Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, October 21, 2024

Ca khúc: CHIỀU QUẢNG TRỊ NHỚ ANH -Thơ: Hoàng Thị Bích Hà -Nhạc: Trường Tử Ka - Thể hiện: Ca sĩ Trúc Bạch.

 

CHIỀU QUẢNG TRỊ NHỚ ANH 

Thơ Hoàng thị Bích Hà

Em đang đứng trên đất trời Quảng Trị
Lòng nhớ anh da diết đến cồn cào
Có phải nơi đây địa đầu giới tuyến
Anh đã từng in dấu bước hành quân

Gót giày anh qua những nẻo đường nào
Em muốn tìm dấu giày anh đã bước
Những nơi anh từng qua, nơi nào anh đã đến?
Để em tìm về dấu tích anh đi

Em ước mình trở thành một vầng mây
Che cho anh chiều hành quân nắng đổ
Em cũng muốn trở thành làn gió mát
Quấn quýt bên anh làm mát rượi làn da

Em tìm anh không biết ở nơi đâu
Hỏi gió hỏi mây, hỏi rừng cây, biển cả
Có ai biết người yêu tôi giờ đâu vậy?
Để một lần tay nắm lấy bàn tay
Đi bên nhau cùng ngắm những vì sao
Chờ trăng lên thảo vần thơ xướng họa

Anh nói với em rằng: anh yêu em nhiều lắm!
Vần thơ nào anh cũng viết cho em!
Và em sẽ là người hạnh phúc nhất thế gian
Bởi đươc anh yêu và yêu anh nhiều đến thế !


Ngày 03/3/2018
Hoàng Thị Bích Hà
 

READ MORE - Ca khúc: CHIỀU QUẢNG TRỊ NHỚ ANH -Thơ: Hoàng Thị Bích Hà -Nhạc: Trường Tử Ka - Thể hiện: Ca sĩ Trúc Bạch.

BÀ ƠI !, GỬI BẦY CHIM DƯỚI MÁI HIÊN – Thơ Tịnh Bình


 


BÀ ƠI !
 
Thềm rêu giếng nước cầu ao
Vẫn xanh xanh mướt dây trầu bà ơi!
Bờ rào nhớ giậu mồng tơi
Thì thầm lá nõn khoảng trời ấu thơ
 
Tiếng chim rộn buổi tinh mơ
Bà ngồi tóc trắng bạc phơ thật hiền
Cau tươi trầu thắm nên duyên
Thị vàng cô Tấm ru miền tích xưa
 
Ngại gì mưa nắng nắng mưa
Trầu xanh như thể mến ưa tay bà
Mái hiên chái bếp vào ra
Khăn rằn nón lá dáng bà thân thương
 
Dòng dòng hoài niệm còn vương
Lạc năm tháng cũ khói sương cay nhòe
Cau khô trầu héo ủ ê
Sao bà đi mãi chẳng về bà ơi...!?
 
 
GỬI BẦY CHIM DƯỚI MÁI HIÊN
 
Nhặt nắng sớm mai làm duyên lá nõn
Khu vườn lấp lánh ánh sáng màu ngọc bích
Khảm vào muôn vàn tiếng chim
Vài quả chín rơi vương vãi
Bức tranh không rõ vui buồn
 
Họa nét ngày bằng ký tự trinh nguyên
Vệt nắng đầu tiên len vào bảng màu pha vẽ
Tiếng chuông âm vang mùa ban sơ
Dưới mái hiên
Bầy chim treo lời cầu nguyện
 
Lặp đi lặp lại đến phát ngấy những chu kỳ quen thuộc
Những đứa trẻ tuần tự sinh ra
Lớn lên và già đi
Khu vườn màu lam cũ kỹ
Đám cây non ngày nào cũng già nua
Lũ chim con chợt biết mình có thể bay
Một ngày nào đó chiếc tổ sẽ trở nên quá nhỏ bé với chúng
 
Dưới mái hiên trơ vụn rơm khô
Thèm một sớm mai
Bức tranh huyên náo vệt màu loang lổ
Nhưng những đứa trẻ nghịch ngợm
Đã rủ bầy chim đi mất rồi...
 
                                       Tịnh Bình
                                      (Tây Ninh)
READ MORE - BÀ ƠI !, GỬI BẦY CHIM DƯỚI MÁI HIÊN – Thơ Tịnh Bình

MƯA ĐÊM – Thơ Lê Phước Sinh


   


MƯA ĐÊM
 
Tí tách từng giọt như rót Rượu,
môi mềm, ngã ngựa giữa trời khuya.
Để trút ào ào cho bầu bể,
lênh lang chí lớn, mộng giang hồ.
 
                             Lê Phước Sinh

READ MORE - MƯA ĐÊM – Thơ Lê Phước Sinh

NÓI VỚI PHỐ - Thơ Trần Mai Ngân


   

 
NÓI VỚI PHỐ
 
Phố à, phố ơi...
Trả tôi ngày hôm qua
Trên cánh môi mượt mà
Ru nhau trong mùa hạ
Vỗ về sang mùa thu...
 
Phố à, phố ơi...
Trả tôi lại bầu trời
Biếc xanh lời hò hẹn
Dẫu không là trọn vẹn
Vẫn tràn đầy trong tôi
 
Phố à, phố ơi
Hôm nay đã xa xôi
Bằng những bước đơn côi
Nụ cúc vàng mùa cũ
Choá ngời trong mắt tôi...
 
Phố à, phố ơi...
Tôi... vết thương mưng mủ
Trong lòng vẫn y nguyên
Đem xuống cõi vẹn tuyền
Nụ cười xưa rất xa...
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - NÓI VỚI PHỐ - Thơ Trần Mai Ngân

ĐI TÌM NGUỒN GỐC CỦA MỘT SỐ PHƯƠNG NGỮ QUẢNG TRỊ - Khê Giang

 

Đi tìm nguồn gốc 

của một số phương ngữ Quảng Trị

Khê Giang 


Thời cổ đại, Quảng Trị là nơi diễn ra các cuộc chiến giữa Âu Lạc và Lâm Ấp chống Trung Hoa. Thời trung đại, là mảnh đất giao tranh, phân giới của Chăm và Việt, của Đàng Trong và Đàng Ngoài. Khi cuộc chiến phân tranh Trịnh - Nguyễn nổ ra, sông Gianh trở thành giới tuyến phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài… Vì vậy Phương ngữ Quảng Trị là kết quả của sự giao thoa của nhiều luồng văn hóa khác nhau.

 

 *Phương ngữ có nguồn gốc từ Bách Việt

Bách Việt là một cộng đồng các dân tộc cùng nguồn gốc sinh sống ở phía Nam sông Dương Tử cho tới bán đảo Đông Dương từ thời trước Công nguyên. Về nhân chủng học thì Bách Việt là những cư dân thuộc loại hình Nam Mongoloid (Nam Á), trong đó bao gồm những nhóm dân tộc Tày Thái, Việt Mường, Môn - Khmer và cả Miêu Dao, phân bố ở Hoa Nam và Đông Nam Á ngày nay.

- Bọ = Cha. Bọ hay Tía, đều có những từ phát âm tương tự trong các phương ngữ tiếng Hoa, hoặc tiếng Thái: Po, Cha Tía. Bọ cũng liên hệ đến BốBu. Riêng Bu cũng chuyển qua lại để chỉ người Mẹ, hoặc người Vợ. Đặc biệt âm P (trong Po hay Bọ) trong nhiều thứ tiếng ở Hoa Nam và Đông Nam Á, thật ra là một thứ âm nằm giữa âm P và B theo mẫu tự La-tinh. Ký âm quốc ngữ đã chọn “B” cho một số từ, thí dụ: Po (Mường) => Bọ (Việt); Pà đỡ té (Mường) => Bà đỡ đẻ (Việt), Pẻnh mỳ (Mường) => Bánh mì (Việt).

- Ca = , cỏ ca = cỏ gà. Một thứ từ có nhiều phát âm rất giống với từ tương đương ở các phương ngữ Hoa Nam, nhất là Hakka và Hải Nam Gai. Thái cũng phát âm tương tự: Gai hay Gaa. Quảng Đông phát âm như Cáy, rất giống tiếng Mường: Ca.

- Cẳng = Chân. Thêm một từ nữa: “Giò”. “Chân” mang cùng gốc với jəəng hay dzâng, ajưng hoặc chơn của các phương ngữ thuộc Mon-Khmer hay Mường. Cẳng bà con với Ka tiếng Hakka (Hẹ), Ka-tui Phúc Kiến, taKay tiếng Chăm, hoặc Kaki tiếng Mã Lai, và giống nhất với Kahng tiếng Tây Tạng. Trong khi “Giò” có thể cùng gốc gác với zeoi tiếng Quảng Đông, giok Hẹ (Hakka), hay chiok Phúc Kiến.

- Tê = kia. Rất có khả năng cùng gốc với từ Tày - Nùng tỉ mang nghĩa “đó, kia”. Tỉ Tày - Nùng, là âm tương đương với bi Quan thoại , mang cùng nghĩa. Gần giống tiếng người Choang ở Quảng Tây.

- Đàng = đường. Mường gọi tàng (tàng tất = đường đất). “Đàng” hay “đường” có cùng gốc với từ Quảng Đông dung, mang nghĩa “ngõ đi”. “Đường sá” đàng hoàng người Hoa gọi “đạo” , người Thái và một lô các tiếng gốc Mon -Khmer (kể cả Chăm) và Đa đảo thường thiên về các âm vị mang âm sá (trong “đường sá”). “Đàng” “đường” biến chuyển qua lại với nhau, nằm trong một quy luật giữa các phương ngữ Hoa - Nam: Lượng = lạng; trương = trang.

- Nác = nước. (Nác) hay (đác) là những phát âm chỉ “nước” rất phổ biến trong các thứ phương ngữ xưa ở vùng Đông Dương, kể cả tiếng Mường. Từ điển Alexandre de Rhodes ghi “Nác” = “nước”. “Nác” mang cùng gốc với (Naahm) tiếng Thái - Lào, và cũng rất có thể “Nác” là kết quả hợp âm: (naahm) T + (dak). “Nác”, ở dạng “Đác” trong các phương ngữ của Môn - Khmer, cũng có liện hệ “ví phỏng” với “đạc” mang nghĩa “chất lỏng đã đặc lại” = đặc.

- Chu = châu. Nó nằm trong định luật về âm tương đương giữa các phương ngữ Bách Việt (xưa) ở Hoa Nam, Iu Ù Âu: “Nếu một phương ngữ có phát âm au hay ou cho một từ, thế nào cũng có một phương ngữ khác phát âm cho cùng từ đó theo âm iu”.

- Cươi = Sân. Trước hết “sân” là một từ mang gốc Mân Việt (Phúc Kiến): tsing. “Cươi” là một thứ từ hiếm có trong những từ điển phương ngữ xa xưa, cươi có thể mang nghĩa “cái nền đất” => “” (xem từ điển Huỳnh Tịnh Của. Cươi cũng mang âm gần với “Cơi” mang nghĩa “đất cao”, hoặc khoảng đất gần hàng rào trước “nhà”. “Cươi” do đó có thể mang liên hệ “ví phỏng” với “Cửa”. Nhưng gần với “Cươi” nhất trong các phương ngữ bản địa chính là “Cai” của tiếng Tày - Nùng, cũng mang nghĩa chính “sân (nhà)”.

- Đặng = được. “Đặng” “được” là lối đọc tiếng Việt (Bách Việt) của hai từ Hoa khác nhau: deng Quan thoại đặng, và tiet Hẹ, dak đạt, và tâ? Ngô Việt (tức Chiết-Giang/Thượng Hải).

- Giôông = chồng. “Chồng” mang phát âm giống tiếng Hạc Việt chong tương đương với trượng trong “trượng phu”. Âm Gi trong Giồông tương đương “qua lại” với Ch là một đặc điểm tiếng Mường như Giường = chờng.

 - Giôông = giông. Đây là sự biến âm cuối n và ng có thể mang ảnh hưởng tiếng Mân Việt. Tương tự: Hoọc = Học; Khôông = Không; trôông = trông, đôông = đông.

- Lịp = nón lá. theo tự điển Huỳnh Tịnh Của: nón. Tiếng Hạc Việt (Hẹ) phát âm y hệt lip cho chữ , tượng hình chữ “Trúc/ tre” (chỉ lá tre) viết chồng lên âm “lập”. Phát âm theo kiểu Quảng Đông của “lịp” là lap.

- Ngái = xa. Một từ rất phổ biến vùng đất Mon-Khmer: xngai, jngai, yngai, xă ngai, v.v. thuộc Mon-Khmer và Munda. Tiếng Thái là za gần với “xa” hơn. Âm ngái rất gần với âm gai quan thoại và kai tiếng Mân Việt (PK) và Hạc Việt (Hẹ), , có mang một nghĩa: “Xa”.

- Nương = vườn quanh nhà, nương = ruộng cao ở núi. Dùng sát với “ruộng”, hay thay thế “ruộng”: ruộng nương, nương chè, nương dâu. “Nôỗng” và “Nương” rất gần âm với “nông”, và ý nghĩa, cách phát âm có thể hoán chuyển với nhau, trước thời quốc ngữ. Cũng có khi đi đôi với “náu” mang nghĩa: nương tựa, nhờ cậy. Trường hợp này, “nương” gần âm tiếng Hạc (Hẹ): niong = nương tựa, và “náu” gần âm tiếng Ngô - Việt: Nyaz, hay Hạc: liau.

 

*Phương ngữ có nguồn gốc từ khối Mon-Khmer

Ngữ tộc Mon-Khmer, là một nhóm ngôn ngữ lớn bao gồm khoảng 150 ngôn ngữ của ngữ hệ Nam Á đa số tập trung tại Đông Nam Á. Được phân nhánh thành ba vùng Đông, Nam, Bắc

 - Cẩy = Cái / con gái. Âm cuối y trong Cẩy mang ảnh hưởng khối Mon-Khmer. Tiếng Việt trong trường hợp này đã chọn i, thành ra Cái. Trong tiếng Mường, Cẩy {cải/ cảy} có thể mang nghĩa “cái/ con” (cải pẻnh, cái đốc => cái đò; cảy cả => con cá; cảy ca => con gà), và cũng đồng thời có thể dùng để chỉ: mẹ, vợ, con gái, chị, người đàn bà. Thí dụ: cảy ho = mẹ tôi; con cải = con gái; cải cá = chị cả; cái khà = gái già; cải khon = gái tân; cải roch = chị ruột).

 - Chắc = nhau. Chắc là một từ gốc Mon-Khmer và Mường, mang nghĩa: thân mình, con người, thân thể, v.v. Trong lối dùng “đập chắc”, ta có thể thay thế nó bằng “đánh nhau”, nhưng chắc không nhất thiết mang nghĩa gốc là “nhau”. “Đập chắc” là một lối nói của một số phương ngữ Trung Bộ, tương đương với “đánh nhau” phía Bắc, Tiếng Mường: chắc = người,  chắc cá = người lớn, chắc khà = người già. Tiếng Mon-Khmer: tsa?ak hay sa?ak = thân mình.

 

- Cơn = con + cái. Trước hết, “cơn” = con chỉ là một lối kí âm thống nhất của quốc ngữ: con. Nhưng theo định luật thông thường của “mạo từ”, “con” thường dính với các từ mang tính “động - đậy”: con sông, con chó, con gà, con gái, con chim… và “cái” thường đi với những từ mang tính “bất động”: cái bàn, cái ghế, cái hồ, cái đồn…

 

*Phương ngữ có nguồn gốc liên quan đến tiếng Mường

Tuy cùng nằm trong khối Mon-Khmer nhưng ngữ chi Việt (Việt - Mường) nhiều khi được được xếp riêng. Ngôn ngữ Việt - Mường có sự giao thoa rất lớn do chung đụng nhiều yếu tố địa lý cũng như lịch sử. Trong phương ngữ Quảng Trị có rất nhiều từ có nguồn gốc từ ngôn ngữ này:

- Trẽn = thẹn. Người Quảng Trị dùng từ trẽn không chỉ bao hàm là thẹn mà còn mang nghĩa ngượng ngịu, xấu hổ và trơ trẽn. Tiếng Mường: thẽn => thẹn. Theo sát biến chuyển tương đương kiểu: “ngẽn ngùi” (M) => nghẹn ngùi.

- Trôốc = đầu. tiếng Mường Tlốc. “Nhâc tlốc” = nhức đầu. “Tlốc củi” = Trôốc cúi (đầu gối). “Tau tlốc” = đau đầu, ngoài ra “Trôốc” còn liên hệ với “trọc” trong “Trôốc lốc”: mang nghĩa “đầu cạo hết tóc”, hay “không còn tóc”.

 - Trớng = trứng. Tiếng Mường: “Tlởng” = trứng.

- Bạo: “Bão”. Đây là sự biến chuyển qua lại giữa thanh ngã (Bão) và thanh nặng (Bạo) của tiếng Mường, bởi tiếng Mường (Hoà Bình) không có thanh nặng: mũ khà => mụ già; ngẽn ngùi => nghẹn ngùi (ngào); pũi => bụi.

 - Chạc giợ = dây chỉ; dây nhợ. “Chạc đa cổ trối”/dây da, củ trối. Tiếng Mường: Chạc nhợ. Người Quảng Trị xưa dùng âm d thay cho âm nh. Ví dụ: (nhà), dớ dung (nhớ nhung)…

- Chi = gì/ sao. Rất phổ biến tại nhiều nơi. Tiếng Mường: cải chi => cái gì. “Trai mà chi gái mà chi, sống sao có nghĩa có nghì thì hơn”

 - Chiếng = giếng. Âm ch tiếng Mường, nhiều khi tương đương với g tiếng Việt. Khảng Chiêng => tháng Giêng. Chiềng bễnh => giường bệnh. Chiểng = giếng.

- Choọc = Thọc. Người Quảng Trị dùng choọc léc (thọc nách) hay “đâm bị thóoc, choọc bị gạo” Tiếng Mường choc. Việc nhầm lẫn “chọc” với “thọc” có lẽ bắt nguồn từ hai cách phát âm khác nhau của cùng một từ Bách Việt: tsok (~ choc) theo kiểu Hẹ/ Quảng Đông, và tshokk (~ thoc) theo Ngô Việt (Chiết Giang).

- Cộ = củ (khoai to vôồng thì tốt cộ). Tiếng Mường: cố = củ, cố cỏng = củ gừng, đây là sự hoán chuyển giữa thanh hỏi sang thanh nặng.

- Côi = trên. Tiếng Mường: cổi = trên. Cổi tlời = trên trời; cổi nủi = trên núi. Từ này cũng có thể có nguồn gốc với Phúc Kiến kaoiN= cao/ phía trên.

 - Cụ = cậu. Tiếng Mường: = cậu. củ = con… đây là sự biến âm âu thành âm u  hay gặp ở Quảng Trị.; su = sâu; chu = châu.

- Du = dâu. Tiếng Mường: Du = vợ con trai, đây cũng là sự biến âm âu thành âm u người Quảng Trị có câu nói lái rất hay: “Mạ du - mụ gia”.

 - Đụa = đũa. Biến chuyển dấu ngã sang nặng rất thường xảy ra giữa tiếng Mường và Việt, một phần tiếng Mường (Hoà Bình) không có dấu nặng. Phần khác, trước thời quốc ngữ phát triển, các thanh thường biến chuyển theo khu vực. Thí dụ: lộ = lỗ ; ngọ = ngõ; mụi = mũi…

- Eng = anh. Tiếng Mường: Enh = anh. Ngoài ra chúng cũng có thể bà con gốc gác với Tiếng Hàn hyEng/ huynh, đọc nhanh có thể rất giống eng.

- Lả = lửa. Tiếng Mường (Hoà Bình) cho “lửa” là “cúi”. Trong trường hợp ví phỏng của “cúi” (lửa) hoán chuyển sinh ra “cúi” mang nghĩa “củi” Một phương ngữ Mường khác phát âm “lửa” như “” hay “lả”, bởi các dấu ấn của âm tương đương a chuyển thành ưa như: Rạ = rựa.

  - Ló = lúa. Tiếng Mường: = lúa. Lõ cảo = lúa gạo; lõ đếp = lúa nếp. Giữa Mường và Kinh, âm dấu sắc ưa biến chuyển qua lại với dấu ngã: chũng thôi (M) = chúng tôi; so với: chủng enh (M) = chúng anh (các anh).

- Lọi = gãy. Tiếng Mường: = gẫy; lé chân = gẫy chân. Đây là một thứ âm sinh ra theo kiểu “cận vị” – “lẻ (lé)” và “loi” ưa đứng gần - bởi tiếng Mường cũng như Việt đều có: lé loi (M) = lẻ loi (đơn chiếc) ngoài ra lé loi trong tiếng Mường cũng sẽ mang nghĩa “gẫy” (tay/ chân). Như trên đã nói, do tiếng Mường (Hoà Bình) không có dấu nặng cho nên có thể tiếng Việt đã biến “loi” thành “lọi” để phân biệt với “lẻ loi”.

- Mệ = bà. Ảnh hưởng tiếng Mường gốc Thái - Việt: Mễ = mẹ, bà; Mễ dã = bà nội, mẹ chồng; Mễ mỗng= mẹ vợ; Mễ khà= mẹ già.

- Mẹng = miệng. Tiếng Mường => “Mẽnh”, cho thấy “Mẹng/ miệng/ mẽnh/ mồm” là những lối phát âm khác nhau theo từng vùng, trước thời quốc ngữ. “Mồm” => mõm, với Mõm thường dùng cho súc vật: “mõm chó”.

 - Mụi = mũi. Hoán chuyển bình thường giữa hai thanh ngã - nặng. Thông thường qua lại giữa Mường và Việt. Thỉ ngiễm (M)=> thí nghiệm (V). Pò mũng (M)=> bò mộng.

- Ni = này/ Nớ = Kia. Tiếng Mường: ni = nì = nầy. Tiếng Việt: nớ - nọ. Ngoài ra các thứ tiếng đệm nầy vẫn thấy trong các phương ngữ Hoa.

 

*Phương ngữ có nguồn gốc từ Quảng Đông

  Quảng Đông trong lịch sử Trung Hoa cổ đại là nơi sinh sống của các tộc người "Bách Việt", từ thế kỷ I đến thế kỷ VI (thời kỳ Bắc thuộc). Qua những ghi chép về hoạt động của Trung Hoa ở Bắc Bộ Việt Nam cho thấy quá trình Việt Nam hóa đối với các dòng họ Trung Hoa, hơn là quá trình Hán hóa đối với người Việt… Do đó những phương ngữ này là của người Việt có nguồn gốc từ Bách Việt chứ không phải là do Hán hóa.

- Rớ = lưới. Có trong từ điển Huỳnh Tịnh Của. “Rớ” mang âm gần với tức “rọ”, thường dùng để bắt cọp, bắt thú vật, hơn là “lưới” để lưới cá, lưới tôm. “Rớ” rất khả năng cùng gốc với ze tiếng Quảng Đông, chỉ cái rọ để bắt các loại thú nhỏ như thỏ, chồn.

 

- = rừng. Rừng đều là hai từ mang gốc Quảng Đông, viết khác nhau: Rừng = zeon , và Rú = zau .

- Rứa = thế. Có trong tự - vị của Huỳnh Tịnh Của. Có thể mang gốc Quảng Đông: ze, pha với phát âm Hẹ za.

- Su = sâu. Theo sát biến chuyển Du => Dâu, Cụ => Cậu ở trên, cũng như biến chuyển giữa ChuChâu.Su” => “Sâu” tương ứng với siu Quảng Đông => siau Hakka, .

- Trự = đồng tiền. Từ tiếng Hoa mang nghĩa “đồng tiền” rất giống “Trự” phát âm theo kiểu Quảng Đông: zyu . Theo tự - vị của Huỳnh Tịnh Của. Trự = đồng tiền. “Không có một trự” (trong túi) = nghèo lắm, túng lắm.

- Hung = rất. Lối dùng “hung” cho phó từ “rất” thật ra mang xuất xứ từ Bách Việt, và được sử dụng tại nhiều nơi ở Việt Nam. Chữ hung ngoài nghĩa “dữ tợn”, “xấu” còn mang nghĩa “rất”, “cực kì”. Phát âm Hạc Việt (Hẹ) và Quảng Đông y hệt: hung. Thí dụ tiếng Việt: “Hôm ni, hắn rảnh hung?”.

 

*Phương ngữ có nguồn gốc Chăm

Người Chăm trong lịch sử, có nền văn hóa phát triển, là hậu duệ của các cư dân nền văn hóa Sa Huỳnh thời kì đồ sắt. Ở Việt Nam người Chăm có mối liên hệ gần gũi với các dân tộc nói các tiếng cùng thuộc ngữ tộc Malay-Polynesia như Gia Rai, Ê Đê, Ra Glai và Chu Ru. Do có một thời gian dài người Quảng Trị sống chung với cộng đồng người Chăm vì vậy đã có sự giao thoa về văn hóa nói chung cũng như ngôn ngữ nói riêng:

- Ót = gáy (sau cổ). Tiếng Chăm: takôy = cổ. Mon-Khmer: ko hay ka = cổ. Trong nhóm ngữ Mon-Khmer, Tiếng Tàu cho “cổ” hay “gáy” là phát âm hong theo Hạc và Quảng Đông, khá giống “họng” tiếng Việt. Phát âm Ngô Việt cho từ này là hAz khá gần với “ót”.

- Mụ = . Có ghi trong từ điển Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 Tiếng Chăm: Muk nghĩa “bà cụ”; muk bôy = bà mụ.

- Chộ = thấy, tiếng Chăm: ýô?. cũng có thể có nguồn gốc Bách Việt: Mân Việt (chhu), Ngô Việt (tshO), và Hán - Hàn (chok).

 - Rặc=throk: Từ mô tả hiện tượng nước đang vơi nhanh ở giai đoạn chuẩn bị khô. “Cơm rặc rồi, đậy nắp bàng lại!”.

- Lụt = haluh: là hiện tượng các vật dụng, công cụ bằng kim loại có độ sắc bén bị bào mòn qua quá trình sử dụng: “kỳ đao ni (con dao này) bị lụt rồi”.

 - Rị mọ = Re ro: là từ ám chỉ một người đang làm công việc lặt vặt trong nhà do quá tỉ mỉ chậm chạp.

- Ro ro/Ro ro: mô tả sự chuyển động một cách trơn tru, thanh thoát, chỉ dành riêng cho xe: “Mới sửa xe xong, giờ hắn chạy ro ro rồi!”.

Ngoài một số từ gốc Chăm đơn giản mang tính giao tiếp hàng ngày như: Ni/ni /đây; Nớ/deh/đó; Tê/têh/kia; Ôông/ông/ông; Mụ/muk/bà; Lú/luk/chậm hiểu: Khum/ khum/ khom; Bận/băng/lần…

 

*Phương ngữ có nguồn gốc thời tiền quốc ngữ

Đây là thời kỳ các nhà truyền giáo phương Tây ghi tiếng Việt bằng ký tự La-tinh để dễ dàng trong công việc truyền đạo, với thời kỳ bản lề là vào khoảng năm 1630 đến 1634, các nhà truyền giáo đã dùng 5 dấu thanh để ghi 6 thanh điệu của ngôn ngữ Việt, trong thời gian chuyển tiếp này có hằng trăm phát âm khác nhau tùy từng làng hay mường bản.

- Chờng = giường:Ù”, “Ờ” hay “Iề” đều là những kí âm “gần đúng” của quốc ngữ, đối với của thời “tiền-quốc-ngữ”. Chiềng bễnh => giường bệnh.

 - Dọi = dõi = theo (Eng về đừng có ngó lui, để em ngó dọi bùi ngùi nhớ thương).

 

- Mui = môi. Hoán chuyển bình thường giữa âm u và ô, trước và sau thời quốc ngữ: tui = tôi; thúi = thối.

- Ôông = Ông. Tiếng Việt thời quốc ngữ chưa hoàn chỉnh, vẫn có lộn xộn ở âm cuối ôn và ông. Thí dụ: “tôn giáo” trước giữa thế kỷ 20, vẫn còn phát âm tại rất nhiều nơi: tôn miếu = tông miếu; Lê Thánh Tôn = Lê Thánh Tông.

 

*Phương ngữ hình thành do kị húy

 Do kỵ tên húy của vua, do con cái kiêng gọi tên thật ông bà tổ tiên, hay trong đời sống xã hội do tránh dùng một chữ nào đó do sợ phạm vào uy quyền, thế lực siêu nhiên hoặc những ngôn từ không may mắn, người Quảng Trị hay đọc trại thành một từ khác… từ đó đã tạo ra một phương ngữ mới:

 - Bường được đọc trại từ bình (Bường đợng nác).

- Luông được đọc trại từ Long (làng Kim Luông).

- Mơi = Mai (Sớm mơi, mơi mốt).

- Đương = Đang (miềng đương mần).

- Đương = Đan (đương thúng, đương rổ)...

- Chưn = Chân (đi chưn đất)…

 

Việc phân nhóm nguồn gốc trên chỉ mang tính tương đối. Ví dụ Ngữ chi Việt (Việt - Mường) nhiều khi được cho vào nhánh phía Bắc của khối Môn-Khmer nhưng thường cũng hay được xếp riêng; nhiều nhà ngôn ngữ học lại cho nhánh Việt - Mường vào nhánh phía Đông và xếp nhánh Pear ra một mình; nhiều người lại không công nhận sự hiện diện của nhánh phía Nam. Một số nhánh hoặc địa phương vừa nằm trong khối Mon-Khmer lại nằm trong nhóm cư dân cổ Bách Việt…

 

Ngoài ra do biến động về lịch sử, sự chuyển dịch về địa lí bờ cõi, cộng với sự chồng lấn về văn hóa trong quá trình chia tách, sát nhập của nhiều tộc người, nhiều quốc gia, lãnh thổ… cho nên có rất nhiều từ ngữ rất khó xác định về nguồn gốc một cách rõ ràng. Vì vậy bài viết chỉ mong muốn cung cấp cho bạn đọc một số tư liệu cần thiết khi tìm hiểu về nguồn gốc tiếng nói, ngôn ngữ đặc thù của môt vùng đất quê hương - Phương ngữ Quảng Trị.

Khê Giang 

Nguồn: Tạp Chí Cửa Việt, 29/03/2022,

 

READ MORE - ĐI TÌM NGUỒN GỐC CỦA MỘT SỐ PHƯƠNG NGỮ QUẢNG TRỊ - Khê Giang

Sunday, October 20, 2024

TỪ ĐIỂN PHƯƠNG NGỮ QUẢNG TRỊ (Kỳ 5/5) - Võ Công Diên biên soạn

 TỪ ĐIỂN PHƯƠNG NGỮ QUẢNG TRỊ

Võ Công Diên biên soạn

 

Su = Sâu (Roọng su = Ruộng sâu)

Sương nác (Có vùng gọi là xưng) = Gánh nước

Sương = Gánh trên vai

Sớn sác = Động từ, chỉ về hành động làm gấp khiến hư việc và nhiều nghĩa khác tùy thuộc vào văn cảnh.

Tắc cười = Mắc cười

Tầm bậy = Sai trái

Tắn = Con rắn

Tành hanh, đành hanh = Bắt chước làm theo nhưng không phải chuyên môn của mình.

Tào lao xít bột = Chỉ người tầm thường.

Tào lao= Chỉ người ăn nói không chính chắn

Tao trẽn dữ = Tao, tui mắc cỡ nhiều… trơ trẽn

Tau = Tôi

Túi thui = Tối đen như mực

Tênh bềnh = Bày ra, phô ra

Thẫu = Chai , lọ

Thấu = Đến nơi, (Thấu rồi = Tới nơi rồi)

Thiếm (thím) = vợ của chú, em trai cha mình, được gọi là thiếm / thím (Hôm nay có chú thím Năm đến thăm ôông mệ)

Thiếm = Thím (Bà con bên nội vai em của ba)

Toá lọa = Tùm lum (Làm tóa lọa = Làm tùm lum)

Tọa lọa = Chỉ đê ngăn nước bị vỡ

Toạc áo = Rách áo

Toóc / rạ = Chân cây lúa đã gặt xong còn ở ngoài đồng ruộng

Tra = Già cả (Tau tra rồi còn mần chi đặng)

Tráu = Ích kỷ, (Mi tráu rứa= Mầy ích kỉ thế)

Tráu = Có ý nghĩa khác ý nghĩa tương đồng với "nổi cáu" là giận (nổi tráu = nổi giận ) tùy theo vùng

Trầm trây = Làm việc không tới nơi tới chốn

Trăng lu = Trăng mờ không được sáng

Trao = Trò chuyện

Trấp bả = Bắp đùi (Trấp bã bị chảy máu = Bắp đùi bị chảy máu)

Trấy = Trái (Trấy ổi = trái ổi)

Trây trây, xuẩy xuẩy, khơi khơi, thiên lôi = Kiểu không rõ ràng, làm không ra gì, không giống ai

Tréc = Chảo bằng đất nung

Trọ = Đỉnh đầu

Trộ cá = Nơi đặt đơm cá

Trọ mạ mi = Tiếng chửi yêu thường của ngưới lớn mắng yêu con cháu (chửi bới) (=Cái đầu mẹ mày)

Tróc mắt tre đẹo cấy vụ để chơi cờ cun = Chưa hiểu vì tác giả không dịch nghĩa

Trọi = Gõ (Trọi đầu = gõ lên đầu)

Trợi = sợi (Trợi dây = sợi dây)

Trời dợ = Ngoài trời tạnh mưa mưa rồi

Trộng = Lỗ thủng

Trôốc = Đầu (Cái đầu)

Trôốc cúi = Đầu gối

Trôông mãi = Trông mãi

Trọt = (Vị trí chỗ mái hiên nơi nước mưa chảy xuống)

Trợt hướt , Trớt quớt = Không đâu vào đâu cả (Ăn nói trợt hướt)

Trữa = Giữa (Trữa cươi = Giữa sân)

Trún = Mớm (Dùng miệng bà mẹ đẩy cơm vào miệng em bé để cho ăn)

Trung ni = Ở phía trong nầy

Truông = Vùng rừng rú hoang vu bọn lục lâm thảo khấu thường ẩm nấp.

Trượng nớ = Dượng ấy

Tún = Rốn, rún (Chôn nhau cắt rốn)

Tưng rờ rờ  = Sáng sớm mai

Ủ loạn = Là đau buồn đến thẫn thờ

Ừ, tau đi ga ni, mi đi ga mô? = Đúng vậy, mình đi ga này, bạn đi ga nào?

Ừ, tau đi nghe mi = Ừ, thôi mình đi đây.

Ức = Ngực

Ưng = Yêu thích

Ưng đọa = Thích nhiều, nhiều lắm

Ưng hung = Thích lắm

Út = Em

Vô duyên ộn = Vô duyên quá

Ve gái = Tán gái, gò gái,

Xấu duốc = Xấu xí

Xấu òm = Xấu quá

Xê ra đi mi = Mầy ngồi hoặc đứng dang ra, đừng có lại gần.

Xức ra = Xê ra, xích ra

Xeng = Xanh (Màu xeng xeng = Màu xanh xanh ).

Xuốc cươi = Quét sân

 

Võ Công Diên

Sài Gòn ngày 11-06-2018

READ MORE - TỪ ĐIỂN PHƯƠNG NGỮ QUẢNG TRỊ (Kỳ 5/5) - Võ Công Diên biên soạn

Chùm ảnh HOA CÚC TÍM TÂN TẠO - Chu Vương Miện

 Bấm chuột vào ảnh để phóng to.







READ MORE - Chùm ảnh HOA CÚC TÍM TÂN TẠO - Chu Vương Miện

Thơ: KỂ TỪ NGÀN DÂU – Lê Minh Hiền

 



K T NGÀN DÂU

"Người lên ngựa, kẻ chia bào,

Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san." (Kiều, Nguyễn Du)

Nhớ Bùi Giáng!


Lần theo cuồng lũ thời gian

trăm năm tinh thể vẫn đa mang thu sầu

kể từ quê thuở ngàn dâu

kể từ giữa hai thế kỷ đã nhạt màu quan san 

ngỡ ai như nụ hoa vàng

ừ! thì ta nay cũng sắp mây ngàn phù vân

người qua lay động giấc hôn hoàng 

nửa khuya tỉnh thức chợt hoang hồn trùng vây

nghe mưa về qua phố quận mù trời

chờ mưa phố nhỏ ta dặm đời buồn tênh 


Stanton May 2019 – Oct. 19th, 2024 (5:36 mờ sáng thứ 7)  

Lê Minh Hiền 

hienlehuong@gmail.com


READ MORE - Thơ: KỂ TỪ NGÀN DÂU – Lê Minh Hiền

Saturday, October 19, 2024

NGỮ NGHĨA CỦA MỘT SỐ TỪ TRONG PHƯƠNG NGỮ QUẢNG TRỊ - Hoàng Thị Tường Linh

 

Ngữ nghĩa của một số từ 

trong phương ngữ Quảng Trị

THE SEMANTICS OF SOME WORDS IN THE DIALECT OF QUANG TRI

Tác giả bài viết: HOÀNG THỊ TƯỜNG LINH
(Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế)

 

TÓM TẮT

     Bài báo phác thảo diện mạo của vốn từ địa phương qua sự cố gắng đi sâu phân tích, miêu tả những khác biệt về từ vựng – ngữ nghĩa giữa phương ngữ Quảng Trị với từ vựng toàn dân. Đáng chú ý nhất là những khác biệt về nghĩa, ở cách định danh, cách nhìn, cách phân cắt thực tại trong phản ánh. Trong bài báo, chúng tôi đối chiếu ngữ nghĩa của từ địa phương Quảng Trị với từ toàn dân theo các lớp loại một cách có hệ thống, đồng thời kết hợp đối chiếu ngữ nghĩa từng từ cụ thể. Từ đó, thấy được sắc thái địa phương, sắc thái văn hóa, vai trò của từ trong đời sống xã hội của cộng đồng người địa phương. Đây còn là căn cứ quan trọng để thực hiện chuẩn hóa ngôn ngữ và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và góp thêm cứ liệu cho việc giảng dạy các học phần Từ vựng – Ngữ nghĩa học và Phương ngữ học ở các trường đại học, cao đẳng.

Từ khóa: đặc điểm ngữ nghĩa, phương ngữ, Quảng Trị.

ABSTRACT

     This article describes dialects by concentratedly analyzing the differences of words and meanings between Quang Tri dialect and Vietnamese nationwide. Remarkably, there are the differences in meanings, ways to name things, ways to look at things, and ways to reflect a reality as well. In this study, we systematically compared the semantics of Quang Tri dialects with the standard Vietnamese under the type layer; simultaneously, combined with comparison of semantics of each specific word. Those are expressing local identities, culture, and the role of words in addressing people and in a local society. This is an important foundation in order to standardize Vietnamese, preserve its purity and contribute to materials for teaching Vietnamese module at universities and colleges.

Keywords: Dialect, feature of meaning, Quang Tri.

x
x x

1. Đặt vấn đề

     Tiếng Việt được dùng chung trong cả nước, nhưng ở mỗi vùng lại có những biến thể nhất định, chủ yếu về ngữ âm, từ vựng, tạo nên các vùng phương ngữ, thổ ngữ khác nhau trên đất nước, trong đó có phương ngữ Quảng Trị. Đã có nhiều tác giả đề cập đặc điểm phương ngữ Quảng Trị, nhưng chủ yếu trong nghiên cứu chung về phương ngữ tiếng Việt hay phương ngữ Bắc miền Trung, hẹp hơn là về phương ngữ Bình Trị Thiên như Nguyễn Kim Thản với Thử bàn về một vài đặc điểm trong phương ngữ Nam Bộ (1964), Trần Thị Ngọc Lang với Nghiên cứu phương ngữ Nam Bộ (1995), Võ Xuân Trang với Khảo sát ngôn ngữ Bình Trị Thiên (1997)… Nhìn chung, các công trình chủ yếu miêu tả đặc điểm ngữ âm và vốn từ vựng địa phương, đối chiếu với vốn từ toàn dân, ít đi sâu phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của các từ, các nhóm từ địa phương được nói tới.

     Bài viết này là một cố gắng nhằm bước đầu làm sáng tỏ đặc điểm ngữ nghĩa của từ địa phương, chủ yếu thông qua một số ví dụ trong công trình Văn học dân gian Quảng Trị [9] của Phan Hứa Thụy và Tôn Thất Bình (chủ biên). Qua đó, góp thêm cứ liệu cho việc giảng dạy các học phần Từ vựng – Ngữ nghĩa học và Phương ngữ học ở các trường Đại học, Cao đẳng.

2. Phân loại từ địa phương trong phương ngữ Quảng Trị

     Chúng tôi vận dụng những cách phân chia từ địa phương của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp và Trần Thị Ngọc Lang.

     Đỗ Hữu Châu, trong Giáo trình Việt ngữ – tập II (Từ hội học) (1961) đã chia từ địa phương thành 4 loại, về sau trong giáo trình Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt (1981), ông lại gộp thành 3 loại sau: 1. Những đơn vị từ vựng chỉ những hiện tượng, những sự vật… trong đời sống bình thường, 2. Những đơn vị từ vựng có ý nghĩa khác nhau nhiều hay ít kèm theo sự khác nhau về ngữ âm nhiều hay ít, 3. Các từ địa phương có hình thức ngữ âm khác nhau nhưng nghĩa có bộ phận giống nhau, có bộ phận khác nhau. Tác giả cho rằng “Trên đây là những loại từ địa phương chính do đối chiếu từng từ một riêng rẻ mà thấy” [2, tr. 262].

     Trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt [7] của Nguyễn Thiện Giáp, tác giả chia từ địa phương thành 2 loại lớn là từ địa phương không có sự đối lập với từ vựng toàn dân và từ địa phương có sự đối lập với từ vựng toàn dân. Căn cứ vào hai mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của chúng, ông chia loại thứ hai thành 2 loại nhỏ là từ ngữ địa phương đối lập về mặt ý nghĩa và từ ngữ địa phương có sự đối lập về ngữ âm [7, tr. 257 – 259 ]. Tiếp theo, Trần Thị Ngọc Lang, trong công trình nghiên cứu của mình đã phân chia từ địa phương thành 8 kiểu: 1. Những từ khác âm khác nghĩa, 2. Hai từ khác âm nhưng gần nghĩa, 3. Hai từ khác âm nhưng đồng nghĩa, 4. Hai từ gần âm nhưng khác nghĩa, 5. Hai từ gần âm và gần nghĩa, 6. Một trong hai từ là biến thể ngữ âm của từ kia, 7. Hai từ đồng âm khác nghĩa, 8. Hai từ giống âm nhưng chỉ gần nghĩa [7]. Cách chia từ địa phương thành các loại nhỏ như Trần Thị Ngọc Lang đã giúp nghiên cứu nghĩa của từ địa phương có hệ thống hơn. Song, do không phân biệt hiện tượng biến thể ngữ âm của từ (tạo ra các từ có sự tương ứng ngữ âm) với các hiện tượng các từ gần âm, khác âm (không do biến thể ngữ âm theo quy luật, giữa chúng không có quan hệ ngữ âm), cũng như không có sự phân định khái niệm gần nghĩa, đồng nghĩa, khác nghĩa nên nhiều lớp từ tác giả phân loại và chọn phân tích trong chuyên khảo làm cho người đọc thấy chúng chồng xếp vào nhau. Việc phân loại từ địa phương trong phương ngữ Quảng Trị khó đạt được một cách rạch ròi, triệt để. Bởi vì nghĩa của từ là một hiện tượng phức tạp, nghĩa của hai từ tương ứng có thể dùng giống nhau, nhưng trong một tình huống giao tiếp khác, sắc thái nghĩa của từ lại khác nhau. Nếu chỉ dựa vào quan hệ kết hợp của từ trên bề mặt, nhiều khi không giải thích được những hiện tượng đó mà phải dựa cả vào yếu tố bên ngoài cấu trúc như tâm lí, thói quen của người địa phương.

     Việc phân loại nghĩa của từ địa phương có thể được tiến hành theo nhiều cách. Dựa trên những tiêu chí khu biệt, xét quan hệ về mặt âm thanh và ý nghĩa giữa các từ trong phương ngữ với từ toàn dân, chúng tôi phân loại đặc điểm ngữ nghĩa của từ trong phương ngữ Quảng Trị thành 7 nhóm sau: 1. những từ giống âm nhưng khác nghĩa, 2. những từ khác âm khác nghĩa, 3. những từ có sự tương ứng về ngữ âm và có biến đổi ít nhiều về nghĩa, 4. những từ vừa có sự tương ứng về âm vừa có sự tương đồng về nghĩa, 5. những từ cùng âm nhưng có xê dịch ít nhiều về nghĩa, 6. những từ khác âm nhưng tương đồng về nghĩa, 7. những từ trái nghĩa.

3. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ địa phương trong phương ngữ Quảng Trị

     3.1. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ vừa tƣơng đồng về ngữ âm vừa tƣơng đồng về nghĩa

     Đây là kiểu loại từ được tạo thành có số lượng tương đối trong tổng số các từ phương ngữ được tạo ra bằng con đường biến đổi ngữ âm. Ở kiểu loại này chủ yếu là biến đổi phụ âm đầu hoặc phần vần, như: nác – nước, lờ – mờ, lạt – nhạt, lầm – nhầm, đàng – đường, mói – muối, náng – nướng, lả – lửa, trù – trầu, cắm – cắn, chưn – chân, dà – nhà, giúng – giống, mược – mặc, tụt – trụt. Nhìn chung, chúng đều có sự đồng nhất về nghĩa với từ toàn dân, có quan hệ tương ứng ngữ nghĩa rất chặt với từ toàn dân, nên rất dễ được nhận dạng cả về mặt âm lẫn mặt nghĩa qua so sánh – đối chiếu dạng thức của nó trong phương ngữ với từ trong ngôn ngữ toàn dân. Dù được tạo ra theo con đường biến âm có quy luật và quan hệ về mặt âm thanh và ý nghĩa, nhưng do các từ này (là biến thể ngữ âm của nhau) được dùng trong hai hệ thống khác nhau, do đó bên cạnh sự đồng nhất thì sự phân li về nghĩa giữa chúng vẫn diễn ra, mặc dù ở mức độ thấp. Ta có thể phân tích một ví dụ làm rõ điều này:

      Nác – nước: là cặp đồng nhất với nhau về nghĩa, được tạo ra do biến thể ở phần vần. Theo Từ điển tiếng Việt [5], nước có 5 nghĩa: 1- Chất lỏng không màu, không mùi và trong suốt khi là nguyên chất, tồn tại trong từ nhiên ở sông hồ, biển; 2- Chất lỏng nói chung; 3- Lần, lượt sử dụng nước, thường là đun sôi cho một tác dụng nhất định nào đó; 4- Lớp quét, phủ bên ngoài cho bền đẹp; 5- (kết hợp hạn chế) vẻ ánh, bóng từ nhiên của một số vật, tựa như có một lớp mỏng chất phản chiếu ánh sáng nào đó phủ bên ngoài. Đối chiếu với nước theo 5 nghĩa từ điển chỉ ra, chúng tôi thấy về cơ bản, nác tương ứng với 4 nghĩa đầu của nước. Chẳng hạn: nhiều nghề cá trê húp nác [ 9, tr.149]. Đối chiếu với nghĩa thứ năm của nước, chúng tôi thấy nác thường được ít dùng như vậy. Nói đúng hơn nếu cần thể hiện nội dung như vậy, người Quảng Trị lại dùng nước chứ không dùng nác, trong trường hợp này dùng nước mới là tự nhiên, còn dùng nác lại trở thành không bình thường. Như các cách nói săng (gỗ) lên nước bóng nhoáng (loáng). Ngoài ra, chúng tôi còn thấy khi nước được dùng trong các từ ghép cùng với các yếu tố khác ít nhiều mang nghĩa biểu trưng, trừu tượng, chỉ về khái niệm như “đất nước”, non nước, hoặc nước được dùng với thuật ngữ chuyên môn như nước cứng; nước mềm; nước nặng thì chẳng có người Quảng Trị nào lại thay nác cho nước trong các kết hợp đó.

     Từ các ví dụ nêu trên, ta thấy, về căn bản các từ trong phương ngữ Quảng Trị thuộc kiểu loại này giống nghĩa với từ toàn dân tương đương ngữ âm với nó. Sự khác nhau về nghĩa là không đáng kể, chủ yếu thể hiện ở các sắc thái nghĩa tu từ, biểu trưng hoặc thuật ngữ chuyên môn.

     3.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ có sự tƣơng ứng ngữ âm nhƣng biến đổi về nghĩa

     Lớp từ này có sự tương ứng về ngữ âm với từ dùng trong ngôn ngữ toàn dân nhưng có những khác biệt trên những nghĩa, nét nghĩa cụ thể. Sự phân ly về nghĩa giữa từ trong phương ngữ Quảng Trị và từ toàn dân kiểu này khá rõ.

     Về hình thức, từ địa phương vốn là biến thể ngữ âm của từ toàn dân có thể về phụ âm đầu, phần vần hoặc thanh điệu, nên bên cạnh sự khác nhau về một trong các bộ phận đó, giữa từ địa phương và từ toàn dân phải giống nhau bộ phận ngữ âm còn lại, kiểu như: be – ve, cấy – cái, bấp – vấp. Về nghĩa, từ trong phương ngữ Quảng Trị có những biến đổi khác với từ toàn dân tương ứng ngữ âm ở một vài nghĩa nào đó, chứ không chỉ là sự khác nhau về sắc thái kết hợp hay phong cách.

     Lấy trường hợp từ bấp làm ví dụ: Bấp – vấp là biến thể ngữ âm của nhau (theo quy luật chung biến đổi phụ âm đầu |b| → |v| trong tiếng Việt, cùng kiểu từ tương ứng: be/ve, bui/vui,..), vừa đồng nhất lại vừa dị biệt về nghĩa. Theo Từ điển tiếng Việt [5], vấp có 3 nghĩa: 1-Va mạnh vào chân một vật, do vô ý lúc đang đi; 2-Bị ngắc ngứ, không lưu loát trôi chảy; 3-Gặp phải trở ngại hoặc thất bại một cách bất ngờ. Trong phương ngữ Quảng Trị bấp có ba nghĩa như sau: 1- Va mạnh vào chân một vật, do vô ý lúc đang đi. Bấp phải mô đất, suýt ngã. Đi đâu mà vội mà vàng mà vấp phải đá mà quàng phải dây?; 2- Đụng phải, chạm tới vật gì đó. Đi bấp chắc (đụng phải nhau). Bấp tay, bấp trốôc (đụng tay, chạm đầu). Khi mô (nào) trốôc (đầu) con bấp (chạm) dây phơi ni (này) mới đi bộ đội được; 3- Gặp trở ngại khó khăn bất ngờ. Bấp (gặp) phải sự chống cự mãnh liệt. Mần (làm) nhà bấp (gặp) phải lúc bão to lụt lớn. So sánh nghĩa của từ bấp với vấp, ta thấy hai từ này giống nhau ở nghĩa thứ nhất của nó nhưng đều khác nhau ở nghĩa thứ hai của mỗi từ. Bấp không có nghĩa nào giống nghĩa thứ hai của vấp. Vì thế có thể nói: đọc một hơi không hề vấp, mà không nói: đọc một hơi không hề bấp. Ngược lại nếu so sánh nghĩa của vấp với bấp thì trong cơ cấu của vấp cũng không có nghĩa nào tương đồng với nghĩa thứ hai của bấp nêu trên. Tương đồng với nghĩa này bấp, trong tiếng Việt toàn dân phải là đụng, chạm. Thêm một điểm phân biệt nhỏ khác, nghĩa thứ 3 của bấp tương ứng không hoàn toàn với nghĩa thứ 3 của vấp; giống ở chỗ cùng chỉ sự “gặp phải trở ngại, khó khăn bất ngờ”, khác ở nét nghĩa: bấp không chỉ sự “gặp phải thất bại” như vấp. Nên, đối với vấp có thể nói: Bị vấp nhiều trong công việc; Mới ra trường tránh sao khỏi vấp, nhưng đối với bấp người Quảng Trị không nói như thế. Như vậy, so sánh bấp với vấp ta thấy hai từ này giống nhau một nghĩa, khác nhau một nghĩa và một nghĩa vừa giống vừa khác (chỉ giống một phần).

     Như vậy, từ trong phương ngữ và từ toàn dân, bên cạnh những điểm tương đồng tạo nên liên hệ gắn bó giữa từ trong hai hệ thống, giữa chúng có sự phân ly với những mức độ khác nhau (cũng trên cả hai phương diện ngữ âm và ngữ nghĩa) đã tạo nên sự khu biệt giữa vốn từ trong phương ngữ với từ toàn dân.

     3.3. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ cùng âm nhƣng xê dịch về nghĩa

     Nhóm từ cùng âm nhưng xê dịch ít nhiều về nghĩa này là những từ đang được dùng trong ngôn ngữ toàn dân cả trong phương ngữ với cùng một hình thức âm thanh, nhưng nghĩa của từ dùng trong phương ngữ có sự khác biệt ít nhiều so với từ dùng trong ngôn ngữ toàn dân. Về ngữ âm, từ trong phương ngữ và từ trong ngôn ngữ toàn dân là đồng nhất cho nên chúng tôi gọi là cùng âm. Về ngữ nghĩa, từ dùng trong phương ngữ và trong ngôn ngữ toàn dân có đồng nhất với nhau ở một nghĩa nào đó, nhưng lại khác nhau ở một nghĩa khác (đối với từ đa nghĩa), hoặc chúng cùng chỉ một sự vật nào đó nhưng phạm vi mức độ biểu vật lại không trùng khít lên nhau, vì thế chúng tôi gọi là xê dịch ít nhiều về nghĩa.

     Dựa vào mức độ tương đồng và tách biệt về nghĩa, có thể chia kiểu từ này thành hai tiểu loại:

     Tiểu loại thứ nhất: Từ một từ nhưng qua diễn biến lịch sử của từng vùng mà từ có sự phái sinh ngữ, có những ý nghĩa riêng chỉ dùng trong phương ngữ đó, hoặc từ đã thay đổi ít nhiều về cơ cấu nghĩa nên giữa phương ngữ và ngôn ngữ toàn dân, từ vừa đồng nhất lại vừa dị biệt về nghĩa. Chúng ta có thể hình dung về tiểu loại từ này qua một số ví dụ được phân tích như sau:

    Ví dụ: ráo được Từ điển tiếng Việt [5] xác định: 1- nghĩa gốc là: đã khô, đã hết nước. Nét chữ chưa ráo mực; Quạt cho ráo mồ hôi. 2- Hết tất cả, không chừa một ai, một cái gì. Đồ đạc, hành lí bị mất ráo; Chẳng biết gì ráo. Ráo trong phương ngữ Quảng Trị sử dụng như nghĩa 1, chẳng hạn: Biết lấy chi đền ơn trả thảo, kẻo bên ướt mẹ nằm bên ráo con lăn [9, tr.236]. Ngoài ra, ráo còn có nghĩa phái sinh khác các nghĩa đã nêu trong từ điển là: “ánh sáng trực tiếp từ mặt trời chiếu xuống”. Nghĩa này tương ứng với nghĩa của từ nắng trong ngôn ngữ toàn dân, thể hiện trong lối nói như: Cu cu tắm thì ráo / Trảo trảo tắm thì mưa [9, tr.143] = Bồ câu tắm thì nắng / Bói cá tắm thì mưa. Như vậy, có thể thấy tuy là nghĩa được dùng riêng trong phương ngữ nhưng nghĩa này phát triển theo cơ chế ẩn dụ, dựa vào quan hệ tương đồng, trên sơ sở nét nghĩa: “đã khô, đã hết nước” trong nghĩa gốc của từ.

    Tiểu loại thứ hai là những từ vừa được dùng trong ngôn ngữ toàn dân, vừa được dùng trong phương ngữ nhưng so với từ dùng trong ngôn ngữ toàn dân, từ dùng trong phương ngữ có nghĩa khác nhau về phạm vi biểu vật. Ví dụ: So sánh phạm vi nghĩa của từ dạ trong ngôn ngữ toàn dân với từ dạ trong phương ngữ Quảng Trị cũng thấy mức độ rộng hẹp khác nhau. Trong trường hợp này nghĩa của từ dạ (phương ngữ) bao chứa nghĩa của dạ (toàn dân); hay nói cách khác, nghĩa của dạ (toàn dân) hẹp hơn của dạ (phương ngữ). Cụ thể, nghĩa của từ dạ trong phương ngữ vừa là: “tiếng dùng để đáp lời gọi, hoặc mở đầu câu nói thể hiện sự lễ phép” như nghĩa của dạ trong ngôn ngữ toàn dân, dạ trong phương ngữ còn là :“Tiếng dùng để đáp lại lời người khác một cách lễ phép tỏ ý nghe theo, ưng thuận, hoặc thừa nhận điều người đối thoại hỏi đến” như nghĩa của từ vâng trong ngôn ngữ toàn dân là: “gọi (thì) dạ, bảo (thì) vâng” thì trong phương ngữ Quảng Trị đáp lại lời gọi và bảo, người địa phương đều dùng dạ. Như vậy, dạ (phương ngữ) tương ứng với nghĩa của dạ + vâng (toàn dân).

     3.4. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ đồng âm nhưng khác nghĩa

     Đây là nhóm từ đồng âm giữa từ ngữ toàn dân và phương ngữ, cho nên sự khác biệt về nghĩa giữa chúng là lẽ đương nhiên. Nguyên nhân tạo ra từ đồng âm giữa phương ngữ và từ toàn dân khá đa dạng và phức tạp, nhưng trong đó có những tiểu loại ta có thể lý giải được. Nếu xét quan hệ giữa các yếu tố đồng âm về mặt nguồn gốc, ta thấy phần lớn các từ đồng âm không có quan hệ với nhau, chỉ có một bộ phận những từ đồng âm còn lại là quan hệ cùng gốc. Như vậy, nếu cần phân loại, ta thấy từ đồng âm giữa phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân có thể chia làm hai tiểu loại.

    Tiểu loại thứ nhất là những từ đồng âm không có cùng nguồn gốc với nhau, xét trong quan hệ giữa phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân, trong số những từ đồng âm thuộc tiểu loại này ta thấy có những từ đồng âm với nhau là có tính ngẫu nhiên. Ví dụ: từ hoài trong phương ngữ có nghĩa là “luôn luôn”, còn hoài trong ngôn ngữ toàn dân có nghĩa là “để mất đi một cách hoàn toàn vô ích do đem dùng vào việc không đáng hoặc không mang lại một kết quả nào cả (hoài tiền đi mua cái đó)”. Con trong phương ngữ là “con gái”, con trong ngôn ngữ toàn dân có nghĩa là: “người hoặc động vật thuộc thế hệ sau, trong quan hệ với người hoặc động vật trực tiếp sinh ra”. Hai từ chạc đồng âm, ở phương ngữ Quảng Trị ứng với nghĩa “dây” còn ở ngôn ngữ toàn dân, chạc có nghĩa là: “chỗ cành cây chẽ làm nhiều nhánh”. Hai từ dọi đồng âm, ở phương ngữ Quảng Trị là động từ chỉ “theo”, còn dọi ở ngôn ngữ toàn dân là danh từ có nghĩa là “vật nặng buộc vào đầu dưới sợi dây (gọi là dây dọi), dùng để xác định phương thẳng đứng”. tương tự, thá trong phương ngữ có nghĩa là: “miệng thế gian cười” (Thương người mà đứng ngó người / Cỏ mòn đất đẹ, thá cười quản chi – Hò đối đáp Quảng Trị), còn thá trong vốn từ toàn dân lại có nghĩa là “Thứ, loại (thường nói với ý khinh miệt)”. Trải trong vốn từ toàn dân có nghĩa là: “Thuyền nhỏ và dài, dùng trong các cuộc thi bơi thuyền”, còn ở phương ngữ Quảng Trị lại có nghĩa: “mang, gánh lên” (Bao nhiêu thao, vải, lụa hàng / Vật gì phường chợ cũng băng ngàn trải lên – Vè Quảng Trị).

     Tiểu loại đồng âm thứ hai là những từ có quan hệ nguồn gốc với nhau. Những từ đồng âm kiểu này được tạo ra do nguyên nhân của sự phát triển nghĩa trong từ đa nghĩa, khi mà các nghĩa của từ phát triển đến mức “tối đa” làm cho mối quan hệ giữa các nghĩa đã quá mờ nhạt đứt đoạn, hoặc đi kèm với sự phát triển nghĩa của từ là sự chuyển loại về mặt ngữ pháp, nên mặc dù các nghĩa của từ còn quan hệ với nhau rất chặt, nhưng chức năng ngữ pháp của từ đã biến đổi, vì thế các nghĩa đó từ cùng một hình thức ngữ âm chúng tách thành các từ đồng âm cùng gốc.

    Ví dụ: Có những từ, nghĩa của nó đã phát triển đến giới quan hệ ngữ nghĩa giữa các nghĩa đã bị đứt đoạn, từ tách thành hai từ đồng âm với nhau. Chẳng hạn, ngao ngán ở phương ngữ có nghĩa chung như từ ngao ngán trong ngôn ngữ toàn dân, là “chán nản cao độ không còn thấy thích thú gì nữa” nhưng hiện nay ở phương ngữ ngao ngán còn có nghĩa là “nhiều, đầy rẫy” như ở lối nói: chợ ngao ngán thịt cá (= chợ đầy rẫy thịt cá). Với hai nghĩa đó ngao ngán đã tách thành hai từ đồng âm với nhau. Cũng vậy, ngán bên cạnh nghĩa ứng với ngấy, chán nay ở phương ngữ Quảng Trị ngán còn có nghĩa là “ngại đến mức sợ” (ngán đòn bọn nó). Vì thế với nghĩa này từ tách thành hai từ đồng âm với nhau.

    3.5. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ khác âm nhưng có sự tương đồng về nghĩa

    Thuộc kiểu loại này là những từ ở các phương ngữ và từ trong ngôn ngữ toàn dân, tuy không có quan hệ tương ứng ngữ âm nhưng lại tương đồng về nghĩa với nhau. Có thể chia kiểu loại từ đồng nghĩa này thành các tiểu loại chủ yếu như sau:

    Những từ đồng nghĩa được tạo nên do phương ngữ lưu giữ những yếu tố cổ của tiếng Việt. Trong phương ngữ Quảng Trị, loại này là những từ đồng nghĩa như: cươi – sân , lọi – gãy, nốôc – thuyền, , sương – gánh, théc – ngủ, mần – làm, rứa – vậy… Đây là nhóm từ đồng nghĩa, nhưng được hình thành do phương ngữ lưu giữ những từ cổ. Nhóm từ mà nay chúng không còn được dùng trong ngôn ngữ toàn dân, đã bị thay thế bởi đơn vị đồng nghĩa khác.

    Những từ đồng nghĩa được tạo nên do phương ngữ sử dụng một trong hai yếu tố từ ghép hợp nghĩa tiếng Việt. Đây là tiểu loại bao gồm những từ địa phương đồng nghĩa với từ toàn dân mà cả hai có thể cùng có mặt trong từ ghép hợp nghĩa. Có thể kể ra một số từ thuộc tiểu loại này mà phương ngữ dùng yếu tố thứ nhất, ngôn ngữ toàn dân dùng yếu tố thứ hai trong từ ghép hợp nghĩa, như: hờn giận; cực khổ; nhởi chơi; khốn khó; lôi kéo;… Do vừa tương đồng lại vừa dị biệt về nghĩa nên các yếu tố đó khi kết hợp với nhau thường tạo cho từ ghép nghĩa khái quát hơn, trừu tượng hơn so với nghĩa của từng từ trong phương ngữ. Ví dụ: phương ngữ Quảng Trị dùng nhởi, ngôn ngữ toàn dân dùng chơi, hai yếu tố này đồng nghĩa với nhau nên chúng đã kết hợp để tạo nghĩa khái quát trong chơi nhởi dùng chung. Tuy vậy, có thể thấy khả năng sử dụng của nhởi hẹp hơn rất nhiều so với chơi. Nhởi ngoài nghĩa là chơi còn được dùng tương ứng với từ ăn hỏi như trong ngôn ngữ toàn dân là chỉ “lễ hỏi vợ”. Nên khi người Quảng Trị nói: Tui đi nhởi nhà o nớ rồi thì có nghĩa đã làm lễ ăn hỏi cô ta rồi. Còn tương ứng với từ ăn hỏi trong ngôn ngữ toàn dân, phương ngữ Quảng Trị dùng từ nói, khi người địa phương nói: Tui ở ngoài nong ngoài nia, ngoài sòng ngoài sãi, ông Hương, ông xã, ông đi nói tui, có minh kinh giá triệu, bàn đăng cây bố, mà tui nỏ có ưng (Vè mẹ Hẹ).

     Ngoài ra, trong một số kết hợp, nhởi cũng được dùng như chơi, nên trong ngôn ngữ toàn dân có ăn chơi thì trong phương ngữ có ăn nhởi. Và trong hội thoại, nhởi còn được dùng để tạo ra các lối nói như: chịu nhởi với nghĩa là: dám làm bất cứ việc gì dù biết có thể là thua thiệt tốn kém; hoặc dùng nhởi đẹp như lối nói chơi đẹp với nghĩa là: ứng xử đàng hoàng nghiêm chỉnh, không để cho người khác phải thiệt. Tuy vậy, so với nhởi nhìn chung chơi có nghĩa rộng hơn, nên được dùng trong rất nhiều trường hợp quen thuộc như: chơi bời, chơi chữ, chơi đùa, chơi khăm, chơi xỏ…

    3.6. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ khác âm khác nghĩa

    Nhóm từ này không có quan hệ ngữ âm với từ toàn dân nên không gợi lên được cho người nghe sinh sống ngoài địa phương bản sắc âm thanh tiếng địa phương; chúng lại không có quan hệ ngữ nghĩa với ngôn ngữ toàn dân nên sự vật, hành động tính chất mà từ chỉ ra có phần xa lạ, khó hiểu với người địa phương khác, họ khó tri nhận được ngữ nghĩa của vốn từ loại này. Trong lớp từ này, có cả những từ ngữ thể hiện lối nói khác ngôn ngữ toàn dân rất khó tìm từ ngữ tương ứng về nghĩa với chúng, vì thế nhóm từ này cũng mang dấu ấn văn hóa của mảnh đất này khá rõ nét. Qua tên gọi của nó ta thấy như đời sống, phong cách sản vật, phong tục tập quán, lễ hội riêng của từng vùng. Trong nội bộ kiểu loại từ này, dựa vào ý nghĩa và hoàn cảnh sử dụng trong phương ngữ có thể phân chia chúng thành 2 tiểu nhóm.

     Nhóm từ ngữ gắn với các sản vật và đời sống sinh hoạt của nhân dân địa phương: Trong đời sống lao động của người dân ở địa phương, để chỉ sản vật họ có các loại bánh: 1- Bánh ít là loại bánh bằng bột nếp xay tươi, hấp cách thủy. Bánh trở nên dẻo và thơm. Tùy nguyên liệu được sử dụng hoặc màu sắc, người ta phân thành các loại bánh ít khác nhau: bánh ít trắng, bánh ít đen,… Đi chợ Đồng cù bánh ít nhân tôm / Hai tay lột lá miệng mồm hả ra (Ca dao Quảng Trị); Bằng cái bánh ít, trong thịt ngoài da – cái mề gà (Câu đố Quảng Trị). 2- Bánh đòn nhiều nơi gọi là bánh tét. Nguyên liệu làm giống với bánh chưng nhưng hình thức gói thành từng đòn dài, hình trụ tròn lúc ăn thường dùng dây lạt hoặc chỉ tét ra thành từng lát. Đố thì giải được / Giải không được cho ăn bánh đòn / Cái chi hai đầu méo, giữa tròn hở anh (Câu đố Quảng Trị); Ru con con théc cho say / Để mẹ đi chợ mua bánh đòn cho ăn (Ca dao Quảng Trị),… Ngoài các loại bánh còn có các loại rau củ như: chuối chát, hẹ, rau mưng... phản ánh được đời sống của một vùng đất khắc nghiệt. Ca dao Quảng Trị có ghi lại: Anh đà có vợ thời thôi / Không phải mắm nêm chuối chát mà muốn moi cho nhiều; Giàu như người ta buông hẹ bán hành / Khó như hai chúng mình lên non hái củi dần dần cũng qua; Nước cạn xuống sông bắt tôm mò cá / Nước sâu em lên trên đồng em hái rau má rau mưng. Trong sinh hoạt, có những từ ngữ dùng để nhấn mạnh các tính chất, đặc điểm sinh hoạt rất khó tìm được những từ ngữ toàn dân để lột tả hết được ý nghĩa của nó. Có các loại rượu làm say đắm lòng người: Rượu quỳnh tương, rượu cúc bù. Rượu quỳnh tương chai đầy chai cạn / Trúc gầy mòn nhớ dạng nhành mai (Ca dao Quảng Trị); Rượu quỳnh tương chén mời chén chuốc / Rượu cúc bù chai chuốc chai châm (Ca dao Quảng Trị). Ở Quảng Trị cũng có những loại trang phục với các tên gọi mang đậm chất phương ngữ do người địa phương tạo ra là nón quai găng, khăn nhiễu thảo, áo cố y, quần lụa đào. Ca dao Quảng Trị có ghi lại các từ này:

Nón quai găng tìm khăn nhiễu thảo

Quần lụa đào chờ áo cố y

Phận em nghiêng nghèo đói khổ

Làm bạn mần chi cho thẹn thùng”.

     Về kiểu loại những từ khác âm khác nghĩa trong phương ngữ Quảng Trị đã phản ánh cuộc sống đa dạng, nhưng đầy bản sắc địa phương, nó góp phần cùng các nhóm từ khác làm cho bức tranh từ vựng phương ngữ thêm phong phú và toàn diện hơn.

     3.7. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ trái nghĩa

     Từ trái nghĩa là những từ có một số nét nghĩa khái quát trong cấu trúc biểu niệm giống nhau, bên cạnh đó, nổi bật bật lên ít nhất một nét nghĩa đối lập.

     Các từ trái nghĩa trong từ địa phương thể hiện sự tương phản về nghĩa trên các khía cạnh phản ánh phẩm chất của đối tượng, ví dụ về thời gian (hôm ni – mai,…); vị trí (bắc lên – truống xuống, côi – đưới, dưới rọc/rôộc – lên vèng , đưới – côi,…); không gian (ra – vô, lui – tới, bên ni – bên tê,…); về kích thước, dung lượng, tính chất (cạn – nậy, rộng – chật, cao – hạ, có – nỏ có, cuốn lại – xổ ra, trẻ – tra, trúng – thua , nậy – nhỏ, cực – sướng …), về hiện tượng thiên nhiên (ráo – mưa …), hiện tượng xã hội (giàu – khó…).

     Các từ trái nghĩa tiếng Việt đa phần gắn liền với tính cân xứng, tức là dung lượng ngữ nghĩa của chúng phải tương đương nhau, ví dụ nhỏ trái nghĩa với nậy; chứ nhỏ không được coi nhỏ là trái nghĩa của khổng lồ… Tuy nhiên, một từ vẫn có thể tham gia vào nhiều cặp trái nghĩa, ví dụ: mở – đóng (cửa); mở – gấp (vở); mở – đậy (nắp); mở – hạ (màn);… Các đơn vị trái nghĩa có thể cấu tạo để tạo thành các cặp từ trái nghĩa, ví dụ: ăn mặn – ăn lạt; ăn mặn – ăn chay…Các đơn vị này được cấu tạo bằng cách ghép một từ gốc giống nhau vào hai vế của cặp trái nghĩa đã có. Có những trường hợp một từ trái nghĩa với hai từ, hai từ này không phân biệt về ý nghĩa mà lại đồng nghĩa với nhau như:

Nước cạn thiếp xuống roọng mò tôm bắt cá

Nước nậy thiếp lên đồng liếm rau má rau mưng

(Ca dao Quảng Trị)

     Cạnnậy khác nhau ở chỗ nậy chỉ độ “sâu” tuyệt đối của sự vật, khi vật đó “có khoảng cách từ đáy đến miệng nhỏ hơn khoảng cách bình thường”. Còn cạn chỉ độ “sâu” tương đối khi “mực nước chứa trong vật ở dưới mức bình thường”. Đối chiếu hai từ trên, chúng ta sẽ thấy từ “sâu” có hai nghĩa, một nghĩa tuyệt đối và một nghĩa tương đối. Nói “nước sông sâu” theo nghĩa tuyệt đối “nước sông có độ đo từ đáy đến mặt nước lớn hơn so với chiều cao con người bình thường”, theo nghĩa tương đối là “có mực nước từ đáy đến mặt lớn so với chiều cao của con người”. Hiện tượng trái nghĩa xuất hiện do sự phân hóa một nét nghĩa rộng thành hai cực đối lập, nhưng không phải bất cứ sự phân cực nào của một nét nghĩa rộng đều cũng dẫn tới hiện tượng trái nghĩa.

4. Kết luận

     Như vậy, qua phân tích sơ bộ về đặc điểm ngữ nghĩa của các nhóm từ trong phương ngữ Quảng Trị với từ toàn dân, chúng ta thấy được bức tranh từ vựng – ngữ nghĩa vô cùng đa dạng và phức tạp. Có nghiên cứu ngữ nghĩa của vốn từ này mới thấy được sắc thái địa phương, sắc thái văn hóa, vai trò của từ trong hành chức, trong đời sống xã hội của cộng đồng người địa phương. Giữa vốn từ trong phương ngữ Quảng Trị với ngôn ngữ toàn dân tuy có những khác biệt về từ vựng – ngữ nghĩa nhưng qua khảo sát những lớp từ cụ thể, qua so sánh về nghĩa của từ, chúng ta thấy được xu hướng thu hẹp dần phạm vi sử dụng của từ ngữ địa phương là một thực tế đã và đang diễn ra. Tuy vậy, phương ngữ nói chung và phương ngữ Quảng Trị nói riêng, trên những biểu hiện cụ thể qua thời gian vẫn có sức sống nhất định trong đời sống cộng đồng người Việt, không thể một sớm một chiều thay thế hoàn toàn bởi ngôn ngữ toàn dân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Dương Văn An (1997). Ô châu cận lục, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.

[2]. Đỗ Hữu Châu (1981). Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội.

[3]. F.de.Saussure (1997). Ngôn ngữ học đại cương, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.

[4]. Hoàng Thị Châu (2009). Phương ngữ học tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội.

[5]. Hoàng Phê (2010). Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Đà Nẵng.

[6]. Nguyễn Thị Bạch Nhạn (2001). Báo cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ cấp bộ, Đề tài Từ vựng phương ngữ Bắc Trung bộ, Đại học Sư Phạm, Đại học Huế.

[7]. Nguyễn Thiện Giáp (1998). Từ vựng học tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội.

[8]. Nguyễn Thiện Giáp (1996). Từ và nhận diện từ tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội.

[9]. Phan Hứa Thụy, Tôn Thất Bình (1992). Văn học dân gian Quảng Trị, Sở văn hóa thông tin thể thao thư viện Quảng Trị.

 

Nguồn: Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Khoa Học
– Đại học Huế, tập 7, số 2 (2017)

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)


READ MORE - NGỮ NGHĨA CỦA MỘT SỐ TỪ TRONG PHƯƠNG NGỮ QUẢNG TRỊ - Hoàng Thị Tường Linh