TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Friday, April 24, 2015
THÁNG TƯ CÒN TRONG TIM - thơ Trúc Thanh Tâm
Người một lần họp mặt
Rồi nghìn trùng xa nhau
Mùa xuân vờ trôi mất
Trần gian đầy chiêm bao
Cầu tre qua xóm nhỏ
Hoàng hôn lạc nẻo tìm
Tháng tư người cất giữ
Nên tình còn trong tim
Như đời ta buổi sáng
Chờ mặt trời biển đông
Tình chưa phai màu nắng
Nên thích má em hồng
Áo bạc màu sương gió
Ta treo nỗi buồn cao
Thương miền trăng thơ ấu
Ru nhau buổi ban đầu
Chín dòng sông hò hẹn
Ta một đời bôn ba
Buộc hồn nhau sợi khói
Thơm ngát hương quê nhà
Bốn mươi năm tình lỡ
Nước xa nguồn ra khơi
Thời gian mờ nhân ảnh
Tìm nhau giữa cõi đời
Nửa đời ta lận đận
Nửa đời người hư hao
Cánh chim trời bay mỏi
Nên thèm về bên nhau .
Tháng 4. 2015
TRÚC THANH TÂM
( Châu Đốc )
EM ĐỪNG VỘI - thơ Vĩnh Thuyên
Mưa đầu mùa đổ xuống
Con kinh
Chảy ra biển thành sương
Trên mi mắt
Em đâu biết
Những giọt mưa bong bóng
Đã vỡ oà tan tác
Trong tôi
Cầu Tầm Phương*
Một thương
Mười đợi
Trời tháng 3
Chim én lạc bầy
Đêm Giồng Trôm*
Nhớ người dịu vợi
Buổi cơm chiều
Một đợi
Mười thương
Con nước ròng
Theo dòng
Kinh cạn
Tiếng sáo diều
Gọi bạn
Dáng xưa
Cá lòng tong giật mình
Nước lớn
Chạy quanh cánh đồng
Bất tận
Tôi ơi...!
Vĩnh Thuyên
*Tầm Phương, *Giồng Trôm là địa danh của H. Châu Thành, Tỉnh Trà Vinh.
Tên thật: Dương Văn Thạnh.
KM22, QL22B, Long Thành, Nam Hòa Thành, Tây Ninh.
ĐT : 0913 955 275.
EMAIL: duongvinhthuyen@gmail.com.
TRẢNG ĐẤT TÂY ĐÔ - thơ Phan Minh Châu
TRẢNG ĐẤT TÂY ĐÔ
(Viết tặng khu dự án Lê hồng
Phong 2
Thành phố Nha Trang)
Đất rạch ròi mảnh đất mới sinh sôi
Được chào bán cho những người mở
đất
Không xa phố và cũng không xa biển
Người hôn mê bên miếng đất vừa tầm
Miếng đất phèn ủ nhựa bốn mươi năm
Nay bỗng cựa mình đơm hoa nhú mật
Tiếng máy xới cứ ngày đêm tất bật
Đất thay da đổi thịt từng giờ
Miếng đất mềm mà cứ ngỡ trong mơ
Tưởng đi suốt cuộc đời không với
tới
Trưa nắng rát da trên vùng đất mới
Tiếng máy reo ầm ỉ cả công trường
Tiếng máy nhồi êm ả đến yêu thương
Từng thước cọc đâm sâu vào đất
Đêm trằn trọc bao niềm vui trong
mắt
Phố vươn vai đô thị lớn lên dần
Đất một thời là trảng đất xa xăm
Đất èo uột thiếu tay người vun bón
Bao nhiêu năm đất đau cùng năm
tháng
Đến hôm nay đất bổng tượng hình
Mảnh đất phèn bổng chợt hồi sinh
Bổng toả sáng qua bàn tay người
thợ
Người với đất cùng chung nhau nhịp
thở
Đất vươn vai thành phố thị cao
tầng
Những con đường mềm mại đến yêu
thương
Chạy thẳng tắp trên vùng đô thị
mới
Những mắt đèn đêm như một lời sám
hối
Cho tháng năm đất hẩm... đất hờ.
Những hàng cây nứt nụ đâm bờ
Đang hứa hẹn một ngày không xa nữa
Cây phủ bóng cho những chiều êm ả
Khi mùa thu ngào ngạt sắc hoa vàng
Khi mùa xuân thổn thức tiết xuân
sang
Khi mùa hạ cháy bung hàng phượng
đỏ
Và cứ thế đất qua tay người thợ
Mảng trời xanh hút mắt lại đơm mầm
Chạnh lòng không em? Những buổi
tan tầm
Tiếng tàu rót vào ta ngày xa biển
Trên sân ga với bao người đưa, tiễn
Lại trở về trên mảnh đất yêu
thương.
Ôi thương quá TÂY ĐÔ mảnh đất đã
tượng hình
Đã toả sáng đã bùng lên mạnh mẽ
Xin cảm ơn anh những người thợ trẻ
Đã thổi hồn lên mảnh đất TÂY ĐÔ .
PHAN MINH CHÂU
3 b Âu Cơ thành phố NHA TRANG
KHÁNH HOÀ
D.đ. 0922992662
Thursday, April 23, 2015
NGƯỜI PHỤ NỮ HỌ TRƯƠNG VÀ NGÔI MỘ CHUNG TRÊN ĐỒI TỪ HIẾU - Lê Thí
Lê Thí
NGƯỜI
PHỤ NỮ HỌ TRƯƠNG
VÀ NGÔI MỘ CHUNG TRÊN ĐỒI TỪ HIẾU
Hai
nhà cách mạng người Quảng tuy không sinh cùng năm nhưng
lại cùng lý tưởng, cùng hy sinh một ngày cho sự nghiệp
giải phóng dân tộc và cùng được an nghỉ với nhau
trong một ngôi mộ chung. Đó là Thái Phiên và Trần Cao
Vân.
Trong
cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội (thường
được gọi là cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân) năm
1916, Trần Cao Vân và Thái Phiên là nhân vật chủ chốt,
có vai trò quan trọng hàng đầu. Điều này được thể
hiện trong tờ chiếu khởi nghĩa của vua Duy Tân đề ngày
27 tháng 3 năm Duy Tân thứ mười (29-4-1916) hiện còn lưu
trữ tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại (The Archives
Nationales d’Outre-Mer, viết tắt là ANOM) của Pháp ở
Aix-en-Provence và Văn khố Toàn quyền Đông Dương. Tờ
chiếu này có sao gửi cho 4 người gồm: Trần Cao Vân,
Thái Phiên, Lâm Nhĩ, Nguyễn Quang Siêu.
Nguyên
văn trong tờ chiếu (được dịch ra quốc ngữ):
“...
Trong
tất cả mọi việc, Trẫm trao quyền hành động cho Hồng
Việt, Hoàng Anh, Thanh Minh và Lam Giang, với sự hợp tác
của những người có tấm lòng cao cả trong ba kỳ của
Quốc gia Annam, dù họ là quan chức, viên chức, đương
nhiệm hay không đương nhiệm, các nho sĩ, thân hào, người
bình dân, và tất cả đều vì mục đích theo đuổi là
đem lại một kỷ nguyên Văn Minh.
Ngay
sau khi sự nghiệp hoàn thành, tất cả những ai có cống
hiến sẽ được nhận những phần thưởng xứng đáng và
sẽ trở thành bất tử qua thời gian.
Bất
cứ ai cản trở sự nghiệp này sẽ bị truy tố và trừng
phạt không tha thứ.
Nay
kính báo.
Chuyển
để thi hành:
-
đến đạo nhơn Trần... (tức Trần Cao Vân - LT), tự
Hồng Việt - chức vụ và cấp bậc: Cố vấn cao cấp, Tể
tướng để phục hưng, phòng vệ đoàn tùy tùng hoàng
gia, phụ trách các vấn đề quân sự.
-
đến đạo nhơn Thái... (tức Thái Phiên - LT), tự Hoàng
Anh, Phó cố vấn cao cấp, Tổng đốc Hoàng Thành, phụ
trách các vấn đề tài chính và kinh tế”.
-
đến…”
Cuộc
khởi nghĩa được dự định tổ chức vào đúng 1 giờ
sáng ngày 3-5-1916. Trần Cao Vân và Thái Phiên phân
nhiệm cho các nhân vật, chiếm các tỉnh, còn hai ông điều
khiển việc chiếm kinh đô Huế, rước vua Duy Tân ra khỏi
Đại Nội, đi vào phía Nam chờ bình định xong sẽ phò
nhà vua trở lại ngôi.
Đại
sự bị bại lộ, cuộc khởi nghĩa thất bại. Thái Phiên,
Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu bị bắt
tại chùa Ngũ Phong (gần An Cựu, thành phố Huế).
Thái
Phiên và Trần Cao Vân đã bị Viện Cơ mật kết án:
“Thủy
nhi Hậu hồ thùy điếu, thiện tả chiếu văn, nhi Thương
Bạc đình thuyền, yêu nghinh thánh giá, Hà Trung mạch
phạn,Ngũ Lĩnh kê thang, thừa dư chí thử phong trần, môi
nghiệt giai do thử bối”
(Tạm dịch: “Ban đầu buông câu ở Hậu Hồ, tự thảo
chiếu văn, kế đến neo thuyền ở bến Thương Bạc, chờ
rước nhà vua, mời vua dùng cơm lạt ở làng Hà Trung, ăn
cháo gà ở núi Ngũ Phong, mình rồng phải chịu dãi dầu
sương gió, tội lỗi này đều do bọn kia tạo ra) và ra
lệnh xử chém.
Chiều
17-5-1916 Thái Phiên cùng Trần Cao Vân, Nguyễn Quang Siêu và
Tôn Thất Đề ra trường chém ở An Hòa đền nợ nước.
Về
cái chết của hai ông, các tài liệu đều cho là diễn ra
vào ngày 17-5-1916. Nhưng gần đây nhà nghiên cứu
Nguyễn Trương Đàn trên tạp chí Xưa và Nay và báo Đà
Nẵng Cuối tuần lại dẫn các tờ báo Trung Bắc Tân Văn
(số ngày 27-5-1916), Lục Tỉnh Tân Văn, Nông Cổ Mín Đàm
(8-6-1916) lại cho rằng cuộc xử chém diễn ra vào lúc 16
giờ 30 chiều 16-5-1916. Đây là mẩu tin ngắn trên báo
Trung Bắc Tân Văn: “Hồi
4 giờ rưỡi chiều 16 Mai, bốn người mưu việc khởi
loạn Trung Kỳ, đã phải xử tử tại đường Quảng Trị,
cách la-ga An Hòa 100 thước. Một người tên là Trần Cao
Vân và một người là Thái Phiên, cùng ở Quảng Nam
cả...”.
Cho
đến nay vẫn không biết vì sao có sự vênh lệch này!
Tương
truyền, tại pháp trường hôm ấy, khi đầu Thái Phiên
rơi xuống đất, một thiếu phụ mặc đồ tang đã chạy
ngay đến, ôm chặt thi thể người chí sĩ vào lòng, khóc
thương thảm thiết. Khi bị lôi ra, thiếu phụ đã xõa
tung mái tóc đen thấm lấy dòng máu tươi từ cơ thể
người chí sĩ. Thiếu phụ ấy là bà Trần Thị Băng,
thiếp của Thái Phiên. Bà đã giữ máu ấy trên đầu,
không chịu tắm gội. Mấy tháng sau bà mang bệnh nhưng
kiên quyết không uống thuốc để chết theo chồng.
Cái
chết của Thái Phiên, Trần Cao Vân và các chí sĩ của
cuộc khởi nghĩa đã gây xúc động lớn. Huỳnh Thúc
Kháng lúc này đang thụ án ở Côn Đảo nghe tin cái chết
oai hùng này đã có thơ tặng Thái Phiên (được dịch ra
quốc ngữ): Âu học không đem rút của người,/ Chả
thành đời sống vứt như chơi./ Kìa phường học mới
đông như kiến,/ Đêm hỏi lòng chăng có hổ ngươi?
(Huỳnh Thúc Kháng, Thi Tù Tùng Thoại, Nam Cường, 1951).
Người
Pháp và Nam triều đã cho vùi xác của 4 vị ngay tại pháp
trường với hy vọng sẽ tóm thêm được những đồng
chí của các vị khi họ đến viếng.
Năm
1922, con trai của Trần Cao Vân đã làm đơn gửi khắp nơi
ở Huế để xin được đưa hài cốt của cha về cải
táng ở quê nhà nhưng tất cả đều bị từ chối.
Tại
bãi chém An Hòa, hai ngôi mộ lâu ngày không được chăm
sóc có khả năng bị mất dấu. Nên năm 1925, một đồng
chí của Trần Cao Vân và Thái Phiên là bà Trương Thị
Dương đã lén đưa thi hài hai ông đem chôn trong một
ngôi mộ chung tại đồi Từ Hiếu nay thuộc xã Thủy
Xuân, thành phố Huế. Ngôi mộ chung này đã được công
nhận là Di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia vào ngày
14-7-1990. Về việc hai chí sĩ được cải táng chung trong
một ngôi mộ được bà Dương thuật lại như sau: “Ngày
5 tháng 5 năm Ất Sửu (1925), tôi và đứa cháu là Đặng
Khánh Di vừa đi đến cầu Vân Căn, bỗng một chiếc guốc
bị gãy đôi. Tôi nghi có điềm chẳng lành. Đến chùa
Đại Trung, gặp ông Nguyễn Hữu Cảnh (trị sự chùa),
ông giục tôi đi, không nên do dự.
3
giờ sáng ngày hôm sau (mồng 6), chúng tôi đi thẳng tới
chỗ di hài hai cụ. Người giữ nấm mộ ấy là Thủ Tỵ),
y có người con bị bệnh phong, làm chòi ở khít bên mộ
để giữ, ai đến gần, nó bắt.
Tới
nơi, tôi cho thằng phong ấy 3 đồng, trả cho ông Thủ Tỵ
6 đồng, và thuê 5 người nữa với ông Thủ Tỵ 24 đồng,
xin dời hộ, vì tôi nói là mộ của ông chú tôi.
Hốt
cốt lên, tôi lấy giấy tinh (tức giấy trong có viết chữ
Hán) bỏ vào hai thúng đầy, rồi qua cửa Chính Tây ngồi
đợi. Khi hốt xong, bọn làm thuê thấy không có mặt tôi,
hỏi, thì ông Thủ Tỵ nói tôi đi mượn tiền, và có nhờ
gánh cốt qua bên ấy (cửa Chính Tây) mới trả tiền đủ
(đã trả trước 12 đồng). Bọn họ dùng dằng một lúc
rồi cũng phải gánh đi.
Đến
cửa Chính Tây, tôi trả tiền đủ, liền thuê hai chiếc
xe kéo: một chiếc tôi chở cốt, một chiếc cho người
cháu tôi và Nguyễn Hữu Cảnh ngồi. Xe đi thẳng tới
tháp Hòa thượng Kiết Mao gần chùa Châu Lâm, tôi đặt
cốt lên bàn, thắp hương ngồi giữ. Đến sáng ngày, tôi
thuê Trùm Ngữ mua hai tiểu sành cùng giấy tờ, lại thuê
gánh nước tới, tôi rửa sạch cốt hai cụ, liệm vào
tiểu sành.
Hai
di cốt này trải qua trên 9 năm, đến nay vẫn còn nguyên
vẹn. Cốt cụ Thái vàng rực, bỏ vào tiểu sành có dư,
phải lấy bớt giấy lót ra. Cụ Thái lúc lâm hình mặc
áo lương, máu dính sát vào cốt, gỡ ra nghe rạt rạt. Cụ
Trần bận áo vải dù, cũng dính sát vào cốt. Tôi thuê
người đào huyệt và đắp nấm hết 4 đồng. Ai dè chôn
được 11 ngày, Thừa Phủ hay tin, cho lính đến canh gác.
Nhờ có người báo tin về ông Nguyễn Hữu Cảnh, ông
Cảnh báo về tôi, tôi thừa đêm khuya thuê 4 người, mỗi
người 4 cắc hết 1 đồng sáu, đem chôn nơi khác, hiện
nay ở gần chùa Châu Lâm, nhưng chôn thành một nấm.
Nơi
đã dời đi, tôi vẫn cho đắp lại thành nấm tử tế,
rào giậu kỹ càng, làm như không ai đụng chạm đến.
Thế là nơi ấy vẫn có hai cái nấm mồ, nhưng không có
cốt người!”.
(Dẫn lại Nguyễn Trương Đàn, trong tạp chí Hồn Việt)
Bí
mật này được bà Dương giữ kín cho mãi đến năm 1956,
khi thấy không còn nguy hiểm nên đã tiết lộ với con
cháu và ông Võ Như Nguyện là con trai của nhà cách mạng
Võ Bá Hạp, vốn là đồng chí của bà. Ông Nguyện lúc
này là Dân biểu Quốc hội của Việt Nam Cộng hòa. Sau
đó bà đã khắc tấm bia bằng chữ Hán “Trần Cao Quý
Công-Thái Duy Quý Công” và dựng trước ngôi mộ chung
của hai ông. Tấm bia này hiện nay vẫn còn.
Chính
vì ngôi mộ chung nên cho đến nay hai ông vẫn chưa thể
về lại quê nhà.Có khi đó là ý nguyện của hai ông,
không muốn xa nhau và … xa Huế!.
Bà
Trương Thị Dương có biệt hiệu là Quảng Hà, sinh năm
1881 tại làng Tân Điền, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng
Trị là người được Phan Bội Châu kết nạp vào phong
trào Đông Du năm 1903, phụ trách việc vận động tài
chánh cho du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản. Năm 1914,
thông qua bà Mai Thị Vàng (con gái Mai Khắc Đôn và là vợ
vua Duy Tân) bà được kết nạp vào tổ chức Việt Nam
Quang phục hội, được vua Duy Tân giao nhiệm vụ làm
liên lạc với các nhà cách mạng. Bà đã từng được
nhà vua sai vào tận làng Tư Phú nay là xã Điện Phong,
huyện Điện Bàn để trao nhiệm vụ cho Trần Cao Vân.
Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại bà đã về ẩn mình ở
xóm Nhà Trưa, nay là thôn Tân Trưng, xã Hải Chánh, huyện
Hải Lăng, Quảng Trị. Thời gian này bà luôn đau đáu một
ý nguyện là tìm cách đưa hài cốt hai đồng chí của
mình đến chôn ở một nơi đường hoàng hơn để sau này
có điều kiện sẽ đưa về an nghỉ ở quê nhà, để con
cháu được hương khói. Bà đã nhiều lần đến thăm mộ
nhất là sau lần cải táng năm 1925. Bà mất ngày 24
tháng 7 năm 1957, hưởng thọ 76 tuổi . Đám tang của bà
được tổ chức trọng thể có sự tham gia của nhiều
quan chức, đặc biệt là có cả mẹ của vua Duy Tân. Hiện
nay mộ bà vẫn còn ở xã Hải Chánh huyện Hải Lăng.
Ở
Đà Nẵng, trên đường Trần Cao Vân có ngôi trường phổ
thông trung học lớn mang tên Thái Phiên, như một gợi nhớ
về hai nhà cách mạng tuy sinh không cùng năm nhưng lại
cùng lý tưởng, cùng hy sinh một ngày cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc và cùng được an nghỉ với nhau chung trong
một ngôi mộ. Có lẽ ở Tam Kỳ, Đà Nẵng… nên có một
con đường mang tên Trương Thị Dương, để thể hiện sự
tri ân của người dân xứ Quảng cho tấm lòng mà bà đã
dành cho hai chí sĩ cách mạng kiệt xuất của quê hương
mình.
Hậu duệ của
các vị Thái Phiên,Trần Cao Vân, Trương Thị Dương trước
ngôi mộ chung của Thái Phiên và Trần Cao Vân tại Huế.
TÌNH MƯA LỐI SẦU - MƯA HỒNG - thơ Trúc Thanh Tâm
TÌNH
MƯA LỐI SẦU
Xa
người từ cuộc bể dâu
Dài
cơn binh lửa quên câu hẹn về
Nầy
em, chút tuổi đam mê
Anh
nhìn anh, ngọn đèn khuya chốn người
Nhân
đi em, đó nụ cười
Cuộc
đời anh, cả một đời bôn ba
Tháng
ngày gót đá còn trơ
Nhớ
sâu vực thẳm, tình mưa lối sầu !
MƯA
HỒNG
Đêm
về mắt đọng chiêm bao
Nặng
duyên tiền kiếp từ trao cho người
Mưa
hồng rụng xuống vườn môi
Người
ăn trái cấm nên người thủy chung
Mùa
khô dấu bụi chân hồng
Có
loài hoa nở cánh đồng tang thương !
TTT
(Thi tập - Lục Bát Thời Yêu Em 1972)
Châu Thạch - ĐỌC “THÁNG CỦA MÙA” THƠ VŨ MIÊN THẢO
Châu Thạch
ĐỌC “THÁNG CỦA MÙA”, THƠ VŨ
MIÊN THẢO
Vũ
Miên Thảo
THÁNG
CỦA MÙA!
Tháng của mùa lá gọi mưa bay
nắng
dấu bóng chiều trong chéo áo
đường
ướt mặt nên em rưng mắt bão
nhá
nhem nỗi buồn tia chớp cong mi
Tháng
của mùa tê tê ngón gầy
nhăn
vân thâm không tay ai nắm
cứ
những giọt thu lay phay chạm
chổ
không anh... môi đắng niềm đau!
Tháng
của mùa nên ta không nhau
hạnh
phúc trốn sau chòm mây xám
trăng
không bóng chỗ anh ngồi lại trống
đêm
mùa vàng thêm chút nữa… xanh xao
Tháng
của mùa sao lại nghe nao nao!
lối
xưa người sẽ về son gót mới
hồn
đã cũ cớ gì ta cứ đợi!?
một
vụn tình! Ai bảo chẳng hư hao?!
10-2014
Lời bình: Châu Thạch
Vế một của bài thơ:
Tháng của mùa lá gọi mưa bay
nắng dấu bóng chiều trong
chéo áo
đường ướt mặt nên em rưng mắt
bão
nhá nhem nỗi buồn tia chớp
cong mi
“Tháng của mùa” là tháng mấy
khó biết được, nhưng theo tôi thì “lá
gọi mưa bay” vì lá thiếu nước nên mới phải cần mưa. Thiếu nước lá phải vàng.
Hơn nữa, “mưa bay” nên đường chỉ “ướt mặt”
chứ không sủng nước thường là về mùa thu. Vậy là nhà thơ ám chỉ, đến
tháng của mùa thu rồi (Mùa của lá vàng và mưa bay).
“Nắng dấu bóng chiều trong
chéo áo”, nghĩa là bóng chiều chỉ là những vết nhỏ nhoi, một chéo áo cũng che
vừa hết, nên không gian đã sắp tối rồi. Ở câu thứ tư, tác giả dùng chữ “nhá
nhem nỗi buồn” cũng có một phần ám chỉ đến không gian, thời gian lúc ấy sắp về
đêm.
“Mắt bão” là tâm bão (vùng
giữa các cơn lốc xoáy của bão). Mắt bão là một khu vực hầu như lặng gió, nơi
yên bình nhất của cơn bão, thậm chí có khi trời quang mây tạnh, có thể thấy
trăng sao vào buổi tối. “Nhá nhem nỗi buồn” là nỗi buồn của em cũng làm cho bầu
trời sụp xuống như tối nhá nhem, nhưng khi em liếc nhìn thì vành mi cong chẳng
khác gì tia chớp loé lên.
Hai câu thơ đầu ám chỉ thời
gian, không gian.Hai câu thơ sau ám chỉ mắt em. Cả bốn câu thơ hoà nhập mắt em
trong mùa thu, nhưng không phải của một mùa thu bình yên, cũng không phải một
mùa thu có bão tố. Vậy đó là mùa thu gì?. Trả lời: –Mùa thu trong mắt em. Mùa
thu ngoài trời bình yên chỉ có mưa bay, nhưng mùa thu trong mắt em đã hình
thành một cơn bão tố. Cơn bão tố đến rồi, nhưng mắt em là tâm bão nên rờn rợn
trong sự yên bình. Bốn câu thơ, mỗi câu vẽ nên những hình ảnh theo trường phái
lập thể, trừu tượng... Lập thể vì nắng là chéo áo, con mắt ở trong bão, rèm mi ở
trong tia chớp. Trừu tượng vì lấy mùa thu làm tâm trạng của em và lấy nỗi buồn
của em làm một mùa thu khác lạ. Trong tác phẩm của họa sỹ lập thể, đối tượng
được mổ xẻ, phân tích và được kết hợp lại trong một hình thức trừu tượng. Người
họa sỹ không quan sát đối tượng ở một góc nhìn cố định, nhưng phân chia thành
nhiều mặt khác nhau, nhiều khía cạnh khác nhau. Thông thường các bề mặt, các
mặt phẳng giao với nhau không theo các quy tắc phối cảnh, làm cho người xem khó
nhận ra chiều sâu của bức tranh, nhưng khi đã nhận ra sẽ thấy được giá trị nghệ
thuật cao của nó. Ở bốn câu thơ nầy, hình ảnh và tâm trạng được cắt thành nhiều
mảng, gắn bên nhau, liền cạnh nhau khiến cho bức tranh mưa, nắng, đường và mắt
kết hợp lại, để diễn tả cái chiều sâu thẳm của mùa thu và nỗi buồn của em trừu
tượng.
Qua vế thứ hai, tác giả đem
mùa thu vào cả trong bàn tay em và để nỗi buồn em chạy trong đường máu:
Tháng của mùa tê tê ngón gầy
Nhăn vân thâm không tay ai
nắm
cứ những giọt thu lay phay
chạm
chổ không anh… môi đắng niềm
đau!
Thời tiết làm cho em tê tê
ngón tay chăng? Không phải đâu. Nỗi buồn đã làm cho em tê ngón tay. Vì sao vậy?
Vì “nhăn vân thâm không tay ai nắm” nghĩa là những vân tay trên bàn tay em
chằng chịt, làm cho bàn tay em nhăn và thâm đen vì chẳng có ai cầm. Từ đó, em
nghe ngón tay mình tê tê và hao gầy.
Theo khoa tử vi, đường vân
tay em nhăn quá, thể hiện đường đời em gian truân biết bao.
Em đi trong mưa, giọt thu
chạm khắp mình em. Cứ chỗ nào “không anh” thì giọt thu chạm vào làm “môi đắng
niềm đau”. Vậy là cả thể xác em đau? Thật ra, thể xác em không đau mà chính
linh hồn em đau; đau đến độ đường gân, thớ thịt cũng đau theo.
Vũ Miên Thảo lấy cái đau của
thể xác diễn tả nỗi đau tình cảm trong lòng. Nỗi đau đó rưng rưng từng thớ
thịt, nhưng chính xác ra, nó đang gặm nhấm tâm tư của nàng. Vế thơ trên cho
thấy, cơn đau trùm lên bóng chiều nhá nhem,vế thơ nầy cho ta hiểu cơn đau thu
vào nội tâm, chạy trong đường máu, biểu hiện nỗi cô đơn cùng tận, chỉ một mình
nàng gánh chịu.
Qua vế thơ thứ ba, tác giả
đưa cái vu vơ của sự “không nhau” và bây giờ mới thấy có nột chút gì gió trăng
trong cuộc tình:
Tháng của mùa nên ta không
nhau
hạnh phúc trốn sau chòm mây
xám
trăng không bóng chỗ anh ngồi
lại trống
đêm mùa vàng thêm chút nữa
xanh xao
À! Bây giờ mới vỡ lẽ ra, hai
vế thơ trên chàng đã mang giùm tâm trạng đau buồn và than thở cho em. Ở hai vế
thơ sau, chàng mới than thở cho chính mình.
“Tháng của mùa nên ta không
nhau”.
Câu thơ thể hiện đường tình
bị chia cắt do đường đời làm đứt đoạn. Và họ vẫn yêu, vẫn chia đau khổ cho
nhau, nhưng ngã rẽ cuộc đời buộc phải xa cách. Nàng đi trong trời nhá nhem,
chàng ngồi trong bóng tối trống rỗng, xanh xao. Hai bức tranh buồn phát hoạ hai
hình ảnh cô đơn, luỹ thừa sự trống vắng, xanh xao, đơn độc và phân rẽ tăng lên.
Qua vế thơ chót, tác giả đã
nói lên sự dằn vặt trong tâm tư chàng. Chàng nói những điều ngược lại với lòng
mình, như tự vỗ về nỗi đau đang cấu xé:
Tháng của mùa sao lại nghe
nao nao!
lối xưa sẽ về son gót mới
hồn đã cũ cớ gì ta cứ đợi!?
một vụn tình! Ai bảo chẳng hư
hao?!
Dấu than và dấu hỏi đánh liên
tục trong vế thơ nầy, chứng tỏ sự bấn loạn trong tâm hồn tác giả. Tiếng kêu đau
đớn xuất hiện trong dấu than, rồi sự thắc mắc vì sao phải đau xuất hiện trong
dấu hỏi và ngược lại. Tác giả không bao giờ giãi đáp được cho mình. Đó là tâm
trạng của những loài yêu bằng trái tim không bằng lý trí.
Vũ Miên Thảo yêu bằng trái
tim mình, một trái tim mang chung hai nỗi đau của cả hai người. Tác giả đau cho
nàng trước, rồi đau cho mình sau. Muốn quên mà dễ đâu quên được, muốn xem sự hư
hao là lẽ thường mà nào đâu làm được: “Hồn đã cũ cớ gì ta cứ đợi! / một vụn
tình! Ai bảo chẳng hư hao?!”
Thơ Vũ Miên Thảo là thế. Một
thứ thơ như những bức tranh lập thể, chuyển các đối tượng ba chiều vào trong
một mặt phẳng tranh, tạo thành tổng các thời khắc riêng biệt và góc nhìn khác
nhau, được nhìn thấy bằng đôi mắt tâm trí. Vì vậy, đọc thơ Vũ Miên Thảo ta
không những chỉ thấy cái hay bằng những gì ta hiểu mà ta còn thấy cái hay bằng
những ý tứ xa vời, trừu tượng ngoài tầm hiểu biết của ta mà ta chỉ cảm nhận
được ./.
Châu Thạch
NGƯỜI EM NĂM CŨ - thơ Nguyễn Đắc Thắng
Nguyễn
Đắc Thắng
NGƯỜI
EM NĂM CŨ
Tình
cờ ta gặp lại em
Áo
hồng đang bước lên thềm quán thơ
Rõ
ràng đâu phải là mơ!
Bao
nhiêu kỷ niệm xa xưa hiện về…
Ta
chợt ngỡ ngàng đến ngẩn ngơ
Trời
ơi người ấy tự bao giờ!
Về
đây thăm lại người xưa cũ?
Em
bước lên thềm như giấc mơ.
Có
phải là em … em đấy không?
Con
đường chiều vắng gió bay lồng
Những
tia nắng yếu theo chân nhỏ
Những
giọt mồ hôi đọng má hồng.
Tóc
rối bồng bềnh theo gió bay
Nón
nghiêng áo giật bóng vươn dài
Chiều
buông nắng tắt lòng sôi rộn
Thương
quá áo hồng em ngất ngây.
Đêm
chốn đồn sâu lặng ngắm sao
Một
bình trà nhỏ đắng cồn cào
Em
không quen đắng nhưng cùng uống
Để
trải cùng anh đêm thức thâu.
Bát
cháo nhái bằm vị ngọt sao!
Tự
lòng thuộc hạ mến dành trao
Em
nghe sờ sợ nhưng cùng nhấm
Hương
vị tình thương đám lính nghèo.
Đêm
vẫn oi nồng sau trận mưa
Bầu
trời dần rạng ánh sao thưa
Sân
phơi ghế bố nhìn sao lánh
Em
hỏi sao nào được gọi vua?
Anh
bật chỉ vào … đây! Chính ta
Nàng
là hoàng hậu của sao sa
Nhớ
vua đi kiếm và đang gặp …
“Khóa
chặt tay anh để giải hòa!”
Canh
đã về khuya đêm thấm lạnh
Hỏa
châu lấp lóe góc trời xa
Vài
tiếng súng buồn đêm lặng lẽ
Từng
giờ phiên gác cũng trôi qua.
Em
đến cùng ta chung cảnh ngộ
Mảnh
đời khốn khó nỗi đơn côi
Em
cho tất cả mà chưa nhận
Để
nợ lòng ta đến suốt đời.
Ngày
tháng dài qua ta vẫn nhớ
Bể
dâu thêm đậm cuộc tình hờ
Em
đi lần ấy rồi đi biệt
Ta
khắc trong tim một bóng chờ!
NĐT
20150422
thangnguyendac@yahoo.com.vn
thangnguyendac@yahoo.com.vn
ÔNG ĐỒ: NHỮNG BỨC TRANH THƠ - Phạm Đức Nhì
Phạm Đức Nhì
ÔNG ĐỒ: NHỮNG BỨC TRANH THƠ
Bài thơ Ông Đồ được đăng năm
1936 trên báo Tinh Hoa lúc tác giả của nó, Vũ Đình Liên, mới 23 tuổi. Ông là
người theo tân học, đậu Tú Tài năm 1932 (lúc 19 tuổi). Nhờ khả năng quan sát
sắc bén ông đã sáng tác được bài thơ mà theo Hoài Thanh: “Theo đuổi nghề văn mà
làm được một bài thơ như thế cũng đủ. Nghĩa là đủ lưu danh với đời.” (Thi Nhân
Việt Nam).
Hoài Thanh đưa ra những lời
khen ngợi trên và đã chọn đưa vào tuyển tập Thi Nhân Việt Nam chứng tỏ bài thơ
Ông Đồ của Vũ Đình Liên, dưới cái nhìn của đôi mắt thơ có nội lực sung mãn vào
hạng nhất thời bấy giờ, được đánh giá rất cao.
ÔNG ĐỒ
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Vũ Đình Liên
Tứ thơ:
Mỗi độ xuân về ông Đồ lại ngồi bên phố trổ
tài viết câu đối cho người qua, kẻ lại. Nhưng mỗi năm mỗi ít người thuê viết,
ông đồ ngồi lặng lẽ bên đường. Và năm nay không thấy ông đồ nữa.
Ý thơ:
Qua hình ảnh ông đồ tác giả
tỏ ý thương tiếc một nền Nho học đang lụi tàn dần theo năm tháng.
Ở đây ý và tứ khác nhau,
nghĩa là tác giả đã sử dụng phép ẩn dụ toàn bài. Ông không chơi bài cào, kiểu
ngửa mặt lớn nút ăn tiền, mà chọn ván bài xì phé trong đó con tẩy được dấu kín.
Con tẩy càng kín thì ván bài càng hấp dẫn và tay chơi (tác giả) càng có lợi
thế. Đến phút cuối cùng, con tẩy được lật lên, người đọc à lên một tiếng thích
thú. Từ lúc hiểu tứ đến lúc cảm thông được ý - chủ đích của tác giả khi viết
bài thơ - chỉ một tích tắc. Điều đáng nói là chính cái tích tắc ngắn ngủi đó đã
cho người đọc cái cảm giác sảng khoái như khám phá được một điều gì to lớn lắm.
Đọc xong đoạn cuối:
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông Đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Qua dòng liên tưởng của chính
mình người đọc thấy con bài tẩy đã được ngửa ra. Sự mất dạng của Ông Đồ giữa
phố Tết dẫn đến tâm trạng nuối tiếc một nền Nho học đang lụi tàn. Đây là một tứ
thơ hay, bao quát toàn bài, được vận dụng khéo léo, kín kẽ, không một tý sơ hở
để có thể dẫn đến những hiệu ứng phụ khiến người đọc có thể vặn vẹo, bắt bẻ.
Ngoài phép ẩn dụ, bài thơ Ông
Đồ còn có những cái hay sau đây:
Không có hội chứng nhàm chán
vần.
Một trong những hạn chế của
thể thơ trường thiên (ở đây là ngũ ngôn trường thiên) là hội chứng nhàm chán
vần. Mỗi câu vừa vặn 5 chữ, vần gieo 1/3 (trắc), 2/4 (bằng) rất đều đặn từ đầu
đến cuối khiến người đọc có cảm giác “ngán vần” nếu bài thơ quá dài. May mắn,
bài thơ chỉ có 20 câu; tuy vị ngọt thơ ca hơi “đậm đà” nhưng cảm giác nhàm chán
chưa kịp đến thì bài thơ đã hết.
Tứ thơ không bị phân tán.
Hạn chế thứ hai của thể thơ
trường thiên là tứ thơ phân tán. Bài thơ chia làm nhiều đoạn, mỗi đoạn 4 câu
độc lập, không có mắt xích nối các đoạn với nhau nên không có dòng chảy của thơ.
Thay vào đó chỉ có những vũng thơ, những hố thơ riêng biệt; mỗi vũng, mỗi hố
thể hiện một mảnh tâm trạng của tác giả. Người đọc phải đến từng hố thơ để cảm
nhận từng mảnh vụn tâm tình đó. Tứ thơ vì thế bị phân tán. Bài thơ Ta Về của Tô
Thùy Yên đã vướng phải hạn chế này. Ông viết:
Ta về như tứ thơ xiêu tán
là rất đúng. Bởi bài Ta Về có
đến 124 câu, 31 đoạn; tứ thơ chủ đạo hoàn toàn bị phân tán, manh mún.
Bài thơ Ông Đồ về hình thức
không có những mắt xích nối các đoạn thơ với nhau nhưng may mắn (lại may mắn),
không kể đoạn đầu giới thiệu ông Đồ, 4 đoạn còn lại là chuỗi hình ảnh nối tiếp
nhau theo thứ tự thời gian nên người đọc vẫn có được sự chú tâm cần thiết thả
hồn theo dòng thơ – chính là dòng thời gian –
để cảm được tâm tình của tác giả.
Áp dụng thành công nguyên tắc
“bày tỏ, không kể lại” (show, not tell): tác giả dùng ngôn từ đơn giản của đời
thường, tạo ra những hình ảnh gần gũi, quen thuộc để người đọc có thể cảm nhận
trực tiếp, không qua sự biện giải dài dòng của lý trí.
Cái hay nữa của bài thơ là
“thi trung hữu họa”; họa ở đây không phải chỉ khi ẩn, khi hiện mà mỗi đoạn thơ
đã được tác giả vẽ thành một bức tranh sống động.
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bức tranh nhìn từ xa: đám
đông vây quanh một ông già mặc áo chùng thâm, đội khăn đóng (ông Đồ) đang lúi
húi viết; mặt ông Đồ và những người vây quanh đều lờ mờ, không rõ nét. Đây đó
một vài cây đào đang nở hoa, báo hiệu xuân sang, tết đến.
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay
Bức tranh cận cảnh: cũng đám
đông vây quanh ông Đồ, mặt tươi vui, chú tâm theo dõi nét bút (lông) của ông
trên giấy đỏ. Thân hình và mặt mọi người đều rõ nét
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu
Bức tranh nhìn hơi xa: ông Đồ
ngồi trên chiếu, bên cạnh là xấp giấy màu đỏ (nhạt hơn màu giấy ở bức tranh 2),
bút lông và lọ mực chỉ còn một ít mực đọng ở cuối lọ. Chỉ có 1, 2 người thờ ơ
đứng xem, không ai thuê viết.
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay
Bức tranh nhìn gần hơn một
tý: ông Đồ vẫn ngồi trên chiếu dưới mưa phùn lất phất, bên cạnh lờ mờ xấp giấy
đỏ, bó bút lông và lọ mực. Người đi đường qua lại không ai đến gần chiếc chiếu
của ông Đồ. Cảnh thật tiêu điều.
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Bức tranh cận cảnh: người đi
chơi xuân qua lại tấp nập trên đường; khoảnh đất ngày xưa ông Đồ thường ngồi,
nay bỏ trống; một người không rõ mặt (tác giả) đứng cách mươi bước, mắt đăm
chiêu nhìn khoảnh đất trống. Thật ra, nếu vẽ đúng ý của đoạn kết thì phải có
thêm dấu chấm hỏi ngay trên khoảnh đất trống ấy.
Sau đây là vài khuyết điểm
nho nhỏ trong bài thơ Ông Đồ mà người viết bài này muốn đưa ra để bàn luận:
Cách gieo vần: phải nhìn nhận
tác giả rất cố gắng và rất khéo trong việc chọn chữ và gieo vần để giảm bớt vị
ngọt của thơ ca. Trong 10 đôi chữ vần với nhau chỉ có 3 đôi là chính vận (đâu
sầu, đấy giấy, hay bay), 7 đôi còn lại là thông vận. Tuy vậy vị ngọt, mặc dầu
chưa đến độ nhàm chán, đối với người đọc khó tính, đã hơi “đậm đà”. Tại sao ông
không bỏ hẳn vần 1/3, chỉ giữ vần 2/4 như Ta Về của Tô Thùy Yên chẳng hạn? Hỏi
tức là đã trả lời. Lúc ấy cách gieo vần của Thơ Mới (ảnh hưởng Pháp) là như
thế. Một nhà thơ cự phách như Tô Thùy Yên mà đến gần 50 năm sau (1985), trong
Ta Về mới áp dụng phép gieo vần ấy, thì làm sao có thể trách Vũ Đình Liên được.
Ông đã chọn thể thơ mà ở thời của ông được coi là mới nhất, phóng khoáng nhất.
Nhưng dẫu sao cái vị ngọt hơi “đậm đà” đã tan vào bài thơ của ông, và ông, chứ
không ai khác, phải nhận trách nhiệm
(một cách oan ức!) về khuyết điểm nho nhỏ đó.
Theo tôi, 2 câu đóng góp ít
nhất và giảm giá trị nghệ thuật của bài thơ nhiều nhất, là 2 câu cuối:
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Nhận định này rất khác với
những bài bình Ông Đồ trên sách báo và internet ở trong nước; nó cũng khác với
nhận định của vài nhà phê bình văn học ở hải ngoại. Sau đây là lý do khiến tôi
đưa ra nhận định ấy.
Khi đọc xong câu 18:
Không thấy ông Đồ xưa
con tẩy của ván xì phé đã
được lật lên, ẩn dụ đã được giải mã, không cần phải giải thích thêm nữa. Bằng
khả năng liên tưởng của mình người đọc đã có thể nhận ra chủ ý của tác giả: nền
Nho học đang lụi tàn. Cái câu hỏi “Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ?”
là không cần thiết, là thừa. Nếu nói tác giả dùng cái câu hỏi “hỏi để mà hỏi
vậy thôi” với mục đích là, qua cái giọng “bàng hoàng, thảng thốt” trong câu hỏi
ấy, truyền cho người đọc cảm giác tiếc
nuối cái nền Nho học kia, thì cũng không hợp tình lắm. “Bàng hoàng, thảng thốt”
dùng cho trường hợp của Tú Xương trong Sông Lấp thì đúng, bởi ông Tú cũng chính
là ông Đồ, là máu, là thịt của nền Nho học; mất (hình ảnh) ông Đồ, đối với ông,
cũng đau đớn như mất một phần thân thể, một phần tâm hồn của mình. Còn như Vũ
Đình Liên, theo tôi, chỉ bâng khuâng tiếc nuối khi thấy mất đi một nét đẹp văn
hóa của dân tộc, bởi ông – một người theo tân học – đối với ông Đồ, đối với nền
Nho học, chỉ là kẻ bàng quan, là người ngoài cuộc; câu hỏi với cái giọng tha
thiết ấy có vẻ hơi “lạc điệu”. Hơn thế nữa, nó làm bức tranh thứ 5 vẫn cồm cộm
chữ nghĩa; ngôn ngữ chưa hoàn toàn tan biến, chưa thực sự hóa thân vào trong
tranh.
Có lần cô cháu dâu người miền
nam nấu đãi ông bác chồng mới ở Mỹ về thăm, một nồi chè xôi nước. Con nhỏ nấu
ngon thiệt; tôi ăn một lúc hết 4 viên mà vẫn còn thòm thèm. Nhưng đến viên thứ
năm thì kẽ răng tôi bị một miếng gì đó dính vào. Thì ra nó nấu chè bằng đường
chén làm từ mía; người làm đường không để ý nên sót lại chút bã mía trong chén
đường. Dù vậy, chè xôi nước hôm đó vẫn là bữa ăn rất ngon tôi còn nhớ đến ngày
hôm nay.
Vâng! Hai câu kết của bài thơ
chính là miếng bã mía trong nồi chè xôi nước. Người đọc có cảm giác hơi tiêng
tiếc. Chỉ một chút xíu nữa thôi là những bức tranh thơ có thể hoà nhập trọn vẹn
vào tâm hồn người đọc, bài thơ có thể gọi là toàn bích.
Tóm lại, nhờ sự nhạy bén của
tác giả (và một chút may mắn) bài thơ Ông Đồ đã tránh được hai khuyết điểm lớn
của thể thơ trường thiên: hội chứng nhàm chán vần và tứ thơ phân tán. Thêm vào
đó, nó lại có thể thủ đắc một lúc 3 “tuyệt chiêu” của thơ ca là ẩn dụ tài tình,
bày tỏ, không biện giải (show, not tell), và thi trung hữu họa. Tôi xin mạnh
dạn gọi nó là một tuyệt tác. Nó không phải chỉ nổi bật khi so sánh với những
bài thơ cùng thời, không phải chỉ nhận được những lời ngợi khen từ những nhà
phê bình văn học sử dụng cái thước đo
giá trị thơ ca của bối cảnh văn học những năm 1930s, 1940s. Ngay lúc tôi viết
bài này (2013), sau gần 80 năm lăn lóc trên thi đàn, nó vẫn sống trong lòng
người yêu thơ. Những nhà phê bình văn học, dù khó tính, “bới lông tìm vết” bằng
những chuẩn mực giá trị của thời đại mới đi nữa, vẫn phải công nhận Ông Đồ là
bài thơ rất hay. Ông Đồ không chỉ là hiện tượng, là cái mốc của một thời điểm
lịch sử như Tình Già của Phan Khôi, như mấy bài thơ của TTKh, mà bằng giá trị nghệ
thuật nội tại, bằng cái đẹp chân chất thơ ca, đã biểu lộ một sức sống mãnh
liệt, sẽ còn ngất ngưởng trên thi đàn, làm xao xuyến hàng triệu trái tim những
người yêu thơ …nhiều chục năm nữa. Tôi rất tự tin khi đưa ra lời tiên đoán này.
Đúng hay sai? Chỉ thời gian mới có thể trả lời.
PĐN
Subscribe to:
Posts (Atom)
.jpg)






.jpg)

