Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, November 19, 2017

LỜI VÀ LỖ - Truyện ngắn của Thủy Điền


       

      LỜI VÀ LỖ
 
      Thằng Quang nó nhỏ tuổi hơn mình, nhưng nó nói đúng. Tuy, nó chưa từng trải. Và, chắc có lẽ ngày nào nó cũng tới lui, gần gũi bên mình, nó đã nhìn thấy và rút ra được những bài học kinh nghiệm trong cuộc sống.
 
      Lĩnh sau những giờ làm việc về, chàng hay mượn những chai Bia để giải sầu. Chàng nghĩ, Thắm đả bỏ mình đi là gì mình quá già, già hơn nàng gần hai con giáp hay mình giờ không còn làm ra tiền như bao năm trước nữa, không đáp ứng cho mọi nhu cầu của nàng. Hai câu hỏi ấy cứ lẫn quẩn trong đầu chàng hơn bốn tháng nay mà không thoát ra khỏi bộ nảo khô cằn.
 
      Năm mới vừa qua Đức, tuổi trẻ bồng bột, ham vui chàng đã bỏ cô vợ đen đuá, mặn mà của chàng mang từ Việt nam sang để ôm trọn một cô đầm trắng phao như bông bưởi. Hai người sống với nhau gần ba mươi năm trời, ba mặt con, giờ chúng đã lớn, thành danh, mỗi đứa đều có một mái ấm và công việc ổn định như bao người khác.
 
      Hai năm nay, sau ngày nghỉ hưu, chàng rất nhiều thời gian và thường hay về Việt nam một mình du lịch. Trong khoảnh khắc vui nhộn, chàng đã quen được cô gái nhỏ tuổi hơn con gái mình. Lời trao, duyên gởi nàng chấp nhận làm vợ chàng (Không phân biệt tuổi tác) Đêm đêm bên gối chàng, chàng chỉ nghe nàng nói đến hai chữ “Tình Yêu “ Mà thôi. Chứ không như những cô gái khác hay than vãn những câu thuộc lòng như: Má em bệnh, cha em đau, em nhờ anh giúp đỡ. Chàng ngỡ thật và hứa sau khi trở về Đức sẽ làm đơn và lãnh nàng sang Đức để đoàn tụ gia đình.
 
      Muốn mang em sang thì chỉ còn cách về thương lượng với bà đầm là chúng mình không hợp nhau nữa, chúng ta sẽ ly dị để mọi người còn có cuộc sống riêng, tự do và tránh đi những phiền phức khi cuộc sống không còn hạnh phúc v…v. Chàng mở lời ra trước như thế, bà đầm già chỉ còn biết chấp nhận và gục đầu khóc cho cuộc tình chia ly, ngoài ra phải biết nói gì khi người ta muốn dứt khoát với mình. Tuy, đau đớn với mối tình vợ chồng ba mươi năm lắm, nhưng chàng nhất quyết trở về với nồi canh chua, cá kho mà trước đây ba mươi năm chàng thường thưởng thức. Những hình ảnh năm tháng ăn khoai lang tây nhàm chán, chàng dường như ớn tới tận cỗ.
 
      Khi cuộc ly dị hoàn thành. Mặc dù cũng gặp trắc trở ở những đứa con thân yêu, nhưng rồi ngày tháng đi qua, mọi chuyện cũng dần nguôi theo thời gian như con thuyền lướt sóng.
 
      Chàng trở về Việt nam gần ba tháng cùng nàng lo liệu những giấy tờ cần thiết và đúng một năm sau nàng có mặt tại Công Hòa Liên Bang Đức. Những ngày đầu chân ướt, chân ráo, chưa biết gì, nàng lúc nào cũng kề tay chàng với hai tiếng anh yêu nghe thật đậm đà và tha thiết. Có những lúc mê man trên chiếc giường ngủ, nàng quên mất tuổi gìa của chàng mà cứ ngỡ chàng vừa ba mươi có lẽ.
 
      Trong cuộc sống đương nhiên là người ta phải cần đến tiền. Vì tiền là một phương tiện thiết yếu đở hổ trợ một phần cho hạnh phúc gia đình. Chàng bây giờ già rồi, hưu trí chỉ lãnh được đồng hưu trí nhất định, ngoài ra chẳng còn một lợi tức nào khác. Hàng tháng chi trả mọi thứ và chỉ còn một ít mà thôi. Phía bên nhà nàng càng ngày càng hối thúc, nên nàng buộc phải đi làm, thì mới sinh ra được tiền để giải quyết những vấn đề trên.
 
      Nàng xin vào một nhà hàng Ý với công việc dọn rửa chén bát trong nhà bếp. Ngày ngày nàng cũng tìm được ít tiền vừa xây sở cho cá nhân mình và giúp được phía gia đình ở Việt nam không ít.
 
      Đi xa - đi xa. Tình cảm- tình cảm của những người trẻ dễ thông cảm và hợp nhau hơn giữa người gìa và người trẻ. Dần hồi nàng đã quên hẳn người chồng già và cuốn gói theo anh chàng Pizza biệt mất.
 
      Ngày qua ngày trông đợi mà chẳng thấy nàng về, thằng Quang hay lui tới chơi, an ủi. Chị không thương anh nữa, chị bỏ đi rồi có gì đâu mà buồn nữa anh. Đời là thế. Chị cũng giống anh thôi. Khi cuộc sống không còn phù hợp nữa thì người ta phải chia tay như anh đã nhiều lần nói với những người đàn bà khác. Theo em nghĩ, trong những cuộc tình nầy dù hôm nay anh mất đi người vợ trẻ thật. Nhưng anh vẫn còn lời chớ không có lỗ vì anh đã hai lần bỏ đàn bà và bây giờ anh chỉ mới bị đàn bà bỏ một lần. Thế thì anh chẳng có lý do gì buồn tủi nữa cả. Đúng không anh Lĩnh?
- Mầy nói đúng đó Quang.
 
                                                                        Thủy Điền
                                                                           19-11-2017

READ MORE - LỜI VÀ LỖ - Truyện ngắn của Thủy Điền

DẠ KHÚC MÙA ĐÔNG - Thơ Nhật Quang





DẠ KHÚC MÙA ĐÔNG

Chiều rơi nghiêng gió vào Đông
Còn đâu màu nắng, em hong tóc mềm
Sương loang đẫm ướt niềm riêng
Đàn ai rưng rức, buông đêm giọt sầu

Dư âm…nấc lạnh canh thâu
Vàng khuya mắt trắng, xé nhàu niềm mơ…
Tay nâng cung phím hững hờ
Đường tơ run rẩy, vật vờ nhẹ lơi

Hồn Đông níu khúc chơi vơi
Bỏ Thu hiu hắt, lá phơi sang mùa
Tim côi nghe buốt gió lùa
Rưng rưng màu nắng, Thu vừa nhạt phai.

                              Nhật Quang

READ MORE - DẠ KHÚC MÙA ĐÔNG - Thơ Nhật Quang

CHỊ VƯỢNG - Thơ Đặng Xuân Xuyến


                  


                 CHỊ VƯỢNG
                 (Tặng chị Vượng)

Xếp nón thúng quai thao 
Chị khạo khờ
Gả cho gã đàn ông khó tìm được vợ
Mười năm cặm cụi thân cò
Chị đắp lên gã đàn ông rúm ró
Nụ cười no đủ phởn phơ
Ánh mắt biết gài nỗi nhớ
Mười năm làm vợ
Mười năm vò võ
Chị gằn lòng thao thiết tiếng ầu ơ...
Thủ thỉ ru chị những giấc mơ
Gã cột vào chị câu tình chồng nghĩa vợ
Chị khạo khờ
Chị bấu bíu giấc mơ
Chị gồng thêm vài gánh nợ
Gã tang bồng sải cánh ước mơ
Thêm mười năm thân cò
Thêm nữa mười năm chị âm thầm lệ nhỏ...


Ngày trở về với công danh đã có
Dắt theo mắt xanh mỏ đỏ
Gã tiêu nhiều tiền Đô
Gã nói toàn xì xồ
Gã đòi bỏ vợ.
Chị thẫn thờ
Nhìn giấc mơ
Nhìn những mảng màu bục vỡ.
.

                Hà Nội, 14 tháng 11.2017
                 ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - CHỊ VƯỢNG - Thơ Đặng Xuân Xuyến

GIẤC NGỦ TÌNH YÊU - Thơ Lê Hoàng


       
                 Tác giả Lê Hoàng


 GIẤC NGỦ TÌNH YÊU 

Thoáng một đêm dài ..
Ta nhặt tình yêu 
Trong mộng mị
Thấy em buồn nỗi cô đơn 
Ta nhặt lá vàng bay 
Mùa thu đi qua 
Ta bỏ tình yêu nghe nhạt nhòa 
Đôi mắt em buồn muôn thuở 
Ta yêu em mấy mùa thu tới  
Em ngồi khóc lặng lẻ chiều  tà
Vấn vương nào mà không nhớ 
Yêu thương nào đành bỏ qua 
Tại em , không phải tại   anh ,
Đêm tàn dần trong ký ức
Trăng lụn dần  sau vòm cây
Mây mùa thu bay chầm chậm
Trời muà thu lá thôi rụng 
Vì cuối mùa mình chia xa 
Em cứ khóc cho mùa thu 
Anh nghe buồn muôn thuở 
Thu nào mình bên nhau 
Thu nào em lặng lẻ 
Bây giờ nắng thôi cao 
Bây giờ gió thôi  chuyển
Tiếng nhạc buồn nghe não nề
Thôi em đi về đi 
Đường đời dài muôn lối 
Ta mất nhau rồi...
Chữ Duyên nay không trọn
Tiếng hát em vẫn ngọt ngào 
Hẹn em một ngày nào đó 
Chúng mình còn nợ nhau 
Thì tình sẽ chuyển mau 
Cho đời vẫn vui nào... 

                  Lê Hoàng
Vùng tệp đính kèm
READ MORE - GIẤC NGỦ TÌNH YÊU - Thơ Lê Hoàng

ĐI TÌM ĐỊA DANH CHO MỘT MỐI TÌNH ĐÃ ĐI VÀO HUYỀN SỬ - Khê Giang



ĐI TÌM ĐỊA DANH CHO MỘT MỐI TÌNH ĐÃ ĐI VÀO HUYỀN SỬ

Khê Giang

Ô Lâu được biết đến là ranh giới tự nhiên giữa Thừa Thiên- Quảng Trị, nơi hội tụ của những dòng chảy thi ca, nơi có những câu chuyện tình lãng mạn được lưu truyền trong dân gian trên cả đôi bờ của một vùng châu thổ rộng lớn. Khác với câu chuyện tình của bà Nguyễn Thị Bích (Thiếp của vua Quang Trung) và bà Dương Thị Ngọt (Phi của vua Thành Thái) phần nào được gắn kết vào các cứ liệu lịch sử, có một câu chuyện tình mặc dù chỉ được truyền khẩu qua những làn điệu ca dao, nhưng đó là một câu chuyện tình đẹp, đẫm nước mắt và lay động lòng người: chuyện cô gái đưa đò trên bến Cây Đa.
Chuyện xưa kể rằng: một ngày nọ, có chàng thư sinh nghèo xứ Nghệ, vào Kinh ứng thí, khi qua sông Ô Lâu gặp một cô gái xuân thì làm nghề đưa đò, do cô nàng ngoài nhan sắc trời lại phú cho tính tình hiền lành, khiến chàng thư sinh đem lòng yêu mến. Chẳng may năm đó chàng sỹ tử kia chưa được vinh dự ghi tên trên bảng vàng, trên đường trở về qua bến đò Cây Đa, hai người đã thề non hẹn biển và hẹn ngày trở lại vào kỳ thi sau. Ba năm đằng đẳng đợi chờ vẫn không thấy bóng dáng người xưa, nàng buồn bã quẩn chí và trầm mình xuống khúc sông nơi hai người đã thề nguyện. Nhưng nghịch cảnh trớ trêu, khi chàng thư sinh năm xưa khăn gói trở lại thì than ôi, bến cũ còn đó, con thuyền còn kia, mà người yêu xưa đã vắng bóng. Chàng đau đớn và rút ruột viết ra những vần thơ khóc cho người mệnh bạc:
Trăm năm đành lỡ hẹn thề,
Cây Đa Bến Cộ con đò khác đưa
Cây Đa Bến Cộ còn lưa,
Con đò đã thác năm xưa tê rồi!
(Cộ: cũ; Tê: kia; Lưa: còn lại; Thác: chết-mất)
Câu chuyện tình đẹp và bi thương trên là nguồn cảm hứng mực cho những đàm luận, bài viết từ giới văn nghệ sỹ cho đến những tao nhân mặc khách, họ đinh ninh rằng Cây Đa, Bến Cộ là hai bến đò nào đó trên dòng sông xưa. Vậy là những sáng tác cổ kim lần lượt ra đời: Một thi nhân nghe chuyện xưa đã cảm tác:
Qua bến Cây Đa dạ những sầu
Xót người mệnh bạc bởi vì đâu?
Gió xuân đưa khách qua đường mộc
Ngọn nước đem tình lấp vực sâu.
Nước chảy, chảy theo đôi giọt lệ
Tình riêng, riêng viếng một vài câu,.
Đau lòng nhớ lại mười năm trước
Cuồn cuộn trường giang nước chảy mau.
Và Nguyễn Bính nhà thơ đồng quê Việt nam cũng có bài viết về câu chuyện tình của cô lái đò (có thể là bến Ô Lâu hay một bến đò nào đó nơi nhà thơ đã đi qua?):
Xuân đã đem mong nhớ trở về,
Lòng cô gái ở bến sông kia.
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,
Trên bến cùng ai đã nặng thề!
Nhưng rồi người khắc tình xuân ấy
Đi biệt không về với bến sông!
Đã mấy lần sông trôi chảy mãi,
Mấy lần cô lái mỏi mòn trông
Xuân đến nữa là đã ba xuân,
Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần!
Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi,
Cô đành lỗi ước với tình quân!
( Lỡ bước sang ngang- Nguyễn Bính. 1940)
Tuy nhiên sau những trang viết trữ tình bay bổng, khi giật mình nhìn lại đa phần các tác giả đều lúng túng khi không thể tìm ra những địa danh liên quan đến câu chuyện đã đi vào huyền sử này. Sự mất định hướng của những người khi đi tìm địa danh của câu chuyện xuất phát từ cảm nghĩ đây là sáng tác của chàng thư sinh xứ Nghệ mà quên mất nó là bài ca dao đang được lưu truyền rộng rãi tại các tỉnh thuộc Bắc trung bộ.
Với nền văn hóa đặc trưng, từ rất lâu hình ảnh cây đa - bến nước - con đò đã là biểu tượng của văn hóa truyền thống làng quê Việt nói chung, vùng Bắc trung bộ nói riêng, hình ảnh ấy đã đi sâu vào tâm khảm mỗi con người, là kỷ niệm êm đềm của tuổi ấu thơ, là bến hẹn cho tình yêu đôi lứa, là ký ức về cội nguồn cho những kẻ xa quê…
Đi suốt chiều dài dòng chảy của vùng đất Bắc trung bộ, ta có thể bắt gặp hàng trăm câu ca dao dùng hình tượng Cây đa, bến cũ, con đò:
- “Cây đa trốc gốc trôi rồi/ đò đưa bến khác em ngồi đợi ai.”
- “Cây đa là cây đa cũ/ Bến đò là bến đò xưa/ Nay chừ người khác vô đưa/ Oan ơi, oan hỡi, tức chưa bạn tề!”
- “Cây đa là cây đa bến cũ/ Bến cũ là bến cũ đò xưa/Ôi thôi rồi người khác sang đưa/Thiếp nhìn chàng lưng lẻo, nước sa xuống như mưa hỡi chàng.”
- “Chèo thuyền ra rào Cái, em ngó lại quê mình/ Chim trên cành đủ cặp cớ sao mình lẻ đôi/ Bởi vì đây đó đôi nơi/ Con thuyền nan bằng chiếc đũa không một lời nhắn đưa/ Cây đa bến cũ con đò xưa/ Người thương có nghĩa, nắng mưa cũng chờ.”
Tuy nhiên trong bài viết này chúng ta chỉ lược qua một số câu tương đồng nhưng dị bản với bốn câu được cho là sáng tác của chàng nho sinh trên:
“Trăm năm đành lỗi hẹn hò, /cây đa bến cũ con đò khác đưa. /Cây đa bến cũ còn lưa/ Con đò năm ngoái, năm xưa mô rồi?...”
“Trăm năm đành lỗi hẹn hò/ Cây đa bến cũ con đò khác đưa/ Con đò sớm thác năm xưa/ Cây đa bến cũ còn lưa đến chừ.”
“Trăm năm đành lỗi hẹn hò/ Cây da bến cộ con đò khác đưa/ Cây da bến cộ năm xưa/Chữ tình ta cũng đón đưa trọn đời.”
“Trăm năm dầu lỗi hẹn hò /Cây đa bến cũ con đò khác đưa./ Cây đa cũ, bến đò xưa / Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ.”…
Trong nhạc phẩm “Trăm năm bến cũ” phổ thơ Lưu Trọng Văn, nhạc sỹ Phạm Duy cũng sử dụng rất có hồn hình ảnh cây đa bến nước con đò ngay những ca từ đầu tiên: “Trăm năm dầu lỗi hẹn hò, Chứ cây da bến cũ con đò khác đưa...”.
Không chỉ về lĩnh vực thơ nhạc, hình ảnh cây đa, bến nước, con đò còn được các họa sỹ, chọn làm bố cục cho nhiều sáng tác của mình từ những bức vẽ dân gian cho đến những dòng tranh hiện đại.
Lược khảo những sáng tác trên, chúng ta nhận thấy cụm từ cây đa bến cộ đa phần mang tính ẩn dụ của phương pháp tu từ trong sáng tác hơn là từ chỉ về địa danh (Cây Đa, Bến Cộ). Ngoài ra nếu gán những dòng viết trên cho một chàng nho sinh, vô tình chúng ta hạ thấp trình độ chử nghĩa của những bậc nho học ngày nào. Với vỏn vẹn có bốn câu lục bát đã mắc lới hai lỗi: lỗi vần ( thề.. đò) vừa lỗi ghép từ (xưa tê) điều mà những người sáng tác vùng này khó có thể mắc phải cho dù họ chỉ là nông dân chân lấm tay bùn.
Nếu coi cụm từ Cây Đa, Bến Cộ là tên gọi của hai bến đò ngang. Chúng ta thử đi tìm hiểu về lộ trình cũng như những địa danh có thể liên quan nơi chàng sỹ tử trên đường vào kinh. Xét từ Nghệ An về Phú Xuân, không có con đường nào thuận lợi hơn đường Quan báo, con đường này còn gọi là đường Kinh sư hay đường Thiên Lý Bắc – Nam đã tồn tại trước khi chúa Nguyễn vào khai mở xứ Đàng trong, đây là tuyến giao thông thuận lợi nhất thời bấy giờ, tuyến đường này nối Phủ Thừa Thiên và Đạo Quảng Trị qua bến đò Hôm Lạng (Bờ Nam là trạm hành cung Mỹ Xuyên, bờ Bắc là làng Lương Điền ( Kẻ Lạng, Lương Phúc…)
Xuyên suốt một thời gian dài kể từ khoa thi đầu tiên cho đến khoa thi cuối cùng tại Phú Xuân, nếu gộp cả bến sông và bến đò ở những làng quê gần lộ trình của chàng sỹ tử đi qua ta có: bến Đình, bến Chợ, bến Cồn Thiêng, bến Hôm Lạng, bến Ba Bến, bến Phước tích, bến Câu Nhi Hòa, bến Mỹ Xuyên… tuyệt nhiên không có bến đò nào mang tên Cây Đa hay Bến Cộ.
Khi không tìm ra hai bến đò xưa trên đường đi của chàng nho sinh, một số tác giả lại víu vào hai địa danh nằm cách rất xa con đường Kinh sư: Một là Bến Cộ nằm ở thôn Tân Lương bên bờ Nam của dòng Thác Ma (thuộc xã Hải Chánh), đây là con bến được hình thành vào cuối thế kỷ XIX khi một nhóm cư dân từ Lương Điền đến Tân Lương khẩn khai lập ấp, tại đây vào năm 1914 có một nhà thờ được dựng nên, ngôi thánh đường này vẫn mang tên Bến cộ (Tân Lương) và tồn tại cho đến ngày nay. Hai là bến đò Cây Da, bến đò này nằm vào khúc cuối của dòng Ô Giang, thuộc thôn Diên Trường làng Diên Sanh (Hải Thọ), Nam giáp làng Trường Sanh (Hải Trường). Đông giáp dòng Ô Giang và Bắc giáp Hải Thành. Điều trùng hợp thú vị là ở đây cũng có ngôi thánh đường cổ được hình thành từ thế kỷ XIX.
Cứ cho rằng bến Cộ ở đây là bến đò và Cây Đa chính là bến đò Cây Da (phương ngữ) vẫn rất khó để lý giải về việc một cô gái làm nghề đưa đò phải mưu sinh trên một lộ trình xa xôi đến thế và cũng vô cùng khó hiểu khi chàng nho sinh kia đến Kinh thành lại không đi theo con đường Quan báo thênh thang (chỉ quá giang bến đò Hôm Lạng là đã qua đất Thừa Thiên) mà phải đi một chuyến đò vòng vo (từ bến đò Cây Da qua Diên Sanh, Trường Sanh, Hà Lộc, Lương Điền ngược dòng Ô Giang đến nguồn Thác Ma để ghé Tân Lương). Một lộ trình vừa bất hợp lý về thời gian (tuyến thủy lộ quá dài) kể cả không gian (không có tuyến đường nào vào kinh thành tại Tân Lương), ngoại trừ trường hợp chàng nho sinh này trên đường vào kinh ngẫu hứng muốn lặn lội đến xóm Càng (Cây Da) để câu cá và sau đó nhờ cô gái đưa đò chở về Tân Lương để ngắm non xanh nước biếc hay săn bắt thú rừng. Một giả thiết đặt ra: chàng nho sinh này là người gốc đạo ( Thiên chúa giáo) trên đường vào kinh muốn ghé hai giáo xứ kia để hành lễ thì nhà thờ Kẻ văn (thuộc làng Văn Quỹ, Hải Tân) là địa chỉ đáng đến hơn, vì trong thời gian này cả hai giáo xứ Cây Da, Bến Cộ đều không có linh mục và đều trực thuộc sự điều hành của cha quản hạt giáo xứ Kẻ Văn. (Phải đến năm 1904 giáo xứ Cây Da mới có linh mục và mười năm sau đến lượt giáo xứ Bến Cộ mới có đức cha cai quản.)
Việc đi tìm những địa danh, cội nguồn xuất xứ trong những sáng tác dân gian là điều không dễ dàng. Qua trích dẫn những sáng tác từ dòng văn chương truyền khẩu cho đến văn chương bác học có liên quan đến cụm từ cây đa bến nước con đò, cộng thêm tính không phù hợp khi đi tìm những bến đò gần kề trên cung đường nơi chàng nho sinh đi qua, chúng ta có quyền hồ nghi về tính xác thực của các địa danh liên quan đến câu chuyện và có thể nhận định rằng: bài thơ của chàng nho sinh kia chẳng qua là bài ca dao dị bản hiện đang lưu hành rộng rãi trên suốt chiều dài của mảnh đất Bắc Trung bộ.
Tuy nhiên cho dù những dòng sáng tác xa xót đầy bi thương trên xuất phát từ đâu thì câu chuyện tình trắc ẩn của cô gái đưa đò trên dong Ô Lâu vẫn là một chuyện tình đẹp luôn làm xốn xang những ai có dịp đến nơi này nhất là những người đang đi tìm những trầm tích văn hóa đang rầm rì chảy trên dòng sông quê hương.

20/10/2017
Khê Giang
READ MORE - ĐI TÌM ĐỊA DANH CHO MỘT MỐI TÌNH ĐÃ ĐI VÀO HUYỀN SỬ - Khê Giang

ĐỌC NHÀ THƠ TRẺ PHAN NAM - Châu Thạch



ĐỌC NHÀ THƠ TRẺ PHAN NAM
                           
Châu Thạch

Phan Nam là bạn thơ của tôi đã lâu, có thể là từ khi hai chúng tôi mới khởi viết. Tuy là bạn thơ nhưng Phan Nam và tôi cách nhau 53  tuổi nên chúng tôi xưng hô nhau là bác cháu. Thú thật tôi rất mến Phan Nam về tánh tình nhưng thơ Phan Nam thì không hợp với tôi lắm, vì thật là khó hiểu đối với tôi. Tuy thế tôi vẫn biết thơ Phan Nam có tầm cỡ. Bởi vì các báo giấy, các tuyển tập khắp nơi cũng như các trang web trong và ngoài nước đều đăng thơ Phan Nam. Đặc biệt các trang web của các nhà thơ thành danh trước 75 ở miền Nam mà tôi tôn trọng như Luân Hoán, Du Tử Lê,  Chu vương Miện đều có đăng thơ Phan Nam. Tôi nghĩ, các nhà thơ đó họ chọn bài rất khó, không dễ gì họ đăng lên trang web của mình những bài thơ mà họ không hiểu hoặc không hay.

Hôm nay ngồi đọc lại thơ Phan Nam, tôi ngộ ra được câu nói “bụt nhà không linh”. Phan Nam chắc  là bụt nhà tôi nên tôi thấy bình thường. Thế nhưng, bụt nhà tôi hôm nay đã khác trong mắt tôi rồi. Ngồi rỉ rả đọc lại thơ của người bạn trẻ, tôi cũng thấy mình trẻ lại đàng sau những ý thơ, những tứ thơ tưởng như là bí hiểm nhưng chất chứa nhiều tư duy thâm thúy và đẹp lạ lùng.

Trong bài thơ “làm Tình” ở khổ thơ đầu Phan Nam viết:

những con tinh trùng
làm tình làm tội
sau cơn say
những đứa trẻ ra đời

Khổ thơ không khó hiểu mấy. Đọc thơ ta liên tưởng ngay cả một thế hệ vùi trong bia rượu suốt dãy đất hình cong chữ S nầy, và những đứa trẻ ra đời không trong tình yêu, chỉ trong tình dục. Nhà thơ dùng cái tứ thơ lạ hoắc, cái tứ thơ “những con tinh trùng/ làm tình làm tội” cho ta hình ảnh những con bọ gậy,  loăng quăng vật vã khổ đau trong hơi men, rồi nó sẽ lớn lên thành những đứa trẻ còi cọc.

Qua những khổ thơ giữa của bài thơ, Phan Nam nói về những đứa trẻ đó sẽ lớn lên “như cây cỏ”, “chúng bám víu trần gian” để “ nghe giọt nước mắt chảy ngược”. Chúng có “ những giấc mơ hoang dại” và những khúc ca của đời chúng chỉ là “những khúc ca phơi mình dưới ánh chiều tà”, nghĩa là đời chúng chỉ có những khúc ca của người sắp chết. Đó không là khúc ca. Đó chỉ là sự rên rỉ trong khổ đau.

Ở khổ thơ cuối Phan Nam viết:

người đàn ông đi không bao giờ ngoảnh mặt lại
giọt máu khô cằn
bên tổ mối đục khoét nguồn cội
hạnh phúc ăn mòn đế giày

 Người đàn ông đi “không bao giờ ngoảnh mặt lại”. “Không bao giờ ngoảnh mặt lại” có nghĩa là người đàn ông bỏ giọt máu của mình, mà cũng có nghĩa là người đàn ông ăn chơi sa đọa không lo chi hết cho con. Tác giả ví những trẻ kia như thân cây khô, và tác giả đặt nó nằm bên tổ mối là sự phá hoại của đời. Cây khô mà nằm bên tổ mối thì nó bị ăn mục ruỗng ra tức thì. Cuối cùng đời những đứa trẻ hèn hạ như những chiếc giày dưới chân, những chiếc giày  mà đế bị ăn mòn vì chạy nhiều trong lao khổ.

Tôi nghĩ bài thơ là bản án cho những người cha tội phạm, không tội hình sự mà tội phạm đạo đức, với lương tâm con người.

Bài thơ thứ hai xin giới thiệu là bài thơ “Cưỡng Bức” của Phan Nam cho tôi một truy hoan, không trong dục vọng mà trong khổ đau của thứ tình rất lạ, thường nhân ít có. Khổ thơ đầu tác giả viết:

Tôi đang đói, rất đói
Tôi chạy về cuối con đường
Chỉ thấy rơi rớt vài giọt sương
Tôi uống cầm hơi trong nỗi đau quằn quại

Đọc như thế ai cúng nghĩ rằng nhà thơ thiếu cơm thiếu gạo. Đói đến nỗi không có gì ăn mà phải uống cầm hơi những giọt sương. Nhờ những giọt sương ta cảm nhận cái đói vô cùng nhưng trong thâm tâm hình như thấy cái đói của Phan Nam vẫn đẹp.  Quả vậy, qua những khổ thơ sau nhà thơ cho ta biết một cái đói lạ kỳ. Không phải đói cơm mà cũng chẳng phải đói tình. Phan Nam đói vì tâm hồn bị cưởng bức bởi chính mình:

tôi nhắm mắt đâm sầm vào con chữ
tôi cưỡng bức chính tôi
nụ cười ai sống soài
chờ hút máu linh hồn bia mộ

Vậy thì Phan Nam đói cái gì và tự cưỡng bức mình cái gì? Nếu không lầm thì nhà thơ Phan Nam chỉ đói văn chương. Là thi nhân thì tất cả là thơ. Đói thơ nên nhà thơ không ăn cây ăn quả mà chỉ ăn những giọt sương. Đói thơ nên nhà thơ “nhắm mắt đâm sầm vào những con chữ”. Cái đói nầy là cái đói nguồn cảm hứng, là cái đói nàng Ly Tao bỏ đi biền biệt không về. Đói thơ là không sáng tác được nên nhà thơ cảm thấy linh hồn mình khô khan như bia mộ và có con quỹ nào đang chờ hút máu của mình. Trong cơn đói khát văn chương đó nhà thơ đã sinh ra hoan tưởng đủ điều. Phan Nam thấy “những  hình ảnh đang cầm dao rượt đuổi/  trước vùng ảo ảnh toàn đá quý kim cương”. Ta biết “đá quý kim cương” đây hoàn toàn để chỉ cho từ ngữ của thơ mà Phan Nam đang đói. Ta hiểu thêm khi nhà thơ viết tiếp: “tôi dừng lại đong đếm bài thơ vô thường/Ngấm từng giọt từng giọt vào da thịt”. Và cuối cùng Phan Nam viết:

dẫu trút hơi thở cuối cùng chẳng còn ai luyến tiếc
em đang nhắm mắt gọi tôi
khai quật hình hài núi đôi
bàn chân run run sợ yêu thương lạc lối.

Nhà thơ mà cạn kiệt nguồn thơ thì phải chết trong cô đơn là đúng rồi. Nhưng với một tâm hồn thơ lãng mạn đên vô bờ Phan Nam còn tưởng tượng ra tiếng gọi của người tình “khai quật cả hình hài núi đồi’ trong khi nàng rất yêu  đuối, bàn chân run vì sợ “yêu thương lạc lối.

Đây là một bài thơ đầy ẩn dụ, bày tỏ tình yêu siêu việt với thơ và nỗi đau vô giá của thơ khi người thi sĩ mất đi nguồn cảm hứng.  Bài thơ “Cưỡng Bức” không là bài thơ tình nhưng yêu đương đam mê bằng vạn thứ tình yêu nam nữ.

Bài thơ thứ ba xin giới thiệu trong bài viết nầy là bài thơ Phan Nam khóc cho một dòng sông có tựa đề “Dòng sông cổ tích”. Bài thơ có 5 khổ, xin mạo muội rút ngắn lại chỉ còn những ý chính của thơ:

Tôi viết về dòng sông
Bây chừ ký ức xa xôi
Cơn lũ cuốn trôi thực tại
Biết bao linh hồn không tên
Tôi chưa đi hết ngọn nguồn
Đã thấy con nước giãy chết
Những chiếc xà lan hối hả
Hút cạn sỏi đá tự bao giờ
dòng sông trôi về đâu
khi những ngôi mộ gió
hằng năm dần biến mất
lòng người thẩn thờ hướng mắt
chờ văn bản chỉ đạo: “ngược dòng”

Rõ ràng ai cũng biết đây là một bài thơ nói về môi trường sống, khóc cho một dòng sông bị phá nát không chỉ bởi thiên tai mà còn cả bàn tay con người. Đọc toàn bộ bài thơ ta thấy được ở Phan Nam lời thơ phản kháng nhẹ nhàng, ôn hòa nhưng biểu lộ sự đau đớn làm động đến trái tim. Khi nhà thơ nói về những ngôi mộ gió biến mất hằng năm, tức là nhà thơ khơi dậy sự buồn thảm cùng kiệt của quê hương chỉ còn sót lại những ngôi mộ gió, nhưng rồi cái di sản cuối cùng đó cũng bị cướp đi. Câu thơ cuối “chờ văn bản chỉ đạo:”ngược dòng” cho ta nhận biết bao điều uất ức, phi lý , và vô trách nhiệm của con người. Bài thơ không ẩn dụ, dễ hiểu nhưng chứa một thứ nước mắt ngầm cho ta thấy hình ảnh một nhà thơ Phan Nam không phải là hoàn toàn bí hiểm, mà có lúc sáng tỏ nhưng vẫn chứa đựng nhiều cái hay tiềm ẩn  để cho ta khám phá được nhiều điều thú vị trong thơ.

Ba bài thơ của Phan Nam được giới thiệu ở trên chỉ là ba bài thơ mà người viết vừa tình cở đọc trên trang web Du Tử Lê. Đó chưa phải là những bài thơ hay nhất của Phan Nam. Thật tình đọc xong ba bài thơ nầy con mắt người viết nhìn nhà thơ Phan Nam đã khác xa rồi, và tâm trạng thì rất mừng. Mừng vì mình đã già, thấy được thế hệ trẻ đầy năng lực và tư duy sâu nhiệm. Thơ Phan Nam không có sự thương vay khóc mướn, mơ trăng ru gió của sự lãng mạn vô ích cho đời. Dầu vẫn yêu, dầu vẫn mơ, thơ Phan Nam luôn chứa đựng những ẩn dụ có ích cho con người, cho xã hội và cho đời nầy./.
                                            Châu Thạch

LÀM TÌNH

những con tinh trùng
làm tình làm tội
sau cơn say
những đứa trẻ ra đời
chúng lớn lên như cây như cỏ
chúng bám víu trần gian
nghe giọt nước mắt chảy ngược
nghe mái ấm hoang tàn
những giấc mơ man dại
ngắm nghía vẻ mặt kham khổ của người đàn bà
trong phút giây thoát xác
những khúc ca phơi mình dưới ánh chiều tà
người đàn ông ra đi không bao giờ ngoảnh mặt lại
giọt máu cằn khô
bên tổ mối đục khoét nguồn cội
hạnh phúc ăn mòn đế giày

CƯỠNG BỨC

tôi đang đói, rất đói
tôi chạy về cuối con đường
chỉ thấy rơi rớt vài giọt sương
tôi uống cầm hơi trong nỗi đau quằn quại
thân xác tan rã
giấc mơ lụi tàn
tim phổi ruột gan
lộn tùng phèo như mảnh thủy tinh vỡ vụn
tôi nhắm mắt đâm sầm sập vào con chữ
tôi cưỡng bức chính tôi
nụ cười ai sõng soài
chờ hút máu linh hồn bia mộ
những hình nhân đang cầm dao rượt đuổi
trước vùng ảo ảnh toàn đá quý kim cương
tôi dừng lại đong đếm bài thơ vô thường
ngấm từng giọt, từng giọt vào da thịt
dẫu trút hơi thở cuối cùng chẳng còn ai luyến tiếc
em đang nhắm mắt gọi tôi
khai quật hình hài núi đôi
bàn chân run run sợ yêu thương lạc lối

DÒNG SÔNG CỔ TÍCH

tôi viết về dòng sông
về tuổi thơ gieo mình xuống
vị ngọt vẫn còn đầu lưỡi
bây chừ ký ức hóa xa xôi
dòng sông ơi ! dòng sông ơi
bờ tre phất phơ rác thải
cơn lũ cuốn trôi thực tại
biết bao linh hồn không tên
tôi chưa đi hết ngọn nguồn
đã thấy con nước giãy chết
dòng sông bên bồi bên lở
khi con người đặt lợi ích lên trên
ngày ngày hà bá vang rền
chực như nuốt trôi tất cả
những chiếc xà lan hối hả
hút cạn sỏi đá tự bao giờ
dòng sông trôi về đâu
khi những ngôi mộ gió
hằng năm dần biến mất
lòng người thẩn thờ hướng mắt
chờ văn bản chỉ đạo: “ngược dòng”







READ MORE - ĐỌC NHÀ THƠ TRẺ PHAN NAM - Châu Thạch