Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, January 13, 2014

MÀ THƯƠNG MÀ… GIÓ - Phạm Xuân Hùng

                            “…Đố ai ngăn gió, gió đừng rung cây…” -Ca dao

                               
                                                                     

Hình ảnh thơ chuyển tải những thông điệp mỹ học quan trọng nhất trong thi ca cổ điển là hệ thống các biểu tượng “phong, hoa, tuyết, nguyệt…”. Cũng lạ là trong hệ thống biểu tượng ấy, đứng đầu và cũng hình như duy nhất nhà thơ không nhìn thấy đó chính là gió. Nghĩa là thi sĩ chỉ “ru với gió” bằng tất cả các giác quan, bằng trái tim, nhưng cầm nắm, nhìn thấy được như hoa cỏ, vầng trăng, con nước thì không. Vậy mà, cũng thật lạ, là gió tác động mãnh liệt vào cảm xúc thi nhân. Bên cạnh ngọn “gió mùa thu mẹ ru con ngủ…” xao xuyến tấc lòng là những ngọn gió xuân tươi sắc, gió hè mát rượi, gió đông rét ngặt rét nghèo…tất cả đều hiện diện trong thi ca. Tôi nghĩ, có lẽ, trong muôn loài và hiện tượng thì gió về bản chất gần với thi sĩ hơn cả, vì sự phóng túng và cả những vô thường của gió.

Quê tôi ở miền Trung, nơi mà người ta thường định danh chẳng cần vùng miền cụ thể, chỉ cần nói đó là nơi “gió lào cát trắng”. Cát trắng thì hẳn nhiên, trắng từ đời nảo đời nào, từ thuở Nguyễn Hoàng khởi nghiệp xứ Đàng Trong, lúc những bước chân vượt Đèo Ngang của ông bắt gặp chang chang cồn cát kéo dài những Đại Trường Sa, Tiểu Trường Sa… Để tiếp sau đó, chỗ định cư đầu tiên của ông là bãi cát dài xứ Sa Khư thuộc Ái Tử, tỉnh Quảng Trị ngày nay. Cát thì vậy, còn gió thì dường như có từ thời khai thiên lập địa, chỉ có điều gió ở quê tôi là gió Lào, không ở vùng miền nào trên đất nước có được. Gió Lào và cát trắng, nghe cứ như một thành ngữ, đăng đối, biền ngẫu và mật thiết đến mức ngỡ là tự nhiên phải thế, không cần hỏi cũng chẳng cần giải thích thêm.

Sách địa lý phổ thông dạy rằng tên chính danh của gió Lào chính là gió phơn Tây Nam, gốc gác phía bên kia dãy Trường Sơn hướng tây. Gió phơn Tây Nam mang nhiều hơi nước nhưng do phải băng qua ngàn dặm Trường Sơn núi non trùng điệp nên những giọt nước mang theo đã bốc hơi trước khi về đến cuối nguồn. Nghĩa là khi về đến miền Trung eo thắt, những ngọn gió trở nên khô rát và bởi vì từ phía nước bạn Lào thổi sang mà người ta gọi là gió Lào. 

Tôi ngày thơ ấu ở ven dòng sông Hiếu, con sông hẹp như một đường chỉ nhỏ nép giữa hai bờ lau sậy, ôm ven dọc theo con đường 9 nổi tiếng từ thời kháng Pháp. Cũng xin nói thêm rằng, người ở xa nói về Quảng Trị thường chỉ biết đến Hiền Lương là giới tuyến chia cắt đất nước mấy chục năm trời hay sông Thạch Hãn gắn với Thành cổ-con sông từng được ví như Nghĩa trang quốc gia không mộ chí bởi lòng sông đã ôm giấu hàng ngàn liệt sĩ trong những ngày máu lửa ở Cổ thành Quảng Trị. Còn sông Hiếu ít nổi tiếng hơn nhưng nếu ai chịu khó đọc vài trang sử xưa cũng biết rằng đây là dòng sông có ngọn nguồn từ miền Ai Lao,  từng là hành lang giao thông giao thương giữa miền tây với trung du và đồng bằng Quảng Trị xưa. Ấy là nói theo những ghi chép có từ “Ô châu cận lục” của Dương Văn An hay “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn. Còn như thời cận hiện đại ai cũng biết dọc theo con sông này có những địa danh nổi tiếng như Cam Lộ với hai lần được chọn làm kinh đô (một là vua Hàm Nghi chọn Tân Sở làm căn cứ dựng cờ Cần Vương, hai là Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam). Lại nói về sông Hiếu, sông không rộng, chẳng dài nhưng bù lại mang vẻ đẹp hoang dại của hai bờ rừng rú. Và tuổi thơ tôi đã lớn lên cùng sông, cùng những ngọn gió Lào khô khát thổi dọc đôi bờ sông quê.

Vào khoảng cuối tháng 3 đầu tháng 4 âm lịch là mùa lau nở, báo hiệu xuân sang hè tới. Bấy giờ, những ngọn gió Lào đầu tiên thổi nhẹ qua vườn, nhẹ lắm nhiều khi chẳng nhận ra. Chỉ biết, vào một sớm mai nào đó thức dậy, nghe rười rượi làn gió cùng tiếng chim, tiếng côn trùng rỉ rả ở đụn rơm, mái bếp. Nếu vườn nhà ai có nhiều cây xanh lưu niên như mít, xoài, cà phê… thì ngọn gió càng mát lạnh khiến thân mình trở nên lười biếng, mắt mở rồi lại muốn nhắm tiếp để chìm đắm trông giấc mê man cùng gió.

Kỳ thực ở quê tôi người ta ít gọi tên gió Lào mà thường hay gọi gió Nam, một cách gọi có lẽ để phân biệt với gió nồm thổi lên từ phía biển. Và bắt đầu mùa gió Lào, khi những ngọn gió vẫn còn mát mẻ, chưa bị rang nóng người ta gọi là nam đọt. Đọt tức là ngọn cây, ngọn cỏ mới nhú, mới tượng hình. Nam đọt vì thế có thể xem như gió Lào mới nhú, báo hiệu bắt đầu một mùa nam nóng khắc nghiệt sẽ đi qua.

Rồi chẳng ai nhớ nữa, những ngọn nam đọt bắt đầu mạnh dần lên, hơi mát chỉ còn đâu đó trên màu lá cây hoặc dọc ven những dòng suối nhỏ khuất lấp bởi cây rừng. Còn ở làng quê, hoặc đôi bờ sông trống trải, gió nam trở nên hanh hao từ lúc nào. Gió như đàn ong bay đi tìm mật, từ xa đã nghe tiếng rào rào, tiếng của những vòm lá xao động, của bờ tre xao xác và những ngọn cỏ đang ngả theo chiều gió.

Cũng rất nhanh, chừng khoảng chưa đầy một tháng sau ngọn nam đọt đầu tiên gió Lào thực sự bước vào chính vụ. Lúc này thì gió cũng mới thực sự là gió Lào. Gió thổi từ sáng sớm, vần vụ từ ngày sang đêm, ào ạt, nóng bỏng. Lúc này người ta gọi đó là nam ròng, ròng là lõi của thân cây gỗ lâu năm. Không như nam đọt thổi nhẹ nhàng, mang ít hơi mát đầu mùa, nam ròng thổi liên tu bất tận, thổi không ngừng nghỉ và hơi nóng trong ngày tăng dần lên, ngày sau dường lại nóng hơn cả ngày trước.

Thường thì sáng sớm, lúc mặt trời chưa mọc, mặt đất chưa bị nung lên bởi nắng thì gió Lào bắt đầu thổi. Cây cối quanh vườn nhà sau một đêm tránh nắng còn thở ra chút hơi ẩm hiếm hoi nên người ta chưa có cảm giác nóng. Nhưng rất nhanh sau đó, khi mặt trời hé mọc thì gió như hùa cùng với nắng lấy dần đi chút hơi ẩm đầu ngày. Rồi nhiệt độ tăng dần lên, đến lúc mặt trời mọc khoảng hai ba sào, cao ngang hoặc quá ngọn tre đầu làng thì cái nóng đã hầm hập xông vào từng ngôi nhà, góc vườn. Nóng quá, người đang làm đồng có khi dừng lại ngó mặt trời rồi dừng tay, thu dọn cày cuốc sải bước về nhà. Trẻ em đang chơi ở cuối vườn cũng thu dọn đồ chơi dời đến góc sân có giếng nước. Các bà, các mẹ, các chị cũng dừng tay, không làm việc nặng nhọc cốt không phải ra mồ hôi bằng cách chọn những việc nhẹ nhàng và quan trọng là được nhúng tay vào nước như giặt giũ, phơi phóng, xắt rau, vằm chuối cho heo… Không gian làng quê lúc này im ắng hẳn, chỉ còn tiếng gió ù ù thổi dọc triền sông, trên những mái nhà. Gió tung mình trên ngọn cây cao, vặn vẹo những cành yếu khiến lá rụng từng chặp từng chặp. Bờ tre chắn gió đầu làng nghiêng ngả như có ai cột cả trăm sợi dây vào mà rung. Bụi đất bay lên bám vào lá cây, bám vào tường nhà khiến tất cả nhuộm màu của đất, chìm dần vào đất. Thoảng hoặc rất hiếm hoi khi ngọn gió bất chợt dừng lại hoặc yếu đi vài ba giây mới nghe ở đâu đó rất xa tiếng chim bìm bịp khắc khoải thôi dài. Cả tiếng chim như cũng khàn đi vì gió và nắng.

Mặt trời tiếp tục nhô lên, gió tiếp tục lồng lộn, hung dữ. Và cao điểm của gió, của nóng là giờ ngọ, khoảng từ 11 giờ trưa đến 1 giờ chiều. Vào giờ này, mặt trời ngay giữa và trên đỉnh đầu, tất cả các bóng cây đều thu vào gốc để lộ ra những vạt nắng chói chang. Mọi vật bị nung lên vì nhiệt độ trong bóng râm có khi lên đến 38, 39, hoặc 40 độ C, ngang và cao hơn cả thân nhiệt của người bình thường. Gió mạnh đến mức nếu nhắm mắt hoặc là người ở xa đến có thể lầm tưởng đang đứng trước cơn bão nhẹ. Từ phía rất xa, gió đã rít lên từng hồi, không còn nghe tiếng xay lúa ù ù mà chỉ còn tiếng rít, tiếng gầm rú. Xen lẫn trong tiếng rú rít của gió là những trường đoạn tạp âm cơ hồ bao gồm cả trăm ngàn âm thanh phát ra bởi cây cối, đồ vật va đập vào nhau. Lúc này, những ngọn cây cao nghiêng ngửa, vòm cây xõa xượi như người uống say, say quá không đứng vững được. Cả bờ tre xoắn xít vào nhau, thân tre cọ vào nhau cháy khô từng đốt, lá tre bay rào rào nhìn tối cả mắt. Không chỉ cây to, đến cả cỏ cũng phải rạp mình xuống, cỏ tranh mềm mại cong mình lại từng đợt từng đợt nhìn xa như sóng đã đành, cỏ dại bò lan trên mặt đất nhiều nhánh cũng bị bứt lên, khuơ khuơ từng chùm rễ nhỏ li ti. Mặt đất càng lúc càng ngập ngụa trong nắng, gió càng lúc càng hừng hực như vãi lửa trên những con đường. Bụi tung lên mù mịt, có khi chẳng nhìn thấy người đi ngoài đường…

Mà thực ra, lúc này cũng ít có ai ra đường. Nếu không có việc cần kíp chẳng ai dại ra đường vào giờ này. Nóng như thế, gió như thế không bị cảm nóng thì cũng dễ sứt đầu mẻ trán vì chuyện không đâu. Hãy thử hình dung, trong mớ âm thanh hỗn tạp mà gió như muốn nhét vào tai bạn có tiếng răng rắc của của những cành cây cao sắp gãy, tiếng mái tôn nhà ai đang chực bứt ra khỏi chiếc đinh lung lay, tiếng gàu rơi xuống giếng, tiếng… và tiếng… Thế đó, dường như vào lúc này, ngoài nắng và gió, cả làng quê như ngưng lại, bất động. Người ta tránh gió và cơn nóng hầm hập dưới những vòm cây cao nhất, rộng nhất hoặc tìm ra bờ sông bắt cá, đùa giỡn với sông nước. Trẻ em, người già cởi áo vắt vai hoặc ở trần trải lá chuối tươi nằm đỡ nóng lưng.

Nhưng cái gì đến rồi cũng phải đi. Quá ngọ sang mùi, những trận gió tuy không hẳn giảm bớt cường độ song mặt trời dần xế về tây, bóng cây đổ dài hơn, nắng xế chiều xiên khoai nhức mắt nhưng cơn nóng lại giảm đi đáng kể. Bởi vì mặt đất đã loang dần bóng cây và ánh nắng buổi chiều cũng không còn hầm hập dội thẳng xuống đỉnh đầu. Tầm 3 giờ chiều trở đi, mọi sinh hoạt trở lại bình thường. Người lớn có thể đánh trâu ra đồng cày nốt đường cày dở dang buổi sáng, trẻ em mang bài vở ra ê a hoặc chơi trò trốn tìm giữa vườn cây um tùm. Đàn gà mới ban trưa lông tả tơi vì gió giờ cục ta cục tác dắt nhau đi tìm mối quanh đụn rơm vàng… Gió vẫn thổi nhưng đã trở nên nhẹ nhàng hơn, mát hơn. Qua liếp cửa nhà ai có thể nhìn thấy một lão nông tri điền ngủ say giấc nồng trên chiếc chõng tre.

Và rồi mùa hè cũng không thể kéo dài ra mãi. Cuối tháng 6 âm lịch hoặc muộn lắm là tháng 7 “nước nhảy lên bờ” những con gió Lào cuối cùng mà người dân quê tôi gọi là nam côộc (côộc là gốc) cũng đi qua. Hơi nóng muộn màng từ những ngọn nam côộc se thêm chút vàng vọt trên vòm cây, ngọn cỏ. Những đóa lau già đi qua một mùa nam nóng thân ngả sang màu rơm, thả nốt những sợi lau trắng li ti còn lại lên trời. Những sợi lau xoay tròn trên không như những chiếc ô bé xíu trong vũ điệu cuối cùng tiễn biệt một mùa nam nóng hanh hao. 

Người xứ khác đôi lần đi ngang qua chỗ eo thắt nhất của miền Trung đều lắc đầu e sợ cái nóng của gió lào, cát trắng. Ấy vậy mà người dân quê tôi hàng bao đời nay vẫn sống, vẫn tồn tại và đi qua những mùa hè như thế. Đến độ quen đi từ lúc nào, ngấm vào máu thịt, không có lại thấy nhớ, thấy thiếu điều gì đó. Cũng như dân miền Tây mùa nước lũ, khổ thì có khổ nhưng vẫn vui bởi đây là mùa cá linh béo đậm đà hương vị phù sa, của bông điên điển thảo thơm hồn quê kiểng. Mùa gió Lào quê tôi cũng vậy. Người ta ra sông, ra suối, ngâm mình dưới nước để tránh nóng nhưng cũng để làm việc khác nữa đó là bắt cá. Mùa này con nước rặc, nhiều chỗ cạn trơ đá ngầm, nhiều con thác mùa mưa chảy xiết giờ chỉ còn riu riu nước. Sông Hiếu mùa gió Lào thời thơ ấu của tôi chỉ lớn hơn con suối, đôi bờ ngút mắt một màu xanh của rì rì, loài cây sống gần nước. Mùa này nước rặc nên tha hồ thả câu, bủa lưới, đặt lờ. Bấy giờ cá nhiều, gặp hên chỉ cần canh giờ là đầy rỗ, cá to để kho, cá vừa vừa để nấu canh và cá nhỏ để dành làm mắm cho mùa mưa sắp tới. Quá trời loại cá ngon, cá chép thịt dày, vảy to bằng đồng xu, cá chình béo tròn, nướng tắt cả bếp, cá kiên không ăn gì ngoài rong rêu nên thịt ngọt mà ruột cá rất sạch làm thành loại mắm ruột độc đáo. Rồi cá thát lát to cỡ bàn tay người lớn, thịt vằm nhuyễn chiên mỡ thì không gì bằng. Cá trơn nhỏ bằng ngón tay, kho nghệ ăn hết nồi cơm lúc nào không hay, cá bống thì có nhiều loại bống thệ, bống cát, bống đá… đem kho tiêu thơm nhức mũi, mùi thơm cuốn theo chiều gió sang tới nhà hàng xóm.

Đó là nói chuyện sông, chuyện suối. Còn như ở nhà, trong vườn cũng lắm chuyện hay. Nóng quá người ta tum năm tụm ba dưới bóng cây lưu niên, thế là hình thành một nét văn hóa ẩm thực đi kèm với… gió. Nóng thì uống bát chè xanh keo đặc gọi là chè xeng đứng đụa (chè xanh cắm đũa vào không đổ), nóng quá thì mua nuốt (giống như sứa) về trộn với vả, chuối xanh, rau thơm ăn vào mát cả bụng. Rồi sẵn cá sông đấy, tha hồ làm gỏi, nấu cháo ăn giải nhiệt. Và hẳn nhiên, quanh bữa ăn dã chiến, để chống lại cái nóng là biết bao câu chuyện trên trời dưới đất, trong đó dĩ nhiên có cả những câu chuyện về gió.

Vậy đó, ai bảo chăn trâu là khổ thì ai bảo gió Lào là đáng ghét. Thử hỏi, trời đất có cho ai cái gì mà không lấy lại cái gì không. Cũng như trong rủi có may, thì trong gió Lào cũng ẩn chứa bao điều thú vị. Cực khổ, chống chọi thì đã đành rồi, tuy vậy cứ sống, cứ tìm cái vui vẻ để sống thì cũng đáng mặt gọi là con người. Lạy trời, ai bảo tôi nói trạng thì thôi xin thể tất cho, vì quá yêu mà nói vậy, không thể tất thì xin cho lời nói gió bay cũng được.

Vâng, tôi giờ là kẻ tha hương nhưng mùa hè nào cũng cạy cục cắt phép vài ngày về thăm quê. Trước nữa là thăm bà con họ hàng nhưng sau nữa là để gặp lại cảm giác của thời thơ ấu, thời chân trần trên đất, ngược gió ra sông vẫy vùng. Không dám nói theo kiểu thi nhân là cầm gió, mang gió hay bắt gió, tôi chỉ mong có những phút giây như thế chỉ để trong lòng sống lại cảm giác của những mùa hè xưa xa, để khi về lại chốn phố phường đông đúc khỏi phải đêm đêm giật mình vì thèm nghe tiếng gió.

Gió Lào ơi, ngươi là ai không cầm nắm được. Mà thương mà…gió suốt cả cuộc đời. 
READ MORE - MÀ THƯƠNG MÀ… GIÓ - Phạm Xuân Hùng

Sunday, January 12, 2014

EM THÁNG GIÊNG - thơ Tú Yên




Em tháng giêng
nên trời xanh trong vắt
Bấc dỗi hờn, giọt nắng đượm vàng hơn
Nhìn sóng xanh dạt dào trên đồng ruộng
Em mĩm cười
        mùa hứa hẹn đầy bông

Chở hy vọng
        cho một đời no ấm
Em tảo tần xuôi ngược
mặc thời gian
Bao nắng hạ, mưa đông qua lần lượt
Mà xuân thì chưa nhạt
                mắt môi em

                                    Tú Yên
READ MORE - EM THÁNG GIÊNG - thơ Tú Yên

VỀ THÔI, XUÂN ĐANG ĐẾN - thơ Huy Uyên




Quạnh quẽ lối về cuối năm
bao quanh đâu rồi nỗi nhớ
quê cũ em cháy lòng chờ ai bên sông
mà ráng chiều nay đậu hoài hai mắt đỏ.

Hạnh-phúc đi về thôi khôn bước
dáng xuân ai e-ấp tuổi xuân thì
làng quê, lũy tre, con đường thân thuộc
nhớ thương ai ngày xưa ấy bỏ đi.

Chiếc bóng cuối năm lầm lũi về
tháng năm trào nước mắt
trâu bò, ruộng đồng, cỏ dại, bờ đê
ai để lại bên đường
nỗi buồn hiu hắt.

Quê hương nổi chìm: hoa, pháo Tết
nhà nghiêng hương khói lễ đầu năm
hồn người dật-dờ hoang trôi mãi miết
cổ-tích đắng cay nằm lại cuối đường.

Hồn của người lang-bạt vườn khuya
đường trần bơ vơ quá đổi
quanh ta không cả một bóng người
đi bên ai đêm dài không tiếng gọi.

Em tóc xanh bao mùa hong gội
đợi Tết về nắng xuân đem phơi
nhẹ bước người chân trần mắt mỏi
thác gởi theo ai chết một bóng người.

Về thôi, về thôi
bao năm xuân đến lần lửa hẹn

Quê cũ rưng rưng
nổi nhớ mãi hoài mang đến
ở nơi xa ai hẹn
một ngày về
bỏ lòng đợi chờ
cho hơi thở người ấm lạnh hồn quê.

                               Huy Uyên
READ MORE - VỀ THÔI, XUÂN ĐANG ĐẾN - thơ Huy Uyên

GIỖ CHẠP - thơ Phan Minh Châu




Một làn gió sớm thổi qua đây
Lạnh buốt heo may nhớ những ngày…
Theo mẹ về quê lo giỗ chạp
Mà lòng ngây ngất bởi hương bay

Những cánh đồng non phơi phới xanh
Nằng như tơ rũ nắng vàng hanh
Nhà ai khói quyện loang triền núi
Cây trái chừng đau quả trĩu cành

Những cô thôn nữ chân thơm rạ
Lúi húi đồng xa đến đồng gần
Náng rát đôi tay chườm má phấn
Mà lòng ngan ngát mối tình quân

Đường quê thấp thỏm cây đơm hạt
Bóng sẻ lao lao mấy rặng dừa
Tiếng gió vô tình đâu vọng lại
Một làn hơi ấm vọng chiều xưa

Dung dẻ dung dăng tiếng gọi đàn
Bầy gà chíu chit chạy lang thang
Đàn trâu  quá buổi quay về xóm
Mía dựng trời cao xếp thẳng hàng

Tôi bỗng thấy lòng phơi phới quá
Thèm sao trên mỗi bến sông quê
Tình yêu vo kín niềm thương nhớ
Để mỗi mùa Xuân lại hẹn về

    PHAN MINH CHÂU

3b Âu Cơ Nha Trang Khánh Hòa
READ MORE - GIỖ CHẠP - thơ Phan Minh Châu

THƠ CỦA NHÀ GIÁO VÕ VĂN LUYẾN - Phạm Xuân Dũng

                                                                 

   Trong  lần chuyện trò gần đây với một họa sĩ người Quảng Trị yêu thích văn chương, anh có nhắc đến nhà thơ Võ Văn Luyến, tôi kể rằng nghe thi sĩ sắp ra tập thơ "Người Câu Bóng Mình ", tôi đùa: "Chắc nhà thơ định học Khương Tử Nha đây." Đùa vậy thôi, tôi nhận thấy Võ Văn Luyến chăm chút đặt tên cho Mỗi-Đứa-Con-Thơ. Tên gọi các tập thơ của anh rất gợi và mang nhiều ẩn dụ, như "Trầm Hương Của Gió", "Sự Trinh Bạch Của Ngọn Nến" và giờ đây là "Người Câu Bóng Mình".
   
Người câu bóng mình - tên gọi nên thơ mang một ẩn dụ triết học vươn tới một "nhiệm vụ bất khả thi" theo cách hiểu thông tục. Nhưng, theo tôi như vậy mới Thơ và mới Luyến. Dường như thi sĩ đã mạo hiểm mặc định hồn mình trong một lập trình thơ mới không ít chông gai nhưng cũng đầy thú vị mà chỉ có những người táo bạo mới dám dấn thân trên hành trình sáng tạo. Người đọc hồi hộp theo dõi cuộc chơi tao nhã và nhọc nhằn rồi reo mừng khi thi sĩ đã về đến đích dù xiêm áo tả tơi.
   
Với "Người Câu Bóng Mình", thơ Luyến nhiều bài đã bắt đầu chín tới. Những bài thơ như: "Mẹ Ơi, Xuân Đến Rồi Kìa ", "Mẹ Lũ Vùng Quê", "Lời Chào Tháng Giêng"... khá hay. Ta đọc thấy lời quê khi tác giả hóa thân vào khoai lúa, vào hồn vía quê hương và vạt áo mẹ già.Tất cả hiện ra hây đỏ và thơm nồng như gò má em gái Kim Long một chiều rượu gạo.
   
Khi tưởng vọng trước vong linh lương y-đạo sĩ Võ Thìn, một kẻ sĩ đáng kính, một nhân cách đáng trọng, một tấm lòng đáng quý được văn nghệ sĩ, trí thức Quảng Trị và bạn hữu gần xa nhớ tiếc, thi sĩ Võ Văn Luyến đã có bài thơ xúc động:

         Người đi rồi !
         Sông thơ nấc nghẹn núi đồi thắt tim
         Bàng hoàng gió ngác ngơ tìm 
         Cau đau rụng vỡ chân chim câu thề 

         Đường xưa mây trắng mải mê
         Bùa yêu trổ ngọn bồ đề người qua
         Aó sương nguyệt bạch đôi tà
         Lở bồi mấy bến phù hoa...thôi đành

         Tiễn người về cõi cao xanh
         Một chung ta uống tàn canh hồng trần.
                                (Thơ Viết Cho Người Đi Xa) 

  Nếu những bài thơ kể trên là con đẻ của làng quê thứ thiệt thì với "Vần Tháng Giêng", nhịp phách thơ đã có nhiều biến hóa, một chân vẫn đứng vững trên phù sa luống cày truyền thống còn chân kia đã tự tin bước vào hiện đại:

       Tháng giêng vào ta,gió lộng trăng ngà
                          Đồng xanh sương trắng;
      Cúc  áo nở bông bèo vẫn trên sông
                          mẹ ta lưng còng gậy cong tay nải;
      này người em gái mà mắt thị thành
                          mà áo phong phanh ngó sen ngơ ngác 
 ... Tháng giêng vào ta . có mẹ có cha
                          Có ông có bà có con cá bống
     Có vườn ươm nắng nhả ngọc bầu trời 
                          Có cả chuỗi cười kết thành tràng hạt
     câu kinh lạc mất ở phía niết bàn
                          người gánh đa đoan chất miền trần thế 
                                                         (Vần Tháng Giêng)

   Nhiều bài thơ hiện đại của Luyến - tôi nghĩ vậy - đã định hình cho thi pháp của anh. Đó là ''Đêm Nghe Hàng Rào Điện Tử McNaMara Kể Chuyện", "Lan Man Đêm Mất Ngủ", "Những Gương Mặt", "Thơ Nhặt Dọc Đường" 1 và 2, ''Đà Nẵng Ký Sự 1972 (trích)"... Ở những bài hay, ý hay, câu hay, tính hiện đại trong thơ Luyến hiện ra thuyết phục từ máu thịt thi ca, từ cách cảm, cách nghĩ, cách thể hiện chứ không phải hiện đại lấy được, hiện đại quàng xiên đánh đố  hay hậu hiện đại thời thượng giả cầy...
   
Viết về đề tài chiến tranh, bài thơ "Đêm Nghe Hàng Rào Điện Tử McNaMara Kể Chuyện" là một tìm tòi khám phá của nhà thơ khi tác giả để cho sắt thép vô tri "tự sự": 

      vượt nghìn dặm trùng dương
      mang cái tên chung về đây thấm mệt
      chúng tôi 
      những linh hồn chết
      những phận đời rỉ sắt
      ngày đêm rình rập con người
      như thú hoang chờ mồi
      say giấc mê tàn độc...

  hay "Thơ Nhặt Dọc Đường" bài (1):

      Đẩy xuống Tiền Đường
      Những câu thơ bạc mệnh
      Ném vào lồng chim
      Những dòng văn gãy cánh

      Mũi chông mồ côi
      Ngọn bút mồ côi
      Tôi.

   Bài thơ như một công án về hoạt động sáng tạo coi đó là một khổ sai tự nguyện vừa cám dỗ lại vừa bất trắc, như thể một định mệnh thơ không thể chối từ.

  Và bài (2):

      Những con chữ quẫy đạp giãy giụa
                                             trong vũng mực đỏ
      Bởi chúng khước từ gấm vóc lụa là
      chúng lãng quên bổn phận nâng khăn sửa túi
      chúng báng bổ thánh thần
                                             và không chịu làm con rối
      Những con chữ mang dáng kẻ hát rong đường phố
      không cúi đầu,ngửa tay
      coi trái đất là hòn bi lăn vào phận số
      coi bóng đêm là giấc mơ sinh nở
      coi con chuồn chuồn là vĩ nhân lim dim bên lá cỏ
      coi hạt cát làm nên báu vật của đời.

   Bài thơ là một Phúc Âm vinh danh sứ mệnh thi ca và giống nòi thi sĩ.

   "Người Câu Bóng Mình" đã chạm tới những vần thơ đốn ngộ trong tâm thế của một thiền sư ở chợ:

       người đàn ông giết mình bằng thời gian
       bằng những hạt hồng cầu mê ngủ
       bằng những con chữ U chạy nhanh như gió
       up ngược chiều trái tim

      người đàn ông ngửa cổ cầu bình yên
      một ngìn năm sau, một nghìn năm trước
      hạnh phúc nát nhàu, tình yêu mất được
      tiếng mõ, câu kinh cạn đêm linh hồn

      người đàn ông bỏ quên nụ hôn
      bỏ quên bông hồng bông hồng bông hồng 
                                                    ngoài cửa sổ
      bỏ mái chèo khuya, bỏ ồn ào phố
      ngồi câu bóng mình ...

   Gặp lại Luyến Thơ như gặp lại một người bạn cũ.Vừa quen vừa lạ, vừa thân thuộc lại vừa tươi mới, vừa mê đắm, nồng nàn lại vừa ánh lên trí tuệ, tỉnh táo, vừa cảm hết lại vừa không hiểu hết. Thú vị thay cho những ai  hết mình với nghiệm sinh thơ qua những mệt nhoài...

PXD
      
      

READ MORE - THƠ CỦA NHÀ GIÁO VÕ VĂN LUYẾN - Phạm Xuân Dũng

RU EM MÙA XUÂN - Hoàng Anh 79




Ru em vừa mới vào xuân
Lung linh hạt nắng mây lưng chừng đồi
Mang xuân ướp mọng đôi môi
Thơm  hoa cỏ lạ góc trời bình yên.

Ru em  sợi tóc đen tuyền
À ơi theo gió từ miền xa đưa
Ru em tình khúc giao thừa
Nhớ quên một thuở, như vừa biết nhau.

Chênh chao ôm mối  tình đầu
Ơn em sang bớt gánh sầu cho anh
Mong manh  sợi chỉ treo mành
Thả mơ vào thực vá lành vết thương.

Xuân về ngợp sắc và hương
Lộc xanh biên biếc con đường em qua
Ru em say giấc ngọc ngà
Trăm năm ngọt mãi lời à ơi  ru!

Ngày 21/12 /2013 


Tên: Hồ Mạnh Phi Hùng.
Bút hiệu: Hoàng Anh 79.
Sinh ngày 14/09/1973.
Đt : 0918.974.522.
mail: homanhphihung.mt@gmail.com
Đc nhà : 1S5 Lương Văn can, Chung cư Bình Khánh, Bình Khánh, Long Xuyên, An giang.


READ MORE - RU EM MÙA XUÂN - Hoàng Anh 79

Thơ Hồng Duyên - CHỢ TẾT QUÊ MÌNH - ĐỪNG EM ƠI




CHỢ TẾT QUÊ MÌNH

Chợ tết quê mình đẹp lắm anh
Hoa vàng khắp phố giống làng tranh
Tiếng rao í ới kêu mời gọi
Súm sít chen nhau trả giá thành

Cái chợ hiền lành đón khách sang
Khoe duyên chúm chím ghẹo tình lang
Thời trang mol mới cùng nhau sắm
Chìm đắm thời gian thiếp với chàng

Thềm xuân năm mới thật rộn ràng
Phước lộc chia nhau khắp xóm làng
Khói bếp nhà ai quàng ngọn lửa
Tin yêu nhóm lại giữa tim vàng

Chợ tết quê mình đẹp lắm anh
Thi nhân dạo bút đón xuân sang
Vài câu phác họa tình non nước
Cầu chúc muôn dân khổ hóa nhàn.

Hồng Duyên
…………….

ĐỪNG EM ƠI

Em đừng buông tiếng thở dài
Cho đêm lo lắng cho ngày thở than
Hoa chùm gởi nở đầy giàn
Cớ sao con én vội vàng ngủ yên

Đừng em ơi!
Vội tình duyên
Ngày xuân nắng mới ra hiên đón chào
Một lời vắt cạn cho nhau
Bẻ câu tiển biệt tím màu nhạt phai

Hỏi em đã nhớ thương ai
Nỡ lòng con nhạn chiết mai chia cành
Ngoài vườn chiếc lá còn xanh
Trong nhà bếp lửa bung vành nát tan

Mưa rơi nhỏ lệ chứa chan
Ôm lòng hốt mảnh trăng tàn đem chôn.
Đừng em ơi !
Cách tâm hồn
Đông tàn song cửa đang chồm hái xuân

Đừng em ơi!
Bỏ người dưng
Năm canh khắc khoải không ngừng nhớ mong.

Hồng Duyên


Nguyễn Hồng Duyên
Cà Mau
hoatimhd@yahoo.com.vn

READ MORE - Thơ Hồng Duyên - CHỢ TẾT QUÊ MÌNH - ĐỪNG EM ƠI

SÔNG TRĂNG - Phương Hà




Mênh mông bát ngát
Dòng sông ánh bạc
Thuyền nhẹ trôi
Mái chèo buông lơi
Hờ hững
Giữa trời, lơ lửng
Vầng trăng
Sóng gợn lăn tăn
Long lanh bóng nước
Trăng vàng tha thướt
Lả lơi...
Về đâu thuyền ơi
Về đâu trăng ơi
Đầy trời
Lấp lánh
Vàng rơi
Hồn chơi vơi
Mênh mông đất trời
Trăng soi
Thuyền ơi, thuyền ơi
Đưa ta về đâu
Đêm nay
Viên mãn trăng đầy
Mười sáu 
Có thật là trăng
Hay chỉ là mộng ảo
Ta say trăng
Trăng đắm đuối cùng ta
Phiêu lãng bồng bềnh
Trên sóng nước bao la...

           Phương Hà
READ MORE - SÔNG TRĂNG - Phương Hà

Thơ Trúc Thanh Tâm - CON NÍT KÝ SỰ - CÂY NHÀ LÁ VƯỜN





CON NÍT KÝ SỰ

Trời sinh con nít vô tư quá
Lướt đôi tay, làm hết mọi điều
Người lớn nhìn thèm, rơi nước miếng
Gặp chiến trường, cũng muốn... xuất chiêu !


CÂY NHÀ LÁ VƯỜN

Lâu ngày chiến hữu ghé chơi
Nhà vườn đất trống cứ ngồi khỏe re
Le Le anh nhốt sau hè
Em ơi, thịt nó đãi bè bạn anh
Món gì, nhậu bắt làm nhanh
Được rồi, chút xíu tung hoành, mình ơi
Anh đưa khách quý ra chòi
Vài bà hàng xóm em mời, đưa cay
Gió đồng, chuối hột cứ say
Còn chim cứ nhậu, lỡ bay hết... buồn !

TRÚC THANH TÂM
( Châu Đốc )
READ MORE - Thơ Trúc Thanh Tâm - CON NÍT KÝ SỰ - CÂY NHÀ LÁ VƯỜN

Tin văn nghệ: RA MẮT TÌNH QUÊ 14



Hội đồng hương Quảng Trị tại Đà Nẵng vừa ra mắt TÌNH QUÊ số 14 - tuyển tập thơ văn chào Xuân Giáp Ngọ 2014.

Đến dự buổi ra mắt có nhà văn Thái Bá Lợi - tác giả cuốn truyện lịch sử "Minh Sư" viết về Chúa tiên Nguyễn Hoàng, các cô bác trong BCH Hội đồng hương QT tại ĐN, các nhà văn, nhà báo quê QT, các em sinh viên QT đang học tại ĐN và nhiều bà con đồng hương khác. 


Trong số này, mảng văn xuôi có nghiên cứu, tiểu luận của Hồ Ngọc Phụ, Nguyễn Hoàn, Lâm Chí Công, Trương Văn Quảng; tùy bút, phóng sự, tản văn của  Hồ Sĩ Bình, Phạm Xuân Hùng, Nguyễn Khắc Phước, Lê Thu Ba,  Võ Quê, Văn Khoa, Y Thi, Lê Đàn và những cây bút mới như Ngô Hai, Nguyễn Viết Dũng, Nhan Ngọc Duệ, Kim Anh… ; 
 truyện ngắn của Thái Đào, Nguyễn Bá Trình, Hoàng Công Danh, Đinh Thanh Hải; bình thơ của Huỳnh Văn Hoa, Ngô Minh, Đỗ 
Trầm Tư, … ; phỏng vấn của Hoàng Hữu Quyết,  các bài viết của các thầy giáo Nguyễn Hoàng:  Hồ Ngọc Thanh, Hoàng Đằng, Đỗ Tư Nhơn. Thơ cả các tác giả Trần Trình Lãm, Nguyễn Văn Dùng, Lê Sinh, Võ Văn Hoa, Nguyễn Văn Chức, Lê Tất Sử,  Trần Bình, Phan Luận, Lữ Thượng Thọ, Lê  Chí Phóng, Hoàng Kim Liên, Đinh Ngọc Dinh, Nguyễn Hoàng Thọ, Võ Thị Quỳnh, Hoàng Cẩm, Trường Khánh, Trương Kim Quy, Trương Công Hổ, Giang Đông, Nguyễn Xuân Tư, Nguyên Hữu và nhiều cây bút khác. Ngoài ra còn có các bài viết của các vị trong Ban chấp hành hội đồng hương Quảng Trị tại Đà Nẵng.

BBT đã gởi báo biếu đến tác giả. Nếu quý vị nào chưa nhận được, xin liên lạc với chị Lê Thị Ba, số điện thoại 0905077837 để báo địa chỉ nhà riêng.

Nếu quý vị muốn mua ủng hộ thêm để làm quà, cũng xin báo với chị Ba để gởi một lần luôn thể. Tiền ủng hộ xin gởi về chị Lê Thị Ba, tài khoản số  2004206037843, ngân hàng Agribank, quận Sơn Trà, Đà Nẵng.

Hình buổi ra mắt TÌNH QUÊ của Hoàng Hữu Quyết.












READ MORE - Tin văn nghệ: RA MẮT TÌNH QUÊ 14

Thursday, January 9, 2014

CÓ NHỮNG BUỔI CHIỀU - thơ Tuyết Mai - giọng ngâm Thúy Vinh - nhạc Lê Thanh Đạm - giọng ca Thành Đạt





READ MORE - CÓ NHỮNG BUỔI CHIỀU - thơ Tuyết Mai - giọng ngâm Thúy Vinh - nhạc Lê Thanh Đạm - giọng ca Thành Đạt

EM, ĐÀ LẠT - thơ Tuyền Linh




Nắng nghiên rọi lên vùng trời cổ tích
Gió lang thang hôn suối thác khe ghềnh
Em rạng ngời áo lụa ngát thông xanh
Ơi Đà Lạt, em ngàn năm vẫn thế !

Ta về đây sau những ngày dâu bể
Chặng cuối đời ta quyết định dừng chân
Chẳng nơi nào rũ được áo phong trần
Em, Đà Lạt nơi dung thân rất tuyệt

Ta và Em gặp nhau trong tiền kiếp ?
Sao thơ ta óng mượt cúc dại vàng
Nhạc tấu lời, đào nụ hé môi ngoan
Yêu biết mấy suối ngàn ru thông biếc !

Em xõa tóc, thác ngàn trông diễm tuyệt
Em cất lời, róc rách suối gọi trăng
Lời tình nào ngọt lịm tựa môi em
Xin cho nhắp chén quỳnh tương huyền thoại ?

Từ lâu rồi lòng ta dường khép lại
Nỗi u trầm đè nặng trái tim đau
Hôm nay đây, ôi giây phút nhiệm mầu
Em, Đà Lạt đón ta ngàn hoa cỏ

Dốc dã quỳ năm xưa vẫn còn đó
Xin cám ơn núi thác đã chở che
Con đường mòn mà ta đã đi quen
Hoa vẫn nở vàng tươi khoe sắc thắm

Em, Đà Lạt đẹp trăng rằm mười sáu
Tình đôi ta đã tròn vẹn câu thề
Ai đã từng có năm tháng xa quê
Mới cảm nhận được nỗi lòng người xa xứ

Ta về đây sẽ không bao giờ đi nữa
Treo lời thề lên đỉnh Lang Biang
Một mai kia khi ta có từ trần
Ôm nắm đất bazan rời cõi tạm


Tuyền Linh
READ MORE - EM, ĐÀ LẠT - thơ Tuyền Linh