Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, November 20, 2010

NGUYỄN ĐỨC TÙNG - ĐỌC MỘT BÀI THƠ NHƯ THẾ NÀO




Tặng nhau từ ngữ lạc lầm

Cũng xin hồng lệ hãy đầm đìa tuôn

(Bùi Giáng)


BÀI MỘT

Ẩn dụ


Ẩn dụ trong thơ là nơi tập trung nhiều lớp ý nghĩa, là nơi mà ngôn ngữ ở trong tình trạng giàu có nhất của nó. Hình ảnh và ngôn ngữ giao hòa với nhau làm nên trung tâm của các biện pháp tu từ, gồm có sự so sánh, phép tượng trưng, nhân cách hóa, ẩn dụ… mà tôi gọi chung là phép ẩn dụ. Tôi cho rằng có một sự lẫn lộn (confusion) rất đáng tiếc của không ít người đọc hôm nay, trong số họ có cả những người sáng tác và những người yêu thơ, liên quan đến ẩn dụ mà chúng ta thử cùng nhau phân tích để làm sáng tỏ.

Chùm thơ của tôi trên talawas chủ nhật 9/3/2008 và bài của Đỗ Quyên - Bình thơ Nguyễn Đức Tùng ngay sau đó 10/3/2008, đã gây ra những ý kiến khác nhau, thậm chí tranh cãi, trong văn chương và ngoài văn chương. Nhiều ý kiến sâu sắc, thú vị của những tác giả khác nhau đã được trình bày, người đọc có thể tham chiếu trên talawas, nhưng cũng có những mặt tôi muốn chúng ta cùng suy nghĩ thêm.

Tôi xin mở đầu bằng thắc mắc trong văn chương của độc giả Quỳnh Thi. Hỏi: “Khi đứa bé còn đang chạy thì làm thế nào mà nó thoát khỏi cái bóng của mình đây?” Tôi xin hỏi lại: “Thế khi đứa bé không chạy thì nó có thoát khỏi cái bóng của mình không?” Lại xin hỏi tiếp: “Thế khi nó nhảy, thì sao?” v.v…

Tất cả những tranh luận như trên gọi là các tranh luận thuần lý (logical). Các tranh luận này có thể có ích cho khoa học nhưng không mấy khi cần thiết cho thơ. Thế thì hóa ra các nhà thơ muốn nói gì thì nói à? Ngụy biện chăng?

Để trả lời, mời bạn đọc thử Tô Thùy Yên:

Con đường đáo nhậm xa như nhớ

Xa như nhớ là xa thế nào? Sao không bảo là xa đi mỏi cả chân hay là xa ba cây số và hai trăm năm mươi mét cho nó dễ hiểu, khỏi thắc mắc?

Thật ra, vì những lý do mà chúng ta sẽ phân tích sau đây, các nhà thơ, một cách có ý thức hay không, thường dùng một thứ ngôn ngữ khác, không phải là ngôn ngữ khoa học và báo chí, mà chúng ta gọi là ngôn ngữ thơ ca (poetic language).

Tôi vừa bắt đầu bằng một thí dụ hơi khó. Thông thường, các so sánh như trên đây, là ngược lại.

Nhớ chàng như ánh trăng đầy

Đêm đêm vầng sáng hao gầy đêm đêm

(Tản Đà dịch thơ Đường: Tư quân như nguyệt mãn, Dạ dạ giảm thanh huy)

Đem một nỗi nhớ mông lung trừu tượng mà so với một ánh trăng cụ thể thì có vẻ gần với tưởng tượng hơn.

Ẩn dụ gắn với các hình ảnh. Hình ảnh trong thơ là một chữ có tác dụng mang lại các yếu tố cảm giác như nhìn, sờ, nếm, ngửi, nghe. Nghĩa của chữ do đó được tăng lên nhờ các xúc động mang tính chất vật thể. Khác với văn xuôi và ngôn ngữ báo chí, người đọc cần để ý rằng trong thơ, ý nghĩa của một câu là rất quan trọng nhưng chính hình ảnh của câu thơ đó mới quyết định sự thành công của nó. Hay không thành công.

Một đứa bé

Chạy rất nhanh

Chạy nhanh như thế nào? Nó chạy nhanh với mục đích gì? Không ai biết. Nhưng những đứa trẻ chơi đùa la hét trên sân trường, trên đường phố có mục đích gì không? Tôi nghĩ là không.

Khi ta còn nhỏ, nếu tôi nhớ không lầm về tuổi trẻ của mình, cuộc đời là cả một sự thể nghiệm (experiment). Tôi muốn tả niềm háo hức của tuổi thơ và niềm vui sống mà mùa xuân mang lại, gần như vượt khỏi giới hạn vật lý của con người, khi viết:

Thoát khỏi cái bóng của mình

Hiệu ứng thị giác. Một số hình ảnh rất sáng rõ, một số khác mờ tối hơn. Trong kinh nghiệm cụ thể chúng ta cũng thường nhìn các sự vật từ các khoảng cách khác nhau và dưới những ánh sáng khác nhau. Chúng gây ra các liên hệ (associations) mà người đọc lập tức có được một cách tự động do các kinh nghiệm cá nhân, vốn khác nhau của mỗi người. Mỗi khi nghe:

Ngày nhà em pháo nổ

Anh cuộn mình trong chăn

Như con sâu làm tổ

Trong trái vải cô đơn

(Nhạc Phạm Duy, phổ thơ (?) Nguyễn Văn Bình)

bao giờ tôi cũng nhớ đến cây vải đầu hồi nhà của dì tôi, một cây vải cao lớn tỏa bóng mát những ngày thanh bình, trước chiến tranh, càng về sau mỗi năm càng ít ra trái hơn có lẽ vì buồn nhớ người chủ đi xa lên tận xứ Lào làm ăn lưu lạc.

Các giác quan khác cũng gây ra những hiệu ứng tương tự như thế trong lòng người đọc - Không, tôi muốn nói là trong cơ thể người đọc.

Ẩn dụ là sự di chuyển của ý nghĩa. Đó là một phương pháp của ngôn ngữ, dùng thay thế cái này bằng cái khác, tạo ra nghĩa mới hoặc làm cho ta thấy rõ hơn một sự vật ở hai mặt khác nhau. Sự chuyển thể này có thể di chuyển từ một ý nghĩa trừu tượng đến một ý nghĩa cụ thể, hay là ngược lại.

Một ví dụ khác, không trực tiếp liên quan đến thơ: Nhắc đến một người chị họ của tôi, mẹ tôi hay nói: “Cái con chân đi không chấm đất”. Nói như thế là nói ví von. Không cần dùng đến chữ như. Ví von là một hình thức khác của phương pháp ẩn dụ.

Vậy, ẩn dụ không phải là chuyện dành riêng cho các nhà văn như nhiều người vẫn tưởng. Nó khởi đầu với ngôn ngữ hàng ngày và đến nay vẫn tiếp tục như thế.

Tại sao người ta dùng đến ẩn dụ? Vì nó mô tả các trạng thái và các sự vật ở mức độ chính xác hơn, sắc sảo hơn.

Ngôn ngữ thơ có hiệu lực mô tả những kinh nghiệm phức tạp mà ai cũng từng trải qua: Gặp lại người bạn thân thuở thiếu thời, phẫn nộ trước cảnh bất công, sự mất mát đau đớn, v.v… Hay là tình yêu lâng lâng đầu đời.

Lặng nghe lời nói như ru

Nói như ru là nói thế nào? Nói dịu dàng, êm ái, làm người ta lặng đi, sung sướng bồi hồi. Như ru là phép so sánh. Câu trên đã hay như thế rồi, câu dưới phải thế nào?

Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng

Nét thu là ẩn dụ. Nét thu là nét gì? Trừu tượng cực điểm để mô tả một trạng thái mơ mơ hồ hồ và cái đẹp lãng đãng của Kiều.

Nhưng phép ẩn dụ được dùng lâu ngày sẽ sáo mòn như chính ngôn ngữ, trở thành con dao hai lưỡi. Nét thu càng trừu tượng thì càng khó biết đó là nét gì, nghĩ đến đâu cũng được, dùng cho ai cũng được. Đó là ngôn ngữ quy ước thường gặp ngày xưa. Như ru là phép so sánh tỉ lệ, nét thu là ẩn dụ thay thế, theo nghĩa hẹp, chiều xuân là tả thực. Không phải chỉ có các chữ mà toàn bộ một ý tưởng hay hình ảnh cũng, và thường khi, tạo ra ẩn dụ.

Gieo cầu em ném giữa mông lung

Ta như ngọn gió làm sao bắt

Lại rớt vào tay một gã khùng

(Thu Bồn)

Mặc dù được sử dụng trong đời sống hàng ngày, ẩn dụ được dùng nhiều hơn và đặc biệt hơn trong văn học. Vì sao nhà văn dùng nó nhiều? Chúng ta hãy xem hai thí dụ sau đây:

Ngôn ngữ thông báo: Ngày mai trời nắng, không có mây. Không có nhu cầu để sử dụng các so sánh ở đây.

Ngôn ngữ khoa học: A+B = C. Không có vai trò của hình ảnh vì các thông tin này đã được trừu tượng hóa. Trừu tượng hóa là sự giản lược các sự vật sinh động thành các khía cạnh tinh khiết, không màu sắc, mùi vị, hình dáng. Nhờ trừu tượng hóa, nhà khoa học bỏ qua các chi tiết không quan trọng để giải quyết các thông tin chính. Trong hình học chẳng hạn, hình tròn là hình tròn; nó không nhất thiết phải là trái cam hay chiếc bánh ngọt.

Chữ trừu tượng tiếng Anh là abstract. Abstract không chỉ có nghĩa là trừu tượng mà còn có nghĩa là rút ra, lấy ra. Các nhà toán học rút cái hình tròn trừu tượng ra khỏi trái cam.

Trong đời sống, chúng ta có những kinh nghiệm ngược lại.

Bạn không ăn những hình tròn mà ăn những trái cam hay những cái bánh ngọt. Càng cụ thể, sự vật càng trở nên phong phú. Nhà văn là người đi tìm các sự vật cụ thể, ở đó đời sống trở lại tình trạng nguyên khôi của nó, phức tạp, phong phú và bất tận.

Trong văn xuôi có nhiều ẩn dụ, nhưng trong thơ chúng trở nên dày đặc. Có thể nói rằng: Thơ chính là ẩn dụ.

Để so sánh người ta thường dùng hai cách. Một là so sánh trực tiếp, như trong câu thơ của Nguyễn Du trên đây, hay là:

Thơ ta như cánh nhạn

Không bao giờ có đôi

(Viên Linh)

Đây là phương pháp tỉ lệ (simile). Nhưng các nhà thơ hiện đại thường đẩy xa sự so sánh này, và dùng một điều trừu tượng để tả một vật cụ thể, như trong câu thơ của Tô Thụy Yên đã nói, hay có thể nhắc đến câu thơ của Trần Mạnh Hảo:

Ngày sống như thí dụ

Ban đêm sống thật hơn

Cách thứ hai là so sánh gián tiếp, không dùng đến chữ như.

Tôi muốn ngược thời gian

Bước xuống từng bậc đá

(Thanh Thảo)

Tác giả mô tả thời gian bằng không gian, một cách khéo léo tinh tế. Một đặc tính của ẩn dụ là sự tương tự, giống nhau. Nếu lời nói không dịu dàng thì không thể gọi là như ru được.

Nhưng sự so sánh không phải bao giờ cũng là giữa hai vật giống nhau. Nếu một nhà văn viết: Nói bi bô như một đứa trẻ, thì đó là một phép so sánh tầm thường, ở một tay nghề còn non. Sở dĩ như thế vì trong sự ví von này các đối tượng rất gần nhau.

Nhưng khi Quang Dũng viết:

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

thì người nghe thấm thía sức mạnh của câu thơ, nhờ sự khác nhau giữa khúc độc hành và sông Mã.

Sức mạnh của nhiều ca từ Trịnh Công Sơn cũng nằm ở đây.

Tuy nhiên sự khác nhau này không được xa quá. Nếu viết: Trong bồn tắm của nàng vòi nước gầm lên khúc độc hành thì hai hình ảnh quá xa, trở thành một ẩn dụ kém. Chồng nàng gầm lên thì có.

Đôi khi nhà thơ chuyển dịch một khái niệm rất trừu tượng vào một sự vật rất cụ thể, đẩy sự chuyển dịch đến tận cùng, biến ngôn ngữ thành hình ảnh. Hình ảnh này trở thành một tấm gương đối chiếu cho các xúc cảm và các giá trị tinh thần có tính cách cộng đồng, ta gọi là các biểu tượng. Các biểu tượng vì quá cô đọng có thể trở nên huyền bí hoặc khó giải thích, gây ra những cách hiểu khác nhau, thậm chí trái ngược.

Con cóc trong hang

Con cóc nhảy ra

Con cóc nhảy ra

Con cóc ngồi đó

Con cóc ngồi đó

Con cóc nhảy đi

Bài thơ này không phải để tả con cóc. Hình như thế. Con cóc chỉ là biểu tượng. Nhưng là biểu tượng của cái gì? Cho rằng bài thơ trên là một bài đồng dao dễ hát, dễ nhớ cũng đúng. Cho rằng nó là một bài thơ dở cũng đúng. Nó không phải thơ ư? Cũng đúng. Cho nó có những ý nghĩa văn chương và xã hội hết sức quan trọng và cách tân, thậm chí là một bài thơ tuyệt hay như trong các tranh luận ngày nào của Nguyễn Hưng Quốc, Đỗ Minh Tuấn, Đặng Tiến trên báo chí hải ngoại, cũng đúng. Sở dĩ như thế là vì các tranh luận hay tranh cãi nói trên, trong khi không phải là vô ích, thực tế đã mang lại những hiểu biết mới, thì chắc chắn không thể dẫn đến kết luận cuối cùng như các nhà tranh luận nói trên vẫn tưởng, vì bản thân tác phẩm đã sử dụng một biểu tượng hoàn toàn mở (open ended). Sự diễn dịch và thẩm định nghệ thuật đối với bài Con Cóc lệ thuộc vào các hệ đối chiếu văn hóa – tâm thức (reference) và tọa độ của người đọc, vốn thay đổi theo thời gian và không gian.

Một thí dụ khác: các nhà thơ viết tiếng Anh thường nhắc đến chữ bone (xương). Với họ, chữ bone có một ý nghĩa biểu tượng sâu xa. Chữ xương trong tiếng Việt không có một ý nghĩa tương tự sâu xa như thế.

Nửa nụ hôn đầu ta đã gửi

Lên mặt hồ trong suốt đời ta

(Hoàng Vũ Thuật)

Nụ hôn đầu là biểu tượng hay dùng của người Việt Nam. Trong tiếng Anh, chữ first kiss không gây ra một ấn tượng sâu đậm tập thể như thế (nói chi đến nửa nụ). Nhưng mặt hồ trong suốt là gì thì không rõ lắm. Nó có vẻ như được dùng để thay thế một cái gì đó, ai cũng hiểu, nên không cần phải nói ra. Tôi xin nói thêm rằng trong nhiều trường hợp, hình ảnh không những mang lại các cảm giác vật lý cụ thể mà còn gây ra những thay đổi về giọng điệu (tone) của bài thơ. Chúng ta sẽ còn dịp quay lại vấn đề này.

Các nhà cấu trúc luận còn đi xa hơn nữa khi cho rằng thật ra tất cả các ngôn ngữ đều là ngôn ngữ hình ảnh. Họ cho rằng mối liên hệ giữa cái chỉ định và cái được chỉ định là có tính cách hoàn toàn ngẫu nhiên hay ngẫu hứng, tức là không có quy luật nào cả.

Sự diễn dịch các ẩn dụ văn học, tức là tìm hiểu về nó, giải thích, phân tích, trao cho nó các ý nghĩa văn học và xã hội, là một công việc thú vị nhưng phức tạp, rất dễ gây nhầm lẫn. Trong thí dụ của mấy câu thơ của Thu Bồn trên đây, gã khùng là ai? Anh chồng giàu bụng phệ của người đẹp? “Bọn lính Mỹ xâm lược” trong mắt một số người? Hay “...” trong mắt một số người khác?

Khó như thế là vì ngôn ngữ thơ ca là một ngôn ngữ bị nén chặt, giàu năng lượng, chứa đầy điện tích.

(Còn tiếp nhiều kỳ)

Đón đọc kỳ sau: BÀI HAI - Sự hấp dẫn của chữ

Vancouver, tháng 3 & 4/2008

Nguyễn Đức Tùng

Các sách tham khảo cho bài viết:

- Thi Vũ: Bốn mươi năm thơ Việt Nam, NXB Quê Mẹ, 1993

- Hoàng Ngọc Hiến: Những ngả đường vào văn học, NXB Giáo dục, 2006

- Nguyễn Hưng Quốc: Thơ con cóc và những vấn đề khác, NXB Văn Mới, 2006

- Tuyển Tập Tiền Vệ I, NXB Tiền Vệ, 2007

- Đặng Tiến: Vũ trụ thơ II, Thư Ấn Quán, 2008

- Trần Dần: Thơ, NXB Đà Nẵng, 2008

- Gary Geddes, 20th Century poetry & poetics, Oxford University Press, 1996

- Harold Bloom: Genius, NXB Warner Books, 2002

- Dana Gioia: Twentieth century – American Poetry, McGraw Hill, 2004

- David Lehman: The Oxford Book of Poetry, 2006


Xin lỗi anh Nguyễn Đức Tùng: Vì sự an toàn của trang VNQT, xin lược bớt mấy từ trong câu:

Hay “...” trong mắt một số người khác?

Xin anh thông cảm.
READ MORE - NGUYỄN ĐỨC TÙNG - ĐỌC MỘT BÀI THƠ NHƯ THẾ NÀO

Friday, November 19, 2010

NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - CHÙM THƠ




Thương nhớ sầu đông

Tặng Liên Hưng


Em ngoan khuôn mặt trái xoan

Hè về chơi đánh ô làng với tôi

Xuân qua hoa cũng tàn rồi

Cây sầu đông trái xanh ngời tuổi thơ

Đường làng khoét xuống mười ô

Hai ô cái thẳng hai bờ ô con

Hơn thua từng trái sầu đông

Say sưa đánh trận quân lương đầy bồ

Anh thua anh khóc giả vờ

Em thua em khóc như chồ hết khoai

Hết đông rồi lại giêng hai

Hoa sầu đông nở đất trời ngát hương

Hát bài chín nhớ mười thương

Em đi để lại con đường mười ô

Trái xoan khuôn mặt ngày xưa

Sầu đông từng trái sợ mùa thu sang

Thời gian thao thiết chín vàng

Thương em mưa đổ ngút ngàn đường quê

Làng xưa miềng đó em tề

Sầu đông trụi lá tôi về với ai.


Sài gòn 2005















Về xanh Cổ Thành

Tặng QT

1.

Mùa mơ năm trước vàng cành

Mùa thay áo cũ mùa lênh đênh sầu

Mùa em môi quạnh mắt sâu

Mùa ta môi lạnh thâm màu ăn năn

Từ em rét mướt qua trần

Tóc đông lệch mái tay quần mây tan

Từ em mơ mùa xuân tràn

Mơ thu em gãy ngón đàn tiễn đưa

Hỏi người sầu lộng nắng chưa

Hỏi người lá rụng mắt chờ sân ai (*)

Cùng ta cuồng khúc mê này

Gọi là kiếp trước mái Tây hẹn hò

Chèo khua rụng tiếng thương hồ

Ta chờ em rụng lá khô bàng hoàng

Chờ em thắp nến quan san

Chờ em ảo ảnh chân quàng trăng xiêu

Chờ em về giữa lòng chiều

Tóc lay vai nhỏ chắt chiu gót buồn

Tỉnh ra sợi khói hoàng hôn

Tan trong mưa bấc gió cuồng bãi hoang

Ngày xưa guốc động chân thang

Phải người mặc áo mơ vàng qua đây

Phải ta cùng kiếp đọa đày

Say trong khói thuốc vàng tay học trò

2.

Về xanh Cổ Thành hay chưa?

Em đi mưa đổ đầm đìa lá hoang

Vuốt cung đàn cũ võ vàng

Ta mê cuồng hát cho tan bóng mờ

Người buồn tóc rũ rèm xưa

Người buồn như gió như mưa cuối mùa

Người buồn rối cả trời thơ

Tình người động nước dạt bờ bến tôi

Người ơi tôi thấy tôi rồi

Đừng buồn tôi có nụ cười vô duyên

Đừng buồn tôi có bóng đêm

Đừng buồn tôi có cả thềm trăng mơ

Xuân về sông nước lẳng lơ

Hạ qua vạt áo ngẩn ngơ gió nồm

Thu đi chiều lặng đầu thôn

Dậy thì như sóng. Hương cồn cào lên

Đông nào tóc chảy má hiền

Gió mưa về khóc nghiêng nghiêng nón người

Bước đời vội lắm người ơi!

Hãy về xanh lại bóng người thành xưa


Thị xã Quảng Trị

Mùa đông 1971

READ MORE - NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - CHÙM THƠ

Thursday, November 18, 2010

HOÀNG CÔNG DANH - MẠN ĐÀM VỀ THƠ



“Đất nước của những nhà thơ” - đó là điều không còn chối cãi khi nói về nước Việt ta. Nhà nhà làm thơ, người người làm thơ, ra ngõ là gặp nhà thơ. Cái vinh hạnh của tôi là được sinh ra trong một đất nước như thế, mầm thơ được ấp ủ từ những ngày còn nằm trong bụng mẹ, “Con lớn lên trong hạt gạo cưu mang / tâm hồn lúa nở mầm vần thơ chín”.
Mỗi người làm nghệ thuật nói chung và làm thơ nói riêng đều chọn cho mình một kiểu lập ngôn khác nhau. Người nào nói hay thì được gọi là “tuyên ngôn nghệ thuật” của đời mình. Người làm thơ không thể không suy nghĩ về chuyện làm thơ, chuyện ngoài những bài thơ, tức là vấn đề sự kiện ảnh hưởng đến thơ. Ở bài viết này, tôi xin phép mạn đàm một chút về thơ, đó là những suy nghĩ trở trăn sau mấy năm trời theo đuổi cái “nghiệp” (Karma) thơ này!
Khởi đầu của những nhà thơ là gì?
Ngay từ cái ngày ấu thơ, ai cũng được bà và mẹ hát ru ầu ơ những điệu dân ca những làn quan họ mượt mà. Đó là những thứ văn vần dễ nghe được phối hợp với thanh điệu mượt mà của giọng ngâm mềm nhũn khiến những đứa bé đi vào giấc ngủ dễ dàng hơn. Đó là những cảm nhận đầu tiên của thơ, dường như thơ là thứ văn hoá được con người ta tiếp nhận đầu tiên trong cuộc đời của mình. Chưa nhai được cơm, chưa biết được chữ, thế mà nghe thơ vẫn có thể hiểu. Chính cái sự dễ dàng trong cách tiếp cận thơ Việt này là mầm mống nảy sinh ra mỗi nhà thơ trong từng con người Việt.
Có những cái ngấm ngầm đi vào trong con người mình mà ta không biết. Thơ trong lời mẹ ru giống như những hạt mưa trời sa xuống biển Đông, chả ai biết mưa rơi trên biển cả nhưng nếu không có mưa ở đó thì làm sao nước biển đầy mãi được? Cái thầm lặng của thơ trong tâm hồn con người ta cũng kín đáo như thế! Nó góp phần xây dựng nét đẹp cho đời sống tinh thần con người nhưng nhiều lúc ta chưa đánh giá đúng vai trò của nó. Ai cũng được mẹ hát ru, nhưng chả ai nói đó là thơ. Không những thế khi nhắc đến thơ có người coi đó là thứ nghệ thuật bậc cao mà chỉ những ai cực kì thông minh mới làm được. Những nhận định sai lầm này khiến cho họ tự phủ định mình mà không hay biết. Họ đâu có ngờ rằng trong con người mình cũng đã có những “hạt giống” của thơ, nếu biết chăm tỉa đúng thì sẽ trở thành một cây thơ cho ra hoa-lá-cành đều toàn thơ là thơ.
Khởi đầu nguyên thuỷ của những nhà thơ đều giống với những người bình thường khác, cũng như cái lúc chào đời của Thái tử Siddhattha (Đức Phật sau này) cũng giống hệt bao người. Vấn đề cho thơ phát triển trong con người mình - đó là do giáo dục và rèn luyện. Môi trường sống và các điều kiện nghe nhìn. Một đứa trẻ sinh ra trong gia đình nhiều kinh sách sẽ dễ trở thành một nhà triết học, một đứa trẻ sinh ra trong gia đình toàn được nghe những lời ru câu ca không trở thành nhà thơ thì thành cái gì? Đôi lúc chỉ cần những “cú hích” rất nhỏ thôi cũng đã dẫn đến một nghiệp thơ. Ngày ấy, tôi không có ý định làm thơ đâu. Nhưng rồi một người bác đã làm thơ, đóng thành tập, đọc rất xuôi lưỡi nên tôi cũng tập tành thử xem. Ban đầu thì lấy thơ của bác rồi nhái lại giọng điệu hoặc chắp thêm vào cuối bài mấy câu. Khởi nghiệp cái gì người ta cũng cần nơi nương tựa và vốn liếng. Tôi coi người bác của mình là nơi nương tựa còn mấy câu thơ tạm mượn là vốn liếng đi vay đi dặm ban đầu. Những mầm thơ bắt đầu như thế cứ chín dần chín dần lên…
Chúng ta được đến trường đi học. Từ lớp mẫu giáo đã được cô dạy cho những bài thơ về chú lính biên giới đảo xa, về con mèo nhà em, về bông hoa màu tím… Những ngày đó ta biết khái niệm đích thực của thơ là phải có vần. Thường viết cho trẻ em thì phải là thể thơ lục bát hoặc thơ năm chữ để dễ đọc dễ thuộc. Đã có khái niệm thơ, trẻ con đến trường cũng chỉ thích hát và đọc thơ thôi! Vậy là cái tình yêu dành cho thơ đã nẩy sinh. Thơ những ngày con nít vừa đọc vừa múa tay theo minh họa rất sinh động biểu cảm. Đứa bé như một “cây thơ” đang vừa uốn vừa nhún vừa phát ra thơ.
Thơ của những ngày ấy gắn liền với những trò đồng dao, những bài ca hát để chơi trò chơi trên cánh đồng làng. “Rồng rắn lên mây” rồi thì “Mèo ghé thăm nhà chuột” hay như trò “Chặt cây nắm tay” thì đều có thơ minh họa. Trên lưng trâu ê a đọc thơ, trần truồng dưới nắng trưa chảy cả mồ hôi vẫn đọc thơ, chiều về xuống sông tắm cũng đọc thơ. Hình như thơ đã gắn liền nơi miệng môi những đứa trẻ. Thơ đọc ra để phá tan cái không khí tĩnh lặng chốn đồng quê.
Những ngày còn nhỏ đã biết yêu thơ, thế nên người ta dùng hai chữ “trẻ thơ” không phải vô cớ. Đã trẻ con thì phải có thơ, không thơ sao thành trẻ con được. Mầm thơ khai sinh từ độ đó, trong mỗi con người ta, thơ ca nở ra tự bao giờ?
Từ yêu đến tán tỉnh!
Cái hành trình của một người đến với thơ cũng như hành trình để một chàng trai tiếp cận với cô gái. Thơ lại là một cô gái đẹp nên dĩ nhiên để tán tỉnh là rất khó. Ban đầu con người ta yêu thơ, mức độ nhiều ít khác nhau nhưng không thể phủ định trống trơn. Giống như đứng trước một cô gái đẹp mà bạn không hề mảy may rung động thì quả bạn có vấn đề. Người yêu thơ mạnh mẽ sâu sắc thì tìm cách đến với thơ khéo léo và nhanh hơn.
Từ yêu thơ, người ta bắt đầu làm thơ để trở thành những nhà thơ. Quan niệm buổi đầu là làm thơ vì thấy thơ hay, làm thơ để chứng tỏ mình có biết thơ và tất nhiên cũng nhen nhóm hy vọng một ngày thơ lên trang báo và được in sách. Ban đầu làm thơ rất dễ! Tôi phải nói điều đó vì chỉ cần đặt bút là người ta viết được ngay vài câu. Những câu viết ra một cách dễ dàng vì họ không bị trói buộc bởi một niêm luật qui tắc và một mớ lí luận như những nhà thơ thực sự. Cái thuở ban đầu làm thơ rất hồn nhiên, nhìn nắng mưa cây cối bên ngoài là đã có thể viết vài ba câu đọc chơi - như vậy cũng gọi là thơ. Viết được đôi ba bài thấy hay hay thì làm tiếp. Đề tài được “khai thác” mở rộng biên độ hơn, không còn tả những vật quanh nhà mà đã vươn ra tận ngoài đồng để tả hạt gạo, rồi cảnh mẹ em ra đồng đi gặt. Thơ bám đũng quần nâu sồng của người nông dân lam lũ ra tận ruộng.
Thường thì người Việt đều bắt đầu bằng thể thơ lục bát. Dễ hiểu bởi đó là thể thơ cổ truyền dân tộc. Niêm luật nếu phân tích thì mới thấy rối nhưng nếu cứ bắt vần cho chữ thứ sáu câu lục hiệp với chữ thứ sáu câu bát là ra thơ lục bát. Đó là một quy tắc duy nhất mà người bắt đầu làm thơ biết và vận dụng thành thạo. Người bắt đầu làm thơ không có chuẩn bị lập ý lập ngôn. Cứ viết ra một câu rồi tìm chữ lắp tiếp câu khác sao cho đúng chữ thứ sáu có vần với câu trên là được. Nghĩa là chỉ cần chọn được một chữ hiệp vần là coi như xong một câu. Mà cái tiếng Việt ta “hơi bị” phong phú nên chi để chọn một chữ hiệp vần cũng dễ dàng. Thơ lục bát thuở đầu mọc ra như nấm.
Thơ của sự khởi đầu vô tư và trống rỗng. Đọc thấy vần và điệu, dễ nghe dễ thuộc nhưng không hàm chứa một ý niệm nào cả. Đó là loại thơ tả chứ không phải thơ hàm ngôn. Điều này dễ hiểu bởi cái thuở ban đầu có ai dạy cho lí luận thơ đâu mà biết. Họ cứ nghĩ thơ tức văn vần, thế nên viết những câu có vần thì gọi là thơ! Khái niệm thơ đựơc xây dựng trong trí óc buổi đầu cũng khá đơn giản. Nếu viết hai câu không hiệp vần thì tôi tin người ấy sẽ gạt tay chối từ bai bải rằng “Đó không phải là thơ!”. Trong những con người ấy, từ nhỏ đến khi bắt đầu làm thơ đã quá quen những bài thơ có vần có điệu nên khi nghe những câu “thơ thực sự thơ” thì choáng váng.
Tư duy thuở đầu thật là đơn giản. Điều đó cuốn hút con người ta vào với thơ chứ nếu biết thơ phức tạp chắc chẳng ai dám đụng đến. Ở phương diện này thơ giống một cô gái đỏng đảnh lắm! Nhìn xa trông đẹp, đến gần thấy có duyên, bắt chuyện nàng nói liền, nàng bắt mình theo đuổi mãi nhưng tuyệt nhiên không cho mình cơ hội nói lời tỏ tình.
Khi trót mang em kiếp làm… thơ
Từ khi bắt đầu yêu thơ, bày trò làm thơ, làm được thơ rồi thì muốn thơ phải hay đến mức đọc vào người ta khen ngay. Vậy là những thôi thúc của cái “nghiệp thơ” đã vận vào mình.
Không còn dừng lại ở những bài thơ cổ điển lục bát, người làm thơ tìm đọc tất cả các thể thơ khác, mở rộng đề tài và vượt luôn biên giới quốc gia đọc thơ Tàu thơ Tây hòng kiếm được một vài “bí kíp”. Giai đoạn này chỉ đọc thơ toàn thơ, nhờ vậy nên viết ra thơ cũng khá lên nhiều, nhưng bị ảnh hưởng thì không phải là không có. Đọc được cỡ dăm ba bài của người ta là đã “ngứa nghề” muốn viết như thế. Ta cầm bút lên viết và nhận thấy “Sao giống của người ta vậy?” – Đó chính là bệnh đọc chưa tới nơi tới chốn của người mới tập tành thơ. Thế nhưng cái ý thức mở mang tìm hiểu để đọc là đáng khen và cần thiết cho những ai muốn chọn thơ làm một cuộc chơi trong đời.
Nhưng đọc nhiều thơ chưa thể làm được thơ hay mà chỉ giúp cho ta phong phú thêm về từ ngữ và thể loại. Người ta không thể chỉ đọc thơ nhiều mà viết ra thơ. Thơ là một nghề nghiệp nên cũng phải được đào tạo căn bản, kiến thức nền quan trọng đó là lí luận thơ. Sau đó đến cảm nhận thơ và phê bình thơ, ta đều phải đọc. Người bắt đầu làm thơ thường rất biếng đọc những thứ này, họ cho rằng đó là mớ kiến thức nặng đầu khó hiểu, nói linh tinh. Điều này là do họ “yêu thơ quá” sinh ra mù quáng, do yêu thơ quá mà chỉ thích những câu ngắn gọn có vần chứ cái loại chữ tràn trang giấy thì không thèm đọc. Một lần nào đó họ đọc được bài cảm nhận ngắn, thấy hay, vậy là tìm đọc tiếp. Nhưng thường những bài cảm nhận thơ đều nói về cái chưa được của bài thơ, họ đọc và thấy có lí. Thế là từ việc chỉ đọc mỗi thơ, nay họ còn đọc cả cảm nhận phê bình. Thơ họ hay lên nhiều chính nhờ phê bình.
Dừng lại ở đây một chút để nói về vai trò của các nhà phê bình thơ. Đó là người định hướng cho thơ và làm đẹp thêm cho thơ. Người phê bình là người có khả năng lí luận sắc sảo và cảm nhận tinh tế. Nếu nhà thơ nhạy cảm một thì nhà phê bình phải nhạy cảm gấp đôi. Không ai đi làm phê bình để chê thơ người ta cả, cũng không ai làm phê bình để vỗ tay hoan hô cho những bài thơ dở. Nhà phê bình là người có chính kiến riêng của mình, họ nhìn ra cái hay cái đẹp của bài thơ để khen ngợi. Nhìn ra những mầm mống nhân tố mới để động viên và cũng có khi họ thẳng thừng chê một câu nào đó. Điều này làm mất lòng nhau, vốn ở đời người ta chỉ thích được khen thôi. Ở ta, nhà phê bình không phải là nhiều. Chúng ta cần xây dựng mô hình văn chương giống mô hình chăm sóc sức khoẻ cộng động ở các nước phát triển. Ở các nước đó, mỗi người có một bác sĩ riêng chuyên chăm sóc bệnh tật. Vậy thì ở ta mỗi nhà thơ cũng nên cần có một nhà phê bình bên cạnh để hỗ trợ. Một số nhà thơ của ta ngày nay đã giải quyết được vấn đề này một cách khá tiện lợi, tức là họ vừa sáng tác thơ và vừa phê bình thơ luôn. Điều này đỡ mất thời gian và công sức đợi giới phê bình để mắt tới, lại biết đâu trong tương lai mình cũng thành một nhà phê bình. Một công đôi việc, quả là lợi hại.
Trở lại với vấn đề mạn đàm về chuyện đọc. Khi nhà thơ đã cố công đọc lí luận phê bình thì thơ của họ lớn lên trông thấy, cách cấu tứ bài thơ lẫn lập ngôn đều chín chắn. Họ bắt đầu biết trăn trở để làm sao thơ hay hơn, hàm súc hơn, kiệm lời nhiều ý và nhất quyết trong thơ phải nói lên được nhiều điều. Thơ lúc này thấm đẫm chất triết lí hơn và họ thấy “thơ thật khó hiểu”. Việc đọc sách của các lĩnh vực khác cũng không phải là thừa, đọc thêm sách khác nhằm nâng cao hiểu biết kiến thức bổ trợ cho thơ. Nếu biết kết hợp thì trong một chừng mực nào đó giữa thơ văn và khoa học tự nhiên có những mối tương hợp hoà điệu. Vốn kiến thức thiên văn học của vật lí hay kiến thức hình học không gian của toán học đều hỗ trợ cho trí tưởng tượng của người làm thơ rất nhiều. Những kiến thức đó chúng ta bảo là khô khan, nhưng thiếu nó thơ sẽ mất đi cái sự vĩ mô tổng quát.
Quan niệm sáng tác thơ
Đây quả là một vấn đề rất nhạy cảm của người trong giới. Khen chê la ối, tâng bốc hay trù phạt nhau cũng chính từ đây mà ra. Người làm thơ cổ điển thì bảo mình trung thành với vốn văn hoá dân tộc, rồi mặc sức chê những người đi lai căng thơ Tây thơ Tàu. Những người viết theo hơi hướng mới tự nhận mình là người đi tiên phong trong việc hướng thơ Việt ra với thế giới, rồi cũng không tiếc lời nhiếc mắng những người còn lại là bảo thủ, lạc hậu. Vấn đề chọn đề tài hay thể loại sáng tác thuộc về thực đơn riêng của mỗi người, không nên tranh luận. Mỗi người có một cái lưỡi, vị giác khác nhau nên dĩ tất có khoái khẩu khác nhau. Người miền Nam thích ăn đồ ngọt, ta không thể cấm chỉ vì bảo ăn nhiều đồ ngọt dễ bị bệnh béo phì!
Thiển nghĩ thì dù thế nào, có hai quan niệm này là bất di bất dịch.
Thứ nhất là thơ nào thì phải gắn liền với hồn dân tộc nấy. Đây chính là vấn đề sứ mệnh của nhà thơ. Ta biết rằng với các lĩnh vực khác như khoa học tự nhiên thì nó không đặc trưng cho đất nước nào cả, nhưng văn học nó là đặc trưng cho cả dân tộc bởi nó gắn liền với ngôn ngữ. Tiếng Việt khác xa nhiều tiếng các nước khác, văn hoá người Việt cũng khác người ta, nên chi văn học Việt nói chung và thơ Việt nói riêng sẽ mang dấu ấn Việt. Điều này có thể dùng để giải thích tại sao hình ảnh hạt gạo, bến nước con đò lại xuất hiện nhiều trong thơ ta đến vậy! Tính dân tộc trong con người giúp ta sống đẹp hơn, sống đúng với văn hoá của mình, còn khi nó được đưa vào thơ thì làm cho thơ có hồn có vía, dễ đi vào lòng người hơn.
Thứ hai là thơ phải nói được vấn đề lớn lao của xã hội. Đây là yêu cầu cho những ai muốn trở thành một nhà thơ lớn. Một bài thơ nhỏ, có thể vỏn vẹn hai câu nhưng nó phải bao quát một thực trạng của xã hội. Làm được điều đó thì thơ mới trở về đúng nghĩa của nó là “kiệm lời nhiều ý”, hay người xưa còn gọi là “thi tại ngôn ngoại”. Thơ là sự rung động rất mong manh, người viết đôi lúc chỉ lách tay một cái là bài thơ có thần. Thơ nếu nói được một vấn đề lớn cho cả xã hội loài người thì nó đã hoàn thành sứ mệnh của mình. Xu hướng này ngày nay đang phát triển rất mạnh mẽ, những người làm thơ trẻ lấy đời sống nội tâm riêng của mình để nói về thực trạng của một thế giới, lấy cái bản năng tính dục của mình để khơi gợi những nguyên nhân sâu xa dẫn đến các hoạt động xã hội, đó chính là sự mô phỏng lại phân tâm học của Freud.
Nói chuyện về thơ có lẽ sẽ khôn cùng, khi mỗi ngày trên đất nước tôi sinh ra biết bao nhiêu trẻ em là chừng đó nhà thơ ra đời. Đất nước của những nhà thơ, quả thực đó là một niềm tự hào nhưng cũng là một vấn đề cần được chăm chút. Nhà thơ thường lập ngôn, mà ngôn từ họ nói ra ảnh hưởng rất lớn đến quần chúng. Vậy nên cần làm sao cho những nhà thơ mới sinh ngày hôm nay một cách tốt nhất để sau này họ có thể trở thành những “nhà thơ thực sự thơ”.
Những tiếng khóc oa oa chào đời
Đất nước tôi có thêm những nhà thơ.
Minsk, Bạch Nga - 2/2008
Hoàng Công Danh
READ MORE - HOÀNG CÔNG DANH - MẠN ĐÀM VỀ THƠ

Wednesday, November 17, 2010

PHẠM HÒA VIỆT và LINH ĐÀN - THIẾU PHỤ và HIỀN PHỤ






PHẠM HÒA VIỆT - THIẾU PHỤ



Em thay đôi bông tai

Bỗng trở thành thiếu phụ

Giữa mùa thu lá đỗ

Hà Nội chiều đầy sương

Cuộc tình nào tơ vương

Cho ta lùi năm tháng

Cho biển trời lãng mạn

Cho nồng ấm môi hường

Lá thu rụng đầy đường

Mưa thu bay nhẹ hạt

Vườn cà phê không ướt

Tay em che trời mây

Không lạnh gió heo may

Mà lòng như ấm lại

Không xao lòng khắc khoải

Tình em đã phủ đầy...

Bỗng lạnh buốt chiều nay

Chiều mưa bay Hà Nội

Em thay đôi bông tai

Bước ta về lạc lối

Hải Vân còn bến đợi

Ta thẩn thờ chờ ai...



Phạm Hòa Việt





LINH ĐÀN - HIỀN PHỤ



(Họa nguyên vần thơ Phạm Hòa Việt)

Chiếc khăn quàng thấu tai

Em thấy mình hiền phụ

Lụt Cồn Tiên mưa đổ

Đông Hà ngợp hơi sương

Dòng sông Hiếu vấn vương

Trải dài bao ngày tháng

Chuyến đò ngang lún mạn

Áo xanh đỏ tím hường

Những đám ruộng ven đường

Lúa càng sây nặng hạt

Mồ hôi người đẫm ướt

Đem phơi từng nong mây

Lội qua đám cỏ may

Đôi chân như níu lại

Bước đi nhìn khoan khoái

Niềm vui thêm ngập đầy

Em sẽ về tối nay

Qua bên nhà thăm nội

Gió cứ rít bên tai

Đường bùn lên ngập lối

Phú Hậu chiều xưa đợi

Một mẫu người trong ai



Linh Đàn

READ MORE - PHẠM HÒA VIỆT và LINH ĐÀN - THIẾU PHỤ và HIỀN PHỤ

Tuesday, November 16, 2010

VÕ VĂN LUYẾN - CHẾ LAN VIÊN: " NGƯỜI BẮN PHÁO HOA TRÍ TUỆ" Ở THỂ TỨ TUYỆT

Nhà thơ Võ Văn Luyến ( đứng giữa) đang tham gia buổi Giao lưu nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Chế Lan Viên và Hội nghị Trù bị CLB Thơ Huyện Cam Lộ - 23/10/2010.


Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan. Quê Cam Lộ, Quảng Trị. Xuất hiện từ phong trào Thơ mới, Chế Lan Viên tự mình làm nên một cái đỉnh trong làng thơ Việt hiện đại, không lẫn với bất kì ai khác.

Nói đến Chế Lan Viên là nói đến thơ tứ tuyệt. Hình như cụm từ "tứ tuyệt Chế Lan Viên" trở thành một định ngữ khó thay đổi, bởi thơ ông đơm hoa kết trái ở thể tứ tuyệt. Không một ai cùng thời sánh bằng, trên cả hai mặt số lượng và chất lượng. "Cái lớn của một nhà thơ là khả năng tự mình trở thành đối tượng", câu nói của Johan Becher vận vào Chế Lan Viên rất đúng. Ông nổi tiếng bằng sự xuất hiện như một bất ngờ, đột biến trong cả ba giai đoạn. Từ buổi đầu có mặt "như một niềm kinh dị" (Hoài Thanh) đến giữa giai đoạn được đánh giá là một trong hai nhà thơ trữ tình chính trị (cùng với Tố Hữu) vào loại tiêu biểu nhất của nền văn học mới. Giai đọan thứ 3, giai đoạn cuối đời lại tụ kết "hóa nên trầm" trong thể tứ tuyệt.

Đấy là nhìn bao quát và chia cắt theo lối cơ học. Còn trong thực tế có trên bốn mươi năm đắm mình trong sáng tạo, ông ưu tiên đáng kể cho tứ tuyệt bằng tâm huyết và trí tuệ tài hoa của mình. Theo thống kê của PGS. TS Hồ Thế Hà, chỉ tính trong các tập: Ánh sáng và phù sa (36/69 bài), Đối thoại mới (45/68 bài) Hái theo mùa (44/76 bài), Hoa trên đá (32/86 bài) Ta gửi cho mình (17/39 bài)...Những con số biết nói trên chứng minh điều tâm đắc, kỳ duyên của nhà thơ họ Chế đối với thể tứ tuyệt.

Có lẽ từ trong trăn trở lột xác, tìm đường cho thơ tứ tuyệt, Chế Lan Viên đã mách bảo cái bí quyết làm nên thể thơ này. Theo ông, tứ tuyệt không chỉ là thơ 4 câu mà phải có cái "thế võ" của nó. Đấy chẳng phải gì khác ngoài cái tứ - một đặc điểm trường tồn của sáng tạo thơ. Có điều, "cái tứ trong tứ tuyệt phải nén chặt và bật ra tức thời như nguyên tắc sức bật của lò xo: Độ nén càng cao sức bật càng lớn, càng đẩy vấn đề trong thơ đi xa hơn" (Hoài Anh).

Lại nữa, có tứ nhưng phải có sự bồi đắp của tình cảm, không có chất men tình cảm không thơ được. Ở tứ tuyệt, chất men ấy thấm thật sâu vào trong suy nghĩ mới khởi động ra thơ. Sở dĩ chất trí tuệ trong tứ tuyệt của ông không khô khan nhờ ở cách của những chú "Ong triết học":


Những chú ong triết học

Không biết say hoa người

Làm nên mật đạo đức

Chả hút gì ở môi


(Ong triết học)


Tứ tuyệt Chế Lan Viên là một cái nhìn đa diện về thế giới và con người trong lối khắc phục hạn chế về hình thức nhỏ của thể loại bằng cách "mở rộng hiện thực bằng đề tài, sự chiếm lĩnh chiều sâu hiện thực bằng cách tăng tính triết lý khái quát ở chủ đề và sự thể hiện con người nhiều chiều". Nói khắc phục hạn chế hình thức là so với các thể thơ dài. Còn bản thân tứ tuyệt không thể không thay đổi, điều mà ông quan niệm "Nội dung phải đâu muôn đời vẫn thế. Thay hình thức của thuyền đi, sẽ hiểu bể thôi mà !", nhưng cũng nên thận trọng, vì "Tự do quá cũng giết chết thơ như gò bó" (Nghĩ về thơ).

Có người sẽ bảo: Nước một đại dương không thể đựng trong một cái chén. Quả thực, cái cách thức thơ muốn đạt đến là "đo" chứ không phải "đựng": "Cái tội của muôn đời thi sĩ. Đem hồn đo cho trời bể thêm sâu" (Đo). Vì lẽ đó, hình thức tứ tuyệt đã được hiện đại hóa rất nhiều. Cái tài của tác giả Điêu tàn là phá vỡ cấu trúc tứ tuyệt cổ điển để tái thiết nên tứ tuyệt mới nhưng không những không làm giảm giá trị mà còn tăng cường sức mạnh và sự đa dạng hình thức thể hiện: Từ tiết tấu, vần điệu (có khi bỏ vần) đến việc huy động tối đa các phương thức tu từ, tạo đà, tạo thế cho tứ tuyệt phát triển. Có thể nói, thế giới qua cái nhìn của Chế Lan Viên bỗng trở nên lung linh sinh động. Tả một vầng trăng đẹp trong tự nhiên, thiên nhiên không giàu trí tưởng tượng, sáng tạo nghệ thuật sẽ không gieo được ấn tượng mạnh như thế này:


Giữa hai cây, lại đôi mắt em nhìn

Anh đến suối, mặt em cười dưới suối

Lòng anh chạy cho lòng em theo đuổi

Đêm ái tình đâu cũng mặt trăng em

(Trăng)


Từ tứ tuyệt và bằng tứ tuyệt, bài học kinh nghiệm quý giá không riêng cho một ai quan tâm đến sáng tác và tiếp nhận được Chế Lan Viên tượng hình trong một cấu trúc thơ độc đáo:


Những lá thơm hái lúc về già

Hái những lá có hương tư tưởng

Khi cây đã hóa trầm trong ruột

Lá đủ rồi, phải đợi gì hoa

(Nội dung và hình thức)


Có người cho rằng, "nếu triết học và tôn giáo hỏi tồn tại là gì, thì thi ca cho ta một trải nghiệm về tồn tại". Với tứ tuyệt, đấy là sự trải nghiệm trong một khoảnh khắc của tồn tại, vì thế thơ tứ tuyệt thích hợp với giọng triết lý, cảm hứng triết lý. Khảo sát các tập thơ tiêu biểu của Chế Lan Viên, số lượng thơ tứ tuyệt chiếm tỉ lệ không nhỏ (xấp xỉ 50%). Đủ thấy, thơ tứ tuyệt luôn thường trực trong cảm hứng sáng tạo mãnh liệt của ông, " người bắn pháo hoa trí tuệ" ở thể này. Có thể nói không quá rằng, một mình Chế Lan Viên đã dựng nên một đài tháp riêng về thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại đậm phong cách tác giả. Ngẫm ra, hầu như ông khai thác và phát huy khá đầy đủ những đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ tứ tuyệt Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại.


VÕ VĂN LUYẾN




Nhà thơ Võ Văn Luyến (thứ ba từ trái sang) chụp chung với toàn thể hội viên CLB Thơ Cam Lộ
READ MORE - VÕ VĂN LUYẾN - CHẾ LAN VIÊN: " NGƯỜI BẮN PHÁO HOA TRÍ TUỆ" Ở THỂ TỨ TUYỆT

PHẠM HÒA VIỆT - THƠ VÀ ĐƯỜNG BAY NGHỆ THUẬT




Thơ là một bộ môn văn học - nghệ thuật hoàn hảo nhất bao gồm những khía cạnh thẩm mỹ: nhạc, họa, điêu khắc và ẩn chứa cả thời tính, sử tính…

Hiện hữu trên một bình diện ưu việt, ngôn ngữ thơ ẩn tàng một chiều cao, sâu, rộng, tác động thăm thẳm vào hồn người những tình cảm dạt dào, dẫn dắt trí tưởng tượng ta bay cao và kích thích hành động vươn tới của con người ở một mức độ tinh vi nào đó…

Thơ, nói theo một nghĩa nào đó, chưa hẳn là đời sống của tác giả nhưng bắt nguồn từ cuộc sống, mà cuộc sống lại chuyển động trong một vận hành toàn bộ vũ trụ thiên nhiên cũng như vũ trụ con người. Do đó, dù muốn ruồng bỏ hoặc khinh rẻ đời sống đi nữa thì thời tính và sử tính vẫn hiện hữu trong thơ, trong những đường bay nghệ thuật một cách khá trọn vẹn …

Trái với nghệ thuật tạo hình, trí tưởng tượng sáng tạo nên thơ khi hoạt động không cho thấy hẳn sự vật dưới hình dạng vẫn có ở bên ngoài - dù sự vật đó đã được nghệ thuật khoác thêm một lớp áo - mà chỉ cho ta thấy nhận thức bằng một trực giác và một nội cảm thuần túy. Nó phản ánh…, nhưng không phải vẽ lại lập khuôn , mà chủ quan của nhà thơ là yếu tố hệ trọng hơn cả trong hoạt động sáng tác của mình, dù ở những tác phẩm thể hiện mức phản ánh có tính chất cụ thể nhất.

Sự sắp đặt thành một bài thơ phần lớn bao gồm cả hành động được nhận thức và suy tính của tác giả với hình ảnh bên ngoài được nhà thơ cụ thể hoá. Goethe khẳng định : “Thơ nào chỉ biểu lộ được những thực trạng nội tâm mà không cụ thể hoá bằng những vật ngoại giới, hoặc nếu không cho thấy được những vật cụ thể qua tính chất nội hàm của ý tưởng thì cả hai trường hợp đều xuống mức thấp nhất để rơi ngay vào thực tế tầm thường” . Chính thế, nhà thơ chẳng những là con người của sự đẹp (Les hommes du beau) mà còn là con người của sự thật (les hommes du vrai) , sự thật có thể chưa từng ai khám phá ra , thậm chí là sự ngạc nhiên hay bất ngờ …

Nhưng đâu là mảnh đất của thơ, đâu là đường bay của thơ ?

Mảnh đất cho thơ cư ngụ không phải là những mộng mơ ảo tưởng siêu hình mà chính là cái thực tế thiêng liêng. Thơ chắp cánh bay cao từ trong đó . Thơ ở khắp mọi nơi trên cõi đời này nhất là trên mảnh đất ta đang sống. Thơ xuất hiện dần trên mỗi bước ta đi nếu trong mỗi bước đi đó nhà thơ có ý thức khám phá. Nhưng cái tài của người làm thơ ở chỗ không phải sao chép thực tế – thực tế chỉ khơi mào gợi ý – mà làm sao tạo được một toàn thể đẹp , sống động. Goethe nói một cách chí lý: “Muốn trở thành nhà thơ hay, họa sĩ giỏi phải có thiên tài, một sự không thể thiếu được”.

Chúng ta có thể khẳng định một điều: Làm nghệ thuật không thể bao giờ cũng có nghệ thuật ( art và antiart ); thơ không phải bao giờ cũng xuất hiện dạt dào trên từng mảnh đất nào đó. Chính sự chọn lọc và nguồn cảm hứng của nhà thơ là điều hệ trọng . Không phải nguồn cảm hứng ở đâu và lúc nào cũng như nhau mà tùy theo tác động và sự nhìn nhận vươn tới của cuộc sống trước mắt nhà thơ đối với nhà thơ. Với thời gian, tác động đó có thể là qúa khứ hoặc hiện tại nhưng phải là tác động có thực, rõ hơn, đó là sự gắn bó mật thiết giữa nhà thơ và cuộc sống. Cũng với thời gian, mức thể hiện và yêu cầu của một bài thơ từng lúc khác nhau. Cùng với một đề tài chiến tranh, trong chiến tranh “ ta nhìn kẻ thù rất rõ ” (*) với những sự “ mất mát”(*) thì tình yêu trong thơ chính là sự chất chứa hận thù; sau chiến tranh, khi “đất thôi chảy na-pan” (*)thì tình yêu trong thơ chính là những lo toan và xây dựng với những niềm vui mới “và công việc bộn bề”(*) . Không phải chiến tranh qua rồi , nhà thơ chỉ biết miên tưởng về qúa khứ, bằng lòng với hiện tại mà quên đi “kẻ địch lẫn trong ta mang cả dáng thiên thần” (*)

Giá trị đích thực của một bài thơ chính là đường bay của thơ rực cháy ngọn lửa lòng và trí tụê của tác giả trước hiện thực cuộc sống, không giới hạn bởi không gian, với nét độc đáo của mức thể hiện nghệ thuật trong tác phẩm. Không có gì mâu thuẫn giữa giới hạn và vô hạn của không gian. Nhịp sống mới trong xí nghiệp, trong nông trường, công trường... ở một địa phương có thể hòa trong nhịp sống mới trên đất nước, thì mức thể hiện riêng nầy trong một bài thơ cũng có thể là mức thể hiện chung toàn vẹn.

Đọc bài “Em ơi…Balan…” của Tố Hữu, trước hết ta liên tưởng đến xứ sở Balan với những bông tuyết trắng xóa bám đầy thân bạch dương, những đôi ủng đỏ của các chiến sĩ vệ quốc quân đang đi trên tuyết và trước mắt ta bỗng hiện ra cả những vùng trời quê hương yêu dấu. “Em ơi..Balan mùa tuyết tan…”, âm tỏa tràn, ta đang liên tưởng đến cảnh giao thoa giữa hai mùa . “Balan…tuyết tan…”gieo vần bằng trong cùng một câu đã tạo ra tiếng nhạc; nhạc của Chopin đầy tình cảm thắm đượm đang được cất lên. Trái tim chứa chan bao nỗi cảm xúc không thể vùi tan trong tuyết Pháp , không thể bị nát tan giữa bàn tay tàn bạo của phát xít Đức. Trái tim Chopin được đặt nguyên vẹn trong nhà thờ khi Balan được giải phóng. Trái tim huyền bí đang được các cô gái Balan nâng niu, đang sống lại từng điệu đàn khúc ca. Chopin đang đi khắp thế giới, phá mọi thành trì để góp tiếng nói nhân đạo với loài người.

Không phải cố ý đem những hình ảnh của quê hương Việt Nam ra so sánh, nhưng biết làm sao hơn ! Bài thơ đã khơi dậy trong ta một mạch sống, hiện ra trước mắt ta những sắc trời xuân, hạ, thu, đông, những anh giải phóng quân, những chẽn lúa vàng… Đó chính là sự xúc động liên tưởng, đó chính là nhịp cầu giao cảm; thời tính và sử tính rõ nét trong thơ.

Thơ – một chỉnh thể – bao giờ cũng thể hiện niềm khát vọng và không bao giờ thỏa mãn với chính sự hiện hữu của mình. Bởi hướng vọng đi lên là ý đồ cuối cùng của nhà thơ trong việc tạo ra tác phẩm mới.

Trong thư gửi cho E.A.Tsermuskina ngày 9-8-1912, Korôlencô có viết: “… ở đó lại sẽ bắt đầu một trạm đường mới. Cuộc sống chính là sự khát vọng thường xuyên, sự thành đạt và lại khát vọng mới”. Đó cũng là khát vọng của người làm thơ ?

Thơ. Thơ…, nó vẫn hiện hữu thường xuyên, hiện hữu trong đường bay nghệ thuật, tại sao ta lại khó kiếm tìm nó ?

Phải chăng , ở bình diện nào đó ta có thể thờ ơ, bắt gặp nó như sự thể hiện của một tính cách, của một ánh sáng, của một sự sắp xếp chữ nghĩa …; nhưng ở bình diện cao hơn, nó có thể vượt ra ngoài phạm vi đó để hòa đồng với cái toàn thể, đòi hỏi ở ta một công phu rèn luyện kiếm tìm ?

P.H.V.

READ MORE - PHẠM HÒA VIỆT - THƠ VÀ ĐƯỜNG BAY NGHỆ THUẬT

TỪ DẠ THẢO - CHÙM THƠ




THƠ NGÀY CUỐI ĐÔNG


Rồi như chiếc lá cuối đông
Thả đường bay trọn một vòng nhân sinh
Thưa rằng dạo ấy mùa xuân
Có con chim hót tưng bừng suối khe
Rễ ngầm đan những tái tê
Đất sâu thả hết bùa mê lên trời

Lá xanh hoa thắm tươi cười
Yêu thương là chín là mười phụ nhau
Thì xin cứ nõn nà lâu
Để cho dải yếm bắc cầu tìm sang

Mùa thu chớm độ hoa vàng
Ai đi như thể bóng hoàng hạc bay
Cầu dải yếm ngã mà đau
Đau từ buổi dưới đất sâu lên trời

Rồi như tàn hết cuộc chơi
Vòng quay chiếc lá giữa trời cuối đông.







LỜI CHIA TAY MÙA XUÂN


Anh gửi lại nụ hôn ngủ vùi trong cỏ
Em khuất xa rồi buổi ấy giêng hai
Chỉ còn lại thoáng tầm xuân muộn nở
Biếc thắt lòng câu hát dỗi hờn ai

Chia tay nhé mùa xuân không nói trước
Cuối con đường mùa hạ đứng trầm tư
Phượng đốt lửa trong mắt người day dứt
Ve giăng buồn giăng kín mảnh tình xưa

Chia tay nhé mùa xuân không hẹn ước
Ta - gã si tình xuôi ngược thời gian
Tóc chấm bạc mới hay mình đánh mất
Dấu thiên đường chỉ còn lại tro than

Bao nhiêu nắng cũng không vừa buốt giá
Mùa hạ ơi thương nhớ đến khôn cùng
Bao nhiêu gió để ta về hóa đá
Ngẩn ngơ nhìn hoa rụng tím triền sông...

Không quên được nhưng làm sao nỡ trách
Phút giao mùa òa nghẹn tiếng chia ly
Như ánh chớp ngang trời chưa kịp hỏi
Đã em về đưa tiễn bước xuân đi

Vời vợi thế làm sao anh giấu hết
Những vui buồn bất chợt hóa mồ côi
Dịu ngọt đấy bây giờ thành cay nghiệt
Hóa sắc trời mùa hạ cháy không nguôi...





ĐIỆP KHÚC THÁNG SÁU


Tháng sáu mang trên vai những cành phượng đỏ. Những con đường và những cơn mưa. Vòm trời xanh mắt em bỏ ngỏ. Cứ trống hoài một khoảng không anh. Tháng sáu xa vời tháng sáu mỏng manh. Chợt nhớ chợt quên điều mình chưa nói. Xin đừng trách chuyến tàu đi vội. Trái buồn se thắt từ lâu.

Tháng sáu vo tròn ném xuống hồ sâu. Ném vào lòng ta từng viên sỏi nhỏ. Con thuyền lá khô không nơi nương tựa. Em đừng lầm với mảnh trăng non. Tháng sáu chạnh lòng những vết môi hôn. Em thôi qua cầu gió thôi bay áo. Nhói xót lòng mình thời thơ dại. Trót để tình yêu thành ảo niệm trong đời.

Tháng sáu trầm tư tháng sáu chơi vơi. Cành phượng cháy lòng vòm xanh hút mắt. Dẫu thương nhớ em làm sao khóc được. Giọt nước mắt này cũng của xa xưa. Tháng sáu trời nắng tháng sáu trời mưa. Em giữ riêng em khoảng trời màu tím. Anh có trở về bước chân xin tìm đến.

Có một khoảng trời tháng sáu của riêng anh....



CHO EM VÀO HẠ

Hình như bên kia là mùa thu
Ngàn lá rụng mang theo lời tiễn biệt
Nơi ký ức hóa vầng trăng đẫm ướt
Con dế buồn rũ cỏ hát tình ca

Bên kia là năm tháng đi qua
Còn gặp lại cũng vô tình ánh mắt
Bông hồng ấy cuối chân trời tít tắp
Dẫu muộn phiện từng cánh mỏng manh rơi

Bên kia là còn lại mình tôi
Mùa hạ và em xa vời ảo ảnh
Hoa cúc cháy trong nỗi niềm đa cảm
Thuở yêu em trong trắng vô ngần

Bên kia là còn lại dòng sông
Cánh buồn anh nửa đời đi không hết
Em xa quá, mùa thu thì chẳng biết
Có người úp mặt khóc hoàng hôn

Lẽ nào em không nhớ, lẽ nào quên
Giọt nước mắt đã tan thành hoài niệm
Thành muối mặn thành vô tư sóng biển
Để vơi đầy cùng năm tháng vì nhau

Bên kia là còn lại nỗi đau
Khao khát ấy của một trời hoa phượng
Lẽ nào em, lẽ nào tôi hoang tưởng
Lá vàng thu tiếc nối giữa tay người

Bên kia là day dứt khôn nguôi
Đồng vọng mãi lời chia tay thầm lặng
Phải mùa hạ dâng hết mình cho nắng
Nên mùa thu chớm lạnh đã se long

Thì đừng buồn bốn phía mưa giăng
Bong bóng vỡ theo về nguồn cội
Ngắt cánh phù dung ngồi đếm tuổi
Thấy trong hư vô khuôn mặt của mình
.
Thì ta quay về tìm lại dòng sông
Tìm lại xác thân phiêu bồng một thuở
Để thấp thoáng em hiện về đâu đó
Mùa hạ ấy xa như có thật trong đời.


READ MORE - TỪ DẠ THẢO - CHÙM THƠ