TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Monday, October 3, 2016
TÌNH VĂN THỜI CHIẾN - Hồi ký của Lâm Bích Thủy

Nhà thơ Yến Lan
TÌNH VĂN THỜI CHIẾN
Hồi ký của Lâm Bích Thủy
Tôi cứ muốn ngược dòng thời gian để được trở
lại những năm 50 thế kỷ XX. Khi ấy tôi là cô bé sáu, bảy tuổi. Giờ, dù đã gần
70, trải qua chiến tranh chia cắt hơn nửa đời người; bạn bè của cha lần lượt rủ
nhau đi vào lòng đất! Song, rất lạ, tâm trí tôi
luôn nhớ về cái thời trẻ trung của họ. Từng khuôn mặt, giọng nói, cử chỉ
của các chú, lần lượt lướt qua tâm trí tôi:
Thuở
ấy, gia đình tôi bị qui là Tiểu tư sản
thành thị. Trong ngôi nhà tranh, vách đất, nền có chỗ tráng xi măng, có chỗ
là nền đất nhưng lâu ngày đi lại trở nên
láng coóng. Diện tích nhà khoảng 100m² chia làm 3 gian, hai chái. Trong nhà có
ba má, và bốn chị em (hai gái, hai trai) luôn có tiếng cười vui vẻ. Hôm nào
cũng có chuyện quan trọng để người lớn chia sẻ. Bởi chính nơi đây, là điểm hẹn
của văn hóa – các chú nhà thơ - bạn của ba tôi.
Tôi thấy chú nào cũng
đẹp trai, vui tính và tóc họ ánh lên màu xanh của tuổi trẻ. Dăm bữa, nửa tháng
tôi nhìn thấy mái tóc dày, bùm xum, cặp mắt to tròn, ngơ ngác như nai của chú
Nguyễn Thành Long. Nhà chú ở Qui Nhơn nhưng chú thường có mặt ở nhà tôi để bàn
chuyện văn và chuyện đánh Tây với ba. Ông Phạm Xuân
Cang - cho biết, chú Long có tác phẩm “Ta
và chúng nó” hay lắm; được in ngay tại thị trấn của tôi! Ông nói: - “Thị
trấn lúc đó, sống đời nô lệ, thiếu thốn, nhưng đã có Nhà in thì thật là quí!”
- Tôi cũng thường gặp chú Nguyễn
Đình. Nghe
nói “người một mắt hung lắm. Mà chú
Đình lại
có một mắt phía trái, mắt phải của
chú chỉ có lòng trắng thôi; song tính tình chú lại vui vẻ dễ gần nhất. Quê chú
ở tận Hội An - Quảng Nam. Xa thế mà tiếng cười của chú luôn rộn lên ở nhà tôi.
Có lẽ, vì quí cái tình của ba tôi mà chú thương chúng tôi như con .
- Chú Trinh Đường (Trương Đình) người to bè
bè, cao lớn, mạnh mẽ; chú cười nghe có âm khà khà, dòn như bắp rang. Chuyện của chú bao giờ cũng làm cho người
nghe cười đến ngã ngữa, bọn trẻ thì tè ra quần .
- Chú Nguyễn Khoáng (tức Mịch Quang). Có ai
ngờ rằng, sau này chú là dượng chồng của
tôi. Khuôn mặt chú xương xương, đặc trưng của người xứ nẫu; da trắng, mắt sáng,
hao hao giống ba. Với tôi, thì ba đẹp hơn chú chút đỉnh! Đi đâu chú cũng đem
theo máy ảnh. Chính những bức ảnh còn giữ được đến giờ là nhờ tài chớp đúng
khoảnh khắc đời thường thời đó
Ảnh: từ
trái sang: Nguyễn Đình, Yến Lan, Mịch Quang
Chú bé đội nón, mặc đầm là nhà thơ Lâm
Huy Nhuận
Chị
em tôi, đứa nào cũng thích chú Phạm Hổ và chú Khánh Cao. Hai chú hiền, chịu khó
chìu chuộng lũ nhóc con chủ nhà. Chú Khánh còn gọi tôi là “cái nấm của chú” nghe thích lắm cơ! Sở dĩ người ta gọi chú là
“Khánh cao”, bởi, chú cao quá cở so với chiếc võng gai nhà tôi. Nó chẳng vừa
đầu vừa chân của chú. Mỗi khi nằm lên đó, đầu và chân chú bao giờ cũng thòi
ra ngoài. Thế mà lúc nào đến chơi, chú cũng chỉ nằm trên võng nói chuyện. Thi
thoảng chú đứng làm trụ, nắm tay chúng tôi xuay quanh chú, làm
chúng tôi cười thích chí...
- Chú Phạm Hổ nhỏ hơn ba tới 9, 10 tuổi; nhưng
bình đẳng và thân mật với nhau lắm cơ. Má tôi kể:
Một hôm, từ ngoài cửa bước vào, quẳng chiếc
xà-cột xuống phản, chú Hổ lại gần má thì thầm “Chị Bảy, nhà còn gì cho em ăn
với, em đói bụng quá?”. Má tôi cười khì vì vẻ mặt thật thà của chú, và nói:-
“Chỉ còn
it cơm nguội với mắm ruốc thôi, chú ăn chứ?
Mắt
chú sáng rỡ: “Tốt quá rồi chị ạ!”, má tôi xuống bếp, xới bát cơm nguội và dích
cục mắm ruốt đỏ tươi, lên đưa chú. Má bảo: “hôm ấy, nhìn chú Hổ ăn cơm nguội
với mắm ruốt sống trông ngon như vua ăn sơn hào, hải vị vậy”.
-
Chú Vương Linh (tên thật Lê Công Đạo), ít đến nhà, song, tôi nhớ nét mặt, tính
cách chú: Người tầm thước, đậm đà, khuôn mặt hơi chữ điền, da ngăm đen, khỏe
mạnh. Tính chú trầm. Vợ chú có đôi mắt màu xám tro, hình như có mang ¾ dòng
máu Tây (tức F2)
-
Chú Hoàng Châu Ký với khuôn mặt chữ điền, nghiêm nghị. Dường như chú nào mặt
chữ điền cũng đều nghiêm, không thích đùa với trẻ con thì phải! Chú ít cười,
lúc nào cũng như bận việc. Chúng tôi không dành chú cho riêng mình. Suýt nữa
chị em tôi để mất túi xách áo quần của chú gửi ở nhà.
Đó là dịp chú đi công tác đến Bình Định, ở
nhà tôi ba, bốn hôm. Túi xách chú đặt dưới gối, trên đầu phản. Chiếc phản có 4
tấm gỗ mun, lên nước bóng lộn. Ba đặt nó cạnh cửa sổ. Ngôi nhà tranh nhờ bộ ván
này tăng thêm phần sang trọng cho nhà tôi so với nhà hàng xóm.
Đó là của
hồi môn mà ông nội cho ba khi lấy vợ. Ba để bộ ván này đón khách xa hay bạn bè
công cán về Bình Định nghĩ qua đêm.
Một chiều nọ, chú Hoàng
Châu Ký đến nhà; rồi sang hôm sau ba và chú đưa nhau đi đâu đó, cón má thì bế
Nhuận sang “Hội chị chiến sĩ”. Trước
khi đi, má dặn: “mấy đứa (tôi, Tú,
Ánh, đang chơi đồ hàng dưới bóng cây trứng cá) trông nhà, má đi chút xíu về”. Liền sau đó, một anh trai đến bên
tôi nài: “Em ơi, cho anh xin gáo nước
uống.” Tôi quay đầu lại, nhìn anh. Thấy anh có nước
da xanh mét, bụng ỏng, vẻ bệnh hoạn, tôi ngại, nhưng ham chơi, không thể bỏ để
đi lấy nước cho anh, tôi bảo: “anh xuống
bếp mà uống, em mắc chơi.” Một
lát, bỗng nghe tiếng thất thanh của má “Này
cậu kia, đứng lại”. Má tôi đang trên đường về, ngạc nhiên thấy từ trong nhà
mình có người lạ, lù lù bước ra với cái bụng to như đàn bà chửa sắp đẻ. Bà lật đật
đặt thằng Nhuận xuống, lao tới, giữ chặt cánh tay anh trai, lôi từ bụng ra ba
bộ quần áo:
- Ôi trời! đồ của chú Ký đây mà, tụi nhỏ ham
chơi quá, má về kịp chứ không thì biết
nói sao với chú!
Hàng tháng, lúc thì chú này, bác kia tới, nhà
không mấy khi vắng bóng khách thơ. Đôi khi các chú cùng đến một lúc, để bàn
việc trọng đại gì đó và rủ ba đi công cán. Tôi sợ nhất là khi
các chú lôi ba đi vào lúc má đi mua bán xa nhà.
Hễ thấy ba tỏ ra bận rộn, thu xếp mọi việc là
tôi ngay ngáy lo! Này nhé, nách trái ba bế thằng Nhuận, tay phải dắt thằng Ánh
xuống gửi bà ngoại, còn tôi và Tú Thủy thì ba dẫn ra nhà cô Bốn, chỉ vào chúng
tôi dặn anh Can: “cháu giúp cậu, tối tối vào nhà ngủ trông dùm nhà và hai em;
cậu đi công tác vài hôm.” Rồi, người lớn đi hết! chỉ còn hai chị em. Anh Can
ngủ nhà ngoài, chị em tôi ngủ trong buồng, chưa sáng đã lén bỏ chị em tôi để về.
Cứ nghe tiếng cót két là chúng tôi lòm còm bò dậy theo,
đợi anh đi, lôi nhau ra võng ngồi; vừa đung đưa đôi
chân vừà hát “ta là bộ đội, ta là công an
đây”, để dọa cho ma sợ.
Chả
là lũ trẻ hàng xóm thấy ba má tôi vắng nhà đã dọa chúng tôi nhiều thứ. Nên chị em tôi, cả
hai đều nhất cử, nhất động. Đứa này đi tiểu đứa
kia phải đi theo. Sáng thì ra chợ mua bánh xèo vỏ, bánh ú, nem
cuốn ăn. Đứa nào thích gì tự lo, ba đã dặn kỹ rồi.
Nhà tôi đối diện chợ Gò Chàm. Chợ nghèo lắm,
chỉ có túp lều tranh lụp xụp, núp dưới bóng những cây gòn cao to. Năm bữa có
một phiên. Ngày phiên, người nông dân đem đến đây các loại nông sản, gia súc,
gia cầm, vải, bông. Người Gia-Lai, Ê-Đê với làn da đen nhẻm, khét nắng, nồng
nặc mồ hôi vì lâu không tắm. Cứ mỗi lần xuống chợ họ
để lại những sản phẩm của núi rừng: rễ cây thuốc, cao khỉ, măng, củi, than và
mua về buôn làng heo hút nào muối, kim chỉ, hạt cườm, dầu dừa v.v... Đấy, Phố
huyện chỉ vào ngày phiên mới đông vui, nhộn nhịp, các ngày khác, cuộc sống trở
lại đìu hiu vắng vẻ. Ai đã từng sống ở đây mới thấm thía cảnh sống của người
tỉnh lẻ qua bài thơ “Lại về tỉnh nhỏ”
của ba tôi:
Tỉnh nhỏ
Đìu hiu
Mặt trời ngủ giữa chiều,
Trở mình trên mái rạ,
Cây đứng nép bên đường,,
Tay xương nắm lá,
Như tay người đưa thư,
Áo vải tây vàng hai vai đã vá
Đi giữa đường mấp mô
Không có kẻ đợi chờ
Đôi chiếc xe dụm đầu ngái ngủ
Tỉnh nhỏ…
Cô em
Nằm xem
“kiếm hiệp” …
Bạn của ba nhiều lắm, tôi thấy gặp ai ông
cũng vui vẻ, thân thiện. Ông thuộc cử chỉ, tính cách, giọng nói từng người;
giữa đêm khuya, tiếng gọi cửa khe khẽ “Yến
Lan ơi, mở cửa cho mình với!”
ông nhận ra “Tế Hanh đó à”, hay tiếng
cười đều đều cùng thanh trầm của chú Nguyễn Thành Long, hoặc giọng trữ tình của
chú Phạm Hổ. Tấm thịnh tình của ba đối với bạn lan tỏa sang cả chúng tôi. Chúng
tôi mãi nhớ những dấu ấn về họ! Tôi cảm nhận được tình bạn trong sáng, chân
thật, không so đo, sáo rỗng ở họ. Đó là cơ sở, là nguồn tư liệu quí để tôi viết
nên chân dung người thi sĩ Yến Lan-cha tôi vào hồi ký này.
Lâm Bích Thủy
CHIỀU LẠ - Thơ Đặng Xuân Xuyến

CHIỀU LẠ
(Tặng L.L)
Sợ đêm về
quẩn gió
xáo xác khuya
Cố vét vớt nắng chiều rơi trên lá
Chênh chao thể nụ cười nhòe áo lạ
Te tẻ chiều
nhớn nhác
nhón chân qua.
Hà Nội, chiều 02 tháng 10.2016
Đặng Xuân Xuyến
NHỮNG NGÀY Ở KHÁNH HỘI - Thơ Nguyễn An Bình
Nhà thơ Nguyễn An Bình
NHỮNG NGÀY Ở KHÁNH HỘI
Nhìn cao ốc ngày mọc lên như nấm
Đời cứ trôi theo từng bước chân quê
Đi một chút đường như bàn cờ trận
Lạc qua sông không thấy lối quay về.
Tiếng búa máy len vào trong giấc ngủ
Đêm nằm mơ thấy mây khói quê nhà
Tôi xa lạ giữa Sài Gòn trăm ngả
Nhà tầng tầng nuốt mất khoảng trời xa.
Ngày vẫn đi bánh xe đời vẫn chảy
Nước qua cầu ai biết được về đâu
Đèn vẫn sáng Sài Gòn dường không ngủ
Tiếng rao dài nghe hun hút đêm sâu.
Thương biết mấy những mảnh đời hạ bạc
Trên dòng kênh trôi nổi kiêp thương hồ
Mui nhiều màu xác xơ bờ Kênh Tẻ
Bao phận người chấp vá những ước mơ.
Mưa theo tôi suốt những ngày Khánh Hội
Tàn lá xanh đâu kể hết buồn vui
Thèm một chút khói sương trời quê cũ
Dòng sông xưa chỉ còn lại ngậm ngùi.
Nguyễn An Bình
2-10-2016
HIỂU LẦM - Truyện ngắn của Thủy Điền
Tác giả Thủy Điền
HIỂU LẦM
(Tặng cô NNL để thay lời xin lỗi)
Một chiều mùa hạ 1980.
Sau khi
tan học và cũng là ngày cuối tuần, tôi có rủ cô bạn gái học chung cùng khóa
người Quảng Nam về nhà tôi chơi, nhà tôi thì gần trường còn cô thì ở tận miền
trung xa xôi. Vừa về đến nhà, mẹ
tôi rất mừng rỡ vì thấy con mình bây giờ cũng có đôi, có bạn như người ta. Cô
thì đẹp gái, nói năng nhỏ nhẹ nên mẹ tôi có vẻ thích lắm, đến nổi trong nhà có
món gì ngon, quí bà đều mang ra mời cô ăn. Tôi vui mừng và hãnh diện lây gì cô
được mọi người đón tiếp một cách nồng hậu. Khi trời vừa sụp tối, là lúc mọi
người bắt đầu đi ngủ. Cô hỏi tôi ? Anh
Mèo ơi, anh Mèo, tối nay mình ngoẻo ở đâu. Vô Tình mẹ tôi ngồi gần đó
nghe được, bà rất tức giận, vì tôi tên là Màu mà tại sao cô gọi tôi là anh Mèo
và đi ngoẻo. Thú thật thì những câu hỏi hay gọi tên tôi, tôi nghe hàng ngày nơi
trường lớp và cũng quen đi, hồi đầu, có lúc tôi cũng giận và tự ái vô cùng.
Nhưng giọng của cô ta là như thế không thể nào sửa khác đi được, nếu không muốn
nghe nữa bằng cách là xù cô ta thì mới thoát khỏi được, đàng nầy ngược lại càng
lúc tôi càng gần cô hơn và thích nghe những lời trọ trẹ dễ thương ấy. Vừa nghe
cô nói xong, bà gọi tôi vào ngay. Tôi hỏi ? Có chi đấy mẹ. Bà bảo.
-Ngày mai mầy làm ơn, làm
phước dẫn con nhỏ nầy đi cho khuất mắt tao, tao không muốn nó gọi mầy với cái
tên thú vật như vậy và những lời trù ẻo mầy trước mặt tao.
-Tôi biết tính mẹ tôi nên
vâng vâng , dạ dạ cho êm xuôi.
Trước
phòng khách tôi nhìn bà ngồi với khuôn mặt khó chịu vô cùng. Cô hỏi tôi có
chuyện gì xảy ra? Tôi bảo không có gì và dặn cô có hỏi tôi thì nên hỏi nhỏ, chứ
ban đêm nói lớn tiếng mẹ tôi rầy vì tính bà xưa nay như thế. Cô gật đầu và làm
theo ý tôi.
Năm 1977 tôi
thi đậu vào trường Thủy lợi và cô cũng thế, chúng tôi học chung được một năm và
bắt đầu quen nhau. Những lần đầu quen nhau, hò hẹn những lời tôi nói ra dường
như cái gì cô cũng nghe rõ và hiểu cả, nhưng riêng đến bận tôi, cô nói tôi
chẳng hiểu cô muốn nói gì, cứ gật đầu vâng vâng cho qua lệ, vì sợ cô giận.
Nhưng rồi ngày tháng cũng quen và hiểu dần nên tôi càng thấy thương cô nhiều.
Có lần cô hát cho tôi nghe bài hát mà tôi quên tựa là gì (Bởi lâu quá) Và chỉ
còn nhớ câu „Không có en bầu
trời như không có nén „ Cô
hỏi tôi? Cô hát hay không, tôi ừ ừ, hay lắm, nhưng thầm trong bụng hay cái gì
mà hay, người ta hát „Không có em bầu trời như không có nắng“ Ai nào en với nén
là cái gì. Nói là nói vậy, lòng tôi vẫn yêu cô vì cô có một nhan sắc khá khỉnh
và giọng nói dễ thương, êm dịu, cuốn hút tôi. Mấy người bạn tôi hay trêu „ Anh Mèo ơi anh Mèo, em bảo anh
en, nếu anh không en em tắt cái đèn đi ngoẻo, tối lỡ có đói đừng mén em nhé. Tôi chỉ cười và chấp nhận thương đau.
Năm thứ ba là
năm học cuối cùng, tôi và cô tính chuyện lâu dài hơn, nên tôi mời cô về nhà tôi
để cho mẹ và các em tôi làm quen, biết mặt. Hy vọng mọi người sẽ chấp nhận tình
yêu của chúng tôi. Và, có thể tôi và cô sẽ tiến xa thêm bước nữa. Ai ngờ! Chỉ
một lời nói, sự hiểu lầm mà mẹ tôi đã khướt từ và nghĩ xấu về cô thật là đáng
tiếc. Thời gian- nối tiếp thời gian đến ngày ra trường, cô về quê, đi nhận
nhiệm sở, tôi cũng về quê, rồi lên đường nhận công tác mới và từ đó chúng tôi
đường ai nấy đi cho đến hôm nay mà không một lời từ giả cũng như chưa lần gặp
mặt.
Thương tôi, thương phận má
hồng
Vô duyên số kiếp nên đành
xa nhau
Bao năm thề nguyện bền lâu
Khi xa mà chẳng một câu giả
từ.
Thủy Điền
01-10-2016
Sunday, October 2, 2016
ĐỨA CON HOANG (tiếp theo) - Truyện dài nhiều kỳ của Hồng Tâm

Tác giả Hồng Tâm
ĐỨA CON HOANG (tiếp theo)
Truyện dài của Hồng Tâm
Mười năm sau tại quận San Francisco !
Nó giờ trở thành một thiếu nữ xinh đẹp ba mẹ
nuôi đặt tên nó là Jessica My. Hôm sinh nhật, ba mẹ tặng My một chiếc nhẫn hột
xoàn thật đắt tiền, nhưng My từ chối nói rằng :
- Thưa ba mẹ, ba mẹ cưu mang con hơn mười năm
trời, con chưa đền đáp, chiếc nhẫn đẹp thật, nhưng con không nhận món quà này ạ
!
Ông Pit ngạc nhiên hỏi :
- Con chê món quà ba tặng con à ?
My đáp :
- Dạ không ! Con nghĩ rằng con rất may mắn được
ba mẹ yêu thương con, nuôi con ăn học, nếu ba mẹ yêu thương con thì ba mẹ cho
con trở về quê hương thăm mẹ ruột con, đốt một nén nhang cho mẹ, con sẽ trở về
thăm cô nhi viện nơi ngày xưa con ở, con không thể quên các mẹ, các chị em
trong viện, mong xin ba mẹ hiểu cho con
!
Ông bà Pit nghe con mình nói thật xúc động, bà
nói :
- Okay! ba mẹ đồng ý cho con về Việt Nam !
My mừng nhảy lên nói:
- Hoan hô ba mẹ, cám ơn ba mẹ nhiều !
Nói xong tặng ba mẹ một nụ hôn trên má
Khi chiếc máy bay vừa hạ cánh, My nhìn xung quanh gọi chiếc taxi chở về cô nhi
viện
Mười năm ở Mỹ, về Việt Nam thấy quê hương mình thay đổi nhiều, những
con đường, góc phố, rộng thênh thang, nhà cao tầng, biệt thự mọc lên như nấm
và cô nhi viện cũng thay đổi đôi chút.
Vừa đến cổng các em nhỏ nhìn My chằm chằm, vây quanh nàng. Một em hỏi :
- Thưa chị , chị tìm ai ạ ?
My nói :
- Cho chị hỏi mẹ Phạm Thị Chi còn ở đây không em ?
- Cho chị hỏi mẹ Phạm Thị Chi còn ở đây không em ?
Em bé reo lên :
- Dạ có ạ, để em gọi mẹ ra
Theo em nhỏ vào gặp một phụ nữ, vẫn đôi mắt,
khuôn mặt, dáng quen thuộc, nhận ra mẹ Chi của My, người từng chăm sóc, dạy học đây. Ôi thời gian, mẹ đã già !
My quỳ xuống xin lỗi mẹ, ôm hôn mẹ Chi sau mười
năm xa cách.
Mẹ Chi kêu nàng rửa tay nghỉ ngơi cho khỏe, mẹ
không quên dọn phòng cho nàng nhưng nàng từ chối nói : tối nay con ngủ với mẹ
nhé !
Mặc dù là con nuôi của gia đình tỷ phú giàu có
ở quận San Franciso nhưng My rất thương người, nàng không giống như bao bạn bè
cùng trang lứa ăn diện, họp đêm. Nàng tự làm thêm để kiếm thêm tiền dự định về
Việt Nam làm từ thiện.
Nàng học ngành kinh doanh của một trường đại học
có tiếng ở Mỹ, vốn thông minh, tư duy nên nhiều bạn theo nàng để học hỏi.
Nàng mở ví lấy 1000.USD, số tiền nàng dành dụm
bấy lâu nay, công sức từ mồ hôi nước mắt của mình, trao cho người quản lý cô nhi viện, nàng nói
:
- Thưa các mẹ, các chị em, nay My trở về Việt
Nam thăm mẹ, bạn bè .Nhân đây, con trao số
tiền này để đóng góp một phần lo cho các em, mong nhận lấy ạ !
Mẹ Chi xúc động cầm tay nàng nói :
- Mẹ cám ơn con nhé !
Nàng xin phép mẹ Chi mượn xe gắn máy đi lên chùa đốt
nén hương cho mẹ, nàng nói :
- Mẹ à , con là My của mẹ đây ! Con về thăm mẹ,
dù xa quê nhưng tim con mãi nhớ nơi con sinh ra, lúc nào con vẫn nhớ mẹ . Ba mẹ
nuôi rất thương con, lo cho con ăn học đàng hoàng, vài năm con ra trường con
xin ba mẹ nuôi về quê hương lập nghiệp.
Thăm quê chỉ vọn vẹn mười ngày nhưng nàng vui
vì được gặp lại mẹ Chi, bạn bè cũ, mở tiệc liên hoan ca hát, bày trò để các em
vui. Nàng thức cùng mẹ chăm sóc em bé mới
sinh bị cha mẹ bỏ rơi.
Ngày lên đường sang Mỹ, mẹ Chi và các em vây
quanh nàng khóc, nàng hứa nay mai sẽ về sau khi làm lễ tốt nghiệp ra trường.
Nàng nói là nàng sẽ làm ...
Máy bay hạ cánh vào lúc 1h trưa theo múi giờ ở
Mỹ, nàng nghĩ chắc giờ này bên Việt Nam mọi người đều ngon giấc, cơn bão mấy
ngày nay chưa dứt, mưa gì đâu mà dai thế ? Nàng lấy cuốn nhật kí ghi chép :
"Thật vui khi về quê hương gặp lại mẹ
Chi, bạn bè mình ngày xưa, dù chưa đi thăm hết con đường , mười ngày là mười
kỷ niệm khó quên trong đời mình, nợ ơn ba mẹ nuôi suốt đời tôi không quên"
Rồi nàng dịch sang tiếng anh pots lên facebook
của mình:
"Nice to see you home mom Chi, his old friend, though not all the way to visit, ten days is ten unforgettable memories in my life, thanks debt lifelong adoptive parents do not forget"
"Nice to see you home mom Chi, his old friend, though not all the way to visit, ten days is ten unforgettable memories in my life, thanks debt lifelong adoptive parents do not forget"
Nàng vui vẻ hét vang lên: Tôi yêu quê hương tôi - hẹn ngày gặp lại ! ( I love my hometown - see you again ! )
Tới giờ hẹn một người bạn ở phố Wall thuộc tiểu
bang New York để bàn chuyện tư vấn kinh doanh, vì môn học của nàng có liên
quan đến ngành công nghiệp may mặc. Dự định trong tương lai nàng sẽ thiết kế
trang phục đưa sản phẩm ra thị trường Á - Âu.
Ngồi trong quán cà phê nghe nhạc Trịnh thư
giãn thì anh bạn thân đi tới :
_ Em chờ
anh lâu chưa ? xin lỗi vì có cuộc gọi nên anh đến hơi trễ, cà phê nhé !
Rồi anh vẫy tay gọi hai ly cà phê đen, nàng lấy
laptop ra cho anh xem những đường vẽ thiết kế mẫu áo khoác, những mẫu giày thể thao đưa anh xem tư vấn
thêm. Nàng vẽ khéo, những đường cong bên sườn mẫu áo nữ, những mũi giày hơi
nhọn, vẽ đế giày chính xác mẫu ni từng size, anh xem gật đầu nói: okay !
Nhiều cuộc hẹn nên cả hai thích nhau rồi từ
tình bạn chuyển sang tình yêu, cả hai cảm thấy giống nhau một điểm là đam mê học
hỏi về lĩnh vực thời trang thiết kế . Đi bên anh, nàng cảm thấy mình được chở
che , nắm bàn tay ấm áp, mềm.
Gia đình hai bên mong muốn cả hai hạnh phúc
yêu thương thật lòng , dự tính ra trường làm đám cưới , nhưng nàng nói : còn trẻ
quá , chờ sự nghiệp vững chắc mới tính
sau.
Dù sống bên Mỹ nhưng nàng vẫn giữ mình không
dám sống thử trước hôn nhân, tránh vết xe đỗ của mẹ , không muốn cả hai thiệt
thòi.
Ngày lễ trao bằng tốt nghiệp, nhà trường mời
ba mẹ nàng dự lễ, nàng đạt điểm cao nhất trong ngành học, có cả anh Victory,
người yêu của nàng tới dự.
Ông bà Pit hạnh phúc vì đứa con nuôi học giỏi
không phụ lòng ông bà. Ông nói :
- My à, giờ chuyện học xong con tính làm ở
đâu ? Xa hay gần ? con nói cho ba mẹ sắp xếp , công ty ba cần người có năng lực
như con, sẵn đây ba nhận Victory làm nhân viên phỏng vấn, con thấy sao?
Nàng trả lời :
- Con cám ơn ba ưu ái cho chúng con, con nhận ạ, còn anh Victory sao ạ ? đồng ý không ?
Thật ra nàng đã tính sẵn là thử việc bên đây
thời gian cho ổn định mới về Việt Nam, nếu bên đây thất bại thì ở quê nhà cũng
vậy thôi ! Việc này nàng chưa nói với ba mẹ vì sợ họ sốc nặng !
Ngày đầu tiên đi làm nàng hồi hộp vô cùng vì
ông Pit sắp xếp nàng vô ngành may, chức vụ ca trưởng ( quản đốc ) phân xưởng
hai . Đây là buổi đầu thử việc.
Nàng lăng xăng ôm đóng áo đầy chỉ nhờ công
nhân đẩy hàng giao cho công nhân cắt chỉ rồi đem vào khu tẩy và sấy , công việc
không nặng lắm, nhưng lo vì quản lí cả trăm người công nhân, mỗi người mỗi ý ,
nên nàng ôn hòa giữ khí không la lối người làm công , vì nàng cũng làm mướn cho
ba nuôi mình, nàng hiểu !
Nhiều lúc hơi bực mình vì tổ trưởng lên mặt ,
cho rằng nàng ỷ là con ông chủ, ôi ! Nàng có bao giờ ỷ đâu ! kệ
Chỉ thử việc một tháng mà người nàng gầy đi vì
lo xuất hàng, kèm tăng ca đêm, dù là quản đốc nhưng nàng vẫn làm như mọi người, cũng cắt chỉ, tẩy hàng... để kịp xuất hàng ra nước ngoài.
Hằng tháng tới lương, My không quên bỏ ống tiết
kiệm để gửi về Việt Nam, một nơi mà cô nương náu khi mẹ ruột mình mất . Đêm đến
nàng xem lại cuốn nhật ký của mẹ mình, đọc lại nghe nhói. Nàng mong gặp cha
ruột mình, dẫu sao người cũng có công tạo ra mình. Còn sống hay mất ?
Và dạo này sao anh Victory không sang chơi với
mình kìa ? Chắc anh bận rộn!
(Còn nữa)
26/09/2016
Hồng Tâm
GẶP LẠI THẦY CŨ - Tạp văn của Nguyễn Tiễn
Anh Nguyễn Tiễn, CHS trường Trung Học Nguyễn Hoàng, khối lớp 1957 - 1964 đang bệnh nặng và nằm điều trị tại Bệnh Viện Đa Khoa Đông Hà, anh đã gửi bài viết này đến thầy Hoàng Đằng. Mời quý thầy, bạn cùng đọc.
Anh Nguyễn Tiễn đang điều trị tại bệnh viện
GẶP LẠI THẦY CŨ
Bài viết của Nguyễn Tiễn
Cuộc chiến tàn khốc đã cướp đi một chân của tôi – tôi bị tháo chân ngang gối. Cuộc chiến tàn, với chiếc chân giả cũ kĩ khi đi ra ngoài, với đôi nạng gỗ xộc xệch khi lui tới trong nhà, tôi cũng phải kiếm một việc làm để tồn tại.
Thời ấy, Đông Hà là một thị xã mới tạo dựng, phần lớn dựa vào vùng đồi phía Tây Nam của thị tứ cũ. Mọi công trình còn ngổn ngang, chưa đâu vào đâu. Tuy nhiên, Đông Hà trước đó là căn cứ của quân đội Mỹ, và với lợi thế nằm ở ngã ba Quốc Lộ 1 và Quốc Lộ 9 gặp nhau, dân tứ xứ đổ về đây lập nghiệp càng ngày càng đông: người thì đào hố rác Mỹ, người thì buôn bán với tài xế xe miền Bắc qua về nước Lào. Việc con buôn và hàng hóa di chuyển bằng xe thồ có nhu cầu lớn; thế là tôi liều mình hành nghề “xe đạp ôm”. Để khách không thấy khuyết tật nặng của tôi mà yên tâm, tôi mang quần rộng che cẳng chân, giày tất che hai bàn chân.
Đang chậm rãi đạp xe lên con dốc thoai thoải để đến bãi xe quá cảnh C5, tôi thấy xa xa trước mặt một người có hình vóc và dáng dấp trông rất giống thầy Thị ngày xưa của tôi. Thầy đang thong thả đi bộ . Tôi tăng tốc xe. Đến gần, đúng là thầy Thị kính yêu ngày nào.
- Em chào thầy. Em là Nguyễn Tiễn; năm học 1960 – 1961, em học lớp đệ tứ 1. Thầy dạy lớp em môn Toán. Em là bạn thân của Lê Đình Ân, em của cô. Em và Ân học chung lớp từ lớp năm đến lớp đệ nhất. Học trò của thầy đông, nên chắc thầy không nhớ em. Tôi nói luôn một mạch làm thầy không kịp hỏi han. Thôi, thầy lên đây em chở.
Thầy nhìn tôi từ đầu xuống chân (1) rồi nói lời từ chối:
- Chân cẳng rứa, chở răng được! Thầy nặng lắm, nửa tạ có dư. Em chở không nổi mô! Thôi, thầy đi bộ cho khỏe người.
Tôi dắt xe bước theo năn nỉ:
- Thì thầy cứ để em chở, mặc dù chân cẳng như ri, em vẫn đạp xe khỏe re. Em là “dân xe đạp thồ” chính hiệu đây mà!
Cuối cùng, thầy xiêu lòng:
- Được, để coi em có chở nổi thầy không?
Thầy trò đang ở giao điểm đường Lý Thường Kiệt và đường Hàm Nghi. Từ vị trí này đến công ty ô tô 1 tháng 5, nơi thầy làm việc trong vai trò kế toán, đường dài khoảng 1 km. Bấy giờ, đường Lý Thường Kiệt chưa ra đường. Mặt đường là đất đỏ, chiều dài đường có dáng dấp hình yên ngựa vòng xuống ở giữa rồi lên dốc thoải phía hai đầu; đỉnh dốc đầu này là nơi thầy trò đang đứng và đỉnh dốc phía đầu kia là công ty 1 tháng 5. Hai bên đường, um tùm cỏ ống và cây dại, đây đó trồi lên cao một vài cụm muồng và bụi hoa mua (dân thường gọi là cây me). Cây hoa mua gần giống cây sim, hoa mua cũng màu tím như hoa sim, trái mua giống trái sim chỉ khác là cứng hơn và vỏ được phủ một lớp lông tơ. Sau này, tôi biết người ta đã dùng hạt trái mua để chế biến trà thanh nhiệt.
Ban đầu, xe xuống dốc, tôi chỉ cần ấn bàn đạp nhè nhẹ là xe lao vùn vụt, tôi không tốn hơi sức. Tôi huênh hoang với thầy:
- Đó, thầy coi em nói có sai đâu! Thầy ngồi trên xe mà em đạp khỏe re.
Thầy ngồi sau, nói như thách thức:
- Chà, trạng dữ hè! Để coi khi lên dốc phía trước xem sao!
Xe bắt đầu lên dốc, tôi gồng mình đạp, xe khó khăn lên được nửa dốc; còn khoảng 200 mét nữa tới đích, tôi cố hết sức nhưng xe chỉ nhích chút chút. Tay lái tôi loạng choạng, hơi thở tôi dồn dập.
Thấy vậy, thầy cảm thương nói:
- Thôi, để thầy xuống. Hết trạng chưa?
Xuống xe, thầy nhìn tôi, mắt nhấp nháy nhiều lần, ánh mắt lộ nét yêu thương như muốn chia sẻ nỗi khổ của người học trò cũ cụt chân mà thời thế khiến xui phải sinh nhai bằng nghề xe đạp thồ.
Thầy tiếp tục đi bộ tới nơi làm việc. Tôi cứ đứng, thở hổn hển và dõi mắt theo bước đi của thầy. Trong lòng tôi tự dưng xuyên ngang một nỗi buồn miên man.
Chuyện tôi gặp lại thầy Thị sau một thời gian dài xa cách xẩy ra vào một buổi sáng đầu hè một năm nào đó – xin lỗi tôi đã quên – trong thập kỷ 1980. Học trò gặp lại thầy cũ là bình thường; nhưng sao lần gặp ấy tôi cứ nhớ mãi, có lẽ nhớ đến khi tôi nhắm mắt lìa đời mới thôi./.
Nguyễn Tiễn
07/5/2014
Saturday, October 1, 2016
«HÀ NỘI QUÊ TÔI» - MỘT TỨ THƠ LẠ, ĐỘC ĐÁO - Nguyễn Khôi

Nguyễn Khôi và Lê Mai
«HÀ NỘI QUÊ TÔI» - MỘT
TỨ THƠ LẠ, ĐỘC ĐÁO
« Tạo hóa gây chi cuộc hý trường » ?
Thơ về Thăng Long- Hà
Nội xưa nay có cả ngàn bài đáng đọc, nhưng sàng lọc ra qua vết thời gian,
Nguyễn Khôi tôi chỉ thích có ba bài ở ba thời điểm lịch sử khác nhau, nhưng đều
là người Hà Nội « xịn »:
Bà Huyện Thanh Quan quê ở làng Nghi Tàm (khoảng 1804- 1847), bà học rộng, được vua Minh Mạng triệu vào Huế làm cung trung giáo tập dạy học cho các cung phi, công chúa ; nhà thơ Nguyễn Đình Thi (1924- 2003) quê làng Vũ Thạch (nay là phố Bà Triệu) ; nhà thơ Lê Mai (Lê Văn Hùng) sinh năm 1953 tại Hà Nội, thương binh chống Mỹ hạng nặng, học đại học Sư Phạm, dạy trường PTTH Nguyễn Trãi, quận Ba Đình- Hà Nội. Xét về đẳng cấp, bà Huyện Thanh Quan thuộc tầng lớp quý tộc ; Nguyễn Đình Thi là quan chức văn nghệ, đứng thứ 2 (chỉ dưới ông Tố Hữu); Lê Mai là dân nghèo thứ thiệt ở Hà Thành hoa lệ như thơ anh viết « tôi là người lao động »- một cậu bé « trèo me trèo sấu » nhất quỷ nhì ma thời bao cấp và chiến tranh khốc liệt. Có lẽ cần nói rõ thêm về nhà thơ Lê Mai này, anh vào hội Nhà văn Hà Nội với tư cách nhà thơ, nhưng lại nổi danh với tiểu thuyết « Tẩu hỏa nhập ma »- 2003 về sự hư nát của ngành giáo dục và truyện ngắn « Quyền được rên »- 2008 về thân phận nhà văn Hoàng Công Khanh, nạn nhân trong vụ « Nhân văn giai phẩm »... Những tác phẩm có lẽ anh thai nghén từ khi dạy môn “Giáo dục công dân”. ...
Nói qua về ba tác giả để ta hiểu thêm vì sao tôi thích ba bài thơ viết về Hà Nội ở ba giai đoạn lịch sử khác nhau:
Bà Huyện Thanh Quan trong « Thăng Long thành hoài cổ » với 2 câu tuyệt bút :
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Một tứ thơ lưu danh thiên cổ bởi đã nói lên nỗi đoạn trường (đứt ruột) trước cảnh hoang tàn của cố đô xứ Bắc. Ngôn ngữ thơ Hán- Nôm tuyệt xảo đan quyện hồn thơ hiu hắt, cô đơn trước đổi thay phũ phàng của thời cuộc. Một nỗi buồn hoài cổ đậm tính nhân văn, nuối tiếc thời vàng son của Đại Việt (nhà Lê) cũng là sự trở về cội nguồn của dân tộc...
« Người Hà Nội » hào hoa Nguyễn Đình Thi trong bài thơ « Đất nước » (viết từ 1948- 1955) với 7 câu mở đầu mang hồn thơ phơi phới đầy hứng khởi trước sự chuyển mình của dân tộc, đất nước với một niềm tin tất thắng như tan vào từng câu từng chữ :
/ Sáng mắt trong như sáng năm xưa/ Gió thổi mùa thu hương cốm mới/ Tôi nhớ những ngày thu đã xa/ Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội/ Những phố dài xao xác hơi may/ Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.../
3 câu đầu- một khúc hoài niệm... rồi cái hồn thơ, cái tứ lạ kết vào mấy chữ « đầu không ngoảnh lại... lá rơi đầy » thì bút lực ở đây quả là « thần cú » xuất thần, rất thơ là bịn rịn vấn vương như hồn người Hà Nội và chỉ người Hà Nội gốc mới cảm và viết ra như vậy giữa những ngày tiêu thổ kháng chiến...
Đến Lê Mai với « Hà Nội quê tôi » mở đầu anh đã khẳng định « Tôi là người lao động, thế thôi »- Anh có mẹ già nơi phố phường chật hẹp bon chen. Anh có người cha không quản phận nghèo vẫn nuôi con học hành không thua bè kém bạn... Tự bạch cũng chỉ là bình thường, nhưng đặc tả cái « quê xưa » của vua Lý Thái Tổ nơi địa thế rồng chầu hổ phục thì Lê Mai đặc tả rất khác thường:Đất quê tôi không lũ cao nắng hạnChỉ chân trời trên nóc bếp cheo leoĐó là thời của gác xép/chuồng cọp- nay là chung cư cao tầng của dân tái định cư... gắn với tuổi học trò nghèo trèo me trèo sấu và lớn lên với « Sông Hồng xoáy trong tôi dòng nước mát ».Từ cái điểm tựa lấm lem nghèo khổ đó mà sao với Lê mai « Gió quê tôi đêm ngày vi vu nhắc » : / Giếng Ngọc là của tôi / Văn Miếu là của tôi/ Chùa Diên Hựu là của tôi/ Tháp Bút- đài Nghiên là của tôi/ Hồ Tây là của tôi/ Hồ Gươm là của tôi : Đó là là lẵng hoa thơm như môi con gái... đẹp đến thế sao mang tên Hoàn Kiếm ?/ Đài liệt sĩ vô danh là của tôi/ Và em là của tôi : Sự sống thiêng liêng kết bằng máu thịt người, cho tôi hiểu lẽ đời giản dị !/
Báu vật của đời được phép ví với em... Của tôi, của tôi... còn bao nhiêu tinh hoa, di sản văn hóa ở đất Hà Nội ngàn năm văn hiến tác giả chưa thể kể hết trong thơ, tất tật phải là « của tôi ». Ta chợt hiểu ra thâm ý nhà thơ lúc đầu tự bạch mình là người lao động bình thường, nghèo túng thật không đơn giản, bởi qua thơ anh đã hóa thân thành Nhân Dân, thành Dân Tộc cần lao. Chỉ có Nhân Dân mới là chủ nhân đích thực của mọi giá trị tốt đẹp nhất kết tinh vào văn hiến ngàn năm Thăng Long- Đông Đô- Hà Nội. Và vì thế cái kết cũng giản dị như cuộc đời thi sĩ: /Tôi là người lao động/ Thế thôi/ Nhưng quê tôi, Hà Nội !/ Mạch thơ ào ạt tuôn chảy đến đây kết là khá cộc lốc, hụt hẫng- chưa thể thôi được ? Theo mạch thơ ấy kẻ bình thơ nhân danh những người đọc Hà Nội còn có thể cùng nhà thơ ngẫm suy và tự nhủ : Chiếu rời đô là của tôi, Hịch tướng sĩ là của tôi, Bình Ngô đại cáo là của tôi, Điện Biên Phủ trên không là của tôi... rồi phở Hà Nội là của tôi, bia hơi Hà Nội là của tôi, cafe vỉa hè là của tôi, bánh cuốn Thanh Trì là của tôi, gốm sứ Bát Tràng là của tôi, của tôi... Sao bây giờ chủ nhân đích thực thì khốn khổ khốn nạn còn lũ đầy tớ thì giầu sụ, phè phỡn, xa hoa thế ? Nhà thơ của Nhân Dân là vậy.
Viết đến đây NK lại nhớ tới bài thơ Liberte’ (Tự Do) của thi hào siêu thực Pháp Paul Eluard (1895- 1952) mà Lê Mai trình diễn thơ « Hà Nội quê tôi » có cái kết cấu, bố cục khá đồng điệu: /Trên quyển vở nhà trường/ Trên án viết thân cây/ Trên cát, trên tuyết/ Ta viết tên em/ Trên sức khỏe phục hồi/ Trên hiểm nguy tan biến/ Trên hy vọng chẳng nhớ nhung/ Ta viết tên em/ Và do phép màu một tiếng/ Ta làm lại cuộc đời/ Ta sinh ra để biết em/ Để gọi tên em (2 chữ)TỰ DO/.
Dẫu biết mọi sự liên tưởng, so sánh đều khập khiễng, nhưng ở góc độ người bình thơ NK tôi không thể không giật mình cầm bút thả chữ. Xưa nay người làm thơ rất mừng gặp được người thơ mới/cái tứ lạ, với cấu trúc độc đáo như bài « Hà Nội quê tôi » ngôn ngữ tinh luyện, câu chữ như nén chặt để rồi thoát xác thành hồn thơ cất cánh « Tấm gương trong mây hất tóc rối trời cho tôi hiểu vì đâu tình yêu người Hà Nội vời vợi mênh mang »... Thơ Lê Mai đẹp và lạ thế đó !...
Bà Huyện Thanh Quan quê ở làng Nghi Tàm (khoảng 1804- 1847), bà học rộng, được vua Minh Mạng triệu vào Huế làm cung trung giáo tập dạy học cho các cung phi, công chúa ; nhà thơ Nguyễn Đình Thi (1924- 2003) quê làng Vũ Thạch (nay là phố Bà Triệu) ; nhà thơ Lê Mai (Lê Văn Hùng) sinh năm 1953 tại Hà Nội, thương binh chống Mỹ hạng nặng, học đại học Sư Phạm, dạy trường PTTH Nguyễn Trãi, quận Ba Đình- Hà Nội. Xét về đẳng cấp, bà Huyện Thanh Quan thuộc tầng lớp quý tộc ; Nguyễn Đình Thi là quan chức văn nghệ, đứng thứ 2 (chỉ dưới ông Tố Hữu); Lê Mai là dân nghèo thứ thiệt ở Hà Thành hoa lệ như thơ anh viết « tôi là người lao động »- một cậu bé « trèo me trèo sấu » nhất quỷ nhì ma thời bao cấp và chiến tranh khốc liệt. Có lẽ cần nói rõ thêm về nhà thơ Lê Mai này, anh vào hội Nhà văn Hà Nội với tư cách nhà thơ, nhưng lại nổi danh với tiểu thuyết « Tẩu hỏa nhập ma »- 2003 về sự hư nát của ngành giáo dục và truyện ngắn « Quyền được rên »- 2008 về thân phận nhà văn Hoàng Công Khanh, nạn nhân trong vụ « Nhân văn giai phẩm »... Những tác phẩm có lẽ anh thai nghén từ khi dạy môn “Giáo dục công dân”. ...
Nói qua về ba tác giả để ta hiểu thêm vì sao tôi thích ba bài thơ viết về Hà Nội ở ba giai đoạn lịch sử khác nhau:
Bà Huyện Thanh Quan trong « Thăng Long thành hoài cổ » với 2 câu tuyệt bút :
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Một tứ thơ lưu danh thiên cổ bởi đã nói lên nỗi đoạn trường (đứt ruột) trước cảnh hoang tàn của cố đô xứ Bắc. Ngôn ngữ thơ Hán- Nôm tuyệt xảo đan quyện hồn thơ hiu hắt, cô đơn trước đổi thay phũ phàng của thời cuộc. Một nỗi buồn hoài cổ đậm tính nhân văn, nuối tiếc thời vàng son của Đại Việt (nhà Lê) cũng là sự trở về cội nguồn của dân tộc...
« Người Hà Nội » hào hoa Nguyễn Đình Thi trong bài thơ « Đất nước » (viết từ 1948- 1955) với 7 câu mở đầu mang hồn thơ phơi phới đầy hứng khởi trước sự chuyển mình của dân tộc, đất nước với một niềm tin tất thắng như tan vào từng câu từng chữ :
/ Sáng mắt trong như sáng năm xưa/ Gió thổi mùa thu hương cốm mới/ Tôi nhớ những ngày thu đã xa/ Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội/ Những phố dài xao xác hơi may/ Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.../
3 câu đầu- một khúc hoài niệm... rồi cái hồn thơ, cái tứ lạ kết vào mấy chữ « đầu không ngoảnh lại... lá rơi đầy » thì bút lực ở đây quả là « thần cú » xuất thần, rất thơ là bịn rịn vấn vương như hồn người Hà Nội và chỉ người Hà Nội gốc mới cảm và viết ra như vậy giữa những ngày tiêu thổ kháng chiến...
Đến Lê Mai với « Hà Nội quê tôi » mở đầu anh đã khẳng định « Tôi là người lao động, thế thôi »- Anh có mẹ già nơi phố phường chật hẹp bon chen. Anh có người cha không quản phận nghèo vẫn nuôi con học hành không thua bè kém bạn... Tự bạch cũng chỉ là bình thường, nhưng đặc tả cái « quê xưa » của vua Lý Thái Tổ nơi địa thế rồng chầu hổ phục thì Lê Mai đặc tả rất khác thường:Đất quê tôi không lũ cao nắng hạnChỉ chân trời trên nóc bếp cheo leoĐó là thời của gác xép/chuồng cọp- nay là chung cư cao tầng của dân tái định cư... gắn với tuổi học trò nghèo trèo me trèo sấu và lớn lên với « Sông Hồng xoáy trong tôi dòng nước mát ».Từ cái điểm tựa lấm lem nghèo khổ đó mà sao với Lê mai « Gió quê tôi đêm ngày vi vu nhắc » : / Giếng Ngọc là của tôi / Văn Miếu là của tôi/ Chùa Diên Hựu là của tôi/ Tháp Bút- đài Nghiên là của tôi/ Hồ Tây là của tôi/ Hồ Gươm là của tôi : Đó là là lẵng hoa thơm như môi con gái... đẹp đến thế sao mang tên Hoàn Kiếm ?/ Đài liệt sĩ vô danh là của tôi/ Và em là của tôi : Sự sống thiêng liêng kết bằng máu thịt người, cho tôi hiểu lẽ đời giản dị !/
Báu vật của đời được phép ví với em... Của tôi, của tôi... còn bao nhiêu tinh hoa, di sản văn hóa ở đất Hà Nội ngàn năm văn hiến tác giả chưa thể kể hết trong thơ, tất tật phải là « của tôi ». Ta chợt hiểu ra thâm ý nhà thơ lúc đầu tự bạch mình là người lao động bình thường, nghèo túng thật không đơn giản, bởi qua thơ anh đã hóa thân thành Nhân Dân, thành Dân Tộc cần lao. Chỉ có Nhân Dân mới là chủ nhân đích thực của mọi giá trị tốt đẹp nhất kết tinh vào văn hiến ngàn năm Thăng Long- Đông Đô- Hà Nội. Và vì thế cái kết cũng giản dị như cuộc đời thi sĩ: /Tôi là người lao động/ Thế thôi/ Nhưng quê tôi, Hà Nội !/ Mạch thơ ào ạt tuôn chảy đến đây kết là khá cộc lốc, hụt hẫng- chưa thể thôi được ? Theo mạch thơ ấy kẻ bình thơ nhân danh những người đọc Hà Nội còn có thể cùng nhà thơ ngẫm suy và tự nhủ : Chiếu rời đô là của tôi, Hịch tướng sĩ là của tôi, Bình Ngô đại cáo là của tôi, Điện Biên Phủ trên không là của tôi... rồi phở Hà Nội là của tôi, bia hơi Hà Nội là của tôi, cafe vỉa hè là của tôi, bánh cuốn Thanh Trì là của tôi, gốm sứ Bát Tràng là của tôi, của tôi... Sao bây giờ chủ nhân đích thực thì khốn khổ khốn nạn còn lũ đầy tớ thì giầu sụ, phè phỡn, xa hoa thế ? Nhà thơ của Nhân Dân là vậy.
Viết đến đây NK lại nhớ tới bài thơ Liberte’ (Tự Do) của thi hào siêu thực Pháp Paul Eluard (1895- 1952) mà Lê Mai trình diễn thơ « Hà Nội quê tôi » có cái kết cấu, bố cục khá đồng điệu: /Trên quyển vở nhà trường/ Trên án viết thân cây/ Trên cát, trên tuyết/ Ta viết tên em/ Trên sức khỏe phục hồi/ Trên hiểm nguy tan biến/ Trên hy vọng chẳng nhớ nhung/ Ta viết tên em/ Và do phép màu một tiếng/ Ta làm lại cuộc đời/ Ta sinh ra để biết em/ Để gọi tên em (2 chữ)TỰ DO/.
Dẫu biết mọi sự liên tưởng, so sánh đều khập khiễng, nhưng ở góc độ người bình thơ NK tôi không thể không giật mình cầm bút thả chữ. Xưa nay người làm thơ rất mừng gặp được người thơ mới/cái tứ lạ, với cấu trúc độc đáo như bài « Hà Nội quê tôi » ngôn ngữ tinh luyện, câu chữ như nén chặt để rồi thoát xác thành hồn thơ cất cánh « Tấm gương trong mây hất tóc rối trời cho tôi hiểu vì đâu tình yêu người Hà Nội vời vợi mênh mang »... Thơ Lê Mai đẹp và lạ thế đó !...
Nguyễn Khôi
Phố Hàn, 27/9/2016
Phố Hàn, 27/9/2016

Nhà thơ Nguyễn Khôi
HÀ NỘI QUÊ TÔI
Tôi
là người lao động, thế thôi!
Nhưng
quê tôi:
Hà
Nội!
Nơi
tôi có mẹ già, mảnh đông quê ngát hương đồng nội, thơm phố phường chật chội bon
chen
Nơi
tôi có người cha không quản phận nghèo hèn, gắng nuôi con không thua bè kém
bạn.
Đất
quê tôi không lũ cao nắng hạn
Chỉ
chân trời trên nóc bếp cheo leo
Tuổi
thơ tôi những năm tháng leo trèo
Bắt
bọ ngựa,
dính
ve,
trèo
me,
ném
sấu.
Lời
rủ rê của lũ ve yêu dấu
Gọi
hè về thúc nở những mùa chơi.
Cơm
nguội vàng háo hức giục bàng rơi
Sông
Hồng xoáy trong tôi dòng nước mát
Gió
quê tôi đêm ngày vi vút nhắc:
Giếng
Ngọc là của tôi
Giọt
nước mắt tổ tông ngàn năm còn nhức nhối trong đời
Cho
tôi hiểu vì sao người Hà Nội, huyền thoại rồi còn rời rợi yêu thương.
Văn Miếu là của tôi
Pho sách thơm cha ông tạc để đời, cho tôi hiểu
vì sao người Hà Nội đốt trầm trong lúc đọc thơ.
Chùa Diên Hựu là của tôi!
Đóa sen tâm bừng nở ngát cõi người cho tôi hiểu
vì sao người Hà Nội cấp gạo thuyền giặc chết khỏi tha hương.
Tháp Bút – Đài Nghiên là của tôi
Tả Thanh Thiên xao xuyến cả cõi trời, cho tôi
hiểu vì sao người Hà Nội nâng cốm Vòng trong những lá sen tươi.
Hồ Tây là của tôi!
Tấm gương trong mây hất tóc dỗi trời, cho tôi
hiểu tình yêu người Hà Nội vì đâu mà vợi vợi mênh mang.
Hồ Gươm là của tôi !
Lẵng hoa tươi thiên nhiên kết dâng người, thơm
như môi con gái, mềm mại như tuổi dậy thì,liễu bên hồ chớp chớp làn mi, đẹp đến
thế sao mang tên Hoàn Kiếm ? Lẵng hoa đời nền văn hiến trổ bông.
Đài liệt sĩ vô danh là của tôi !
Sắc xám xanh lánh lạnh ánh sao trời, cho tôi
hiểu vì đâu trăng Hà Nội suốt bốn mùa rười rượi thanh thanh.
Nén nhang thắp trong mỗi gia đình là của tôi !
Nén nhang tươi nhức nhối nhỏ kiếp người , cho
tôi hiểu vì sao sông Cái đỏ, những nụ đào hé tỏ ánh phù sa.
Và em là của tôi !
Sự sống thiêng liêng kết bằng máu thịt người,
cho tôi hiểu mình lẽ đời giản dị ! Báu vật của đời được phép ví với em !
Tôi là người lao động,
thế thôi !
Nhưng quê tôi, Hà Nội!
Lê Mai
Subscribe to:
Posts (Atom)

