văn vần khi được sử dụng đã có hiệu quả cao. Theo tôi, văn vần mang tính giáo dục phổ quát, đại chúng cao.

NKP: Cho đến nay, anh đã viết được bao nhiêu bài theo thể loại này?

NT: Về số bài thì thật sự tôi không nhớ rõ, tuy nhiên, con số đó có thể đếm được trên trang blog của tôi. Trong blog, có một số bài nữa, tôi giữ ở chế độ riêng tư.

NKP: Anh thường chọn những bài có chủ đề gì để chuyển sang văn vần?

NT : Phần lớn các bài của tôi hướng về chủ đề Ki tô giáo và Nhân bản. Về Thánh Kinh, bài dài nhất là bài Tin Mừng theo Thánh Lu ca, gồm 3.300 câu loại tám chữ. Ngoài ra tôi cũng đã chuyển Luật Dòng, Kinh Mân Côi, một số bài Phúc âm ra nhiều thể loại văn vần như bảy chữ; tám chữ; sáu tám; hai bảy, hai tám ...

NKP: Ngoaì chủ đề về tôn giáo, anh còn chuyển thể những bài thuộc đề tài khác nữa không?

NT: Về ngụ ngôn, đầu tiên tôi thử chuyển các ngụ ngôn của Aesop, La Fontaine, và đã viết khá nhanh, tôi đã in tặng nhiều người. Khám phá được khả năng của mình, sau đó những ngụ ngôn nào tôi bắt gặp trên net, tôi liền chuyển qua văn vần. Số lượng này hiện rất nhiều và đều có trên blog. Tôi chú trọng ngụ ngôn do ở giá trị giáo dục nhân bản của nó.

NKP: Anh có bao giờ xuất bản tác phẩm của mình hay chưa?

NT: Tôi chưa xuất bản bao giờ, tôi chưa nghĩ tới điều đó. Tôi chỉ bỏ tiền ra in bằng photocopy để tặng bạn bè, đoàn thể. Số tiền này cũng không nhỏ nhưng tôi làm việc có mục đích là đóng góp cho đời. Tôi cũng phổ biến trên net và mọi người có quyền sử dụng tự do.

NKP: Tác phẩm nào anh đắc ý nhất?

NT : Tập văn vần mà tôi thích nhất là 3.300 câu Tin Mừng, tôi đã viết xong trong 21 ngày, đúng ước nguyện của tôi khi mới vào đạo Công giáo ngày 21/6/1975: Lạy Chúa, xin giúp con làm được một việc gì có ích cho quê hương, dân tộc.

NKP: Theo anh, văn vần khác với thơ thế nào? Văn vần được sử dụng trong những nội dung gì? Có tác dụng gì?

NT: Tôi xin được miễn trả lời những câu hỏi mang tính nghiên cứu, phân tích

NKP: Theo anh, truyện thơ đầu tiên bằng tiếng Việt là tác phẩm nào?

NT : Tôi không phải là nhà nghiên cứu văn học và cũng không phải là người làm văn học. Tôi chỉ là người gieo hạt - văn chương chỉ là phương tiện - với ước mong biết đâu sẽ có hạt giống sinh hoa kết quả tốt. Đó là lý tưởng sống của tôi.

Xin cám ơn bạn Nguyễn Khắc Phước đã đặt cho cho tôi những câu hỏi để tôi có dịp chia sẻ.


Nguyễn Khắc Phước thực hiện.



MỜI CÁC BẠN CLICK VÀO ĐÂY ĐỂ XEM TOÀN BỘ TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN TƯỜNG.
READ MORE - NGUYỄN TƯỜNG: TÔI CHỈ LÀ NGƯỜI GIEO HẠT