Thơ Hoàng thị Bích Hà
Em đang đứng trên đất trời Quảng Trị
Lòng nhớ anh da diết đến cồn cào
Có phải nơi đây địa đầu giới tuyến
Anh đã từng in dấu bước hành quân
Gót giày anh qua những nẻo đường nào
Em muốn tìm dấu giày anh đã bước
Những nơi anh từng qua, nơi nào anh đã đến?
Để em tìm về dấu tích anh đi
Em ước mình trở thành một vầng mây
Che cho anh chiều hành quân nắng đổ
Em cũng muốn trở thành làn gió mát
Quấn quýt bên anh làm mát rượi làn da
Em tìm anh không biết ở nơi đâu
Hỏi gió hỏi mây, hỏi rừng cây, biển cả
Có ai biết người yêu tôi giờ đâu vậy?
Để một lần tay nắm lấy bàn tay
Đi bên nhau cùng ngắm những vì sao
Chờ trăng lên thảo vần thơ xướng họa
Anh nói với em rằng: anh yêu em nhiều lắm!
Vần thơ nào anh cũng viết cho em!
Và em sẽ là người hạnh phúc nhất thế gian
Bởi đươc anh yêu và yêu anh nhiều đến thế !
BÀ ƠI ! Thềm rêu giếng nước cầu ao Vẫn xanh xanh mướt dây trầu bà ơi! Bờ rào nhớ giậu mồng tơi Thì thầm lá nõn khoảng trời ấu thơ Tiếng chim rộn buổi tinh mơ Bà ngồi tóc trắng bạc phơ thật hiền Cau tươi trầu thắm nên duyên Thị vàng cô Tấm ru miền tích xưa Ngại gì mưa nắng nắng mưa Trầu xanh như thể mến ưa tay bà Mái hiên chái bếp vào ra Khăn rằn nón lá dáng bà thân thương Dòng dòng hoài niệm còn vương Lạc năm tháng cũ khói sương cay nhòe Cau khô trầu héo ủ ê Sao bà đi mãi chẳng về bà ơi...!? GỬI BẦY CHIM DƯỚI MÁI HIÊN Nhặt nắng sớm mai làm duyên lá nõn Khu vườn lấp lánh ánh sáng màu ngọc bích Khảm vào muôn vàn tiếng chim Vài quả chín rơi vương vãi Bức tranh không rõ vui buồn Họa nét ngày bằng ký tự trinh nguyên Vệt nắng đầu tiên len vào bảng màu pha vẽ Tiếng chuông âm vang mùa ban sơ Dưới mái hiên Bầy chim treo lời cầu nguyện Lặp đi lặp lại đến phát ngấy những chu kỳ quen thuộc Những đứa trẻ tuần tự sinh ra Lớn lên và già đi Khu vườn màu lam cũ kỹ Đám cây non ngày nào cũng già nua Lũ chim con chợt biết mình có thể bay Một ngày nào đó chiếc tổ sẽ trở nên quá nhỏ bé với chúng Dưới mái hiên trơ vụn rơm khô Thèm một sớm mai Bức tranh huyên náo vệt màu loang lổ Nhưng những đứa trẻ nghịch ngợm Đã rủ bầy chim đi mất rồi... Tịnh Bình (Tây Ninh)
Thời cổ đại, Quảng Trị là nơi diễn ra các cuộc chiến giữa Âu
Lạc và Lâm Ấp chống Trung Hoa. Thời trung đại, là mảnh đất giao tranh, phân giới
của Chăm và Việt, của Đàng Trong và Đàng Ngoài. Khi cuộc chiến phân tranh Trịnh
- Nguyễn nổ ra, sông Gianh trở thành giới tuyến phân chia Đàng Trong và Đàng
Ngoài… Vì vậy Phương ngữ Quảng Trị là kết quả của sự giao thoa của nhiều luồng
văn hóa khác nhau.
*Phương ngữ có nguồn gốc từ Bách Việt
Bách Việt là một cộng đồng các dân tộc cùng nguồn gốc sinh sống
ở phía Nam sông Dương Tử cho tới bán đảo Đông Dương từ thời trước Công nguyên.
Về nhân chủng học thì Bách Việt là những cư dân thuộc loại hình Nam Mongoloid
(Nam Á), trong đó bao gồm những nhóm dân tộc Tày Thái, Việt Mường, Môn - Khmer
và cả Miêu Dao, phân bố ở Hoa Nam và Đông Nam Á ngày nay.
- Bọ = Cha. Bọ hay Tía, đều có những từ phát âm tương tự trong các phương
ngữ tiếng Hoa, hoặc tiếng Thái: Po, Cha và Tía. Bọ cũng liên hệ đến Bố và Bu.
Riêng Bu cũng chuyển qua lại để chỉ người Mẹ, hoặc người Vợ. Đặc biệt âm P
(trong Po hay Bọ) trong nhiều thứ tiếng ở Hoa Nam và Đông Nam Á, thật ra là một
thứ âm nằm giữa âm P và B theo mẫu tự La-tinh. Ký âm quốc ngữ đã chọn “B” cho một
số từ, thí dụ: Po (Mường) => Bọ (Việt); Pà đỡ té (Mường) => Bà đỡ đẻ (Việt),
Pẻnh mỳ (Mường) => Bánh mì (Việt).
- Ca = gà, cỏ ca = cỏ gà. Một thứ từ có nhiều phát âm rất giống
với từ tương đương ở các phương ngữ Hoa Nam, nhất là Hakka và Hải Nam Gai. Thái
cũng phát âm tương tự: Gai hay Gaa. Quảng Đông phát âm như Cáy, rất giống tiếng
Mường: Ca.
- Cẳng = Chân. Thêm một từ nữa: “Giò”. “Chân” mang cùng gốc với
jəəng hay dzâng, ajưng hoặc chơn của các phương ngữ thuộc Mon-Khmer hay Mường.
Cẳng bà con với Ka tiếng Hakka (Hẹ), Ka-tui Phúc Kiến, taKay tiếng Chăm, hoặc
Kaki tiếng Mã Lai, và giống nhất với Kahng tiếng Tây Tạng. Trong khi “Giò” có
thể cùng gốc gác với zeoi tiếng Quảng Đông, giok Hẹ (Hakka), hay chiok Phúc Kiến.
- Tê = kia. Rất có khả năng cùng gốc với từ Tày - Nùng tỉ mang nghĩa “đó,
kia”. Tỉ Tày - Nùng, là âm tương đương với bi Quan thoại彼, mang
cùng nghĩa. Gần giống tiếng người Choang ở Quảng Tây.
- Đàng = đường. Mường gọi tàng (tàng tất = đường đất). “Đàng”
hay “đường” có cùng gốc với từ Quảng Đông dung衕, mang nghĩa “ngõ đi”. “Đường sá”
đàng hoàng người Hoa gọi “đạo” 道, người Thái và một lô các tiếng gốc
Mon -Khmer (kể cả Chăm) và Đa đảo thường thiên về các âm vị mang âm sá (trong
“đường sá”). “Đàng” và “đường” biến chuyển qua lại với nhau, nằm trong một quy
luật giữa các phương ngữ Hoa - Nam: Lượng = lạng; trương = trang.
- Nác = nước. (Nác) hay (đác) là những phát âm chỉ “nước” rất
phổ biến trong các thứ phương ngữ xưa ở vùng Đông Dương, kể cả tiếng Mường. Từ
điển Alexandre de Rhodes ghi “Nác” = “nước”. “Nác” mang cùng gốc với (Naahm) tiếng
Thái - Lào, và cũng rất có thể “Nác” là kết quả hợp âm: (naahm) T + (dak).
“Nác”, ở dạng “Đác” trong các phương ngữ của Môn - Khmer, cũng có liện hệ “ví
phỏng” với “đạc” mang nghĩa “chất lỏng đã đặc lại” = đặc.
- Chu = châu. Nó nằm trong định luật về âm tương đương giữa
các phương ngữ Bách Việt (xưa) ở Hoa Nam, Iu Ù Âu: “Nếu một phương ngữ có phát
âm au hay ou cho một từ, thế nào cũng có một phương ngữ khác phát âm cho cùng từ
đó theo âm iu”.
- Cươi = Sân. Trước hết “sân” là một từ mang gốc Mân Việt
(Phúc Kiến): tsing. “Cươi” là một thứ từ hiếm có trong những từ điển phương ngữ
xa xưa, cươi có thể mang nghĩa “cái nền đất” => “cơ” (xem từ điển Huỳnh Tịnh
Của. Cươi cũng mang âm gần với “Cơi” mang nghĩa “đất cao”, hoặc khoảng đất gần
hàng rào trước “nhà”. “Cươi” do đó có thể mang liên hệ “ví phỏng” với “Cửa”.
Nhưng gần với “Cươi” nhất trong các phương ngữ bản địa chính là “Cai” của tiếng
Tày - Nùng, cũng mang nghĩa chính “sân (nhà)”.
- Đặng = được. “Đặng” và “được” là lối đọc tiếng Việt (Bách
Việt) của hai từ Hoa khác nhau: 打 deng Quan thoại đặng, và得 tiet Hẹ,
dak QĐ đạt, và tâ? Ngô Việt (tức Chiết-Giang/Thượng Hải).
- Giôông = chồng. “Chồng” mang phát âm giống tiếng Hạc Việt
chong tương đương với trượng trong “trượng phu”. Âm Gi trong Giồông tương đương
“qua lại” với Ch là một đặc điểm tiếng Mường như Giường = chờng.
- Giôông = giông. Đây là sự biến âm cuối n và ng có thể mang ảnh
hưởng tiếng Mân Việt. Tương tự: Hoọc = Học; Khôông = Không; trôông = trông,
đôông = đông.
- Lịp = nón lá. theo tự điển Huỳnh Tịnh Của: nón. Tiếng Hạc
Việt (Hẹ) phát âm y hệt lip cho chữ 笠, tượng hình chữ “Trúc/ tre” (chỉ lá
tre) viết chồng lên âm “lập”. Phát âm theo kiểu Quảng Đông của “lịp” là lap.
- Ngái = xa. Một từ rất phổ biến vùng đất Mon-Khmer: xngai,
jngai, yngai, xă ngai, v.v. thuộc Mon-Khmer và Munda. Tiếng Thái là za gần với
“xa” hơn. Âm ngái rất gần với âm gai quan thoại và kai tiếng Mân Việt (PK) và Hạc
Việt (Hẹ), 垓, có mang một nghĩa: “Xa”.
- Nương = vườn quanh nhà, nương = ruộng cao ở núi. Dùng sát với
“ruộng”, hay thay thế “ruộng”: ruộng nương, nương chè, nương dâu. “Nôỗng” và
“Nương” rất gần âm với “nông”, và ý nghĩa, cách phát âm có thể hoán chuyển với
nhau, trước thời quốc ngữ. Cũng có khi đi đôi với “náu” mang nghĩa: nương tựa,
nhờ cậy. Trường hợp này, “nương” gần âm tiếng Hạc (Hẹ): niong = nương tựa, và
“náu” gần âm tiếng Ngô - Việt: Nyaz, hay Hạc: liau.
*Phương ngữ có nguồn gốc từ khối Mon-Khmer
Ngữ tộc Mon-Khmer, là một nhóm ngôn ngữ lớn bao gồm khoảng
150 ngôn ngữ của ngữ hệ Nam Á đa số tập trung tại Đông Nam Á. Được phân nhánh
thành ba vùng Đông, Nam, Bắc
- Cẩy = Cái / con gái.
Âm cuối y trong Cẩy mang ảnh hưởng khối Mon-Khmer. Tiếng Việt trong trường hợp
này đã chọn i, thành ra Cái. Trong tiếng Mường, Cẩy {cải/ cảy} có thể mang
nghĩa “cái/ con” (cải pẻnh, cái đốc => cái đò; cảy cả => con cá; cảy ca
=> con gà), và cũng đồng thời có thể dùng để chỉ: mẹ, vợ, con gái, chị, người
đàn bà. Thí dụ: cảy ho = mẹ tôi; con cải = con gái; cải cá = chị cả; cái khà =
gái già; cải khon = gái tân; cải roch = chị ruột).
- Chắc = nhau. Chắc là một từ gốc Mon-Khmer và Mường, mang
nghĩa: thân mình, con người, thân thể, v.v. Trong lối dùng “đập chắc”, ta có thể
thay thế nó bằng “đánh nhau”, nhưng chắc không nhất thiết mang nghĩa gốc là
“nhau”. “Đập chắc” là một lối nói của một số phương ngữ Trung Bộ, tương đương với
“đánh nhau” phía Bắc, Tiếng Mường: chắc = người,chắc cá = người lớn, chắc khà = người già. Tiếng
Mon-Khmer: tsa?ak hay sa?ak = thân mình.
- Cơn = con + cái. Trước hết, “cơn” = con chỉ là một lối kí
âm thống nhất của quốc ngữ: con. Nhưng theo định luật thông thường của “mạo từ”,
“con” thường dính với các từ mang tính “động - đậy”: con sông, con chó, con gà,
con gái, con chim… và “cái” thường đi với những từ mang tính “bất động”: cái
bàn, cái ghế, cái hồ, cái đồn…
*Phương ngữ có nguồn gốc liên quan đến tiếng Mường
Tuy cùng nằm trong khối Mon-Khmer nhưng ngữ chi Việt (Việt -
Mường) nhiều khi được được xếp riêng. Ngôn ngữ Việt - Mường có sự giao thoa rất
lớn do chung đụng nhiều yếu tố địa lý cũng như lịch sử. Trong phương ngữ Quảng
Trị có rất nhiều từ có nguồn gốc từ ngôn ngữ này:
- Trẽn = thẹn. Người Quảng Trị dùng từ trẽn không chỉ bao hàm
là thẹn mà còn mang nghĩa ngượng ngịu, xấu hổ và trơ trẽn. Tiếng Mường: thẽn
=> thẹn. Theo sát biến chuyển tương đương kiểu: “ngẽn ngùi” (M) => nghẹn
ngùi.
-Trôốc = đầu. tiếng
Mường Tlốc. “Nhâc tlốc” = nhức đầu. “Tlốc củi” = Trôốc cúi (đầu gối). “Tau tlốc”
= đau đầu, ngoài ra “Trôốc” còn liên hệ với “trọc” trong “Trôốc lốc”: mang
nghĩa “đầu cạo hết tóc”, hay “không còn tóc”.
-Trớng = trứng. Tiếng
Mường: “Tlởng” = trứng.
- Bạo: “Bão”. Đây là sự biến chuyển qua lại giữa thanh ngã
(Bão) và thanh nặng (Bạo) của tiếng Mường, bởi tiếng Mường (Hoà Bình) không có
thanh nặng: mũ khà => mụ già; ngẽn ngùi => nghẹn ngùi (ngào); pũi => bụi.
-Chạc giợ = dây chỉ;
dây nhợ. “Chạc đa cổ trối”/dây da, củ trối. Tiếng Mường: Chạc nhợ. Người Quảng
Trị xưa dùng âm d thay cho âm nh. Ví dụ: dà (nhà), dớ dung (nhớ nhung)…
- Chi = gì/ sao. Rất phổ biến tại nhiều nơi. Tiếng Mường: cải
chi => cái gì. “Trai mà chi gái mà chi, sống sao có nghĩa có nghì thì hơn”
- Chiếng = giếng. Âm ch tiếng Mường, nhiều khi tương đương với
g tiếng Việt. Khảng Chiêng => tháng Giêng. Chiềng bễnh => giường bệnh.
Chiểng = giếng.
- Choọc = Thọc. Người Quảng Trị dùng choọc léc (thọc nách)
hay “đâm bị thóoc, choọc bị gạo” Tiếng Mường choc. Việc nhầm lẫn “chọc” với “thọc”
có lẽ bắt nguồn từ hai cách phát âm khác nhau của cùng một từ Bách Việt: 戳tsok (~
choc) theo kiểu Hẹ/ Quảng Đông, và tshokk (~ thoc) theo Ngô Việt (Chiết Giang).
- Cộ = củ (khoai to vôồng thì tốt cộ). Tiếng Mường: cố = củ,
cố cỏng = củ gừng, đây là sự hoán chuyển giữa thanh hỏi sang thanh nặng.
- Côi = trên. Tiếng Mường: cổi = trên. Cổi tlời = trên trời;
cổi nủi = trên núi. Từ này cũng có thể có nguồn gốc với Phúc Kiến kaoiN= cao/
phía trên.
- Cụ = cậu. Tiếng Mường: Cũ = cậu. củ = con… đây là sự biến
âm âu thành âm uhay gặp ở Quảng Trị.;
su = sâu; chu = châu.
- Du = dâu. Tiếng Mường: Du = vợ con trai, đây cũng là sự biến
âm âu thành âm u người Quảng Trị có câu nói lái rất hay: “Mạ du - mụ gia”.
- Đụa = đũa. Biến chuyển dấu ngã sang nặng rất thường xảy ra
giữa tiếng Mường và Việt, một phần tiếng Mường (Hoà Bình) không có dấu nặng. Phần
khác, trước thời quốc ngữ phát triển, các thanh thường biến chuyển theo khu vực.
Thí dụ: lộ = lỗ ; ngọ = ngõ; mụi = mũi…
- Eng = anh. Tiếng Mường: Enh = anh. Ngoài ra chúng cũng có
thể bà con gốc gác với Tiếng Hàn hyEng/ huynh, đọc nhanh có thể rất giống eng.
-Lả = lửa. Tiếng Mường
(Hoà Bình) cho “lửa” là “cúi”. Trong trường hợp ví phỏng của “cúi” (lửa) hoán
chuyển sinh ra “cúi” mang nghĩa “củi” Một phương ngữ Mường khác phát âm “lửa”
như “lá” hay “lả”, bởi các dấu ấn của âm tương đương a chuyển thành ưa như: Rạ
= rựa.
- Ló = lúa. Tiếng Mường:
Lõ = lúa. Lõ cảo = lúa gạo; lõ đếp = lúa nếp. Giữa Mường và Kinh, âm dấu sắc ưa
biến chuyển qua lại với dấu ngã: chũng thôi (M) = chúng tôi; so với: chủng enh
(M) = chúng anh (các anh).
- Lọi = gãy. Tiếng Mường: lé = gẫy; lé chân = gẫy chân. Đây
là một thứ âm sinh ra theo kiểu “cận vị” – “lẻ (lé)” và “loi” ưa đứng gần - bởi
tiếng Mường cũng như Việt đều có: lé loi (M) = lẻ loi (đơn chiếc) ngoài ra lé
loi trong tiếng Mường cũng sẽ mang nghĩa “gẫy” (tay/ chân). Như trên đã nói, do
tiếng Mường (Hoà Bình) không có dấu nặng cho nên có thể tiếng Việt đã biến
“loi” thành “lọi” để phân biệt với “lẻ loi”.
- Mẹng = miệng. Tiếng Mường => “Mẽnh”, cho thấy “Mẹng/ miệng/
mẽnh/ mồm” là những lối phát âm khác nhau theo từng vùng, trước thời quốc ngữ.
“Mồm” => mõm, với Mõm thường dùng cho súc vật: “mõm chó”.
- Mụi = mũi. Hoán chuyển bình thường giữa hai thanh ngã - nặng.
Thông thường qua lại giữa Mường và Việt. Thỉ ngiễm (M)=> thí nghiệm (V). Pò
mũng (M)=> bò mộng.
- Ni = này/ Nớ = Kia. Tiếng Mường: ni = nì = nầy. Tiếng Việt:
nớ - nọ. Ngoài ra các thứ tiếng đệm nầy vẫn thấy trong các phương ngữ Hoa.
*Phương ngữ có nguồn gốc từ Quảng Đông
Quảng Đông trong lịch
sử Trung Hoa cổ đại là nơi sinh sống của các tộc người "Bách Việt", từ
thế kỷ I đến thế kỷ VI (thời kỳ Bắc thuộc). Qua những ghi chép về hoạt động của
Trung Hoa ở Bắc Bộ Việt Nam cho thấy quá trình Việt Nam hóa đối với các dòng họ
Trung Hoa, hơn là quá trình Hán hóa đối với người Việt… Do đó những phương ngữ
này là của người Việt có nguồn gốc từ Bách Việt chứ không phải là do Hán hóa.
- Rớ = lưới. Có trong từ điển Huỳnh Tịnh Của. “Rớ” mang âm gần
với Rõ tức “rọ”, thường dùng để bắt cọp, bắt thú vật, hơn là “lưới” để lưới cá,
lưới tôm. “Rớ” rất khả năng cùng gốc với 罝 ze tiếng Quảng Đông, chỉ cái rọ để bắt
các loại thú nhỏ như thỏ, chồn.
- Rú = rừng. Rừng và Rú đều là hai từ mang gốc Quảng Đông, viết
khác nhau: Rừng = zeon 獉, và Rú = zau 菆.
- Rứa = thế. Có trong tự - vị của Huỳnh Tịnh Của. Có thể mang
gốc Quảng Đông: 這 ze, pha với phát âm Hẹ za.
- Su = sâu. Theo sát biến chuyển Du => Dâu, Cụ => Cậu ở
trên, cũng như biến chuyển giữa Chu và Châu. “Su” => “Sâu” tương ứng với siu
Quảng Đông => siau Hakka, 潚.
- Trự = đồng tiền. Từ tiếng Hoa mang nghĩa “đồng tiền” rất giống
“Trự” phát âm theo kiểu Quảng Đông: zyu 铸. Theo tự - vị của Huỳnh Tịnh Của. Trự
= đồng tiền. “Không có một trự” (trong túi) = nghèo lắm, túng lắm.
- Hung = rất. Lối dùng “hung” cho phó từ “rất” thật ra mang
xuất xứ từ Bách Việt, và được sử dụng tại nhiều nơi ở Việt Nam. Chữ hung 凶ngoài
nghĩa “dữ tợn”, “xấu” còn mang nghĩa “rất”, “cực kì”. Phát âm Hạc Việt (Hẹ) và
Quảng Đông y hệt: hung. Thí dụ tiếng Việt: “Hôm ni, hắn rảnh hung?”.
*Phương ngữ có nguồn gốc Chăm
Người Chăm trong lịch sử, có nền văn hóa phát triển, là hậu
duệ của các cư dân nền văn hóa Sa Huỳnh thời kì đồ sắt. Ở Việt Nam người Chăm
có mối liên hệ gần gũi với các dân tộc nói các tiếng cùng thuộc ngữ tộc
Malay-Polynesia như Gia Rai, Ê Đê, Ra Glai và Chu Ru. Do có một thời gian dài
người Quảng Trị sống chung với cộng đồng người Chăm vì vậy đã có sự giao thoa về
văn hóa nói chung cũng như ngôn ngữ nói riêng:
- Ót = gáy (sau cổ). Tiếng Chăm: takôy = cổ. Mon-Khmer: ko
hay ka = cổ. Trong nhóm ngữ Mon-Khmer, Tiếng Tàu cho “cổ” hay “gáy” là 項 phát âm
hong theo Hạc và Quảng Đông, khá giống “họng” tiếng Việt. Phát âm Ngô Việt cho
từ này là hAz khá gần với “ót”.
- Mụ = bà. Có ghi trong từ điển Alexandre de Rhodes xuất bản
năm 1651 Tiếng Chăm: Muk nghĩa “bà cụ”; muk bôy = bà mụ.
- Chộ = thấy, tiếng Chăm: ýô?. cũng có thể có nguồn gốc Bách
Việt: Mân Việt (chhu), Ngô Việt (tshO), và Hán - Hàn (chok).
- Rặc=throk: Từ mô tả
hiện tượng nước đang vơi nhanh ở giai đoạn chuẩn bị khô. “Cơm rặc rồi, đậy nắp
bàng lại!”.
- Lụt = haluh: là hiện tượng các vật dụng, công cụ bằng kim
loại có độ sắc bén bị bào mòn qua quá trình sử dụng: “kỳ đao ni (con dao này) bị
lụt rồi”.
- Rị mọ = Re ro: là từ ám chỉ một người đang làm công việc lặt
vặt trong nhà do quá tỉ mỉ chậm chạp.
- Ro ro/Ro ro: mô tả sự chuyển động một cách trơn tru, thanh
thoát, chỉ dành riêng cho xe: “Mới sửa xe xong, giờ hắn chạy ro ro rồi!”.
Ngoài một số từ gốc Chăm đơn giản mang tính giao tiếp hàng
ngày như: Ni/ni /đây; Nớ/deh/đó; Tê/têh/kia; Ôông/ông/ông; Mụ/muk/bà; Lú/luk/chậm
hiểu: Khum/ khum/ khom; Bận/băng/lần…
*Phương ngữ có nguồn gốc thời tiền quốc ngữ
Đây là thời kỳ các nhà truyền giáo phương Tây ghi tiếng Việt
bằng ký tự La-tinh để dễ dàng trong công việc truyền đạo, với thời kỳ bản lề là
vào khoảng năm 1630 đến 1634, các nhà truyền giáo đã dùng 5 dấu thanh để ghi 6
thanh điệu của ngôn ngữ Việt, trong thời gian chuyển tiếp này có hằng trăm phát
âm khác nhau tùy từng làng hay mường bản.
- Chờng = giường: “Ù”, “Ờ” hay “Iề” đều là những kí âm “gần
đúng” của quốc ngữ, đối với của thời “tiền-quốc-ngữ”. Chiềng bễnh => giường
bệnh.
- Dọi = dõi = theo(Eng về đừng có ngó lui, để em ngó dọi bùi
ngùi nhớ thương).
- Mui = môi. Hoán chuyển bình thường giữa âm u và ô, trước và
sau thời quốc ngữ: tui = tôi; thúi = thối.
- Ôông = Ông. Tiếng Việt thời quốc ngữ chưa hoàn chỉnh, vẫn
có lộn xộn ở âm cuối ôn và ông. Thí dụ: “tôn giáo” trước giữa thế kỷ 20, vẫn
còn phát âm tại rất nhiều nơi: tôn miếu = tông miếu; Lê Thánh Tôn = Lê Thánh
Tông.
*Phương ngữ hình thành do kị húy
Do kỵ tên húy của vua,
do con cái kiêng gọi tên thật ông bà tổ tiên, hay trong đời sống xã hội do
tránh dùng một chữ nào đó do sợ phạm vào uy quyền, thế lực siêu nhiên hoặc những
ngôn từ không may mắn, người Quảng Trị hay đọc trại thành một từ khác… từ đó đã
tạo ra một phương ngữ mới:
- Bường được đọc trại từ bình(Bường đợng nác).
- Luông được đọc trại từ Long (làng Kim Luông).
- Mơi = Mai(Sớm mơi, mơi mốt).
- Đương = Đang (miềng đương mần).
- Đương = Đan(đương thúng, đương rổ)...
- Chưn = Chân(đi chưn đất)…
Việc phân nhóm nguồn gốc trên chỉ mang tính tương đối. Ví dụ
Ngữ chi Việt (Việt - Mường) nhiều khi được cho vào nhánh phía Bắc của khối
Môn-Khmer nhưng thường cũng hay được xếp riêng; nhiều nhà ngôn ngữ học lại cho
nhánh Việt - Mường vào nhánh phía Đông và xếp nhánh Pear ra một mình; nhiều người
lại không công nhận sự hiện diện của nhánh phía Nam. Một số nhánh hoặc địa
phương vừa nằm trong khối Mon-Khmer lại nằm trong nhóm cư dân cổ Bách Việt…
Ngoài ra do biến động về lịch sử, sự chuyển dịch về địa lí bờ
cõi, cộng với sự chồng lấn về văn hóa trong quá trình chia tách, sát nhập của
nhiều tộc người, nhiều quốc gia, lãnh thổ… cho nên có rất nhiều từ ngữ rất khó
xác định về nguồn gốc một cách rõ ràng. Vì vậy bài viết chỉ mong muốn cung cấp
cho bạn đọc một số tư liệu cần thiết khi tìm hiểu về nguồn gốc tiếng nói, ngôn
ngữ đặc thù của môt vùng đất quê hương - Phương ngữ Quảng Trị.
THE SEMANTICS OF SOME WORDS IN THE DIALECT OF QUANG TRI
Tác giả bài viết: HOÀNG THỊ TƯỜNG LINH (Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế)
TÓM TẮT
Bài báo phác thảo diện mạo của vốn
từ địa phương qua sự cố gắng đi sâu phân tích, miêu tả những khác biệt
về từ vựng – ngữ nghĩa giữa phương ngữ Quảng Trị với từ vựng toàn dân.
Đáng chú ý nhất là những khác biệt về nghĩa, ở cách định danh, cách
nhìn, cách phân cắt thực tại trong phản ánh. Trong bài báo, chúng tôi
đối chiếu ngữ nghĩa của từ địa phương Quảng Trị với từ toàn dân theo các
lớp loại một cách có hệ thống, đồng thời kết hợp đối chiếu ngữ nghĩa
từng từ cụ thể. Từ đó, thấy được sắc thái địa phương, sắc thái văn hóa,
vai trò của từ trong đời sống xã hội của cộng đồng người địa phương. Đây
còn là căn cứ quan trọng để thực hiện chuẩn hóa ngôn ngữ và giữ gìn sự
trong sáng của tiếng Việt và góp thêm cứ liệu cho việc giảng dạy các học
phần Từ vựng – Ngữ nghĩa học và Phương ngữ học ở các trường đại học,
cao đẳng.
Từ khóa: đặc điểm ngữ nghĩa, phương ngữ, Quảng Trị.
ABSTRACT
This article describes dialects by
concentratedly analyzing the differences of words and meanings between
Quang Tri dialect and Vietnamese nationwide. Remarkably, there are the
differences in meanings, ways to name things, ways to look at things,
and ways to reflect a reality as well. In this study, we systematically
compared the semantics of Quang Tri dialects with the standard
Vietnamese under the type layer; simultaneously, combined with
comparison of semantics of each specific word. Those are expressing
local identities, culture, and the role of words in addressing people
and in a local society. This is an important foundation in order to
standardize Vietnamese, preserve its purity and contribute to materials
for teaching Vietnamese module at universities and colleges.
Keywords: Dialect, feature of meaning, Quang Tri.
x x x
1. Đặt vấn đề
Tiếng Việt được dùng chung trong cả
nước, nhưng ở mỗi vùng lại có những biến thể nhất định, chủ yếu về ngữ
âm, từ vựng, tạo nên các vùng phương ngữ, thổ ngữ khác nhau trên đất
nước, trong đó có phương ngữ Quảng Trị. Đã có nhiều tác giả đề cập đặc
điểm phương ngữ Quảng Trị, nhưng chủ yếu trong nghiên cứu chung về
phương ngữ tiếng Việt hay phương ngữ Bắc miền Trung, hẹp hơn là về
phương ngữ Bình Trị Thiên như Nguyễn Kim Thản với Thử bàn về một vài đặc điểm trong phương ngữ Nam Bộ (1964), Trần Thị Ngọc Lang với Nghiên cứu phương ngữ Nam Bộ (1995), Võ Xuân Trang với Khảo sát ngôn ngữ Bình Trị Thiên
(1997)… Nhìn chung, các công trình chủ yếu miêu tả đặc điểm ngữ âm và
vốn từ vựng địa phương, đối chiếu với vốn từ toàn dân, ít đi sâu phân
tích đặc điểm ngữ nghĩa của các từ, các nhóm từ địa phương được nói tới.
Bài viết này là một cố gắng nhằm
bước đầu làm sáng tỏ đặc điểm ngữ nghĩa của từ địa phương, chủ yếu thông
qua một số ví dụ trong công trình Văn học dân gian Quảng Trị
[9] của Phan Hứa Thụy và Tôn Thất Bình (chủ biên). Qua đó, góp thêm cứ
liệu cho việc giảng dạy các học phần Từ vựng – Ngữ nghĩa học và Phương
ngữ học ở các trường Đại học, Cao đẳng.
2. Phân loại từ địa phương trong phương ngữ Quảng Trị
Chúng tôi vận dụng những cách phân chia từ địa phương của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp và Trần Thị Ngọc Lang.
Đỗ Hữu Châu, trong Giáo trình Việt ngữ – tập II (Từ hội học) (1961) đã chia từ địa phương thành 4 loại, về sau trong giáo trình Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt
(1981), ông lại gộp thành 3 loại sau: 1. Những đơn vị từ vựng chỉ những
hiện tượng, những sự vật… trong đời sống bình thường, 2. Những đơn vị
từ vựng có ý nghĩa khác nhau nhiều hay ít kèm theo sự khác nhau về ngữ
âm nhiều hay ít, 3. Các từ địa phương có hình thức ngữ âm khác nhau
nhưng nghĩa có bộ phận giống nhau, có bộ phận khác nhau. Tác giả cho
rằng “Trên đây là những loại từ địa phương chính do đối chiếu từng từ một riêng rẻ mà thấy” [2, tr. 262].
Trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt
[7] của Nguyễn Thiện Giáp, tác giả chia từ địa phương thành 2 loại lớn
là từ địa phương không có sự đối lập với từ vựng toàn dân và từ địa
phương có sự đối lập với từ vựng toàn dân. Căn cứ vào hai mặt ngữ âm và
ngữ nghĩa của chúng, ông chia loại thứ hai thành 2 loại nhỏ là từ ngữ
địa phương đối lập về mặt ý nghĩa và từ ngữ địa phương có sự đối lập về
ngữ âm [7, tr. 257 – 259 ]. Tiếp theo, Trần Thị Ngọc Lang, trong công
trình nghiên cứu của mình đã phân chia từ địa phương thành 8 kiểu: 1.
Những từ khác âm khác nghĩa, 2. Hai từ khác âm nhưng gần nghĩa, 3. Hai
từ khác âm nhưng đồng nghĩa, 4. Hai từ gần âm nhưng khác nghĩa, 5. Hai
từ gần âm và gần nghĩa, 6. Một trong hai từ là biến thể ngữ âm của từ
kia, 7. Hai từ đồng âm khác nghĩa, 8. Hai từ giống âm nhưng chỉ gần
nghĩa [7]. Cách chia từ địa phương thành các loại nhỏ như Trần Thị Ngọc
Lang đã giúp nghiên cứu nghĩa của từ địa phương có hệ thống hơn. Song,
do không phân biệt hiện tượng biến thể ngữ âm của từ (tạo ra các từ có sự tương ứng ngữ âm) với các hiện tượng các từ gần âm, khác âm (không do biến thể ngữ âm theo quy luật, giữa chúng không có quan hệ ngữ âm),
cũng như không có sự phân định khái niệm gần nghĩa, đồng nghĩa, khác
nghĩa nên nhiều lớp từ tác giả phân loại và chọn phân tích trong chuyên
khảo làm cho người đọc thấy chúng chồng xếp vào nhau. Việc phân loại từ
địa phương trong phương ngữ Quảng Trị khó đạt được một cách rạch ròi,
triệt để. Bởi vì nghĩa của từ là một hiện tượng phức tạp, nghĩa của hai
từ tương ứng có thể dùng giống nhau, nhưng trong một tình huống giao
tiếp khác, sắc thái nghĩa của từ lại khác nhau. Nếu chỉ dựa vào quan hệ
kết hợp của từ trên bề mặt, nhiều khi không giải thích được những hiện
tượng đó mà phải dựa cả vào yếu tố bên ngoài cấu trúc như tâm lí, thói
quen của người địa phương.
Việc phân loại nghĩa của từ địa
phương có thể được tiến hành theo nhiều cách. Dựa trên những tiêu chí
khu biệt, xét quan hệ về mặt âm thanh và ý nghĩa giữa các từ trong
phương ngữ với từ toàn dân, chúng tôi phân loại đặc điểm ngữ nghĩa của
từ trong phương ngữ Quảng Trị thành 7 nhóm sau: 1. những từ giống âm
nhưng khác nghĩa, 2. những từ khác âm khác nghĩa, 3. những từ có sự
tương ứng về ngữ âm và có biến đổi ít nhiều về nghĩa, 4. những từ vừa có
sự tương ứng về âm vừa có sự tương đồng về nghĩa, 5. những từ cùng âm
nhưng có xê dịch ít nhiều về nghĩa, 6. những từ khác âm nhưng tương đồng
về nghĩa, 7. những từ trái nghĩa.
3. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ địa phương trong phương ngữ Quảng Trị
3.1. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ vừa tƣơng đồng về ngữ âm vừa tƣơng đồng về nghĩa
Đây là kiểu loại từ được tạo thành
có số lượng tương đối trong tổng số các từ phương ngữ được tạo ra bằng
con đường biến đổi ngữ âm. Ở kiểu loại này chủ yếu là biến đổi phụ âm
đầu hoặc phần vần, như: nác – nước, lờ – mờ, lạt – nhạt, lầm – nhầm,
đàng – đường, mói – muối, náng – nướng, lả – lửa, trù – trầu, cắm –
cắn, chưn – chân, dà – nhà, giúng – giống, mược – mặc, tụt – trụt.
Nhìn chung, chúng đều có sự đồng nhất về nghĩa với từ toàn dân, có quan
hệ tương ứng ngữ nghĩa rất chặt với từ toàn dân, nên rất dễ được nhận
dạng cả về mặt âm lẫn mặt nghĩa qua so sánh – đối chiếu dạng thức của nó
trong phương ngữ với từ trong ngôn ngữ toàn dân. Dù được tạo ra theo
con đường biến âm có quy luật và quan hệ về mặt âm thanh và ý nghĩa,
nhưng do các từ này (là biến thể ngữ âm của nhau) được dùng trong hai hệ
thống khác nhau, do đó bên cạnh sự đồng nhất thì sự phân li về nghĩa
giữa chúng vẫn diễn ra, mặc dù ở mức độ thấp. Ta có thể phân tích một ví
dụ làm rõ điều này:
Nác – nước: là cặp đồng nhất với nhau về nghĩa, được tạo ra do biến thể ở phần vần. Theo Từ điển tiếng Việt
[5], nước có 5 nghĩa: 1- Chất lỏng không màu, không mùi và trong suốt
khi là nguyên chất, tồn tại trong từ nhiên ở sông hồ, biển; 2- Chất lỏng
nói chung; 3- Lần, lượt sử dụng nước, thường là đun sôi cho một tác
dụng nhất định nào đó; 4- Lớp quét, phủ bên ngoài cho bền đẹp; 5- (kết
hợp hạn chế) vẻ ánh, bóng từ nhiên của một số vật, tựa như có một lớp
mỏng chất phản chiếu ánh sáng nào đó phủ bên ngoài. Đối chiếu với nước theo 5 nghĩa từ điển chỉ ra, chúng tôi thấy về cơ bản, nác tương ứng với 4 nghĩa đầu của nước. Chẳng hạn: nhiều nghề cá trê húp nác [ 9, tr.149]. Đối chiếu với nghĩa thứ năm của nước, chúng tôi thấy nác thường được ít dùng như vậy. Nói đúng hơn nếu cần thể hiện nội dung như vậy, người Quảng Trị lại dùng nước chứ không dùng nác, trong trường hợp này dùng nước mới là tự nhiên, còn dùng nác lại trở thành không bình thường. Như các cách nói săng (gỗ) lên nước bóng nhoáng (loáng).
Ngoài ra, chúng tôi còn thấy khi nước được dùng trong các từ ghép cùng
với các yếu tố khác ít nhiều mang nghĩa biểu trưng, trừu tượng, chỉ về
khái niệm như “đất nước”, non nước, hoặc nước được dùng với thuật ngữ chuyên môn như nước cứng; nước mềm; nước nặng thì chẳng có người Quảng Trị nào lại thay nác cho nước trong các kết hợp đó.
Từ các ví dụ nêu trên, ta thấy, về
căn bản các từ trong phương ngữ Quảng Trị thuộc kiểu loại này giống
nghĩa với từ toàn dân tương đương ngữ âm với nó. Sự khác nhau về nghĩa
là không đáng kể, chủ yếu thể hiện ở các sắc thái nghĩa tu từ, biểu
trưng hoặc thuật ngữ chuyên môn.
3.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ có sự tƣơng ứng ngữ âm nhƣng biến đổi về nghĩa
Lớp từ này có sự tương ứng về ngữ
âm với từ dùng trong ngôn ngữ toàn dân nhưng có những khác biệt trên
những nghĩa, nét nghĩa cụ thể. Sự phân ly về nghĩa giữa từ trong phương
ngữ Quảng Trị và từ toàn dân kiểu này khá rõ.
Về hình thức, từ địa phương vốn là
biến thể ngữ âm của từ toàn dân có thể về phụ âm đầu, phần vần hoặc
thanh điệu, nên bên cạnh sự khác nhau về một trong các bộ phận đó, giữa
từ địa phương và từ toàn dân phải giống nhau bộ phận ngữ âm còn lại,
kiểu như: be – ve, cấy – cái, bấp – vấp. Về nghĩa, từ trong
phương ngữ Quảng Trị có những biến đổi khác với từ toàn dân tương ứng
ngữ âm ở một vài nghĩa nào đó, chứ không chỉ là sự khác nhau về sắc thái
kết hợp hay phong cách.
Lấy trường hợp từ bấp làm ví dụ: Bấp – vấp là biến thể ngữ âm của nhau (theo quy luật chung biến đổi phụ âm đầu |b| → |v| trong tiếng Việt, cùng kiểu từ tương ứng: be/ve, bui/vui,..), vừa đồng nhất lại vừa dị biệt về nghĩa. Theo Từ điển tiếng Việt [5], vấp
có 3 nghĩa: 1-Va mạnh vào chân một vật, do vô ý lúc đang đi; 2-Bị ngắc
ngứ, không lưu loát trôi chảy; 3-Gặp phải trở ngại hoặc thất bại một
cách bất ngờ. Trong phương ngữ Quảng Trị bấp có ba nghĩa như sau: 1- Va mạnh vào chân một vật, do vô ý lúc đang đi. Bấp phải mô đất, suýt ngã. Đi đâu mà vội mà vàng mà vấp phải đá mà quàng phải dây?; 2- Đụng phải, chạm tới vật gì đó. Đi bấp chắc (đụng phải nhau). Bấp tay, bấp trốôc (đụng tay, chạm đầu). Khi mô (nào) trốôc (đầu) con bấp (chạm) dây phơi ni (này) mới đi bộ đội được; 3- Gặp trở ngại khó khăn bất ngờ. Bấp (gặp) phải sự chống cự mãnh liệt. Mần (làm) nhà bấp (gặp) phải lúc bão to lụt lớn. So sánh nghĩa của từ bấp với vấp, ta thấy hai từ này giống nhau ở nghĩa thứ nhất của nó nhưng đều khác nhau ở nghĩa thứ hai của mỗi từ. Bấp không có nghĩa nào giống nghĩa thứ hai của vấp. Vì thế có thể nói: đọc một hơi không hề vấp, mà không nói: đọc một hơi không hề bấp. Ngược lại nếu so sánh nghĩa của vấp với bấp
thì trong cơ cấu của vấp cũng không có nghĩa nào tương đồng với nghĩa
thứ hai của bấp nêu trên. Tương đồng với nghĩa này bấp, trong tiếng Việt
toàn dân phải là đụng, chạm. Thêm một điểm phân biệt nhỏ khác, nghĩa thứ 3 của bấp tương ứng không hoàn toàn với nghĩa thứ 3 của vấp; giống ở chỗ cùng chỉ sự “gặp phải trở ngại, khó khăn bất ngờ”, khác ở nét nghĩa: bấp không chỉ sự “gặp phải thất bại” như vấp. Nên, đối với vấp có thể nói: Bị vấp nhiều trong công việc; Mới ra trường tránh sao khỏi vấp, nhưng đối với bấp người Quảng Trị không nói như thế. Như vậy, so sánh bấp với vấp ta thấy hai từ này giống nhau một nghĩa, khác nhau một nghĩa và một nghĩa vừa giống vừa khác (chỉ giống một phần).
Như vậy, từ trong phương ngữ và từ
toàn dân, bên cạnh những điểm tương đồng tạo nên liên hệ gắn bó giữa từ
trong hai hệ thống, giữa chúng có sự phân ly với những mức độ khác nhau
(cũng trên cả hai phương diện ngữ âm và ngữ nghĩa) đã tạo nên sự khu
biệt giữa vốn từ trong phương ngữ với từ toàn dân.
3.3. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ cùng âm nhƣng xê dịch về nghĩa
Nhóm từ cùng âm nhưng xê dịch ít
nhiều về nghĩa này là những từ đang được dùng trong ngôn ngữ toàn dân cả
trong phương ngữ với cùng một hình thức âm thanh, nhưng nghĩa của từ
dùng trong phương ngữ có sự khác biệt ít nhiều so với từ dùng trong ngôn
ngữ toàn dân. Về ngữ âm, từ trong phương ngữ và từ trong ngôn ngữ toàn
dân là đồng nhất cho nên chúng tôi gọi là cùng âm. Về ngữ nghĩa, từ dùng
trong phương ngữ và trong ngôn ngữ toàn dân có đồng nhất với nhau ở một
nghĩa nào đó, nhưng lại khác nhau ở một nghĩa khác (đối với từ đa
nghĩa), hoặc chúng cùng chỉ một sự vật nào đó nhưng phạm vi mức độ biểu
vật lại không trùng khít lên nhau, vì thế chúng tôi gọi là xê dịch ít
nhiều về nghĩa.
Dựa vào mức độ tương đồng và tách biệt về nghĩa, có thể chia kiểu từ này thành hai tiểu loại:
Tiểu loại thứ nhất: Từ một từ nhưng
qua diễn biến lịch sử của từng vùng mà từ có sự phái sinh ngữ, có những
ý nghĩa riêng chỉ dùng trong phương ngữ đó, hoặc từ đã thay đổi ít
nhiều về cơ cấu nghĩa nên giữa phương ngữ và ngôn ngữ toàn dân, từ vừa
đồng nhất lại vừa dị biệt về nghĩa. Chúng ta có thể hình dung về tiểu
loại từ này qua một số ví dụ được phân tích như sau:
Ví dụ: ráo được Từ điển tiếng Việt [5] xác định: 1- nghĩa gốc là: đã khô, đã hết nước. Nét chữ chưa ráo mực; Quạt cho ráo mồ hôi. 2- Hết tất cả, không chừa một ai, một cái gì. Đồ đạc, hành lí bị mất ráo; Chẳng biết gì ráo. Ráo trong phương ngữ Quảng Trị sử dụng như nghĩa 1, chẳng hạn: Biết lấy chi đền ơn trả thảo, kẻo bên ướt mẹ nằm bên ráo con lăn
[9, tr.236]. Ngoài ra, ráo còn có nghĩa phái sinh khác các nghĩa đã nêu
trong từ điển là: “ánh sáng trực tiếp từ mặt trời chiếu xuống”. Nghĩa
này tương ứng với nghĩa của từ nắng trong ngôn ngữ toàn dân, thể hiện
trong lối nói như: Cu cu tắm thì ráo / Trảo trảo tắm thì mưa [9, tr.143] = Bồ câu tắm thì nắng/
Bói cá tắm thì mưa. Như vậy, có thể thấy tuy là nghĩa được dùng riêng
trong phương ngữ nhưng nghĩa này phát triển theo cơ chế ẩn dụ, dựa vào
quan hệ tương đồng, trên sơ sở nét nghĩa: “đã khô, đã hết nước” trong
nghĩa gốc của từ.
Tiểu loại thứ hai là những từ vừa
được dùng trong ngôn ngữ toàn dân, vừa được dùng trong phương ngữ nhưng
so với từ dùng trong ngôn ngữ toàn dân, từ dùng trong phương ngữ có
nghĩa khác nhau về phạm vi biểu vật. Ví dụ: So sánh phạm vi nghĩa của từ dạ trong ngôn ngữ toàn dân với từ dạ trong phương ngữ Quảng Trị cũng thấy mức độ rộng hẹp khác nhau. Trong trường hợp này nghĩa của từ dạ (phương ngữ) bao chứa nghĩa của dạ (toàn dân); hay nói cách khác, nghĩa của dạ (toàn dân) hẹp hơn của dạ (phương ngữ). Cụ thể, nghĩa của từ dạ trong phương ngữ vừa là: “tiếng dùng để đáp lời gọi, hoặc mở đầu câu nói thể hiện sự lễ phép” như nghĩa của dạ trong ngôn ngữ toàn dân, dạ
trong phương ngữ còn là :“Tiếng dùng để đáp lại lời người khác một cách
lễ phép tỏ ý nghe theo, ưng thuận, hoặc thừa nhận điều người đối thoại
hỏi đến” như nghĩa của từ vâng trong ngôn ngữ toàn dân là: “gọi (thì) dạ, bảo (thì) vâng” thì trong phương ngữ Quảng Trị đáp lại lời gọi và bảo, người địa phương đều dùng dạ. Như vậy, dạ (phương ngữ) tương ứng với nghĩa của dạ + vâng (toàn dân).
3.4. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ đồng âm nhưng khác nghĩa
Đây là nhóm từ đồng âm giữa từ ngữ
toàn dân và phương ngữ, cho nên sự khác biệt về nghĩa giữa chúng là lẽ
đương nhiên. Nguyên nhân tạo ra từ đồng âm giữa phương ngữ và từ toàn
dân khá đa dạng và phức tạp, nhưng trong đó có những tiểu loại ta có thể
lý giải được. Nếu xét quan hệ giữa các yếu tố đồng âm về mặt nguồn gốc,
ta thấy phần lớn các từ đồng âm không có quan hệ với nhau, chỉ có một
bộ phận những từ đồng âm còn lại là quan hệ cùng gốc. Như vậy, nếu cần
phân loại, ta thấy từ đồng âm giữa phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân có
thể chia làm hai tiểu loại.
Tiểu loại thứ nhất là những từ đồng
âm không có cùng nguồn gốc với nhau, xét trong quan hệ giữa phương ngữ
với ngôn ngữ toàn dân, trong số những từ đồng âm thuộc tiểu loại này ta
thấy có những từ đồng âm với nhau là có tính ngẫu nhiên. Ví dụ: từ hoài trong phương ngữ có nghĩa là “luôn luôn”, còn hoài trong ngôn ngữ toàn dân có nghĩa là “để
mất đi một cách hoàn toàn vô ích do đem dùng vào việc không đáng hoặc
không mang lại một kết quả nào cả (hoài tiền đi mua cái đó)”. Con trong phương ngữ là “con gái”, con trong ngôn ngữ toàn dân có nghĩa là: “người hoặc động vật thuộc thế hệ sau, trong quan hệ với người hoặc động vật trực tiếp sinh ra”. Hai từ chạc đồng âm, ở phương ngữ Quảng Trị ứng với nghĩa “dây” còn ở ngôn ngữ toàn dân, chạc có nghĩa là: “chỗ cành cây chẽ làm nhiều nhánh”. Hai từ dọi đồng âm, ở phương ngữ Quảng Trị là động từ chỉ “theo”, còn dọi ở ngôn ngữ toàn dân là danh từ có nghĩa là “vật nặng buộc vào đầu dưới sợi dây (gọi là dây dọi), dùng để xác định phương thẳng đứng”. tương tự, thá trong phương ngữ có nghĩa là: “miệng thế gian cười” (Thương người mà đứng ngó người / Cỏ mòn đất đẹ, thá cười quản chi – Hò đối đáp Quảng Trị), còn thá trong vốn từ toàn dân lại có nghĩa là “Thứ, loại (thường nói với ý khinh miệt)”. Trải trong vốn từ toàn dân có nghĩa là: “Thuyền nhỏ và dài,dùng trong các cuộc thi bơi thuyền”, còn ở phương ngữ Quảng Trị lại có nghĩa: “mang, gánh lên” (Bao nhiêu thao, vải, lụa hàng / Vật gì phường chợ cũng băng ngàn trải lên – Vè Quảng Trị).
Tiểu loại đồng âm thứ hai là những
từ có quan hệ nguồn gốc với nhau. Những từ đồng âm kiểu này được tạo ra
do nguyên nhân của sự phát triển nghĩa trong từ đa nghĩa, khi mà các
nghĩa của từ phát triển đến mức “tối đa” làm cho mối quan hệ giữa các
nghĩa đã quá mờ nhạt đứt đoạn, hoặc đi kèm với sự phát triển nghĩa của
từ là sự chuyển loại về mặt ngữ pháp, nên mặc dù các nghĩa của từ còn
quan hệ với nhau rất chặt, nhưng chức năng ngữ pháp của từ đã biến đổi,
vì thế các nghĩa đó từ cùng một hình thức ngữ âm chúng tách thành các từ
đồng âm cùng gốc.
Ví dụ:
Có những từ, nghĩa của nó đã phát triển đến giới quan hệ ngữ nghĩa giữa
các nghĩa đã bị đứt đoạn, từ tách thành hai từ đồng âm với nhau. Chẳng
hạn, ngao ngán ở phương ngữ có nghĩa chung như từ ngao ngán trong ngôn
ngữ toàn dân, là “chán nản cao độ không còn thấy thích thú gì nữa” nhưng hiện nay ở phương ngữ ngao ngán còn có nghĩa là “nhiều, đầy rẫy” như ở lối nói: chợ ngao ngán thịt cá (= chợ đầy rẫy thịt cá). Với hai nghĩa đó ngao ngán đã tách thành hai từ đồng âm với nhau. Cũng vậy, ngán bên cạnh nghĩa ứng với ngấy, chán nay ở phương ngữ Quảng Trị ngán còn có nghĩa là “ngại đến mức sợ” (ngán đòn bọn nó). Vì thế với nghĩa này từ tách thành hai từ đồng âm với nhau.
3.5. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ khác âm nhưng có sự tương đồng về nghĩa
Thuộc kiểu loại này là những từ ở
các phương ngữ và từ trong ngôn ngữ toàn dân, tuy không có quan hệ tương
ứng ngữ âm nhưng lại tương đồng về nghĩa với nhau. Có thể chia kiểu
loại từ đồng nghĩa này thành các tiểu loại chủ yếu như sau:
Những từ đồng nghĩa được tạo nên do phương ngữ lưu giữ những yếu tố cổ của tiếng Việt. Trong phương ngữ Quảng Trị, loại này là những từ đồng nghĩa như: cươi – sân , lọi – gãy, nốôc – thuyền, , sương – gánh, théc – ngủ, mần – làm, rứa – vậy…
Đây là nhóm từ đồng nghĩa, nhưng được hình thành do phương ngữ lưu giữ
những từ cổ. Nhóm từ mà nay chúng không còn được dùng trong ngôn ngữ
toàn dân, đã bị thay thế bởi đơn vị đồng nghĩa khác.
Những từ đồng nghĩa được tạo nên do phương ngữ sử dụng một trong hai yếu tố từ ghép hợp nghĩa tiếng Việt.
Đây là tiểu loại bao gồm những từ địa phương đồng nghĩa với từ toàn dân
mà cả hai có thể cùng có mặt trong từ ghép hợp nghĩa. Có thể kể ra một
số từ thuộc tiểu loại này mà phương ngữ dùng yếu tố thứ nhất, ngôn ngữ
toàn dân dùng yếu tố thứ hai trong từ ghép hợp nghĩa, như: hờn giận; cực khổ; nhởi chơi; khốn khó; lôi kéo;…
Do vừa tương đồng lại vừa dị biệt về nghĩa nên các yếu tố đó khi kết
hợp với nhau thường tạo cho từ ghép nghĩa khái quát hơn, trừu tượng hơn
so với nghĩa của từng từ trong phương ngữ. Ví dụ: phương ngữ Quảng Trị
dùng nhởi, ngôn ngữ toàn dân dùng chơi, hai yếu tố này đồng nghĩa với nhau nên chúng đã kết hợp để tạo nghĩa khái quát trong chơi nhởi dùng chung. Tuy vậy, có thể thấy khả năng sử dụng của nhởi hẹp hơn rất nhiều so với chơi. Nhởi ngoài nghĩa là chơi còn được dùng tương ứng với từ ăn hỏi như trong ngôn ngữ toàn dân là chỉ “lễ hỏi vợ”. Nên khi người Quảng Trị nói: Tui đi nhởi nhà o nớ rồi
thì có nghĩa đã làm lễ ăn hỏi cô ta rồi. Còn tương ứng với từ ăn hỏi
trong ngôn ngữ toàn dân, phương ngữ Quảng Trị dùng từ nói, khi người địa
phương nói: Tui ở ngoài nong ngoài nia, ngoài sòng ngoài sãi, ông
Hương, ông xã, ông đi nói tui, có minh kinh giá triệu, bàn đăng cây bố,
mà tui nỏ có ưng (Vè mẹ Hẹ).
Ngoài ra, trong một số kết hợp, nhởi cũng được dùng như chơi, nên trong ngôn ngữ toàn dân có ăn chơi thì trong phương ngữ có ăn nhởi. Và trong hội thoại, nhởi còn được dùng để tạo ra các lối nói như: chịu nhởi với nghĩa là: dám làm bất cứ việc gì dù biết có thể là thua thiệt tốn kém; hoặc dùng nhởi đẹp như lối nói chơi đẹp với nghĩa là: ứng xử đàng hoàng nghiêm chỉnh, không để cho người khác phải thiệt. Tuy vậy, so với nhởi nhìn chung chơi có nghĩa rộng hơn, nên được dùng trong rất nhiều trường hợp quen thuộc như: chơi bời, chơi chữ, chơi đùa, chơi khăm, chơi xỏ…
3.6. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ khác âm khác nghĩa
Nhóm từ này không có quan hệ ngữ âm
với từ toàn dân nên không gợi lên được cho người nghe sinh sống ngoài
địa phương bản sắc âm thanh tiếng địa phương; chúng lại không có quan hệ
ngữ nghĩa với ngôn ngữ toàn dân nên sự vật, hành động tính chất mà từ
chỉ ra có phần xa lạ, khó hiểu với người địa phương khác, họ khó tri
nhận được ngữ nghĩa của vốn từ loại này. Trong lớp từ này, có cả những
từ ngữ thể hiện lối nói khác ngôn ngữ toàn dân rất khó tìm từ ngữ tương
ứng về nghĩa với chúng, vì thế nhóm từ này cũng mang dấu ấn văn hóa của
mảnh đất này khá rõ nét. Qua tên gọi của nó ta thấy như đời sống, phong
cách sản vật, phong tục tập quán, lễ hội riêng của từng vùng. Trong nội
bộ kiểu loại từ này, dựa vào ý nghĩa và hoàn cảnh sử dụng trong phương
ngữ có thể phân chia chúng thành 2 tiểu nhóm.
Nhóm từ ngữ gắn với các sản vật và
đời sống sinh hoạt của nhân dân địa phương: Trong đời sống lao động của
người dân ở địa phương, để chỉ sản vật họ có các loại bánh: 1- Bánh
ít là loại bánh bằng bột nếp xay tươi, hấp cách thủy. Bánh trở nên dẻo
và thơm. Tùy nguyên liệu được sử dụng hoặc màu sắc, người ta phân thành
các loại bánh ít khác nhau: bánh ít trắng, bánh ít đen,… Đi chợ Đồng cù bánh ít nhân tôm / Hai tay lột lá miệng mồm hả ra (Ca dao Quảng Trị); Bằng cái bánh ít, trong thịt ngoài da – cái mề gà (Câu đố Quảng Trị). 2- Bánh
đòn nhiều nơi gọi là bánh tét. Nguyên liệu làm giống với bánh chưng
nhưng hình thức gói thành từng đòn dài, hình trụ tròn lúc ăn thường dùng
dây lạt hoặc chỉ tét ra thành từng lát. Đố thì giải được / Giải không được cho ăn bánh đòn / Cái chi hai đầu méo, giữa tròn hở anh (Câu đố Quảng Trị); Ru con con théc cho say / Để mẹ đi chợ mua bánh đòn cho ăn (Ca dao Quảng Trị),… Ngoài các loại bánh còn có các loại rau củ như: chuối chát, hẹ, rau mưng...
phản ánh được đời sống của một vùng đất khắc nghiệt. Ca dao Quảng Trị
có ghi lại: Anh đà có vợ thời thôi / Không phải mắm nêm chuối chát mà
muốn moi cho nhiều; Giàu như người ta buông hẹ bán hành / Khó như hai
chúng mình lên non hái củi dần dần cũng qua; Nước cạn xuống sông bắt tôm
mò cá / Nước sâu em lên trên đồng em hái rau má rau mưng.
Trong sinh hoạt, có những từ ngữ dùng để nhấn mạnh các tính chất, đặc
điểm sinh hoạt rất khó tìm được những từ ngữ toàn dân để lột tả hết được
ý nghĩa của nó. Có các loại rượu làm say đắm lòng người: Rượu quỳnh tương, rượu cúc bù. Rượu quỳnh tương chai đầy chai cạn / Trúc gầy mòn nhớ dạng nhành mai (Ca dao Quảng Trị); Rượu quỳnh tương chén mời chén chuốc / Rượu cúc bù
chai chuốc chai châm (Ca dao Quảng Trị). Ở Quảng Trị cũng có những loại
trang phục với các tên gọi mang đậm chất phương ngữ do người địa phương
tạo ra là nón quai găng, khăn nhiễu thảo, áo cố y, quần lụa đào. Ca dao Quảng Trị có ghi lại các từ này:
“Nón quai găng tìm khăn nhiễu thảo
Quần lụa đào chờ áo cố y
Phận em nghiêng nghèo đói khổ
Làm bạn mần chi cho thẹn thùng”.
Về kiểu loại những từ khác âm khác
nghĩa trong phương ngữ Quảng Trị đã phản ánh cuộc sống đa dạng, nhưng
đầy bản sắc địa phương, nó góp phần cùng các nhóm từ khác làm cho bức
tranh từ vựng phương ngữ thêm phong phú và toàn diện hơn.
3.7. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ trái nghĩa
Từ trái nghĩa là những từ có một số nét nghĩa khái quát trong cấu trúc biểu niệm giống nhau, bên cạnh đó, nổi bật bật lên ít nhất một nét nghĩa đối lập.
Các từ trái nghĩa trong từ địa
phương thể hiện sự tương phản về nghĩa trên các khía cạnh phản ánh phẩm
chất của đối tượng, ví dụ về thời gian (hôm ni – mai,…); vị trí (bắc lên
– truống xuống, côi – đưới, dưới rọc/rôộc – lên vèng , đưới – côi,…);
không gian (ra – vô, lui – tới, bên ni – bên tê,…); về kích thước, dung
lượng, tính chất (cạn – nậy, rộng – chật, cao – hạ, có – nỏ có, cuốn lại
– xổ ra, trẻ – tra, trúng – thua , nậy – nhỏ, cực – sướng …), về hiện
tượng thiên nhiên (ráo – mưa …), hiện tượng xã hội (giàu – khó…).
Các từ trái nghĩa tiếng Việt đa
phần gắn liền với tính cân xứng, tức là dung lượng ngữ nghĩa của chúng
phải tương đương nhau, ví dụ nhỏ trái nghĩa với nậy; chứ nhỏ không được
coi nhỏ là trái nghĩa của khổng lồ… Tuy nhiên, một từ vẫn có thể tham
gia vào nhiều cặp trái nghĩa, ví dụ: mở – đóng (cửa); mở – gấp (vở); mở –
đậy (nắp); mở – hạ (màn);… Các đơn vị trái nghĩa có thể cấu tạo để tạo
thành các cặp từ trái nghĩa, ví dụ: ăn mặn – ăn lạt; ăn mặn – ăn
chay…Các đơn vị này được cấu tạo bằng cách ghép một từ gốc giống nhau
vào hai vế của cặp trái nghĩa đã có. Có những trường hợp một từ trái
nghĩa với hai từ, hai từ này không phân biệt về ý nghĩa mà lại đồng
nghĩa với nhau như:
Nước cạn thiếp xuống roọng mò tôm bắt cá
Nước nậy thiếp lên đồng liếm rau má rau mưng
(Ca dao Quảng Trị)
Cạn và nậy khác
nhau ở chỗ nậy chỉ độ “sâu” tuyệt đối của sự vật, khi vật đó “có khoảng
cách từ đáy đến miệng nhỏ hơn khoảng cách bình thường”. Còn cạn
chỉ độ “sâu” tương đối khi “mực nước chứa trong vật ở dưới mức bình
thường”. Đối chiếu hai từ trên, chúng ta sẽ thấy từ “sâu” có hai nghĩa,
một nghĩa tuyệt đối và một nghĩa tương đối. Nói “nước sông sâu” theo
nghĩa tuyệt đối “nước sông có độ đo từ đáy đến mặt nước lớn hơn so với
chiều cao con người bình thường”, theo nghĩa tương đối là “có mực nước
từ đáy đến mặt lớn so với chiều cao của con người”. Hiện tượng trái
nghĩa xuất hiện do sự phân hóa một nét nghĩa rộng thành hai cực đối lập,
nhưng không phải bất cứ sự phân cực nào của một nét nghĩa rộng đều cũng
dẫn tới hiện tượng trái nghĩa.
4. Kết luận
Như vậy, qua phân tích sơ bộ về đặc
điểm ngữ nghĩa của các nhóm từ trong phương ngữ Quảng Trị với từ toàn
dân, chúng ta thấy được bức tranh từ vựng – ngữ nghĩa vô cùng đa dạng và
phức tạp. Có nghiên cứu ngữ nghĩa của vốn từ này mới thấy được sắc thái
địa phương, sắc thái văn hóa, vai trò của từ trong hành chức, trong đời
sống xã hội của cộng đồng người địa phương. Giữa vốn từ trong phương
ngữ Quảng Trị với ngôn ngữ toàn dân tuy có những khác biệt về từ vựng –
ngữ nghĩa nhưng qua khảo sát những lớp từ cụ thể, qua so sánh về nghĩa
của từ, chúng ta thấy được xu hướng thu hẹp dần phạm vi sử dụng của từ
ngữ địa phương là một thực tế đã và đang diễn ra. Tuy vậy, phương ngữ
nói chung và phương ngữ Quảng Trị nói riêng, trên những biểu hiện cụ thể
qua thời gian vẫn có sức sống nhất định trong đời sống cộng đồng người
Việt, không thể một sớm một chiều thay thế hoàn toàn bởi ngôn ngữ toàn
dân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Dương Văn An (1997). Ô châu cận lục, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.
[2]. Đỗ Hữu Châu (1981). Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội.
[3]. F.de.Saussure (1997). Ngôn ngữ học đại cương, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.
[4]. Hoàng Thị Châu (2009). Phương ngữ học tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội.
[5]. Hoàng Phê (2010). Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Đà Nẵng.
[6]. Nguyễn Thị Bạch Nhạn (2001). Báo
cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ cấp bộ, Đề tài Từ vựng phương ngữ
Bắc Trung bộ, Đại học Sư Phạm, Đại học Huế.
[7]. Nguyễn Thiện Giáp (1998). Từ vựng học tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội.
[8]. Nguyễn Thiện Giáp (1996). Từ và nhận diện từ tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội.
[9]. Phan Hứa Thụy, Tôn Thất Bình (1992). Văn học dân gian Quảng Trị, Sở văn hóa thông tin thể thao thư viện Quảng Trị.
Nguồn: Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Khoa Học – Đại học Huế, tập 7, số 2 (2017)