Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, March 15, 2017

CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN VỀ NHÀ THƠ BÙI GIÁNG



             Nhà thơ Chu Vương Miện


QUỚI NHƠN BÙI GIÁNG

Ngàn thu rớt hột mưa nguồn
Cũng toàn là lá hoa cồn ngao du
Thi ca thi hót mùa thu
Sóng bình nguyên cũng lu bù đó sao?
Trên ngàn chim hót xôn xao
Rừng hoa toàn những hoa đào, đào rơi
Loanh quanh trọn một kiếp người
Lòng vòng dở khóc dở cười phố khuya

                               Chu Vương Miện

TRÍCH TIÊN BÙI GIÁNG

Giữa cuộc đời bài ba lá
Giữa lòng người đảo điên
Tỉnh mãi cũng chả được
Thà man man dở cuồng
Giầy dép soong chảo khoắc trên vai
Lỉnh cà lỉnh kỉnh
Đầu trần tóc xõa ngang lưng
Vừa đi vừa chửi rủa
Miệng luôn lầm bầm
Nhà giáo nhà thơ
Dịch giả triêt gia ở chúa
Chân đất vừa cười vừa khóc
Sông có đọạn người có lúc
Chừ là lúc 
Dở dại dở khùng
Nhìn lại tưởng lầm
Là Khuất Nguyên
Người đục mà mình trong
Thôi chả còn gì trường cửu
Toàn là chó chết trôi sông
Thả thân xác trên dòng Mịch La
Thế là xong
Tàn cuộc
Một đời tài hoa
Bạc mệnh lênh đênh

Chu Vương Miện

BÙI GIÁNG XƠI PHỞ

Thi sĩ ngồi xuống ghế
Tô phở cùng ly cà phê sữa
Được bưng ra đặt ngay trước mặt
Thi sĩ lấy muổng
Khuấy ly cà phê
Lấy tương đen tương đỏ
Và vắt chanh vào tô phở
Xong
Thi sĩ đổ ly cà phê vào tô phở
Và móc trong túi ra một điếu thuốc
Đà lạt
Bóc giấy vứt đi
Rồi bỏ tiếp vào tô phở
Lấy đũa và muổng
Trộn lên rồi bắt đầu ăn

Chu Vương Miện

READ MORE - CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN VỀ NHÀ THƠ BÙI GIÁNG

XA XĂM - Thơ Thủy Điền

   
          Tác giả Thủy Điền


XA XĂM
(Nhớ Hara con chó nhà đã qua đời ngày 20 tháng 3 năm 2017)

Hai tuần nay buồn lắm
Mầy theo tao mười năm
Tao bên mầy trăm tháng
Thế giờ lại xa xăm

Tao còn chốn dương trần
Còn nhìn đời cay đắng
Còn thấy cảnh thê lương
Còn khổ đau vạn thứ

Mầy về nơi âm phủ
Nằm yên ngon giấc ngủ
Có lẽ sướng hơn tao
Phải không? Nầy bạn cũ

Thương mầy tao ủ rũ
Tiếc tình bạn bao năm
Nhớ mầy tao khổ lắm
Đêm về khóc dưới trăng.

                Thủy Điền
              15-03-2017

READ MORE - XA XĂM - Thơ Thủy Điền

Tuesday, March 14, 2017

EM HÃY LÀ / GÓC NHỎ TRONG TIM * Thơ Hiền Phương


Hiền Phương


EM HÃY LÀ

Xin em hãy cứ dịu dàng
Cho anh quên hết trái ngang cuộc đời
Môi hồng nở nụ cười tươi
Để bao phiền muộn vơi nguôi trong lòng
Hãy là ngọn lửa tình đông
Sưởi tim anh khỏi lạnh lùng giá băng
Hãy là thước ngọc khuôn vàng
Để anh một kẻ ngang tàng hàng quy
Em ơi xin cứ nhu mì
Trói anh bằng tiếng thầm thì trong đêm.

HP 15.3.17
Hiền Phương


GÓC NHỎ TRONG TIM

Có một nơi gọi là miền kí ức
Rất gần thôi mà thổn thức từng đêm
Thầm gọi tên khi dậy sóng khát thèm
Mà không thể thỏa nỗi niềm trống vắng.

Có một nơi như dòng sông phẳng lặng
Âm thầm trôi về bến đỗ xa xôi
Đò ngang ơi sao chẳng đón đợi người
Để tiếng gọi vọng rơi trên bến vắng.

Có một nơi tình yêu ai thầm lặng
Chẳng ồn ào chỉ lặng lẽ dõi bên
Luôn động viên chia sẻ nỗi ưu phiền
Khép dòng tủi vào miền xưa dĩ vãng.
Có một nơi ta khắc sâu nghĩa nặng.


HP 14.3.27
Hiền Phương
READ MORE - EM HÃY LÀ / GÓC NHỎ TRONG TIM * Thơ Hiền Phương

KHI THÌ...- Trần Mai Ngân






KHI THÌ...

Khi thì anh thật nhẹ nhàng
Nói em là cả thiên đàng của anh
Lúc ấy trời đẹp trong xanh
Em như hoa nắng hiền lành long lanh...

Khi thì anh lại loanh quanh
Giận em không nói mong manh trưa hè
Hỏi gì anh cũng chẳng nghe
Để em hờn tủi nhạt nhoè lệ rơi...

Khi thì anh bảo cuộc đời
Em là tất cả mà trời ban cho
Yêu anh em mãi cứ lo 
Khi thì, lúc vậy... đắn đo âu sầu...

Anh ơi ! qua mấy nhịp cầu
Dù chênh vênh mấy cũng mầu thủy chung
Tin em anh hãy bao dung
Đừng hờn, đừng giận... mịt mùng tình yêu !

                                   Trần Mai Ngân

READ MORE - KHI THÌ...- Trần Mai Ngân

NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ VÀ ĐIỂN CỐ PHẦN 11 - Nguyễn Ngọc Kiên

      


       NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ
                         VÀ ĐIỂN CỐ - PHẦN 11

 (25) 三顾茅庐[tam cố mao lư] (ba lần đến lều tranh)
Thành ngữ này có xuất xứ từ "Xuất sư biểu" của Gia Cát Lượng thời Tam Quốc.
Cuối thời Đông Hán, Lưu Bị bị Tào Tháo đánh bại, phải chạy sang Kinh Châu với Lưu Biểu. Nhằm gây dựng nghiệp lớn, Lưu Bị đã đi khắp nơi tìm kiếm nhân tài, chiêu mộ hiền sĩ. Sau danh sĩ Kinh Châu Tư Mã Huy đã tiến cử với ông "Ngọa Long tiên sinh" Gia Cát Lượng.
Gia Cát Lượng sống ẩn cư ở Long Trung cách phía tây thành Tương Dương 20 dặm, dưới mái nhà tranh vách nứa và làm nghề đồng áng̣. Ông học thức uyên bác, tinh thông sử sách, là một nhân tài kiệt xuất. Lưu Bị được biết bèn đến Long Trung thăm viếng. Ông trước sau đến Long Trung ba lần, hai lần trước Gia Cát Lượng đều tránh không gặp, đến lần thứ ba mới chịu ra tiếp đón. Gia Cát Lượng đã cùng Lưu Bị phân tích tình hình thời cuộc, thảo luận việc giành chính quyền ra sao, và kế sách thống nhất thiên hạ, khiến Lưu Bị vô cùng khâm phục, nguyện tôn Gia Cát Lượng làm quân sư, gây dựng lại Hán thất. Gia Cát Lượng cảm động trước tấm lòng chân thành của Lưu Bị đã ba lần đến lều tranh mời mình, liền ưng thuận ra giúp Lưu Bị tranh đoạt thiên hạ.
Từ đó Gia Cát Lượng trở thành trợ thủ đắc lực của Lưu Bị, phía đông liên minh với Tôn Quyền, phía bắc đánh Tào Tháo, lần lượt chiếm được Kinh Châu và Ích Châu, lập nên chính quyền Thục Hán, hình thành ba nước thế chân vạc Ngụy, Thục, Ngô.
Trước khi qua đời, Gia Cát Lượng đã viết cho hậu chủ Lưu Thiền tờ "Xuất sư biểu" trong có đoạn viết: "Tiên đế đã không chê thần là kẻ thấp hèn, đã ba lần đến lều tranh mời thần.
Có nhiều người đặt dấu hỏi rằng “tam cố mao lư” cùng với việc Gia Cát Lượng tại Phàn Thành tự thỉnh cầu tương kiến là chuyện thật hay chuyện bịa? Học giả đời Thanh Hồng Di Huyên 洪颐煊 trong Chư sử khảo dị 诸史考异 nói rằng Gia Cát Lượng lần đầu gặp Lưu Bị tại Phàn Thành, Lưu Bị tuy đãi vào hàng thượng khách, nhưng không đặc biệt coi trọng. Đợi đến khi Từ Thứ tiến cử, Lưu bị lần thứ hai gặp mặt mới dần có cảm tình sâu đậm. Đồng thời chỉ ra rằng: Lần gặp đầu tiên vào năm Kiến An 建安 thứ 12, lần thứ hai vào năm Kiến An thứ 13.
          Gia Cát Lượng và Lưu Bị rốt cuộc “nhất kiến”, “tái kiến” hay là “tam kiến”, điều này chỉ có người đương sự mới biết, nhưng “câu chuyện “tam cố mao lư” lưu truyền lại hấp dẫn rất nhiều người. ". Qua đó đã biểu lộ được sự hoài niệm sâu sắc của Gia Cát Lượng đối với ân chi ngộ của Lưu Bị, tình cảm hết sức chân thành và rung động lòng người cho tới ngày nay.


( 26)漂母之恩/漂母饭信

 [Phiếu Mẫu chi ân] (ơn Phiếu Mẫu/ Bát cơm Phiếu Mẫu)


Bà Phiếu Mẫu, nhànghèo khó, đã giúp Hàn Tín trong cơn đói cơm rách áo. Thuở hàn vi, Hàn Tín nghèo rớt mồng tơi, ngày ngày câu cá, nhưng cũng không kiếm đủ miếng ăn. Tuy vậy, Hàn Tín lại rất ham mê đèn sách, nghiên n cứu binh thư; lại muốn ra oai như mình là con nhà võ, đi đâu cũng lè kè mang theo cây kiếm. Bà Phiếu Mẫu ở cạnh nhà, kiếm ăn bằng nghề giặt thuệ Tuy miếng cơm vẫn thiếu trước hụt sau, nhưng thấy Hàn Tín quá đói khát, bà thường dẫn chàng dở hơi này về nhà cho cơm. Hàn Tín cảm động thưa:
- Xin cảm on bà đã quá tử tế với tôi. Sau này công thanh danh toại tôi nguyện sẽ không quên ơn bà.
Phiếu Mẫu cười hiền hậu:
- Ta thấy ngươi đói khát, nên chia sẻ miếng cơm giọt nước với ngươi, chứ đâu cần ngươi sẽ trả ơn sau này. Đàn ông gì như ngươi , tự nuôi thân không nổi thì noí chi đến quyền cao chức trọng sau này.
Hàn Tín hỗ thẹn vì lời chê trách, nên không dám tìm qua nhà Phiếu Mẫu kiếm cơm nữa. Bà già vẫn thương người cùng khổ, ngày ngày đem cơm đặt trước căn lều của Hàn Tín. Người trong làng xóm biết chuyện, gọi đó là "Bát cơm Phiếu Mẫu".
Một hôm ở ngoài chọ có gã bán thịt to lớn, trông thấy Hàn Tín bước đi xiêu vẹo nhưng vẫn lòng thòng thanh kiếm bên lưng. Gã trêu tức:
- Này tên ma đói kia, nam nhi như mày mà không kiếm ăn được, hằng bữa phải nhờ đến bát cơm Phiếu Mẫu, không biết nhục à? Có giỏi thì rút kiếm ra đấu, ta tay không. Thắng được ta thưởng cho cái đầu heo. Bằng không dám đấu, thì luồn dưới trôn của ông nội mày đây.
Sắc mặt Hàn Tín đã xanh này càng xanh hơn. Tần ngần một lúc, Hàn Tín khúm núm lòn qua trôn gã hàng thịt. Cả chợ nhốn nháo chê cười Hàn sĩ. Nhưng có một tiều phu là Hứa Phụ, tình cờ qua đó, dừng lại trước Hàn Tín:
- Huynh là người có tướng vương hầu; tuy nay khốn khổ nhưng hậu vận lại vinh hoa phú quí.
Hàn Tín trở vềtúp lều, ngày đêm vẫn miệt mài dùi mài kinh sử. Lúc Hạng Lương nước Sở khởi binh đánh Tần, Hàn Tín đứng chống gươm bên bờ sông Tứ Thủy, tự tìm cơ hội tiến thân. Trông thấy Hàn Tín ngoại hình xanh xao vàng vọt, Hạng Lương "dội" ngay. Nhưng quân sư Phạm Tăng vội khuyên:
- Tuy nhìn bề ngoài yếu đuối, nhưng chân tướng là người thao lược, ngài chớ nên bỏ
Hạng Lương miễn cưỡng nhận lời, cho Hàn Tín làm chấp kích lang, tức là vác giáo theo hầu.
Trong thơi gian này, Lưu bang đang dựng nghiệp đế ở Hán Trung, nhờ Trương Lương, giả lam lái buôn, đi chu du thiên hạ để chiêu hiền. Khi đến đất Sở, gặp được Hàn Tín, Trương Lương nhận ra ngay đây là một chân tài nhưng Sở không biết dùng người. Trương Lương bèn làm quen, và trao cho Hàn Tín một thanh kiếm báu, đề thơ tặng:

Kiếm báu lập lòe tay dũng sĩ
Non sông một giải chí hiên ngang.
Máu hồng, men rượu say băng tuyết
Muông dặm sơn hà một tấc gang.

Hàn Tín đang còn ngỡ ngàng, thì Trương Lương đã tiếp:
- Tại hạ biết được huynh là đấng hào kiệt nên đem kiếm báu tặng chứ không bán. Nay có chút quà mọn, xin huynh chớ từ chốị Hãy cùng nhau nhấp chén rượu mừng buổi sơ kiến. Hẹn ngày hội ngô trên đất Hán.
Sau chầu rượu, Trương Lương thuyết phục Hàn Tín nên bỏ Sở, về phò Lưu Bang, là người nhân đức biết trọng lương thần, xứng danh thiên tử. Hàn Tín thuận tình, nên bỏ trốn khỏi Sở. Mấy ngày lạc trong rừng không tìm đường để lần đến Hán Trung, đói khát lả người. May thay, gặp được một lão tiều, cho ăn uống và hướng dẫn đường đi nước bước chu đáọ Hàn Tín sụp lạy cảm ơn cứu tử, rồi nhanh nhẹn lên đường. Nhưng vừa qua được một khúc quanh, Hàn Tín chợt nghĩ:
- Ta đang bị Sở Bá Vương truy nã. Nếu chẳng may quan quân Sở cũng lần ra dấu vết đến đây, hỏi lão tiều phu này, thì tính mạng ta khó thoát. Lão già suốt ngày lẫm lũi trong rừng sâu, rồi cực khổ cũng chết khô xương , còn ta, cả cơ đồ sáng lạng trước mắt. Thôi thì, ta đành làm người vong ơn bội nghĩa..
Hàn Tín quay trở lạị Kiếm vung lên, thân lão tiều phu đứt làm đôị Hàn Tín đem xác vùi bên sườn núi.
Khi đến Hán Trung, Hàn Tín được Tiêu Hà - cận thần của Hán Vương tiếp kiến, liền tiến cử với Hán Vương. Vừa nghe đến tên Hàn Tín, Hán Vương đã cười khẩy:
- Khi còn ở huyện Bái, ta đã nghe tiếng người này lòn trôn Đỗ Trung, xin cơm Phiếu Mẫu, làng nước ai cũng khinh bỉ. Con người như vậy thì làm sao mà làm được việc lớn?.
Tiêu Hà bào chữa:
- Xin Chúa công hãy suy xét, nhiều người bần tiện thuở thiếu thời nhưng sau vẫn dựng nên sự nghiệp, như Y Doãn là người sơn dã, Thái Công là kẻ đi câu ở sông Vị, Ninh Thích là gã buôn xe, Quản Trọng là kẻ tội đồ, đến lúc gặp thời đều làm nên đại sự. Hàn Tín tuy đã lòn trôn mưu sống, xin cơm cứu đói, giết ân nhân để trừ hậu hoạn..nhưng đó vẫn là người uyên bác, mưu lược; không dùng, tất hắn sẽ bỏ đi tìm nơi khác trọng dụng.
Nể lời tấu trình của cận thần, Hán Vương giữ Hàn Tín lại, cho làm thủ kho lương thực. Tiêu Hà không đồng ý vì cho rằng Hàn Tín là người trí dũng, đem dùng vào việc nhỏ không xứng với tài năng. Phần Hàn Tín cũng chán nản; nấn ná một hai hôm lại trốn đi, để lại ít câu thơ, thảo trên vách:
Anh hùng lỡ vận bước long đong
Thà chịu an thân khỏi thẹn lòng
Vó ngựa xa vời trông cố quận
Công danh chán ngắt mộng anh hùng.
Tiêu Hà hay tin Hàn Tín đã bỏ đi, dậm chân kêu trời, tiếc thay người tài không có đất dụng võ. Không nản lòng, Tiêu Hà đem theo ít quân hầu lần theo dấu tích Hàn Tín. Khi tìm gặp được, Tiê Hà cầm tay Hàn Tín ân cần:
- Cổ nhân có câu: Sĩ vị tri kỷ giả tử (kẻ sĩ có thể chết theo người tri kỷ). Tại hạ hiểu huyng là người tài, đã quyết tâm tiến cử, nhu8ng Chúc công vần chưa tin dùng. Nay nếu một lần tiến cử nữa, mà Chúa công vẫn không nhận, thì Tiêu Hà này cũng từ chức mà lui về vườn.
Hàn Tín cảm kích lòng thành của Tiêu Hà, nên lại lên ngựa quay trở về Hán Trung. Nghĩ đến số phận mình còn long đong, Hàn Tín đề thơ:
Mây gió phôi pha bóng nguyệt tà
Vận thời chưa gặp khó bôn ba
Nghèo hèn phận bạc đời dang dở
Con tạo trêu ngươi mãi thế à!
Chợt, Hàn Tín nhớ mấy câu thơ của "anh lái buôn " Trương Lương đã đề tặng mình. Lúc đó, Trương Lương vẫn còn chu du chiêu hiền chưa về đến. Hàn Tín đưa thơ cho Tiêu Hà xem. Tiêu Hà mừng rỡ:
- Trời đất, thư giới thiệu của Tử Phòng, sao tướng công đã không trình cho Chúa công.
Khi xem thơ của Trương Lương, Hán Vương giật mình:
- Ôi chao, thì ra người của Trương Tử Phòng tiến cử. Ta thật không biết nhìn người.
Theo đề cử của Tiêu Hà, Hán vương phong Hàn Tín làm Đại Nguyên Soáị Hàn Tín đã đem tài năng mình phò Lưu Bang, tóm thâu thiên hạ, dựng nên nhà Hán.
Trong khi danh vọng ngất trời, Hàn Tín vẫn hãnh diện vì cái quá khứ bát cơm Phiếu Mẫu của mình và cũng từ đó, lưu truyền trong dân gian điển tích này.
Chỉ tiếc khi tài - danh lên tột đỉnh, Hàn Tín vẫn không hượm chân, nên đã chết thảm dưới tay Lữ Hậu.
                               (Theo Maxreading)
Trong Truyện Kiều, khi xử ân oán, Thúy Kiều mời bà quản gia và sư Giác Duyên đến tạ ơn:
Nghìn vàng gọi chút lễ thường,
Mà lòng Phiếu Mẫu mấy vàng cho cân.

(27) 班门弄斧 [Ban môn lộng phủ] ( múa rìu qua mắt thợ)
THành ngữ này được dùng đả kích ví trường hợp làm hoặc khoe khoang việc mà mình không thạo trước mặt người rất thành thạo, (cũng dùng trong lối nói khiêm tốn) người dám thể hiện bản lĩnh nghiệp dư trước những người có nghề chuyên nghiệp .
Thành ngữ này có xuất xứ:
Thời xuân thu, Lỗ Ban là người nước Lỗ rất giỏi nghề mộc, ông còn được tôn là ông tổ nghề mộc.
Nhà Thơ Lí Bạch nổi tiếng đời Đường , tự Thái Bạch hiệu là Thanh Liêm Cư Sĩ ,người Miên Châu, Xương Long . Từ nhỏ ông đã có kiến thức rất phong phú, ngoài kinh điển nho gia, sách sử nổi tiếng , ông còn đọc sách của bách gia tri tử và yêu thích thích kiếm thuật . Ông rất tin vào đạo giáo , thích ẩn cư , học thuật cầu tiên. Đồng thời lại mang hoài bão góp sức cho nước nhà.
Đưòng Huyền Tông từng có lời thề trở thành ông vua anh minh đã cho triệu tập nhân tài.Trong dịp này Lý Bạch cho rằng chơ hội thi thố tài năng đã đến . Đường Huyền Tông thấy ông có tài ngang dọc , giỏi thơ văn lại có vẻ bề ngoài tuấn tú bèn cho làm quan ở Hàn Lâm Viện .Một thời gian sau Vương công , quý tộc quan lại hiển đạt đua nhâu kết thân với Lý Bạch . Do tính tình ông cương trực , không a dua nịnh hót, thường phản bác những lời lẽ rèm pha nên chưa đầy 2 năm sau ông bị cách chức ,đuổi ra khỏi kinh thành .
Theo kể lại , vào một đêm ,khi Lý Bạch trèo thuyền đi dạo trên hồ , thăm Thái Thạch Cơ , ông đã uống rất say, nhìn thấy trăng dưới nước ông nhảy xuống mò nên bị chết đuối .
Cũng có ý kiến cho rằng : Lý Bạch cố tình nhảy xuống sông tự vẫn ( lý do này có lý hơn bởi có nhiều nhà văn, nhà thơ tài ba tìm con đường giải thoát mình bằng cách tự vẫn .)
Người ta an táng ông tại Thái Thạch Cơ. Từ đó Thái Thạch Cơ trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng .
Mấy thế kỷ sau nhà thơ đời nhà Minh , Mai Chi Hoán
梅之焕 đến Thái Thạch Cơ làm bài điếu trước mộ Lý Bạch .Khi đứng trước mộ Thi Tiên Lý Bạch ,ông vô cùng ngạc nhiên và tực giận khi thấy những chỗ nào có thể viết chữ trên bia mộ thì mọi người đã viết cả . Những tác giả này văn thơ chẳng ra sao , đề loạn lên bài tiên thơ của LÝ Bạch, những câu thơ đó mà lại viết lên mộ của Lý Bạch thật là nực cười !.Ông cảm thấy thật không phải với Lý Bạch, bèn đem bút viết :
采石江边一堆土,
李白之名高千古。
来来往往一首诗,
鲁班门前弄大斧

“Thái Thạch giang biên nhất đống thổ
Lý Bạch chi danh cao thiên cổ
Lai lai võng võng nhất thủ thơ
Lỗ Ban môn tiền lộng đại Phủ”

Bản dịch của mailang

Thái Thạch bên sông một nấm mộ,
Danh cao Lý Bạch lưu thiên cổ.
Qua qua lại lại cũng đề thơ,
Trước cửa Lỗ Ban còn búa bổ
.

Ý nghĩa của bài thơ là ca ngợi Lý Bạch tài danh của ông cũng xứng đáng được tôn danh như Lỗ Ban . Và
班门弄斧 đã trở thành thành ngữ của người Trung Quốc và còn lưu truyền cho tới ngày nay.
Mọi dân tộc có cách tư duy giống nhau nhưng cách biểu đạt thì khác nhau  do văn hóa khác nhau  Ở Việt Nam nó được dùng là múa rìu qua mắt thợ hoặc đánh trống qua cửa nhà sấm .

(28)
杯弓蛇影 [Bôi cung xà ảnh] ( sợ bóng sợ gió)  
Thành ngữ này để nói về người sợ những thứ do mình tự tưởng tượng ra.
Nó có xuất xứ như sau:
Thời Tây Tấn , có một người tên là Nhạc Quảng . Anh ta giỏi ăn nói , thích nói dóc, cho dù ai có hỏi anh ta khó đến đâu anh ta cũng chỉ dùng mấy câu đơn giản để cho họ một câu trả lời vừa ý : Tuy nhiên những điều ông ta không biết thì không bao giờ nói bừa .Lúc đó thái úy Vương Diễn , Quang Lộc đại phu Bùi Gia cũng rất giỏi tán gẫu , họ đã từng mời Nhạc Quảng nói chuyện thâu đêm , nhưng cũng phải thừa nhận mình không bằng Nhạc Quảng . Vương Diễn thường nói với người khác : " Trước đây ta tưởng rằng mình ăn nói đã rất rõ ràng , ngắn gọn . Hôm nay gặp được Nhạc Quảng mới biết thế nào là ngắn gọn rõ ràng. Trước mặt anh ta chúng tôi đều cảm thấy mình nói rất lôi thôi ..."
Lúc đó một nhà thư pháp nổi tiếng , những năm đầu Hàm Ninh thời Tấn Vũ Đế được phong làm thượng thư lệnh. Một hôm nhà thư pháp thấy Nhạc Quảng đang tranh luận với thái uý Vương Diễn và mọi người , lời lẽ sâu sắc , sinh động , hài hước, cảm thấy vô cùng lạ nói : "Từ khi rất nhiều danh sĩ từ trần trở lại đây , ta cứ sợ rằng những lời lẽ tuyệt diệu sẽ không có người kế thừa, không ngờ hôm nay lại được nghe thấy ở đây”. Một hôm ông có người bạn từ nơi xa đến quê ông , Nhạc Quảng mời vị khách về nhà mình .Trời vừa tối , Nhạc Quảng bày ra bữa ăn thịnh soạn ở phòng khách hiếm khi sử dụng . Người xưa có câu , tửu phùng tri kỷ ngàn chén chưa say. Khi đã uống tới đầu óc quay cuồng , vị khách đứng dậy định cạn chén thì bỗng nhìn thấy một con rắn nhỏ đang lay động trong chén . Anh ta cảm thấy rất buồn nôn , nhưng rượu đã đến miệng thì phải uống . Để giữ thể diện chủ nhà , ông xin phép chủ nhà về nghỉ trước .Về phòng khách , ông cảm thấy buồn nôn vì nghĩ trong bụng có một con rắn .Không lâu sau ông ngã bệnh. Nhạc Quảng nghe thấy bạn mắc bệnh, và nguyên nhân của bệnh thì rất buồn , băn khoăn: "Trong rượu thì làm sao có rắn được ?"
Thế là ông tìm người đầu bếp đến đó hỏi , rồi lại đến phòng khách quan sát kỹ , phát hiện thấy một cây cung sơn đầu đã cũ được treo trên xà nhà . Nhạc Quảng lập tức mang chén trà đi rót nước vào , đặt ở nơi hôm trước vị khách đặt, lúc đó bóng của cây cung vừa chiếu lên cốc rượu, lắc la lắc lư quả thật rất giống một con rắn . Sau khi đã hiểu rõ nguyên nhân , ông vui mừng chạy đến chỗ người bạn mời anh ta uống rượu . Khi vị khách vừa cầm chén rượu lên thì lại thấy hình một con rắn ở trong cốc lay động . Mặt ông ta tái xanh lại , hai tay run run,đến chén rượu cũng không dám ném đi .Lúc đó Nhạc Quảng chỉ cây cung treo ở trên tường , cười nói với bạn :" Lão huynh !làm gì có rắn ! Anh xem chẳng qua đó chỉ là hình cây cung thôi " Nói xong ông bỏ cây cung xuống thì trong cốc không còn hình con rắn nữa . Người bạn hiểu ra nguyên nhân , từ đó không còn lo sợ , bệnh quả nhiên khỏi

(còn nữa, kì sau đăng tiếp)
                                                             Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ VÀ ĐIỂN CỐ PHẦN 11 - Nguyễn Ngọc Kiên

Monday, March 13, 2017

XUÂN ẨM ƯỚT - Thơ Nguyễn Khôi





XUÂN ẨM ƯỚT
(Tặng Đặng Xuân Xuyến)
                     
"Bóng ai trăng dãi thướt tha
Tiếng ai gió thổi gần xa đôi hồi"
   (Đông Hồ: Nhớ rằm tháng hai)
                       
Xuân ẩm ướt. Mưa phùn. Hoa tươi nở
Rằm tháng hai trăng đẫm tóc cô nàng
Hoa Anh Đào trưng vườn Lý Thái Tổ
Chút xuân hồng mang đến tự Phù Tang.
                      
Bao cô nàng hân hoan chụp ảnh cưới
Mơ đi Tây, sang Nhật "đổi đời" ?
-Là kỷ niệm thời yêu đương sôi nổi
Để mai ngày nhớ tiếc tuổi hai mươi .
                       
Xuân nay đẹp thêm Anh Đào trang điểm
Nắng trưa hừng cầu Thê Húc sắc son
Làn môi ấm cái hôn bừng má thắm
Người chen người như hội ở hồ Gươm.

                              Hà Nội 12/3/2017
                              NGUYỄN KHÔI

READ MORE - XUÂN ẨM ƯỚT - Thơ Nguyễn Khôi

ẨM TRỜI - Thơ Đặng Xuân Xuyến





ẨM TRỜI

Em gạ một đêm chồng vợ
Cho mùi da thịt khỏi ươn
Mấy ngày hôm nay mưa tợn
Ẩm trời, khó ở, thấy ghê.

Ừ thì, một đêm thôi nhé
Mai đừng, nữa gạ một đêm
Mùa này ẩm trời dài lắm
Da đây thịt đấy đến mòn.

Hà Nội, 13 tháng 03.2017
      Đặng Xuân Xuyến


READ MORE - ẨM TRỜI - Thơ Đặng Xuân Xuyến

CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN VỀ BẠCH CƯ DỊ





BẠCH CƯ DỊ

trên con đường đầy ải
quá giang bến Tầm Dương
khách Giang Châu Tư Mã
hội ngộ lão giai nhân
một danh kỹ tài hoa
nực tiếng nơi kinh thành
"tam thập niên tiền
nhị thập tam"
người làm quan bị biếm
thương nữ hoa đã tàn ?
cuối đời thơ gặp nạn
hội ngộ chung một thuyền
tiếng tỳ bà thánh thót
ngoài khoang mưa từng cơn!
thi nhân ngồi đối ẩm
cung thương dốc thêm buồn
gió hiu hiu mặt nước
lau lách bờ buồn hơn!
hai ngừơi ba chung rượu
càng uống càng cô đơn
đất Giang Xin (Tây) đáo nhậm
xế chiều một chức quan
thân ngang ngang với phận
bườn cho một chức hèn
hai người già thiu ngủ
dửng dưng đêm Tầm Dương

                 chu vương miện


MẦN THƠ BẠCH CƯ DỊ

có người thành danh
có người không
có người làm quan
có người làm dân
có người tu đạo sĩ
có người làm cao tăng
có người ở lâm tuyền
có người ở thôn trang
có người làm đại gia
có người chăn nuôi gà
có ngươi đủ vợ con
có người độc thân
có ngườ nổi hơn cồn
có người vô danh

*
đời đáng chán ta đang đáng chán
chuyện giữa đường đem gán vào thân
chuyện xa rồi chuyện đến gần
làm quan, quan cách thế gian lạ gì ?
cũng đành khăn gói ra đi
bến Tầm Dương gặp cố tri thủa nào
đêm tà gẩy khúc li tao
Giang Châu Tư Mã lòng xao xuyến lòng
xót thương từng giọt tơ đồng
đau thương trút xuống lòng sông ngùi ngùi

                                        chu vương miện

LỠ ĐƯỜNG BẠCH CƯ DỊ

nơi Tầm Dương nghe tiếng rao tẩm quất
trăng vừa nhô heo hắt liễu ven sông
thuyền trọ đêm cũng vừa mới nhá đèn
tiếng so phiếm tiếng tơ tiếng trúc
lão quan già bị đày trên tay chiếc quạt
phất qua phất lại ở trong khoang
lão giai nhân nâng lại chiếc cổ cầm
miện ê a bắt đầu câu chúc phúc
chủ thuyền ra sau lo bếp núc
trong lòng khoang trơ lại mái đầu già
một vừa đàn vừa nhịp vừa ca
một im lặng nhấm từng giọt rượu
đủ thức ăn đặt trong lòng chiếu
rươu mươi be mươi nậm xếp chung quanh
thịt tả pín lù trong liễn mầu xanh
lạc chíu chương xì dầu hai tĩn
mì vịt tìm trong nồi có sẵn
đàn hát xong cứ vậy mà xơi
đêm trăng thanh gió mát đất với trời
đại thi hào đại danh kỹ hội ngộ
năm phương hướng kim mộc thủy hỏa thổ
trên Tầm Dương kẻ tù kẻ khổ gặp nhau ?
thôi banh ta lông chả nói chi nhiều
đàn xong cuộc mạnh ai nấy ngủ

                      chu vương miện


ĐƯỜNG  *ĐƯỜNG 

vòng vo với một chảo thơ Đường
Trương Kế Lý Bạch ngạt ngào hương
Đỗ Phủ sánh ngang Bạch Cư Dị
đạo nào mà lại Thục Đạo Nan
Thôi Hiệu vơí một bầy hoàng hạc
ngó quanh chấm nhỏ tếch non ngàn ?
Thôi Hộ lạc vườn đào hàm tiếu 
cát lầm một buổi sớm xuân sang!
khúc tỳ bà khẩy nghe não nuột
chau mày ngó mãi bến Tầm Dương
Đỗ Mục uống chơi không xỉn nổi
khúc Hậu Đình Hoa rực miên trường
bến Bạc Tần Hoài đầy rác rưởi
nằm yên phận đó đã bao thời ?
hoàng khuyển hoàng mai theo Tô Thức ?
sơn đầu minh nguyệt khiếu chưa vui ?
chiêm bao trở lại tràng an đó ?
gục giữa cầm đài một giấc chơi 
thung dung chi đó chàng Vương Bột 
Trần Tử Ngang đâu đó còn cười!


TRONG ĐỤC

nước trên nước giòng trong giòng đục
người giữa giòng kẻ đục người trong ?
người mặc áo kẻ cởi trần
người chân guốc dép, ngườì chân không giầy!
khi nhởn nhơ đi đây đi đó ?
khi vào tù chân bó lại thôi ?
kèn thổi ngược trống đánh xuôi ?
một vòng luẩn quẩn mấy hồi thế gian ?

                                chuvươngmiện

READ MORE - CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN VỀ BẠCH CƯ DỊ

TƯƠNG LAI BUỒN - thơ Trương Thị Thanh Tâm


Trương Thị Thanh Tâm


TƯƠNG LAI BUỒN 
               
Tóc dài tôi cắt làm hai 
Để quên để xoá chiều dài tình yêu 
Khi yêu thì cho rất nhiều 
Nhận về chỉ có, bao nhiêu cho mình 

Trời mưa bất chợt thình lình 
Giọt to giọt nhỏ, thơ tình ướt trang 
Gieo chi giọt đắng vào lòng 
Từng trang thơ viết, sầu đông ngỡ ngàng 

Đâu ngờ tình quá phủ phàng 
Bao năm tôi đổi, lệ tràn như mưa 
Khi đi buổi sáng buổi trưa 
Nắng mưa gió phủ, đường xa bước về 

Thì thôi quên hết lời thề 
Tình cho không trọn, đam mê cạn nguồn 
Bây giờ mới thật là buông 
Yêu trong quá khứ, lại buồn tương lai.
           Trương Thị Thanh Tâm 
                      Mỹ Tho



READ MORE - TƯƠNG LAI BUỒN - thơ Trương Thị Thanh Tâm

“THẰNG CHÁU” TRONG MƠ - Đặng Xuân Xuyến

     
           


“THẰNG CHÁU” TRONG MƠ 

Trưa (23 tháng 02 năm 2014), ngủ, lại mơ lên 344 Đường Láng. Thấy bà Mùi và bà Tý cãi nhau hăng lắm. Bà Mùi xông vào quán, ôm đồ đạc của bà Tý vất đầy ra ngõ, rồi chỉ mặt, chì chiết, chửi bà Tý là con mụ béo, con nhà quê. Bà Tý hăng tiết, chửi lại bà Mùi là con nặc nô, con “a đầu” rẻ rách, rồi cầm cán chổi tới tấp đập vào đầu bà Mùi. Đau quá, bà Mùi lăn đùng ra ăn vạ. Bà giãy hăng lắm. Vừa lăn vừa gào nhưng mắt vẫn canh chừng cán chổi của bà Tý: - “Ới làng ới xóm mau cứu tôi với. Con Tý nhà quê nó đang định giết tôi đây này…”
Định ra can 2 bà nhưng ngại lại sảy ra hiểu lầm rồi mang vạ vào thân như năm nào nên tôi lẳng lặng vào nhà tránh mặt. 
Rõ ràng là đi lên tầng 2 nhà ở 344 Đường Láng, vậy mà khi bà Tý mang nước lên lại là cảnh tôi đang ngồi trên con đường đất mới mở, ở quê, không phải ở Hưng Yên, quen nhưng mà lạ lắm. 
Một cậu bé quãng 10, 11 tuổi, nước da trắng trẻo, khuôn mặt sáng đẹp đến chào tôi, đưa chiếc ghế nhựa, lễ phép mời tôi ngồi, rồi vạch “chim” định đái vào tường nhà. Tôi quát: - “Cháu không được tè bậy như thế. Chú cho no đòn đấy!”. Thằng bé khúc khích cười, đi vòng ra sau, ôm cổ tôi, tình cảm hệt như với người thân vậy, rồi lừa lúc tôi sơ ý, tè luôn vào tường ngôi nhà kế sau. 
Bực, định phát vào mông thằng bé thì bà Tý hề hề cười, bảo: - “Ô, thế bố Xuyến không nhớ thằng bé này là con ai à mà lại định đánh nó? Phải hỏi thân thế của nó xem sao đã chứ? Nhỡ may đánh nhầm phải người thân thì thế nào?”
Tôi sững người, chưa kịp trả lời thì thằng bé khúc khích cười, liến thoắng: - “Chú ấy già rồi, lẩm cẩm lắm nên không nhớ được gì đâu bà ạ! Đấy! Vẫn hấp tấp như mười mấy năm trước. Chả thay đổi gì cả! Chán!.” 
Nói xong, chạy mất hút vào ngõ.
Tôi quay sang hỏi bà Tý thằng bé ấy tên gì? Con nhà ai? Sao trông quen thế? Thì bà cụ tròn mắt hỏi lại: - “Ơ thế anh cũng không biết nó à? Cô tưởng anh với nó là chỗ thân tình? Thấy nó bảo là người “quen cũ” của anh, để nó mang nước lên cho anh nhưng cô sợ nó lóng ngóng, đánh vỡ ấm chén nên cô bê lên.”
Tôi đứng dậy, móc túi để trả tiền nước thì thằng bé lại xuất hiện. 
Nhìn tôi, nó buồn buồn hỏi:
- Thế chú không nhớ cháu thật à?
Tôi bảo:
- Ừ! Chú xin lỗi! Thật sự chú không nhớ cháu là ai? con nhà nào?
Nó ngước mắt nhìn tôi, rưng rưng lệ, ai oán trách:
- Người đâu mà vô tâm thế! Mới xa nhau có hơn mười năm, giờ gặp lại mà đã quên cả anh cả em rồi.... 
Tôi phì cười, mắng:
- Uầy. Hư nào cháu! Chú với cháu sao có thể là anh em được. Hư quá!.... 
Không đợi tôi hết câu, nó gào lên: - “Thằng anh mất dậy, bạc nghĩa bạc tình này! Kiếp trước, ngồi uống rượu với nhau bao lần mà quên em nhanh thế? Nhìn kỹ đi, rồi cố mà nhớ xem ngôi nhà này đã gặp ở đâu?”. Rồi lao vào đấm đá tôi túi bụi. 
Giật mình, tỉnh giấc.
Thấy giấc mơ lạ, chép lại để ngẫm xem sao.
*.
Hà Nội, 23 tháng 02 năm 2014
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
.
READ MORE - “THẰNG CHÁU” TRONG MƠ - Đặng Xuân Xuyến

TỨ TUYỆT NGUYỄN NGỌC KIÊN



                        Nguyễn Ngọc Kiên



VIẾT GIỮA ĐẦM SEN
Giữa vùng đầm trời và nước mênh mông
Em cứ mơn mởn thế làm sao anh chịu nổi!
Anh ngơ ngẩn cùng mây bay và gió thổi
Đứng chết lặng trên bờ em có cứu anh không?
                                         Hà Nội, 10/9/2013

KHÓM HỒNG TRƯỚC SÂN
Một khóm hồng xanh ở trước sân 
Mưa sa gió giật đã bao lần 
Sớm nay bỗng nở bừng dăm nụ
Kịp đón xuân về với chủ nhân.
 Hải Đường Hải Hậu, 1/ 2014

GHI Ở THÁNH ĐỊA MĨ SƠN
Giữa trưa hè về với Mĩ Sơn
Cô hướng dẫn viên ném vào tôi cái cười tinh nghịch.
Chợt thấy mình hóa thành phế tích
Trước vẻ đẹp hút hồn bất chấp cả thời gian!
                                Quảng Nam, 7/2013
                                Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - TỨ TUYỆT NGUYỄN NGỌC KIÊN

NHÀ THƠ QUÁCH TẤN VIẾT VỀ BÀI THƠ "QUA ĐÈO NGANG" CỦA BÀ HUYỆN THANH QUAN - Nguyễn Khôi



                        Nhà thơ Quách Tấn


NHÀ THƠ QUÁCH TẤN VIẾT VỀ BÀI THƠ 
"QUA ĐÈO NGANG" CỦA BÀ HUYỆN THANH QUAN
                          
  Nhà thơ Quách Tấn (1010-1992), quê thôn Trường Định, huyện Bình Khê (nay là xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn) tỉnh Bình Định. Cụ là Nhà thơ nổi tiếng trong phong trào "Thơ mới", đồng thời là một Nhà văn chuyên khảo về Thơ vào loại hàng đầu ở nước ta... về "Thơ toàn bích", theo Quách Tấn thì đó là Thơ được liệt vào Ưu đẳng Thượng hạng phải là những bài thơ hình thức cũng như nội dung, không ai bắt bẻ được, là những bài thơ hay tuyệt đỉnh, tức là hoàn hảo như thơ KHÓC CHỒNG của Hồ Xuân Hương (Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi... trong đó 2 câu "cặp luận" mà nhiều sách chép khác nhau :
          Nắm xương dưới ván chau mày khóc
          Hòn máu trên tay mỉm miệng cười
         (cán cân tạo hóa rơi đâu mất ?
          Miệng túi càn khôn thắt lại rồi ).
 Với Phạm Thái (1777-1813) là bài "Đề Nghĩa Lư" với những câu kiệt xuất như :
          - Cỏ biếc chẳng treo hồn Sở trướng 
            Trúc vàng thà điểm giọt Ngu cung.
          - Dệt gấm Thanh Nê câu nhất tiếu
            Thêu nền Thúy Ái chữ tam tùng.
  Với Bà huyện Thanh Quan (khoảng 1821)thì  bài "Thăng long thành hoài cổ " là hay tuyệt đỉnh nhưng chưa hẳn toàn bích :      
             Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,
             Đến nay thấm thoát mấy tinh sương.
             Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
             Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
             Đá vẫn (dẫu) trơ (bền / sờn)) gan cùng tuế nguyệt,
             Nước còn cau mặt với tang thương.
             Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,
             Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường.
 Theo Quách Tấn thì bài thơ chưa hoàn toàn là viên "khuê bích vô hà" vì có tì vết, một tí thôi ở nơi cặp trạng :
             Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
             Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
"Bóng" đối với "hồn", "tịch dương" đối "thu thảo" về mặt tự dạng thì thật chỉnh. Nhưng về mặt ý nghĩa thì nặng nhẹ không được cân...bởi : Hồn là hoạt tự, Bóng là tử tự. Đối nhau không được chỉnh là vì vậy đó . Nhưng đó là lối trách bị hiền giả của kẻ "cầu toàn" chứ bài Thơ đó vẫn giữ giá "liên thành" mà từ xưa đã ấn định... qua đó cũng chứng minh "làm được một bài thơ toàn bích thật thiên nan vạn nan"... và cũng để nhủ thầm cùng bạn đồng thanh nên rộng rãi khi tuyển Thi, bởi ngọc nào cũng thường có tỳ vết.
  Thơ bà Huyện Thanh Quan còn truyền lại, bài được phổ biến sâu rộng nhất là bài :

              QUA ĐÈO NGANG
              Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
              Cỏ cấy chen lá, đá chen hoa.
              Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
              Lác đác bên sông rợ (chợ) mấy nhà.
              Nhớ nước đau lòng con Quốc Quốc,
              Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
              Dừng chân ngoảnh (đứng) lại : trời non nước,
              Một mảnh tình riêng, ta với ta.

  Các nhà Thi học đều khen là một bài thơ hay.
  Phạm Quỳnh trong một số Nam Phong ra năm 1917, phê bình : "Rằng hay thì thật là hay. Nhưng hay quá, khéo quá, phần nhân công nhiều mà về thiên nhiên ít, quả là một bức tranh cảnh vậy ".
  Trong bài Quốc Văn Diễn Giảng ngày 2/3/1939, Tản Đà tiên sinh viết :
"Thơ bà Huyện Thanh Quan, bài QUA ĐÈO NGANG, 2 câu tam tứ chúng ta thường nghe rằng : "Lom khom dưới núi, tiều vái chú / Lác đác bên sông, chợ mấy nhà". Mới đây tôi được nghe  một ông bạn thanh niên nói chuyện từng trông thấy một bản Chữ Nôm thời xưa chữ thứ 5 câu tứ (4) là chữ "rợ" chứ không phải "chợ". Tôi hỏi nữa thời nói : Nguyên văn viết  chứ "Nhân đứng" bên chữ "Trợ" . Như thế thì RỢ thực phải, mà RỢ đối với chữ TIỀU  mới cân, chỉnh hơn. Nhân nghĩ lại từ xưa, tôi riêng chê thơ bà Thanh Quan , văn tả cảnh không được sát thực lắm. Nay nghe  câu chuyện của ông bạn nói đó, mà tấm lòng đối với người trước, khinh trọng có thay đổi.
  Đọc mấy lời của Tản Đà tiên sinh, một túc nho đã từng qua lại Đèo Ngang là cụ Ngô Văn Nhượng ở Diên Khánh- Khánh Hòa nói rằng :
  "Dọc Đèo Ngang, một bên là núi, một bên là biển, chớ không có chợ, cũng không có sông. Cặp trạng trong bài thơ tôi nghe truyền là :
            Lom khom dưới núi tiều vài chú
            Lác đác trên dông rợ mấy nhà.
  Đứng về mặt thực cảnh thì câu "rợ mấy nhà" hơn câu "chợ mấy nhà". Câu "trên dông rợ mấy nhà" hơn câu "bên sông chợ mấy nhà". Song đứng về mặt văn chương, câu nào cũng không ổn đáng. Bởi vì vài chú tiều mà đảo trang thành "tiều vài chú"  thì rất xuôi tai, còn "chợ mấy nhà" (ai lại nói nhà chợ bao giờ?) "mấy nhà rợ" thì nghe thật trái tai (cũng như mấy nhà người Thượng - dân tộc thiểu số xưa- nói kiểu nay cho là miệt thị "man di mọi rợ") - NK xin bổ sung thêm là : Trước 1945, ta vẫn thường dùng "lính mọi - thơ Tố Hữu, "Mọi Kon Tum" - Les Bahnar de Kontum, cuốn về Dân Tộc học của Bác sĩ Nguyễn Kinh Chi.
  Huống nữa đề bài QUA ĐÈO NGANG mà cặp trạng không có gì là Đèo Ngang cả. Những cảnh vật "tiều lom khom dưới núi", "nhà lác đác bên sông" hay "rợ lác đác trên dông"... hễ nơi nào có nước, có non thì đều có, chớ có riêng gì Đèo Ngang ? Đã biết đây là Thơ tức cảnh, chỉ tả những gì chợt thấy trước mắt trong nhất thời, chớ không phải là Thơ tả cảnh hay vịnh cảnh mà phải nêu những cảnh đặc biệt và thường tồn của nơi mình tả mình vịnh. Tuy vậy, những gì mình thấy cũng phải mang một vài nét đặc biệt để khỏi lầm lẫn với những nơi khác. Chớ ở đây, muốn nói về con Đèo nào khác thì chúng ta chỉ bỏ tên ĐÈO NGANG thay tên con Đèo ấy vào thì "bức tranh cảnh" của ông Phạm Quỳnh trở thành bức trướng, đã thêu sẵn ở ngoài phố mua về điền vào lạc khoản, ngày tháng và tên tuổi của người mua, là có được một món quà hỷ lạ hay vật phúng điếu phổ thông.
   Được ca tụng nhất là cặp luận. Ca tụng cái khéo của sự chơi chữ "nhớ nước" đi với "Quốc Quốc". "Thương nhà" đi với "gia gia". Nhưng vì quá chú  tâm đến cái khéo mà không lưu ý đến chỗ vụng là hai chữ "mỏi miệng". Nhớ nước thì đau lòng là phải, chớ thương nhà sao lại "mỏi miệng" ? Hai chữ "mỏi miệng" vốn ngậm chứa ý nghĩa không tốt. Hai chữ đó thường dùng để tỏ lòng bất mãn vì lời nói tiếng kêu của mình không có hiệu quả, kêu không thấu, nói không ai nghe. Có gì đáng bất mãn trong việc "thương nhà " đâu mà phải thốt ra hai tiếng "mỏi miệng " ?
  Hai câu nhớ nước/ thương nhà không phải là hai câu độc sáng. Ý vốn toát nơi bài thơ chữ Hán của Trần Danh Án (bậc tiến bối đời Lê Trịnh) là lúc theo vua Chiêu Thống chạy sang Tàu lần thư nhất : Chúa một nơi/ Tôi một nơi :
    Giá cô tại giang nam
    Đỗ quyên tại giang bắc
    Giá cô minh gia gia
    Đỗ quyên minh quốc quốc
    Vi cầm do hữu quốc gia thanh
    Cô thần đối thử tình vô cực.
Bài thơ Tràn Danh Án (có trước) lời tự nhiên bình dị, tình lại chân thiết, thật dễ rung động lòng người đọc người nghe. Hai câu của bà Thanh Quan bị những nét tiểu xảo không mấy tinh vi làm giảm sức truyền cảm.
  Cho nên hai câu luận cũng như hai câu trạng bài QUA ĐÈO NGANG, không có gì đáng khen ngợi cho lắm.
 Thật đáng tán dương hai câu chuyển kết :
    Dừng chân ngoảnh lại trời non nước
    Một mảnh tình riêng ta với ta.
Cảnh bao la nơi Đèo Ngang và tình lẻ loi của người qua Đèo, gồm trọn vẹn trong 14 chữ  vừa điêu luyện vừa tự nhiên. Chính nhờ cặp chuyển kết mà bài QUA ĐÈO NGANG được bất hủ.
  Đọc bài Qua Đèo Ngang, tôi có cảm giác đi lên ngọn đồi trơ trụi, khô khan, khi tới đỉnh chợt thấy vọng cảnh rộng rãi xanh tươi, lại được một ngọn gió hương phảng phất.
  Nhưng các sách đã xuất bản từ trước đến nay đều chép là "Dừng chân ĐỨNG lại" cho nên câu thơ đã bị chế diễu là "giờ tí canh ba" . Nay đưa "châu về Hợp Phố" thì câu thơ đã không có chữ vô dụng mà ý thơ lại gia tăng "Qua khỏi Đèo không nỡ dứt tình đi luôn mà phải "Dừng chân ngoảnh lại" .
       -----
Làng Mọc Quan Nhân (quê Đặng Trần Côn) 2 giờ sáng 13/3/2017
nhân thức dậy đọc bài"Luận về chữ ĐỨNG..." của Lang Trương - Đà Nẵng...
Nguyễn Khôi xin chép lại một đoạn trong "Hứng phấn nâng hương" Thi Thoại của Thi hào Quách Tấn để các Bạn Thơ cùng đọc mà ngẫm nghĩ... cho vui.
Kính : NGUYỄN KHÔI (Nhà văn Hà Nội)
            
READ MORE - NHÀ THƠ QUÁCH TẤN VIẾT VỀ BÀI THƠ "QUA ĐÈO NGANG" CỦA BÀ HUYỆN THANH QUAN - Nguyễn Khôi