Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, October 24, 2015

GIẤC MƠ ĐÊM...- Thơ Trần Mai Ngân



           Tác giả Trần Mai Ngân


GIẤC MƠ ĐÊM...

Chỉ có giấc mơ đêm là miễn nhiễm
Lời trần gian và đôi mắt khắt khe...
Ở đó 
Em ru mình trong bình yên biển cả
Có sóng êm hoà tiếng hát của anh 
Trong giấc mơ đêm có bầu trời xanh
Có mùa Xuân cho ta về quê cũ
Cây cầu nhỏ lắc lư ...tay anh nắm
Hoa Mai vàng bát ngát chỗ mình qua...

Trong giấc mơ đêm chẳng có nhạt nhoà
Ngọt nồng nàn đôi ta như mới cưới
Gối chăn thơm ngày đầu tiên bối rối
Ta trong nhau bất tận đến muôn trùng...

Chỉ có giấc mơ đêm là bình yên thật sự 
Chỉ có giấc mơ đêm là anh không xa lạ
Nhưng. Bình minh về - em phải thức giấc thôi ! 

Và thực tế .
Anh là tinh cầu mãi xa xôi
Và em phải quên thôi .
Như tình lạ - cầm lòng không thương nhớ !

                                        Trần Mai Ngân

READ MORE - GIẤC MƠ ĐÊM...- Thơ Trần Mai Ngân

TIẾNG ĐÀN ĐÊM - Thơ Nhật Quang

            
Tác giả Nhật Quang














TIẾNG ĐÀN ĐÊM

Trăng thu ươm giấc mộng vàng
Tiếng đàn tôi vọng giữa ngàn sương mơ
Nghêu ngao hát khúc Tình Thơ
Nhà bên em chợt vu vơ... nỗi buồn

Đàn đêm ngân chạm ngõ hồn
Rung trầm lưu luyến, bồn chồn - nao nao
Nhà em cổng kín tường cao
Nhà tôi vách lá,cổng rào dậu thưa

Bên thềm Dạ lý đong đưa
Mắt buồn...em đếm sao thưa cuối trời
Hồn tôi lơ đãng xa vời
Gởi theo câu hát vương lời nhớ nhung

Bao đêm giấc mộng mông lung
Yêu em nào dám... rưng rưng tiếng lòng
Ai ngờ chim sáo sang sông
Vu quy em bước theo chồng phố xa

Còn đâu mơ mộng dáng hoa
Đàn đêm ru vọng ngân nga cung sầu.

                                         Nhật Quang

READ MORE - TIẾNG ĐÀN ĐÊM - Thơ Nhật Quang

THƠ SONG NGỮ ANH - VIỆT - Hồng Tâm / Hàn Quốc Vũ



                 Hồng Tâm 




Thơ song ngữ Anh - Việt :


CHỈ YÊU MỘT NGƯỜI

Có yêu trăng biết mình nhung nhớ
Hằng đêm trăng thức viết bài thơ
Vậy mà... người vô tình không hiểu
Thương mảnh thân mình 
bóng bơ vơ
Có yêu trăng biết mình mang nợ
Mãi chờ người vàng năm tháng trôi
Mặc kệ xuân tàn hoa mãi đợi
Yêu bóng anh hùng chỉ thế thôi.

                                Hồng Tâm 


ONLY LOVING A PERSON

To be loved the moon has recognized itself missing
Night by night it waking up composing the sentimental poem 
However,... the person unintentional, not understand 
To be a piece of body, myself, the lonely shade

To be loved it knows itself was in debt
Forever, waiting the one, yellowing the month and year 
Ignoring the faded Spring, forever the flower waiting for
Loving the shade of hero, so like that.

(Translated by Mr. Hàn Quốc Vũ)


READ MORE - THƠ SONG NGỮ ANH - VIỆT - Hồng Tâm / Hàn Quốc Vũ

GÁ TÌNH - Thơ Đặng Xuân Xuyến





GÁ TÌNH

Rồi em cũng phải gả chồng
Rồi tôi cũng phải làm chồng người ta
Thôi thì hai bảy mười ba
Bữa nào trời đẹp tôi qua bỏ trầu.

Người ta lấy bạc bắc cầu
Để tôi sấp ngửa cơi trầu lỡ duyên
Người ta khát lộc say quyền
Để em phận gái thuyền quyên bẽ bàng.

Gặp nhau khi đã trễ tràng
Dở dang duyên phận nhỡ nhàng lời yêu
Chỉ là gạo nấu chung niêu
Chẳng mong củ ấu khéo yêu thành tròn
Đã quen ngậm trái bồ hòn
Nào đâu nghĩ đến vuông tròn nặng sâu…

Bữa sau tôi sẽ bỏ trầu
Để em thôi gả làm dâu nhà người.

Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2013
ĐẶNG XUÂN XUYẾN


READ MORE - GÁ TÌNH - Thơ Đặng Xuân Xuyến

THÁNG CHÍN MÙA THU - thơ Phạm Hòa Việt



Tác giả Phạm Hòa Việt


THÁNG CHÍN MÙA THU

Tháng chín xanh hồng trời cuối tháng
Bình minh nắng mịn mắt em say
Tình em gió nhẹ hôn tóc xoã
Ôm ấp men đời tay trong tay…

Có phải trời thu tàn mưa gió
Nước sông lay động bóng thuyền em
Phố đêm mở rộng không gian thực
Để ánh trăng rằm biến cõi tiên…

Thôi đã qua rồi con nước bạc
Trăng thu giao hoán với ngàn sao
Tình em giao hoán say trời đất
Mở nốt dây tơ gió lộng vào…

Vẫn biết say tình là hư ảo
Trăng khuya rơi nhẹ giữa bình minh
Nhưng hồn thu đến tình em đến
Kết hợp đôi lòng vọng sóng xinh…


Phạm Hòa Việt
Tháng 9/2015
READ MORE - THÁNG CHÍN MÙA THU - thơ Phạm Hòa Việt

PHỐ NHỎ, NHỮNG NGÀY MƯA… - Truyện ngắn Mang Viên Long



Tác giả Mang Viên Long


PHỐ NHỎ, NHỮNG NGÀY MƯA… 

Truyện Ngắn

Mang Viên Long



Ông Nhương nói với ông già vừa đến thuê thay giúp một mặt kính lão bị bể, “Mùa mưa, chỉ ăn thôi chứ không có làm! Từ sáng đến giờ-gần hết buổi sáng, mà chỉ thay được một cái gọng kính, vỏn vẹn có tám ngàn đồng bạc!”.
Ông già cười, “Ông còn có “tiền tươi” tám ngàn, chứ tôi có đồng xu nào đâu?"
- Bác có lương hưu lãnh hằng tháng, ăn rồi chơi, khỏi lo, chứ tôi có hưu nai gì?
- Thôi ông ơi! Đừng nói tới chuyện hưu nai nữa! Ông lão nhăn mặt. Ra đi mấy chục năm, bị nghỉ mất sức, mỗi tháng phát cho mấy trăm ngàn, đủ húp cháo …
Ông Nhương dừng tay mài kính, ngẩng lên nhìn ông già, cười : “Ông còn có cháo mà húp, chứ nhiều người không có cháo thì sao? Chẳng hạng như tôi đây nè…”
Ông già im lặng.
Ông Nhương tiếp tục mài kính.
Trời vẫn mưa rào rào ngoài đường. Con đường vào chợ vắng hoe. Gió thốc vào mái hiên nơi ông Nhương kê chiếc tủ “Sửa Kính Đeo Mắt” từng cơn, lạnh.
Buổi sáng không có giờ. Bầu trời xám ngắt.
Ông già bỗng thở dài:
- Mấy quán nhậu, quán cà phê, giải khát, quán ăn, quán ca-ra-ô-kê… mọc lên khắp hang cùng ngõ hẻm ngày càng nhiều, không biết thiên hạ tiền đâu mà ngày đêm các quán đều đông nghẹt cả?
Ông Nhương so kính vào gọng, lại tháo ra, tiếp tục mài.
- Mà phải nhậu ít sao? Ông già nói tiếp, nhậu từ sáng đến chiều tối còn rào rào như tằm ăn lên… bụng dạ đâu mà ăn dữ vậy không biết?
- Ông bà mình đã nói rồi, bác không nhớ sao? Ông Nhương vẫn cắm cúi mài kính. “Dĩ thực như tiên” mà? Ăn rồi mới làm chứ? Ông Nhương cười khà khà. Không có ăn, ai dại gì mà làm chứ, bác?
- Nhưng làm gì mà nhiều tiền vậy? Ông già cải lại. Nhậu đến mữa ra, còn nhậu tiếp… mà toàn là đám thanh niên choai choai thôi. Cỡ bốn năm mươi cũng không thiếu gì ! Ông nào ông nấy cái bụng to phình mà vẫn còn nhậu tiếp?
- Tiền “chùa" mà, Bác!
- Mình kiếm đồng bạc chảy máu con mắt, nhưng sao thiên hạ làm gì mà giàu có ăn nhậu la cà hết quán này đến tiệm nọ mà nhà cửa xe cộ đất đai ngày càng mọc thêm ra nhiều vậy?
- Bác tìm họ mà hỏi đi! Ông Nhương trao kính cho ông lão. Bác hỏi tôi, làm sao tôi biết?
Ông Nhương nhận tờ giấy bạc mười ngàn đồng từ trong túi nylong quấn chặt hai lớp của ông già, đưa lên ngắm nghía, cười : “Vậy là đủ dĩa cơm trưa rồi!” Nhìn lên gương mặt khắc khổ của ông già Ông nói,  "Bác về nhà nằm nghỉ cho khỏe đi, hơi đâu mà thắc mắc cho thêm mệt tuổi già,bác? Đời này càng nghỉ, càng thêm mệt! Quên đi là tốt nhất!”.
Ông già trùm chiếc áo mưa cánh dơi, lòng còn hập hực, bước ra hiên, đi dưới cơn mưa đang ào ạt. Ngày không có mặt trời. Bầu trời một màu mưa trắng bạc.Và gió từng cơn thổi giật làm rung chuyễn mái hiên tôn,vật vã hai hàng cây bên đường phía ngôi chợ. Nhìn trời, ông Nhương biết sẽ chẳng có ma nào chịu rời nhà mà đi sửa kính như ông già gân này nữa. Ông kéo tấm ny lông dày che kín chiếc tủ gương, và đồ nghề-khoát tấm ny lylong vuông lên đầu-chạy qua bên kia đường để vào chợ tìm dĩa cơm muộn.
Bước vào quán thì chỉ gặp một mình lão Nhện đang ngôi cắm cúi bên dĩa cơm 5 ngàn như thường lệ. Ông ngồi xuống chiếc bàn thấp bên cạnh: ” Chà! Hôm nay ông ăn sớm nhé?".
- Đói bụng rồi! Lão Nhện ngước lên đáp, sớm gì nữa cha nội?
- Sao đói bụng sớm vậy cha?
- Hừ, buổi sáng đâu có gì ăn? Lão Nhện vẫn cúi mặt lên dĩa cơm đã gần hết.
- Bữa nay kiếm được mấy đồng?
- Đủ dĩa cơm!
- Không còn dư đồng nào sao?
- Không!
Ông Nhương vẫn thường gặp lão Nhện trong cái quán cơm bình dân cuối dãy chợ này nên đã là chỗ thân tình của lão. Nhiều bữa cơm chỉ còn lại hai người, có lão Nhện cùng ăn, vừa chuyện trò tào lao với lão, vừa đùa chọc, dĩa cơm mới mau hết. Nhiều hôm không gặp lão Nhện, ông Nhương cảm thấy khó nuốt trôi dĩa cơm tứ thời mấy món kho mặn lênh láng dầu mỡ (mà chẳng biết là loại dầu gì?)! Có bữa kiếm được kha khá, ông kêu cho lão Nhện thêm một dĩa 5 ngàn nữa để lão cùng ngồi ăn cho có bạn, cho vui, nhưng lão ta chỉ ăn một hơi là sạch trơn. Tuy tuổi chỉ tròn trèm 60, mà người gầy ốm , đen điu, nên trông như một ông lão. Lão Nhện đẩy chiếc ba gác ọch ạch để di chuyển hàng từ ngoài đường vào chợ cho các con buôn hàng trái cây, rau, các thứ lỉnh kỉnh vặt vãnh cồng kềnh cần mang vào chợ để kiếm sống hằng ngày. Chiếc xe qua năm tháng dài không còn dây sên, không còn bàn đạp, ba chiếc bánh chỉ quấn toàn dây cao su, nên không thể đạp đi dược nữa. Lão chỉ dùng sức để đẩy hay kéo xe đi thôi. Tối đến ,tìm một góc phố hay sạp hàng nào rộng rãi ngã lưng làm một giấc thẳng cẳng-thế là hết một ngày. Không ai có thời gian mà tìm hiểu xem lão từ đâu đến, quê quán, vợ con, gia đình thế nào cả! Và cái tên “lão Nhện” của lão cũng do mấy bà “nhìn người, đặt tên” cho lão mà thôi. Ông Nhương thầm khen người nào đầu tiên đã đặt cho lão cái tên “Nhện” rất hợp với thân người ốm nhỏ mà tay chân khều khào dài thoòng như chân nhện. Gặp mối , lão chỉ chất hàng lên và kéo đi. Luồn lách trong các lối nhỏ chật chội của khu chợ để giúp chuyễn hàng, kiếm từng đồng bạc lẻ. Trên dường di, hễ gặp bao giấy, những tấm ny lông rách, vật dụng bằng nhôm nhựa bị vất bỏ-ông đều dừng lại thu lượm bỏ vào một bao lớn, cột kỹ, vài ngày đem bán lại cho các điểm mua đồ phế thải rác giấy, nhôm nhựa kiếm thêm. Có lần lão khoe với ông Nhương, vừa cân xong bao đồ, kiếm được ba chục ngàn đồng. Lão cười hì hì : “Có ba ngày ăn cơm rồi, lo cái quái gì nữa?"  Lão Nhện thường chỉa sẻ niềm vui hiếm hoi nhỏ nhặt như vậy cho ông Nhương hằng ngày như những đồng bạc kiếm thêm được từ chiếc bao tải chứa đồ phế thải…
Quán vắng. Chợ thưa. Mưa dầm dề. Ông Nhương nhìn lên mặt chiếc đồng hồ Telda cũ kỹ đeo tay: đã gần 1 giờ chiều rồi! Buổi chiều lại sắp đi qua. Trời tối sầm. Mưa đổ rào rào bên ngoài không dứt. Và gió, gió giật từng cơn như có hướng bão xa ở quanh đây . Ông Nhương đứng dậy- cảm thấy gây gây lạnh, gượng cười với lão Nhện: “Trời mưa gió kiểu này, tìm một xó nào khoanh cho rồi chứ làm lụng gì nữa, ông Nhện? “
- Ờ, ờ… Chắc phải ngủ quá, lão cười hì hì, ngủ đói!



Vừa che tấm nylong lên tủ kính thì đã có khách sửa kính ghé xe lại sát hiên nhà-
ông Nhương vui vẻ : “Cháu sửa hay mua kính?"
Cô gái cởi tấm áo mưa cầm tay-giọng gấp gáp: “Chú sửa giùm cháu lấy ngay được không ạ?”
- Được, ông cười, nhưng cho chú xem kính sửa gì đã chứ?
Cô gái sực nhớ, gỡ mắt kính đang đeo, đưa về phía ông Nhương:
- Cháu vô ý vừa làm vỡ mất một mặt kính sáng nay…
Ông Nhương cầm gương lên xem: “ Chà! mắt cháu bị cận 3 độ sao?”
- Dạ không, 2 độ 75 ạ!
- Mắt kính dày, phải mài hơi lâu-ông lắc đầu-nhanh cũng mất nửa tiếng cháu à!
- Vậy làm sao cháu kịp vào lớp dạy. chú?-cô gái hốt hoảng.
- Phải làm chứ ăn đâu mà nhanh cháu?-Ông cười- phải mài dũa mắt kính cho vừa sít với gọng để không dễ bị rớt, lâu đấy! Ông nhìn đứng lên gương mặt cô gái còn đọng vài hạt nước mưa chưa kịp lau, bỗng nhận ra trên khuôn mặt bầu bỉnh hồn nhiên ấy có nhiều nét rất đỗi giống Ngân xưa. À, mà mấy giờ cháu bắt đầu dạy?
- 6 giờ 45!
- Cháu để kính lại chú làm, trưa chiều về ghé lấy…
- Đi dạy không kính sao, chú? Giọng cô gái phân vân. Cháu ngồi làm bù nhìn cho học trò chúng giỡn sao?
- Ra bài tập gì đó cho chúng làm đi! Ông lại cười, chờ đợi.
- Không được, chú à! Cô gái băn khoăn. Hôm nay là 4 tiết dạy nâng cao cho học sinh giỏi lớp 12, đâu ngồi chơi được? Vẻ lo lắng, khổ sở hiện lên sắc sảo trong đôi mắt đen láy, hễ rảnh một phút, là chúng ồn ào quậy phá ngay rồi! Cô gái thở dài, học sinh bây giờ mà chú?
- Vậy là không ổn rồi, ông giơ tay lên xem lại giờ, bây giờ đã 6 giò 22 phút rồi!
Nói xong, ông cảm thấy hơi tiếc vì mới sáng sớm mở hàng đã bỏ lỡ mất một người khách-mà có lẽ, sẽ là người khách duy nhất cho buổi sáng tầm tã mưa như thế này. Ông chợt nhớ: “ Hay là thế này…chú có mắt kính nữ 3 độ, cháu cầm đeo đi dạy đỡ nhé? Để kính cũ lại chú làm, trưa về, ghé lấy, được không?”.
Cô gái reo lên: “Được chú giúp cho vậy thì tốt quá! Cô ngập ngừng, cháu gởi tiền thế cho kính của chú nhé? ” Cô gái lúi húi mở cặp, lấy ra chiếc bóp giấy nhỏ nàu xanh.
Ông Nhương thản nhiên mở tủ lấy chiếc kính mới trao cho cô gái cười dễ dãi: “Có bao nhiêu đâu mà cháu phải “ hế chân, thế cẳng” vậy ? Giọng ông trở nên nghiêm nghị. Cháu làm vậy không sợ chú buồn sao? Chú tin cháu mà!”
- Cháu xin lỗi!
Đeo thử kính vào mắt, cô gái tươi vui như vừa được cho quà: 
- Cháu cám ơn chú! Trưa cháu ghé lại. Chú tốt quá!.
- Chú không tốt đâu. Ông nhìn đăm đăm vào nét mặt nhân hậu hồn nhiên của cô gái, cười hà hà. Sống mà không còn tin được vào ai, thì khổ hơn nhiều, cháu à!.
- Chú nói hay lắm! Cô gái đạp xe, nổ máy.
- Những người có gương mặt như cháu, không thể phản bội ai được, ông Nhương nói vói theo.
- Sao vậy? Cô gái ngạc nhiên quay lại với nụ cười, sao chú biết?
Sau câu hỏi không đợi trả lời, cô gái cho xe chạy nhanh về hướng ngoại ô như cố che dấu một niềm vui đang chớm nở trong lòng, bóng xe nhòe ngay trong màn mưa dày đục. Gió quất từng cơn rào rào cùng với tiếng mưa nặng hạt như vãi nước.Từng đợt màn mưa bay xiêng theo cơn gió –có lúc thổi hắt hẳn vào mái hiên nơi tủ kính của ông Nhương-ông khẽ rùng mình- chép miệng: “ Mưa…mưa lèm nhèm tối ngày!”.
Đường phố vẫn im vắng trong nỗi lạnh lẽo bao trùm. Bóng người thấp thoáng. Co ro-vội vã. Ông Nhương đã bao ngày ngồi nhìn cái góc phố quạnh vắng trong mưa, như nhìn soi vào chính cuộc đời tẻ lạnh của mình ,nhưng lần này-sáng nay- bỗng thấy những bóng người di chuyễn co rúm trước mắt kia sao mà nhỏ bé, tội nghiệp đến vậy? Đời người sao mà cô độc và lạnh lẽo đến vậy?



Từ xa, ông Nhương đã nhận ra mầu áo mưa của cô gái đang chạy băng qua đường-hướng về phía hiên nhà ông ngồi. Ông điềm nhiên ngồi nhìn từng cử động của cô gái-dừng xe, bước vào hiên, vội vàng cởi tấm áo mưa móc lên chiếc cột hiên nhà-nụ cười ánh lên cả đôi mắt ướt: “ Chào chú! Chú chưa nghỉ sao? “.
- Ngồi đợi cháu mà! Ông cười.
- Cháu làm phiền chú nhiều quá!-cô gái ngồi xuống chiếc ghế để sẵn bên cạnh .
- Chú rất mong có người làm phiền như vậy mà dễ gì được?
- Vậy chú không có ai “ làm phiền” cả sao?-Cô gái nhìn đứng lên mặt ông Nhương, vẻ trìu mến-lúc còn trẻ chắc chú có nhiều người thương lắm phải không?
- Sao cháu hỏi vậy? – ông nhếch cười- không có ai làm phiền chú cả! Ông buông thõng- từ hơn chục năm nay rồi, cháu à!
- Chú sống một mình trong căn nhà này phài không?
- Không phải nhà của chú-ông dáp,giọng thản nhiên-chú mượn tạm hiên nhà của người bạn học cũ …
Ông Nhương vói tay lấy chiếc kính đã lắp mặt kính mới đặt vào lòng bàn tay cô gái-“ Cháu đeo vào xem thử đi? ”.
Cô gái gỡ chiếc kính mới ra, đeo kính cũ đã sửa vào: “ Cháu trông rõ lắm chú à!”.
- Vậy là tốt rồi! Ông nhìn cô gái như nhìn vào một con mèo con.
- Chú cho cháu gởi tiền…
Ông Nhương không trả lời –hỏi: “ Cháu biết tại sao lúc sáng chú nói người có gương mặt như cháu là không bao giờ phản bội ai không? “
- Dạ không!- Đôi mắt cô gái chợt ánh lên- cười e thẹn-Cháu cũng định hỏi lại chú mà!
- Không có gì lạ đâu!-Ông Nhương liếc nhìn cô gái giây lâu- Thuở trước,chú cũng có một cô bạn gái-nói rõ hơn, là người chú yêu-có một khuôn mặt giống cháu như đúc! Cô ấy hiền và xinh xắn lắm!
- Rồi cô ấy đâu, chú?
- Đang ở xa chú - ở đâu chú cũng không biết rõ-từ dạo ấy đến nay, sau ngày 15 tháng 4 năm 75 , trên 30 năm chú không được gặp lại- nghe tin cô ấy đã rời Saigon về quê , nhưng quê thì biền biệt …
- Vẫn chờ chú? Cô gái cười dò xét.
- Không phải chờ, mà lặng thầm thương nhớ-ông nhìn vào màn mưa trắng xóa ngoài hiên, giọng trầm trầm-mỗi người một phương trời xa lắc, bị cột chặt với bao diều khó khăn phiền nhiễu, cháu à!
- Chú nói hơi khó hiểu…
- Ngay chú cũng cảm thấy khó hiểu mà?
- Sao lạ vậy?
- Cuộc đời có nhiều điều rất lạ mà cháu !-Ông cười mơ hồ, như chú đươc gặp cháu sáng nay-chú tưởng như được gặp lại cô ấy cách đây 30 năm vậy!
Cô gái nửa muốn hỏi gì thêm. nửa ngại ngùng-cô lấy chiếc kính ra lau như một thói quen :” Thưa chú, Chú cho cháu gởi tiền..”.
- Thay mặt kính cận 2 độ 75-loại tốt, giá 25 ngàn đồng…
Cô gái kéo chiếc cặp để lên đùi, lúi cúi mò tìm chiếc bóp giấy mầu xanh để lẫn trong mấy xấp bài, sách vở-lấy ra ba chục ngàn đồng-đưa hai tay về phía ông Nhương: “ Chú cho cháu gởi-sao chú tính rẻ quá vậy?”
Ông Nhương chỉ liếc nhìn, không cầm tiền vội mà đến mở ngăn hộc tủ kính tìm tờ giấy bạc năm ngàn .Ông loay hoay. Cô gái đã mặc xong áo mưa, đặt tiền lên mặt bàn thầp-bước ra hiên: “ Cháu gởi chú ba chục ngàn mà? “
- Còn dư năm ngàn đây, cháu-vừa nói, ông vừa vội bước xuống bực thềm.
- Cháu gởi chú mà-cô gái cười , khuôn mặt lóng lánh nước mưa-cháu mời chú một ly café không được sao!
Chiếc xe đã vào số, chạy lươt tới, mưa-mưa…



Suốt đêm mưa gió xào xạc hung bạo tưởng như ngoài trời cây cối đường sá sẽ bị rách nát hết dưới những cơn mưa dữ tháng 10. Sáng ra- phố xá vắng tênh, đường trống trơn như rộng thêm ra - mưa nhẹ hạt hơn, nhưng vẫn mưa lèm nhèm không dứt. Chiếc loa treo ở trên cột điện góc phố lập đi lập lại thông báo về cơn bão số 9 sắp vào bờ. Gió thổi bạt tiếng loa phóng thanh mỗi lúc một mạnh, nghe tiếng được tiếng mất-dường như cơn bão đang bò tới gần ? Đã qua 8 cơn bão tê tái rồi-không biết còn bao nhiêu cơn thịnh nộ của đất trời sẽ trút xuống dãi đất nghèo khó này nữa? Ông Nhương khoát vội tấm áo mưa, dắt chiếc xe đạp xuống hiên, rướn người đạp ngược gió xuống nhà bưu điện. Chiều hôm qua nhận được giấy báo đến nhận gói gởi bảo đảm thì ngó trời đã sập tối, lại mù mịt nước mưa- dù rất nóng lòng muốn biết người gởi là ai, gởi cái gì -ông cũng không dám dầm mình trong mưa, vuợt gió mà đi được. Sống một bóng một mình lỡ ngã bệnh phải nằm mẹp xuống thì đâu có bàn tay, tiếng nói nào để ông an ủi, nương cậy? Từ ngày xa Ngân-rồi người vợ buồn tình ẵm con bỏ đi-ông kiếm sống bên chiếc tủ sửa kính ngày hai dĩa cơm quán chợ đã bao năm rồi-vẫn không hề đau ốm gì nặng. Cứ lai rai đau, uống vài viên thuốc là xong. Người ta nói ông được Trời Phật nuôi-nhưng ông nghĩ, chính ông phải nuôi ông trước. Người bạn vong niên ở dãy phố bên kia đường hằng ngày thuờng mò qua thăm ông- trò chuyện đủ thứ trên đời cho hết giờ nhàn rỗi không biết làm gì khi đã đong đưa ở tuổi 80 cũng vừa ra đi mấy tháng nay rồi. Xa ông-ông Nhương nhớ mãi lời ông thường lập lai để an ủi ông bằng một câu kệ “ Chư pháp tùng duyên sinh-Diệc phục tùng duyên diệt”-vậy là ông ta cũng đã “ tùng duyên diệt” rồi-có gì đâu mà buồn?. Có đôi ba người quen trong khu phố bỗng thấy vắng đi ít lâu-sau hỏi thăm, mới biết họ đã rời xa khu phố vĩnh viễn rồi! Giống như một chuyện đùa chơi vậy.
Đã ba hôm rồi-ông thường bị những cơn sốt, và sau đó là cái lạnh run rẫy ập đến. Ghé hiệu thuốc tây khai bệnh, mua vài liều thuốc về uống-nhưng chỉ thuyên giảm chút ít thôi. Ông chủ hiệu thuốc nói chú bị bệnh sốt siêu vi rồi-phải chích thêm Laroscorbine vietmin C 1 gam mới mau bớt được. Hỏi hộp thuốc bao nhiêu-ông ta cười : “ Tính cả kim chích, chỉ một trăm ngàn chữ mấy? ”. Một trăm ngàn mà còn chớ mấy? Ông Nhương nhớ lại lời người thiếu phụ đến sửa gương tháng trước:“ Nếu trong nhà tôi lúc ấy có được một trăm ngàn thì thằng con trai bốn tuổi của tôi đã không chết tức tưởi sớm sủa như vậy rồ!”. Ông Nhương cũng liều mạng, chỉ lấy mấy liều thuốc viên thôi-một trăm ngàn đến 10 dĩa cơm, ăn được 5 ngày mưa bão ế ẩm kia mà! Nếu “ tùng duyên diệt ” mà “ duyên” đã đến thì dầu có nằm trên đống vàng, đống thuốc như lão Xuân, bà Tuyết cũng đành bó tay mà thôi!
Ông Nhương để xe ngã vào vách, vội mang gói bảo đảm ra săm soi như tìm kiếm ở đó dấu vết nào thân thuộc, nhưng tuyệt nhiên không-chí có tên người gởi rất xa lạ : Tạ Nguyễn Minh Trang. Minh Trang nào? Đâu có Minh Trang nào trong đầu ông từ thuở xưa đến nay?. Nơi gởi ghi quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Vậy ra là ai?
Ông phải dùng dao xếp rọc hai lớp bao giấy chắc chắn, kéo ra được một tập giấy dày có lớp bìa cứng, được kẹp kỹ bằng chiếc kẹp xếp đã hoen rỉ. Lật vào trong -ông bàng hoàng ngã người lên thành ghế, rồi nhắm nghiền mắt lại. Ông không hề tưởng tượng ra nổi lại có thể có ngày như hôm nay . Ông không dám nhìn lại những dòng chữ thương yêu mà chính tay ông đã viết bằng nhiều nét mưc đã lu mờ cách nay hơn 30 năm cho Ngân nữa…
Gần mươi phút ngồi yên với gói thư còn cầm trên tay-ông Nhương chợt cúi xuống như một cái máy-đưa tay kéo thêm 2 tập còn lại. Tất cả 3 tập thư, mỗi tập dày trên 300 trang-đều được bao bìa cứng, kẹp kỹ bằng chiếc kẹp xếp cùng loại . Ông điềm tĩnh giở ra từng tờ thư, những cánh thư cũ đã được Ngân sắp theo thứ tự theo ngày tháng nhận được, từ lá thư đầu tiên ghi ngày 12 tháng 10 năm 1972 được ông viết tại Tuy Hòa trước ngày rời xa cái thị xã yên vắng thân thương ấy để bước vào quãng đời lận đận ( cho mãi đến ngày hôm nay.).
Nhìn lại từng dòng chữ nhỏ li ti trên đủ loại giấy, ghi dấu đủ mọi miền mà gót chân ông đã từng đặt đến, kể cả những miền núi rừng “ không có tên gọi”. Thuở ấy, ông cứ viết rồi cho vào bao thư, dán kín-nhét vào ba lô-chờ đến ngày có ngưởi xuống phố mới nhờ gởi đi cho Ngân một lần. Có tháng, nằm lơ lửng trên đồi trong chiếc lô cốt lạnh lẽo, Nhương viết mỗi ngày hai ba lá thư vì không biết phải làm gì cho hết ngày tháng. Tất cả đã được Ngân dồn vào trong 3 tập thư này như dồn nén vào lòng mình những nhớ thương khắc khỏai bao năm chăng? Lúc này, nỗi nhớ Ngân ngùi ngùi dâng lên trong lòng ông, mỗi lúc một mạnh- có lúc làm ông cảm thấy khó thở, phải ngã người ra thành ghế mà nhắm mắt giây lâu. Ngân đã giữ nguyên 3 tập thư này trong suốt hơn 30 năm qua sao? Nàng đã đọc nó đến bao nhiêu lần trong quảng thời gian đằng đẳng mờ mịt từ ngày xa cách ông tại ngã ba thành trưa hôm ấy?
Một tờ thư nhỏ được gấp làm bốn nằm giữa tập thư thứ 3 rơi xuống chân ông. Ông vội cúi xuống nhặt lên, hy vọng là lá thư tâm tình cuối cùng của Ngân dành cho ông-nhưng không. Thư của Tạ Nguyễn Minh Trang;
“ Thưa chú,
Cháu xin được tự giới thiệu để chú khỏi ngỡ ngàng: Cháu là người cháu gái gọi Cô Ngân bằng Cô ruột. Ba cháu là anh thứ tư-còn cô Ngân là em út. Cháu may mắn được có mặt, được gần cô trong giây phút cuối cùng của cô trên cuộc đời này. Cháu được cô tin tuởng yêu thương nhắn gởi lời cuối cùng trước giờ mất tại bệnh viên ung bứu thành phố vào lúc 21 giờ 45 ngày 12 tháng 9 vừa qua.
Làm theo lời trăn trối của Cô-cháu đã mở chiếc tủ riêng của cô-tìm thấy 3 tập thư-và làm theo y lời cô dặn dò “ Cô nhờ cháu tìm cho ra địa chỉ của Ông Nhương-Trần Thanh Nhương, trước ở (…) sau (…)-mà gởi giúp bảo đảm cho ông ấy 3 tập thư của Cô đã gói sẵn trong ngăn tủ, cháu nhé? “. Sau hơn mấy tuần dò tìm theo những địa danh cô nói-tất cả đều trả lời “ biết tên ông ấy, nhưng hiện giờ không rõ ông đang ở đâu?” . Cháu định nhờ đăng báo “ Tìm Người Thân”; có người khuyên cháu nên nhờ đài phát thanh truyền hình để nhắn tin tìm kiếm...

Cháu chưa quyết định nên làm theo cách nào, thì rất may-người bạn thân của cháu đang làm ở việc ở tòa soạn báo Ngày Mới-phone cho cháu là đã tìm thấy địa chỉ và cả hình ảnh của chú nữa. Cô ấy bảo “mình nhờ Google đấy! thật tuyệt diệu-cậu à!”. Qua sự hướng dẫn của cô bạn, cháu đã tìm thấy hình ảnh của chú (giống những bức ảnh còn lưu trong album của cô cháu) nên cháu rất tin tưởng gởi những gì cô cháu đã dặn lúc ra đi: “Những gì của anh, em xin gởi lại cho anh”. Cháu mong chú hãy vui lòng nhận lại “món quà một đời người” mà cô cháu rất trân quý đã gìn giữ bao năm trong nỗi cô độc và khổ đau…”
Ngoài trời, cơn bão số 9 hình như đang đến…

Tháng 11 năm 2008

MANG VIÊN LONG
READ MORE - PHỐ NHỎ, NHỮNG NGÀY MƯA… - Truyện ngắn Mang Viên Long

Friday, October 23, 2015

Thơ: Nguyễn Hữu Minh Quân - ĐỘC THOẠI PHỐ - HÁT RU KỈ NIỆM

Tác giả Nguyễn Hữu Minh Quân


Nguyễn Hữu Minh Quân

ĐỘC THOẠI PHỐ

Nắng vàng tươi như bia
Phố xá bạt ngàn váy ngắn
Người đàn ông ngồi trong quán vắng
Ngắm những mặt người hao hao giống nhau
Những lập trình những giáo điều sáo rỗng
Hơn hớn mặt hoa da phấn
Những cô gái @ mắt sắc như dao
Khoét vào nỗi đau túi rỗng
Phố trôi trong chiều chậm
Ta chìa mặt rổ ngó nghênh trời
Người điên lang thang dưới mưa rơi
Kẻ bất chí ở đời gặp nhau bỗng thành tri kỉ
Lặng lẽ dìu nhau bên lề phố hẹp
Đường đời có lắm ngã ba, có nhiều chổ rẻ
Biết về đâu, tìm đâu…
Ôi những con thú có hộ khẩu
Không chỉ chia nhau nỗi đau hay niềm hạnh phúc…
Không chỉ đến với nhau bằng con tim thế kỉ
Mặt trời mặt trăng và triệu triệu vì sao…

30.4.2015


HÁT RU KỈ NIỆM


Rũ bụi. Áo phai. Câu hát lỡ
Tóc pha sương lấm tấm hạt đau
Ta với  ngày lãng du biền biệt
Hẹn gặp em cuối giấc chiêm bao

Rũ hết tàn phai, chiều cô quạnh
Những ngón gầy đan giấc mơ mưa
Em chớ qua cầu lỡ tình phơi áo
Nhỡ mưa cuối mùa hoen ướt mắt nhau

Em đếm gì trên lưng ngày tháng?
Tuổi ta treo vất vưởng câu thề
Về ngoái lại thấy quanh mình là mộng
Với  nụ cười tím nửa môi đau…

15.6.2015
NHMQ


READ MORE - Thơ: Nguyễn Hữu Minh Quân - ĐỘC THOẠI PHỐ - HÁT RU KỈ NIỆM

TẢNG ĐÁ - thơ Chu Vương Miện

Tác giả Chu Vương Miện


Chu Vương Miện
TẢNG ĐÁ 

nằm một chỗ
nước chẩy hoài quanh năm
một năm 12 tháng
mỗi tháng một đêm rằm
Phật Tổ cũng là người
Triết Gia cũng là người 
vua quan cũng là người 
toàn là bá tánh thôi

có ngừơi tin ở mình
người tin ở kẻ khác
tin thật hay chả tin
khi chết thì vẫn chết 
chết là không còn thở
chê ngủ giường ngủ đất
suốt phần đời lặng im
không cười và không khóc
tài chết ngoài pháp trường
sắc sè sè mặt cỏ
hỏi ai nằm chốn đó 
hầu như đủ lãng quên 
giữa sự sống và chết
ở nom sông Tiền Đường
nẻo nào du địa phủ
nẻo nào qui cố hương
đạo cô lần tràng hạt
chèo đò vãi Giác Duyên
xưa lầu hồng cao ngất
giờ mái dột am thiền

                    CVM



READ MORE - TẢNG ĐÁ - thơ Chu Vương Miện

CHÙM THƠ 30 NĂM - Huy Uyên

Tác giả Huy Uyên



Huy Uyên
Chùm thơ 30 năm  


1- PHÙ-DUNG TỪ

Tay người một đóa phù-dung
cuối chân trời cũ ráng hồng mù phai
ta từ độ lạc xa bầy
nửa mê nửa tỉnh nửa say lưng trời
về đâu ơi đám vân trôi
cùng ta cuồng trổi giọng cười thế-nhân
em đi xiêm áo đường trần
nhìn hoa mà héo hắt từng cánh hoa .
1-93


2-PHÙ-DUNG TỪ 2

Hái chi đóa hoa phù-dung
em về bên ấy có buồn
ngữa tay tìm đường sinh-mệnh
cả đời trắng sợi sắc không.

Ngày đi mây cũng bay đi
bên sông nước chảy mắt người
em nở về chi chốn cũ
trên cầu chỉ bóng mình tôi.

Ờ rồi em cũng về thôi
đường khuya hai ta còn lại
tóc bay xao buồn biết mấy
đêm qua thành xưa mắt người.

Đêm qua ngọn đèn hiu hắt
cay nồng ấm lạnh môi hôn
ai kia giữa trời đứng hát
giữa thinh-không giọng quá buồn.

Rồi hoa cũng tím nhạt phai
tim anh mãi có bao giờ
đỏ như màu hoa buổi trước
cháy lên nổi nhớ tim ơi!

Hoa rồi có còn ở lại
bên thành cầu xưa bóng ai
bơ vơ đổ dài tưởng tiếc
người ấy - ờ xa lắm rồi.

Đêm nghe tin em đi rồi
buồn buồn cầm ly rượu cũ
nhớ nhau nhiều đêm tâm-sự
chuyện tình cay đắng đầy vơi.

Rồi hoa rồi bướm rồi sông
anh yêu xiết bao lòng biển
anh yêu núi xưa khôn cùng
cho dù dòng đời tan biến
giữa đám hoa phù-dung- không !
9-93

3-SÀI-GÒN 13

Vẫn một mình trở lại Sài-Gòn
ngồi bên quán nhìn người qua lại
từ buổi Pennsyl.
em đi xa và ta cũng đi xa.

Đợi em về Sài-Gòn 13
những đường me bay lá vàng đợi gió
tiếng ai giữa chiều nghẹn thở
Chúa trên cao dang tay khóc thầm.

Ta đã quên đời qua đầu súng
bụi đường phai dấu máu hờn căm
một mình đi đếm cả đêm chân
mà đau đớn với Sài-Gòn phù- thủy .

Nghe đâu đây giọng ca của quỉ
trên vòm me thiên-chúa lao xao
nửa đêm đi soi thầm gương mặt
mình ba mươi già thế này sao ?

Vẫn gọi tên Sài-Gòn 13
(mai ai đi về phố cũ)
ngồi xe buýt chạy loanh quanh thành-phố
biết tìm đâu hình bóng xa xưa .

Gởi lại lời hẹn hò từ biệt
mối thù câm đem đốt thành than
bôi lên mặt mỗi người một ít
rồi nhìn nhau mà bỗng cười khan (!) .

Quá nửa đời quanh ngã năm ngã bảy
ta không nhớ đâu ơi Sài-Gòn
vẫn mang hoài nỗi buồn sau lưng
ta hóa điên, Sài-Gòn có biết ?

Ta đóng băng ta trăm ngàn tưởng tiếc
thắp lên em ngọn đèn đời ai
mười-ba-năm
phố rộng
đường dài
đã nguội lạnh một trái tim bầm chín.
X.mas 87
Huy Uyên

4-MÙA THU XA 

Lá bảo thương đời cây biết mấy, khi chiều đau thương nắng xa trôi-vàng lạnh bao mùa thu ngái ngủ và buồn ơi chia tay chiều thôi!
Những tưởng gió sẽ bay đi mãi, trong tim người lặng lẽ vết thương của một đời đi không trở lại lấy khăn lau dấu lệ bên đường.
Trong nổi phiêu-du thời bé nhỏ, em về đâu ơi lá đời anh
để mưa thu mang hoài nỗi nhớ hỏi quên chưa cuối phố khuya buồn?
Trong xanh xao em đời cỏ biếc bóng ai đi xao xuyến đò chiều ráng đỏ ngờ trăm ngàn tưởng tiếc một thời chết đi một tình yêu.
Một thời nhói đau bao chờ đợi. Hơi thở...Em về trời bơ vơ. Anh thắp lên nụ hôn hấp hối, một sao băng vời vợi bến bờ.
Nỗi nhớ nhung quay buốt độ nào bên biển xanh bên cát rì rào chỉ còn bóng em buồn bã đứng nhìn biển xanh và sóng lao xao .
Có thể chưa ai về lối cũ, nên xin em một thoáng đợi chờ, dầu tiếng chuông đổ hoài réo gọi bước chân anh vướng trời sang thu.
Cát biển bỗng hát lên bất ngờ nỗi cô đơn của muôn đời màu trắng. Có thể tim anh hoài cháy bỏng, có thể tim anh đồng ca cùng em: lời ru thánh buồn gọi mãi tên. Cả anh cả em hai ta tìm giữa trăm ngã ba đời vô vọng.
Ai nở hái chi đóa quỳnh đêm nở muộn màng cháy hai trái tim. Anh đi mang theo cơn mê thiếp, về em... mùa thu xa tìm !!!

5- HOA MUA & SARAH.

Lên đòi anh hái hoa mua
trao em màu hoa tím dại
hai ta nhìn nhau không nói
không hẹn chờ nhau sang mùa.

Em hỏi anh tên màu hoa
anh buồn bảo nhỏ ngày xưa
có người hái hoa đợi mãi
rồi chia tay đến bây giờ.

Anh bảo loài hoa hoang dại
mọc bơ vơ tận lưng đồi
một ngày chờ người tới hái
trọn đời hoa mãi đơn côi.

Em nhìn anh trông buồn cười
bên em còn lại phút giây
ngày mai em đi, đi mãi
Sarah và mây ngang trời.

Trao em nụ hôn ban đầu
em về bên ấy phương nao?
bỏ chi trái tim ở lại
đau tới ngàn đời xưa sau .

Lên đồi hoa mua anh hái
Sarah, Sarah đi rồi!

(Gởi S. ở UK-1994)

Huy Uyên
READ MORE - CHÙM THƠ 30 NĂM - Huy Uyên