Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, September 12, 2012

MỘT CHIỀU TRÔNG QUÊ - Trần Tư Ngoan


Mời anh chị em nhạc sĩ phổ nhạc.

Chiều quê Quảng Trị - Ảnh Đinh Thị Hiệp


Một chiều nương bóng quê
Một lần ta đứng nghe
thời gian bước qua hiên nhà
tìm nhặt ánh dương la đà
Lặng lẽ rời xa
Một ngày nơi dấu yêu
Ngàn ngày xưa lấm rêu
giờ vỗ sóng trong tâm hồn
người viễn xứ vui tương phùng
Rộn rã hoài mong
Ta về tìm thăm thời ấu thơ
ký ức về theo ngợp gió lùa
Tuổi hoa quá giang con thuyền giấy
sông cuốn chìm trôi đã mịt mờ
Chim về nhìn mây hồng lướt bay
xao xuyến cùng ta khoảnh khắc này
Làng thôn nấu cơm tung làn khói
lam bóng chiều đang đưa võng ngày
Một chiều trong cố hương
Một đời ta vấn vương
hồn quê chứa chan con đường
nằm quạnh dưới khóm tre làng
Nặng trĩu thời gian
Một chiều như giấc mơ
Mộng đời xanh với thơ
Lòng ta ngất ngây đâu ngờ
tình quê thắm hơn bao giờ
Ngàn thưở không nhòa .


              Ngãi Giao, tháng Chín, 2012
Trần Tư Ngoan
Điệnthoại: 01695931953- 0643961078
Email: trantungoan49@yahoo.com,  trantungoan@gmail.com
READ MORE - MỘT CHIỀU TRÔNG QUÊ - Trần Tư Ngoan

GỞI NGƯỜI CÕI NHỚ ... - Hoàng Yên Lynh


*Những năm tháng trên bước đường lưu lạc kiếm sống, tôi đặt chân đến Gành Hào, Bạc Liêu nơi miền đất phương Nam với những cánh đồng ngút mắt, với câu vọng cổ chạnh lòng người phiêu bạt ... Ở đó tôi đã gặp người bạn đời, người đã cảm thông chia sẻ và cưu mang đời tôi trong những tháng năm khốn khó. Những đêm dài bên ly rượu suông, bên ánh trăng vàng đục tỏa xuống cánh rừng tràm, đôi bạn già trẻ cùng sớt chia nỗi niềm tâm sự và những đắng cay của cuộc đời. Tôi một kẽ "phú qúy giật lùi, công danh lộn ngược ", ông một người cuối đời cô đơn bên chiếc đàn bầu. Đôi bạn già trẻ mưu sinh bằng nghề bốc vác ở bến cảng Gành Hào ... Rồi đến một ngày ông tiển tôi với lời ước hẹn  “đời chú còn dài, hãy tìm cho mình cuộc sống... Đoạn trường ai có qua cầu mới hay ... Nhớ lời tôi, cứ về lại đây khi đường đời gặp khốn khó ...".

Gần 30 năm tôi mới tìm về lại. Nỗi nhớ về ông vẫn nguyên vẹn trong tôi nhưng bước đường lưu lạc cứ đẩy tôi đi xa mãi ... Làm sao tôi có thể quên được người bạn cố tri, quên được tháng năm gian khó nhưng đầy ắp tình người phương Nam. Thời gian đã mang ông đi vào cõi vĩnh hằng, tôi trở lại chốn xưa. Cố nhân không còn nữa , cảnh xưa cũng đã khác nhưng hình ảnh ông, âm vang tiếng đàn bầu bên căn chòi lá, bên ly rượu trắng, bên tiếng sóng vỗ những đêm dài cô đơn vẫn khắc sâu trong tâm tưởng tôi. Tôi về đây, suy nghĩ về ông hàn ôn kỷ niệm và tôi vẫn tin rằng ở cõi xa vắng nào đó ông vẫn không quên ngày tháng cũ, không quên tôi. Xin gởi đến ông - Ông Ba Sài Gòn -  những ân tình như nén hương lòng gởi đến người xưa... Xin ông được an nghĩ.

Ông Ba Sài Gòn!  Nỗi nhớ về ông mãi trong tôi cho đến cuối đời.

Gành Hào , Bạc Liêu 8/2012
HYL


Ba mươi năm tôi về lại Bạc Liêu
Trăng Gành Hào vẫn vàng soi con nước
Ba mươi năm một lời hẹn ước
Tôi trở về ...
Ngọt ngào câu Dạ Cổ
Tiếng đàn xưa với người bạn cũ
Còn lại đây chỉ là cõi nhớ ...

Bạc Liêu ơi Bạc Liêu
Tôi tìm ông giữa biển trời sóng vổ
Dáng ông đi về những chiều mưa đổ
Ly rượu đong đầy
Tiếng đàn bầu da diết
Trải lòng ông  giữa bao điều thua thiệt
Tôi kẻ tha hương ngày tàn cuộc chiến
Bước lang thang sau năm tháng lưu đày
Đôi bạn trẻ già
Ngẫm cuộc đời như một giấc Nam Kha ...

Ba mươi năm tôi về lại tìm ông
Giọt nắng chiều rơi sao đến chạnh lòng
Hỏi gió, hỏi mây hỏi chiều biển động
Hỏi cánh chim trời ... Ông phiêu lãng nơi đâu .

Bạc Liêu ơi Bạc Liêu
Một mình tôi rượu rót lại đầy
Chỉ mình tôi giữa chiều hoang vắng
Ông ở đâu ... Tiếng đàn xưa vắng lặng
Câu thơ này tôi viết để mình tôi .

Tôi về biển cũ Bạc Liêu
Vầng trăng lẻ bạn nỗi niềm đầy vơi
Gành Hào ơi ! Ông Ba ơi !
Rượu chưa cạn hết mà người xưa đâu
Mấy mươi năm chuyện bể dâu
Khúc Hoài Lang với nỗi đau xé lòng
Ngày đi ông tiễn bên sông
Bây giờ bến vắng ... Tìm ông chốn nào
Mênh mông trăng gió Gành Hào
Xốn xang Dạ Cổ ngọt ngào nhớ ông
Còn tôi lặng lẽ chờ mong
Có trăng có rượu sao ông đi rồi
Một thời đói rách tả tơi
Chia nhau ly rượu chia đời đắng cay
Chiều nay biển dậy mưa bay
Tôi về nghiêng chén rượu say một mình
Trăm năm còn lại ân tình
Rồi mai tôi lại một mình .. . Ra đi.

HOÀNG YÊN LYNH
READ MORE - GỞI NGƯỜI CÕI NHỚ ... - Hoàng Yên Lynh

NHỚ VỀ ÔNG NỘI TÔI NHƯ ÔNG VẪN CÒN MÃI TRÊN ĐỜI - Tự sự : Nguyễn Hồng Trân

                                               
                                     

Tôi là cháu đích tôn của ông nên ông rất vui mừng và quan tâm thường xuyên. Ông nội tôi kể lại rằng, từ năm 1935 ông nội và cố nội bà của tôi đã tìm xin được việc cho ba tôi vào Cố đô Huế làm ăn sinh sống. Gia đình tôi vào sống ở Huế tại phường Huệ An ngày xưa (Nay thuộc Thuận Thành –Huế). Khi tôi vào học trường tiểu học ở Huế, mùa nghỉ hè nào ông nội tôi cũng đưa tôi về sống với ông để ông kèm cặp học thêm. Mùa nghỉ hè năm 1945, học xong lớp nhì, tôi về ở với ông tại thị trấn Diên Sanh để học thêm chữ Hán. Hồi ấy, ông thương tôi lắm. Ông lo cho tôi ăn mặc và học hành chu đáo. Tôi cũng rất thương yêu ông và chăm học chuyên cần nên ông rất hài lòng. Tôi còn nhớ ông có đặt mấy câu thơ:

Cháu tôi là Nguyễn Hồng Trân

Sinh năm Mậu Dần đã gần bảy tuổi

Về theo ông nội, ở chợ Diên Sanh

Chăm chỉ học hành, người lành tánh tốt.


Ngoài những giờ học ông quy định, tôi cũng có kế hoạch giúp ông bà quét nhà, lau cửa, rửa ấm chén trà hàng ngày. Thỉnh thoảng chiều chiều mát được giải lao, tôi đi chơi đánh bi, chơi đánh đáo hoặc chơi vụ với các bạn trong thị trấn. Nếu chưa đến giờ quy định được đi chơi thì dù các bạn thân có đến rủ rê, tôi cũng không dám rời bàn học. Có nhiều bạn cứ đến xem tôi học chữ Hán và ngạc nhiên là tôi viết chữ Hán rất đẹp và nhanh. Hồi đó ông tôi bắt tôi phải học thuộc lòng bài văn vần trong quyển “Tam thiên tự” (tức 3 nghìn từ). Tôi đã học trong một tuần là thuộc lòng. Đến bây giờ (trên 75 tuổi) tôi vẫn còn nhớ.

Ngoài việc ông dạy tôi học chữ Hán ra, về sau tôi lớn lên thêm, ông còn dạy cho tôi biết làm thơ lục bát và còn dạy cho hiểu câu đối và tập làm câu đối. Ông tôi thường làm một số câu đối tiếng Việt giản đơn để cho mọi người dễ đọc, dễ hiểu mà ý nghĩa rất thâm thúy. Chẳng hạn như cặp câu đối ông đề vào hai trụ cổng nhà là:

“Thuốc sơ sơ, nhờ thần hiệu

Thầy dở dở, đỡ xóm làng”.

Hoặc cặp câu đối:

“Nhà thấp, không lo mưa gió tạt

Cổng cao, mặc sức xe ngựa vào”.

Có lần ông tôi đưa ra một vế đối thật ngắn gọn nhưng ẩn ý rất hay mà bao nhiêu người chưa đối được. Đó là câu:

              “Thầy thuốc hay ho, không uống rượu!”

Ẩn ý ở câu này là từ kép “hay ho” vừa có nghĩa là giỏi dang, lại vừa có nghĩa là bị ho luôn.

Tôi cũng thử làm một câu đối lại như sau:

              “Bệnh nhân tỉnh táo được ăn chè”.

Từ kép “tỉnh táo” ở đây tôi dùng cũng có ẩn ý là bình tĩnh và chữ táo cũng  có nghĩa là bệnh táo bón.

Ông tôi nghe vậy cũng gật đầu nói:

“Cũng khá đấy nhưng chưa hay, chưa ẩn ý sâu sắc như từ kép “hay ho”.

Trong mấy năm đầu cuộc kháng chiến chống giặc Pháp, ông tôi không ở thị trấn Diên Sanh nữa mà về quê tiếp tục làm thuốc chữa bệnh cho mọi người. Vào năm 1948, trong một buổi sáng, giặc Pháp đi càn quét quê tôi, ông tôi vì điếc tai không nghe tiếng mõ báo động có bọn giặc tiến vào làng nên ông đã bị chúng bắt về thị xã Quảng Trị. Và cũng vì có kẻ xấu theo giặc nên đã báo cho giặc biết ông là anh ruột của ông Nguyễn Quýnh (Chủ tịch huyện Hải Lăng đầu tiên) và người cháu ruột là Nguyễn Sam  (đảng viên Cộng sản từ năm 1930, là Bí thư Đảng ủy huyện Hải Lăng đầu tiên) đã đi theo Việt Minh. Vì vậy mà bọn giặc tuy biết ông tôi là một thầy thuốc Đông y giỏi ở huyện, nhưng chúng vẫn cố tình bắt giam và đày đi lao động nặng nhọc kéo phà tại bến phà ở sát cầu Sập qua sông Thạch Hãn tai thị xã Quảng Trị trong mấy tháng trời. Trong thời đoạn ấy, ông tôi đã thầm kín làm bài thơ như sau:

  
                        TỦI PHẬN ĐỜI

Ngày ngày cặm cụi kéo phà

Bụng thì đói khát, thịt da tím bầm

Nhiều lúc mong mỏi người thân

Vợ con cách trở, cũng dành chịu thôi

Nghĩ mà tủi phận cho đời

Làm nghề thầy thuốc sao trời hại ta?

Tù đày khổ cực thân già

Bực mình thầm chửi tổ cha giặc thù!

Các con ở tận chiến khu

Có biết cha đã bị tù Pháp không?

Mong sao kháng chiến thành công

Quét hét lũ giặc cho đồng bào yên!...

                   
(Thầy Lương y Nguyễn Bá Đàm - Giáo Tiềm 1948)


Bài thơ này sau khi ông nội tôi ra tù về nhà cuối năm 1948 mới đọc lại cho tôi nghe. Nghe xong bài thơ tôi muốn khóc to lên vì thương cho ông tôi quá và tôi càng căm ghét bọn giặc.

Ông tôi trở lại thị trấn Diên Sanh để hành nghề thầy thuốc Đông y như ngày xưa. Đồng bào khắp vùng Hải Lăng nghe tin ông Giáo Tiềm về làm thầy thuốc trở lại ai ai cũng mừng. Lúc ấy, ngôi nhà lầu hai tầng của ông tôi với hiệu thuốc Long Hòa đã bị chính quyền thân Pháp chiếm giữ làm công vụ. Lúc đó ông nội tôi phải thuê một ngôi nhà cấp 4 của ông Hương lý Phan Khắc Kiếm ở Diên Sanh để hành nghề. Nhà này sát bên cạnh nhà cậu tôi là Phan Quang Đãi đang buôn bán hàng tiêu dùng lặt vặt. Thời gian này có bà Phan Thị Bạo (vợ ba không chính thức của ông) người làng Thượng Xá vào ở chăm sóc cho ông tôi. Tôi cũng xin vào ở với ông để đi học và có dịp giúp ông những việc sai vặt như pha trà, nghiền thuốc Bắc, viên thuốc hoàn,v.v…

Tuy ở nhà thuê cũng chật chội nhưng ông tôi vẫn bố trí phòng bắt mạch khám bệnh gọn gàng tử tế. Hồi đó, nhà ông tôi không có dãy tủ thuốc Bắc như ở hiệu Long Hòa trước đây mà chỉ kê phái đơn thuốc cho bệnh nhân đến mua thuốc ở các hiệu thuốc Bắc của chú Tàu như Thái Hòa Tường, Vương Dỏ. Cứ hàng tháng các hiệu thuốc của các chú Tàu căn cứ vào số lượng thang thuốc được bán ra để tính tiền cho ông tôi hưởng tỷ lệ công thầy. Do đó mà thu nhập hàng tháng của ông tôi cũng không dư dật như trước đây. Vì vậy việc chi tiêu cho đời sống hàng ngày trong gia đình cũng bị hạn chế. Sự tiêu pha ăn mặc của ông cũng rất tiết kiệm. Tuy vậy, ông đối xử với người mẹ già và các anh em cũng như con cháu, bà con thân thuộc rất chu đáo. Khi có người đau ốm, ông bổ thuốc giúp đỡ mà không nhận tiền. Những ngày Tết, ngày lễ hàng năm nhiều người dân biết ơn thầy thuốc đã đem nếp gạo, bánh trái và gà vịt đến biếu thầy rất nhiều. Sau đó ông tôi lại sai người đem biếu lại cho mẹ già các anh chị em và con cháu sử dụng. Đặc biệt đối với những người ốm đau nghèo khổ, ông chữa bệnh miễn phí. Ông rất tự hào về nghề thuốc gia truyền làm ông đã có uy tín trong cả huyện. Ông tôi thật xứng đáng là một người con trai nối nghiệp được cha là cụ Nguyễn Bá Khánh (tức Bá Chước) đã đỗ Tú tài và từng làm quan Ngự y triều Nguyễn thời vua Đồng Khánh. Ông được tặng danh hiệu Viện Hàn Lâm đãi chiếu.

Ông nội tôi rất muốn truyền lại nghề thuốc Đông y cho ba tôi, các chú tôi và cả tôi là cháu đích tôn nữa, nhưng tất cả đều không học được thành công. Điều đó ông nội tôi buồn lắm nhưng cũng đành chịu, vì thời thế không ai muốn kiên trì học chữ Hán để làm nghề thuốc Đông y nữa.

Sau ngày hòa bình thống nhất đất nước, con cháu ông tôi đã về quê hương đầy đủ nhưng ông bà đều đã qua đời. Các cô chú của tôi là Nguyễn Thị Liễn, Nguyễn Thị Thiều, chú Nguyễn Bân và Nguyễn Quỳnh về quê thắp hương cúng bái trên mồ mả của ông bà và nguyện cầu cho ông bà mọi điều an lạc ở cõi vĩnh hằng. Mỗi lần đến viếng mộ ông bà, con cháu đều xúc động không cầm được nước mắt vì quá thương xót ông bà đã mấy chục năm xa cách không được chăm sóc nuôi dưỡng ông bà, ngay cả những lúc lâm chung cũng đều vắng mặt nhiều người con cháu.

Qua hơn một chục năm sau, hai chú tôi mới có điều kiện để xây lăng mộ cho ông bà chúng tôi được khang trang đàng hoàng. Lăng mộ ông bà tôi được chú Nguyễn Quỳnh đề xuất và chủ động đảm trách kinh phí xây dựng. Sau đó chú Nguyễn Bân vào túc trực hơn một tháng trời để lo liệu thực hiện công trình cùng sự cộng tác đầy nhiệt tình của chú Nguyễn Bá Xử ở quê. Ngôi lăng mộ được hoàn thành vào mùa xuần năm Quý Dậu (1993) ở trên đồi An Lạc, làng Phú Long, xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Gần mười năm sau thì vợ chồng tôi (Nguyễn Hồng Trân và Thái Lê Phương) cũng xây dựng cho cha mẹ tôi sát bên dưới đó.

Giờ đây hai chú tôi Nguyễn Bân và Nguyễn Quỳnh đã già yếu. Nguyện vọng của hai chú là muốn tôn tạo khu lăng mộ của ông cho đàng hoàng hơn, có tường bao quanh thành khuôn viên để bảo đảm cho khu vực lăng mộ nghiêm trang, an toàn. Tôi đã đề xuất với các chú rằng: “Trước đây các chú lo xây lăng mộ cho ông bà rồi, bây giờ xin phép hai chú để các cháu lo liệu tôn tạo cho lăng ông bà to lơn và khang trang hơn. Cháu đề nghị sẽ thiết kế cấu trúc xây dựng thành một nghĩa trang gia đình cụ lương y Nguyễn Bá Đàm thật hoành tráng cho ông bà được vui lòng an lạc ở nơi suối vàng. Nghe như vậy các chú rất mừng và yên lòng chờ đợi. Thế là mấy anh em chúng tôi (vợ chồng các cháu nội của ông bà) đã bàn bạc với nhau quyết tâm thực hiện kế hoạch xây dựng nghĩa trang gia đình cụ lương y Nguyễn Bá Đàm trong hơn một tháng(từ 25/5 đến 2/7 năm Nhâm Thìn =2012).

Trong ngày khánh thành khu nghĩa trang này(18/8/2012) bà con khắp nơi trở về khá đông đủ để dự lễ mừng thành quả của công trình tôn tạo vùng lăng mộ thành khu nghĩa trang uy linh, tráng lệ.

Giờ đây hai chú thím tôi là Nguyễn Bân và chú Nguyễn Quỳnh, cũng như anh chị em chúng tôi gồm cháu nội, cháu ngoại và các cháu dâu, cháu rể, chắt nội… của ông bà đều phấn khởi yên tâm đã làm được một việc trọng đại có ý nghĩa tâm đức đối với cha ông, tiên tổ.

                                         

                              Phủ Cam, Phước Vĩnh, tp.Huế 7-9-2012
Nguyễn Hồng Trân

READ MORE - NHỚ VỀ ÔNG NỘI TÔI NHƯ ÔNG VẪN CÒN MÃI TRÊN ĐỜI - Tự sự : Nguyễn Hồng Trân

XƯỚNG HỌA MỪNG THU - Nguyễn Đại Bường - Nguyễn Thanh bá

Tác giả Nguyễn Thanh Bá

Bài xướng :

         L Ậ P    T H U

        Trời lập thu rồi – em có hay … !
        Em xa từ thuở . . . Lại thu nầy
        Lá rơi về cội – rưng rưng ngọn
        Trăng khuyết sang đoài – vướng vít mây
        Dẫu biết ân tình tan bọt bóng
        Mà nghe cay đắng ngợp heo may
        Em đi – vơ sạch thu trời cũ
        Sót lại thu nầy : Một gã say !

                        Nguyễn Đại Bường


T H U    V Ề
(Họa bài thơ Lập thu của Nguyễn Đại Bường )

       Lòng ta mong đợi có bai hay !
       Đếm tháng ngày trôi lạc lối nầy ?
       Thu nhuộm lá vàng – sầu phiến lá
       Gió lùa mây trắng – lạnh chân mây
       Chợt thương kỷ niệm màu hoa dại
       Và nhớ khung trời hương cỏ may
       Thu đã về - người chưa trở lại
       Chén thề ta đợi rót men say!

                       Nguyễn Thanh Bá

READ MORE - XƯỚNG HỌA MỪNG THU - Nguyễn Đại Bường - Nguyễn Thanh bá

VƯỜN CỔ TÍCH - Thơ Võ Đình Hương


Bốn mùa, mùa xuân trước nhất
Mùa xuân đẹp bởi mai vàng
Vườn nhà hai cây mai nhỏ
Đặt tên mai anh mai em

Dần dà theo dòng thời gian
Mặc cho thanh bình, bão tố
Lớn dần giữa khu vườn nhỏ
Mai anh cũng như mai em

Thời gian qua thật là nhanh
Chẳng nhớ bao năm rồi nữa
Mai anh lớn lên như thế
Mai em vào độ dậy thì

Và rồi mùa xuân năm ấy
Mai em nở một nụ vàng
Gio lay cành xuân nhè nhẹ
Hương bay mùa xuân đầu tiên

Tôi là chủ nhân của mai
Cũng lớn khôn theo dòng đời
Và mơ một ngày xuân đẹp
Mai em hiểu cho lòng tôi...

Một chiều quê hương ly tan
Như bao người phải tha phương
Tôi ra đi tìm lối sống
Đành xa mai anh mai em

Xa quê đã bao nhiêu năm
Lòng luôn nhớ về chốn cũ
Mong ngày quê nhà đoàn tụ
Về thăm mai anh mai em

Ngày kia quê nhà bình yên
Tôi về thăm khu vườn nhỏ
Vườn cây tôi trồng năm cũ
Vẫn còn mai anh mai em

Vin cành mai em vào tay
Đưa qua mai em tôi cười
Từ nay không xa nhau nữa
Ta cứ lớn khôn với đời

Lòng người và cây hiểu nhau
Nên tiếp mấy mùa xuân sau
Mai em nở hoa rực rỡ
Mai anh vài cái lơ thơ

Nhưng mùa gió bão năm kia
Làm cây mai anh trốc gốc
Ngả thân vào cây mai em
Và chết sau mùa gió lốc

Mấy mùa xuân nay lại về
Mai em buồn không nở hoa
Mùa xuân trong khu vườn nhỏ
Thành VƯỜN CỖ TÍCH bao giờ

                      2/9/12
                 VÕ ĐÌNH HƯƠNG
Thi Ồng, Hải Vĩnh, Hải Lăng, Quảng Trị
READ MORE - VƯỜN CỔ TÍCH - Thơ Võ Đình Hương

Sunday, September 9, 2012

BÀI TANGO HOA BƯỚM - Trần Tư Ngoan

Tặng anh chị em nhạc sĩ để phổ nhạc.
   
    Bài tango anh dành cho em đã lâu
Đời chông chênh anh buồn làm rơi mấy câu
Bài tango cho người nương theo đôi cánh
Qua thế gian mặc nắng mưa quen dãi dầu

Bài tango anh dành cho em rất thơ
Nhạc uyên ương ru hồn ta xanh ước mơ
Hồn liêu trai ươm tình ca dao hoa bướm
Hoa bướm trao vòng tay ai đó mong chờ

***
Hỡi em yêu anh dìu em tung tăng bước
Khúc đam mê cháy nồng ấm giữa hồn nhau
Em cho anh ngọt ngào cùng nhiều cay đắng
Yêu mến em ngày nao anh lấm u sầu

Trong mắt sâu cung đàn phiêu du lả lướt
Gót sen quay con tim vui hát tưng bừng
Hồn lên khơi nơi này lượn cùng thế giới
Ôi đóa hồng tươi vào đôi cánh môi rung

            ***
    Bài tango không nhòa câu ca phấn hương
Còn trinh nguyên bên đời dập dìu gió sương
Vòng tay đan mơ màng thêu hoa với bướm
Như biển xanh vờn gió nâng niu cánh buồm

Bài tango ơi người anh yêu có hay
Mộng lên trăng soi ngời màn đêm đắm say
Vờn trong mây mây ngàn năm trôi lướt thướt
Hoa bướm reo gọi khúc tango tháng ngày.

Ngãi Giao, 3 tháng Chín, 2012
Trần Tư Ngoan
Điệnthoại: 01695931953- 0643961078
Email: trantungoan49@yahoo.com,  trantungoan@gmail.com

READ MORE - BÀI TANGO HOA BƯỚM - Trần Tư Ngoan

Saturday, September 8, 2012

PHẠM THIÊN THƯ: XƯA LÀ GIỌT LỆ NAY LÀ HẠT CHÂU - Vĩnh Phúc


Nhà thơ Phạm Thiên Thư. Ảnh từ báo Giác Ngộ Online.


Phạm Thiên Thư là một thi sĩ đặc biệt của cõi đạo, cõi đời, cõi thơ. Ông đã tinh đã lọc để làm thành những vần lục bát trong ngần mà rười rượi tinh thần ca dao muôn năm cũ. Đêm 22/6/2011, tại Khu du lịch Văn Thánh, TP HCM diễn ra đêm thơ & nhạc của ông với chủ đề “Chắp cánh ước mơ xanh” nhằm gây quỹ cho Trường giáo dục chuyên biệt Khai Trí - ngôi trường dành riêng cho trẻ tự kỷ. Chương trình chủ yếu giới thiệu tập “ Hát ru Việt sử thi” (NXB Thanh Niên 2010) và những ca khúc nổi tiếng mà Ns Phạm Duy phổ nhạc từ tập ” Động Hoa vàng” 40 năm trước. 

Đợi nhau tàn cuộc hoa này
Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ
Tìm trang lệ ố hàng thơ
Chữ xưa quyên giục bây giờ chim đi...
Rồi tàn cuộc hoa, hàng thơ lệ ố, quyên giục chim đi, cánh bướm đồi Tây hờ hững…Thơ chống chếnh bềnh bồng với trăm ngàn mật mã còn người thì cứ bí ẩn, im lặng trắng thức mây. Đã có những nhầm lẫn và cũng không thiếu nghi kỵ. Là thiền sư hay “nòi tình”, nhà ngoại cảm hay nhà thơ, là thầy thuốc hay ông chủ cà phê hay một “con vạc bờ kinh”? Rốt cuộc, Phạm Thiên Thư, ông là ai? 
Trả lời câu hỏi này không khó nếu dựa vào Wikipedia, hay vào những thông tin trên Google. Muốn gặp và đàm thoại với thi sĩ cũng không thành vấn đề. Hãy đến quán cà phê Hoa Vàng những chiều chiều, PTT ngồi đó, an nhiên miệng cười, khói thuốc tròn vành thổi những chân mây nhân sinh nhàu nhĩ .
Hỏi nghề  hớt tóc làm thơ/ Cà phê bán những lơ mơ chợ đời
Dùng ngoại cảm cứu bệnh người/Trăm năm hỉ hả tiếng cười hiên xanh
Hỏi tình thuyền cứ chòng chành/ Hỏi Phật, đợi đã, tròng trành cội hoa …(1)
Nhất định tiên sinh sẽ cười mấy câu thơ lục bát vặt vẹo của tôi khi mà mới ngoài ba mươi, tiên sinh đã giành được ngôi vị bá chủ thơ Lục bát (Đoạn Trường Vô Thanh được Giải thưởng văn học miền Nam năm 1973) nhưng quả thật, tiên sinh cũng lắm nghề mà nghề nào cũng đa đoan những lơ mơ, dan díu hệ lụy…Mười chín, chàng trai trẻ PTT nao nức sáng lập và tụ tập bạn bè vào Học hội Hồ Quý Ly để ngâm vịnh và bị cảnh sát Ngụy dòm ngó đành vào chùa tu nhưng rồi lại ngộ ra cõi Phật trong lìm chìm thi ca để rồi miệt mài thi hóa Kinh Phật, tạo ra cõi thơ lạ lẩm cho mình với Động Hoa Vàng, với Đạo ca, Qua suối mây hồng, Hội Hoa đàm, Suối nguồn vi diệu … Nhiều người băn khoăn nhưng ông cứ mặc nhiên như là: “Tôi tu theo cách của mình, tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của mình”.
"Sớm nay thông ngó mây về /Non xa xõa mái tóc thề chơi vơi
Cành thông vươn dậy ngó trời /Tự nhiên bật tiếng cả cười hoan ca"
Nhưng rồi cái ông tu sĩ lãng mạn Thích Tuệ Không (2)  sau những chuổi cười dài ca hoan lại ỡm ờ râu tóc để tự hỏi mình hỏi người :
"Hỏi con vạc đậu bờ kinh /Cớ sao lận đận cái hình không hư
Vạc rằng thưa bác Thiên Thư / Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ…"
Cái hình không hư cuối cùng không lên non hái nụ mù sa mà về sông trèo lên cây bưởi hái nụ tầm xuân, không phải một mà đến ba nụ bởi lẽ “người ta có thể tìm thấy chân lý của Thiền ngay trong cõi trần tục”. 
Ừ thì mình ngại mưa mau/Cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi
Sông này chảy một dòng thôi/ Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông
Tóc Em ở cuối sông thì thôi, anh mây thẫm hãy xin nước cuốn xuôi dòng và dòng đời rồi cuốn ông đi với dâu bể thăng trầm có cả nghi kỵ, nước mắt & mồ hôi và tật bệnh. Hôm nào đó, trả lời nhà văn Thu Trần, ông nguệch ngoạc đôi hàng còn mất, vô với hữu lẩm bẩm hàng hàng lệ nhỏ: (3) 
"Ta mất ngôn ngữ - ngôn ngữ mới /Hỏi Phật Quan Âm… chấm chấm gì?
Vô thanh-hữu thanh /thành- thánh- thảnh /Hai người cùng hỏi- vô vi chi!"
Dù ai đó cho ông là thiền sư, đạo sĩ và dù nhận được danh thiếp từ tay ông ghi Cố vấn công ty, nhà ngoại cảm quốc gia, nhà thơ, tôi vẫn xác định vị trí duy nhất của ông giữa lòng người, giữa dòng chảy lịch sử thi ca: thi sĩ Phạm Thiên Thư với cõi riêng của mình. Không, không thể có có một danh hiệu nào khác hơn .

***
1- Phạm Thiên Thư, nhà thơ của cõi đạo
Động Hoa Vàng mở ra cõi thơ riêng dìu dặt đạo và đời, muôn hồng ngàn tía mà bát ngát mênh mông:  
Ta về giũ áo mây trôi/ Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Rằng xưa có gã từ quan/ Lên non tìm động hoa vàng ngủ say
Đồi dạ lan, động hoa vàng là cái chốn nào, là thiên đường trần thế hay đường lên mậy tịnh lặng? Thơ cứ tung tẩy mê hoặc những ẩn ngữ với mật mã. Đa phần người đọc lại nhầm hiểu “từ quan” là từ chức vụ, từ bỏ quan trường nhưng quan ở đây là “quan niệm, quan điểm”. Giũ áo để lòng nhẹ nhàng thanh tịnh không phải bận rộn với thế sự bon chen, bỏ cái tục lụy lại sau lưng là đổi đời, là nhìn thấy động hoa vàng diệu vợi…
Nếu Động Hoa Vàng là bước chuyển tiếp đạo đời đan xen hòa trộn thì Kinh Hiếu, Kinh Ngọc - Qua suối mây hồng (Kinh Kim Cương), Hội hoa đàm (Kinh Hiền Ngu), Suối nguồn vi diệu (Kinh Pháp Cú)...thực sự là thơ của một mênh mang cõi đạo, đầy chất thiền. Ông thú nhận : … Tôi ra đi từ đời và trưởng thành từ đạo. Trong tôi, đạo và đời là một…”
Đây rồi, bè trúc ngọc, suối mây hồng, con chim với trái Nhãn không…Thơ gọi mời tham dự vào mọi nẻo bờ vô biên đến vô tận thời gian, không thị không phi, không phân biệt :
"Chẳng nương bè trúc ngọc /Vượt qua suối mây hồng /
Con chim vô lượng kiếp/ Về tha trái Nhãn không"
Đạo ca 1 (Pháp Thân) là cuộc hành trình đi tìm chân lý, tìm cái bản thể uyên nguyên, cái tương quan giữa xa xôi với hiện tiền : 
Xưa em làm kiếp ao/ ưu tư mùa cuối hạ /Anh làm chim bói cá/ đậu soi mấy mùa trăng
Xưa em là chữ biếc /nằm giữa lòng cuốn kinh /Anh là thiền sư buồn /ngồi tụng dưới ánh trăng…
Thông qua hình tượng chàng dũng sĩ và con ngựa vàng, Đạo ca 3 mở ra một đốn ngộ. Sự thật trên tay, hạnh phúc quanh đây mà người cứ mê muội : 
Ngoài sông gầm gió, trên sông bắc cầu /Cùng con ngựa quý qua sông lúc nào
Chợt con ngựa cũ thân yêu hoá thành người yêu…
Cái quen thuộc làm mờ mắt nhân sinh để cứ quýnh quáng mơ màng, để mộng tưởng cứ mù lòa cuộc chơi .
Nếu Quán Thế âm - đạo ca 4- gợi ra nỗi đau khổ của người mẹ tìm con trên trên đỉnh đồi lan trắng, nỗi đau chia biệt rụng rời của cả nhân loại:
Có bà mẹ đi tìm con trên đỉnh đồi lan trắng /Có bà mẹ đi tìm con trong động hang lan vàng /Có bà mẹ đi tìm con bên bờ sông lam tím /Có bà mẹ đi tìm con trong thung lũng cỏ hoang…
Thì Tâm Xuân (đạo ca 10) là con đường trở về nguồn cội, chan hòa với thiên nhiên hoa lá cỏ cây mây gió và chữ Tâm thị hiện :
Mùa xuân có không? Hay là cõi Tâm? Mùa xuân có không? Hay là cõi Không?
Về nguồn về cội! Về nguồn về cội! Để rồi vươn tới với lòng mênh mông…
Biêlinxki xác nhận: “Nhà thơ, ngay cả các nhà thơ vĩ đại nhất cũng phải đồng thời là những nhà tư tưởng”. Trên khía cạnh này, Phạm Thiên Thư ít nhiều giải bày: “Thơ hay phải có tư tưởng nghĩa là “Phải dày kinh nghiệm. Phải chiếm cảm quan, phải san trí tuệ, phải để trong tâm, phải trầm trong nhạc, phải nạp trong tình, tụ hình nơi khoảng trống, để sống với tất cả”. Tư tưởng đạo của họ Phạm thực sự khoáng đạt, mang tính tổng hòa của mọi hệ thống triết học Đông Tây nên Thơ đạo Phạm Thiên Thư cuối cùng không dẫn về mê muội ngờ vực với đa đoan mà bay lên như áng mây hồng buổi sớm, thanh sạch tiếng kinh ban chiều, tở mở bình minh chim hót thanh bình ca.
2- Phạm Thiên Thư, nhà thơ của cõi tình
Thi hóa mấy bộ Kinh Phật, PTT ít nhiều đã dìu thế nhận vào bến Ngộ nhưng thương hiệu thơ của ông lại bắt đầu từ những vần thơ tình bất tử (cộng hưởng là tác động của âm nhạc). Bài thơ tình đầu tiên là Vệt Chim Bay nhưng phải đến Ngày Xưa Hoàng Thị, Gọi em là Đóa Hoa sầu, Động Hoa Vàng … thơ mới chín, chín một phong cách Phạm Thiên Thư . 
Đường về hái nụ mù sa/ Đưa theo dài một nương cà tím thôi
Thôi thì em chẳng yêu tôi/Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng
Nếu Bùi Giáng có ngàn thu rớt hột, lá hoa cồn, tồn sinh  …thì họ Phạm cũng tạo cho mình những nụ mùa sa, nương cà tím, rừng thiền, viền tà dương, áo hồng đào, đồi dạ lan, nhánh hoa u mặc,chuỗi ngọc lam, ải đỏ …ru mê người đọc vào cõi tình hư ảo mị mị đến lâm li. Nhưng thi sĩ không phải là “nòi tình’ hào hoa để đeo đẳng tình sầu thiên cổ lụy . Không hiếm nhan sắc mở rộng vòng tay nhưng thực tế, thi sĩ đã chạy trốn để rồi tiếc nhớ và thơ bay, thơ lay. Cho nên có thể có rất nhiều “đóa hoa sầu” trong thơ ông nhưng bằng xương bằng thịt chỉ có mỗi một Hoàng Thị Ngọ, cô bạn gái cùng trường buổi ông mới học lớp 9 mà những ban trưa ông lẻo đẻo làm cái đuội lặng im.
Em tan trường về /Đường mưa nho nhỏ /
Anh theo Ngọ về /Gót giầy lặng lẽ đường quê…
Lặng im để mà thất bại nghe thời gian phi và:
Mười năm rồi Ngọ/Tình cờ qua đây/Cây xưa vẫn gầy/Phơi nghiêng ráng đỏ…
Đó phải chăng là cái “ráng đỏ” của hoàng hôn cuộc đời, của những tà huy buồn rầu ngồi dưới cội hoa vàng nhìn người qua kẻ lại hôm nay? Ông tâm sự: Chính tôi cũng không thể cắt nghĩa được tình yêu là gì. Nó có thể là một trạng thái tâm thần. Nhưng chính cái gì lung linh nhất lại là cái thật nhất. Và lung linh nhất là Động Hoa Vàng với vàng hoa, vàng nắng, vàng đến ngờm ngợp bật dậy từ miền ký ức của thi sĩ về vùng núi Phụng Hoàng những ngày thơ dại. Lung linh vì ...thật. Thơ PTT, hàng không giả !
3- Phạm Thiên Thư, nhà thơ của cõi đời
Đã bước vào tuổi thất thập nhưng chiều chiều thi sĩ vẫn ngồi dưới cội mai vàng, cà phê quán, thả mù mịt khói lên lưng mây và hỉ hả cười nói rồi viết viết cho đời, không chỉ những vần thơ kể chuyện ngày xưa em chửa theo chồng, cái áo em mặc màu hồng đào hay biếc da trời mà còn là Tự điển cười (24.000 bài tứ tuyệt tiếu liệu pháp. Năm 2007, Trung tâm Sách và Kỷ lục Việt Nam đã trao cho ông kỷ lục là người đầu tiên viết Từ điển cười bằng thơ). Hỏi thăm cái nguồn cơn nguyên cớ, ông cười hóm hóm: Con người và cả thú đều có khả năng tự điều chỉnh để tồn tại. Tiếng cười hơn mười thang thuốc bổ. Và ông đưa ra ngàn ngàn cách cười, có khi phải cười bò lăn, cười đến vỡ bụng, có khi lại cười chảy nước mắt, cười mà nụ môi heo héo. PTT còn dí dỏm hơn trong cách quảng diễn khái niệm. Chỉ riêng cách chửi thì : chửi quang minh chính đại, chửi …mẹ đĩ, chửi ngọng nghịu, chửi ong óng, chửi hoài niệm :
Sư bố thằng kia lên gối bà/ Nghe lời con đĩ đánh bà nha
Xưa mày bám cứng dai như đỉa/ Biết thế thừa …để chó tha
Và với 180 kiểu chửi, 200 kiểu chết, 200 kiểu cười … Tự điển cười đã thực tế  giúp người đọc học lấy ngữ ngôn thuần Việt. Phải chăng ông đã ngộ ra cái điều điên đầu của nhân thế :
Mặc ai tìm kiếm Tây Thiên/ Riêng ta biến cải não phiền thành hoa
( Đoạn trường vô thanh )
Điên đầu đi tìm Niết Bàn với thiên đường làm gì, hãy biến cái não phiền hôm nay thành hoa thành hương để sống với lạc quan xanh. Trên tinh thần này, Tự điển là một “ đóa hoa” lớn dâng hương cho đời .
Sau Tự điển cười, ông lại lầm lụi viết Hát ru Sử Việt với 3.335 câu lục bát, ghi lại diễn trình lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc. Rõ ràng, PTT không hề xuất thế mà nhập thế một cách có ý thức, với đầy đủ niềm tự hào dân tộc. Thơ ông là thơ của cõi đời buồn vui cười khóc với những kiến giải rất riêng :
À ơi cho cháu lời ru/ Cắt từ cái thuở sương mù cha ông
Chim Hồng chim Lạc qua sông/ Bay qua Việt sử từng dòng là thơ
Đêm đêm nhịp võng trăng mờ / Tay soi câu hát ru hờ con tim
Tay bà hóa cảnh chim lên/ Nhẹ đưa nhịp võng ru thuyền tương lai .
Ít nhiều ở đây thơ đã mất chất PTT, không ít câu vụng về nhưng như ông tự bạch là muốn góp phần soi sáng lịch sử, giúp cho mọi người dễ nhớ Sử Việt. Tính mục đích, tính tư tưởng trong dạng thơ về cõi đời không còn gì phải bàn. Ở đây, PTT hoàn toàn khác với một Bùi Giáng đem thơ mà gạ gẫm chuồn chuồn châu chấu và chẳng cần quan tâm thơ là gì, để làm gì, cũng không bận tâm đăng đàn tuyên ngôn lập chí : 
Con chim thì ta biết nó bay/Con cá thì ta biết nó lội
Thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ  (Sa Mạc Trường Ca- Bùi Giáng ) 

4- Phạm Thiên Thư, nhà thơ của lục bát ca dao
Nếu Truyện Kiều của Tố Như tiên sinh dài 3254 câu lục bát thì PTT đã làm một cuộc đảo chánh chiếm lấy ngôi vị trường ca lục bát khi viết tiếp Hậu Kiều ( Đoạn trường Vô thanh dài hơn Đoạn trường Tân Thanh 20 câu- Giải nhất văn chương Miền Nam thực sự xứng đáng dành cho tác phẩm đồ sộ này). Vô thanh vì những nỗi đoạn trường của Kiều bơi bời tả tơi đến không thế thốt nên lời. Trong phần khai đề, nhà thơ cũng đã thưa lại mấy lời về chủ đề vô thanh:    
Vô thanh như tiếng reo ca bát ngát của nhật nguyệt khiến giọt lệ Vương Thúy Kiều trở thành sợi mây hồng cất cánh vèo bay qua tài mệnh nhị tướng kết nên hạt minh châu
Đoạn trường sổ gói tên hoa/ Xưa là giọt lệ nay là hạt châu
Chưa nói đến bút lực dồi dào ( về số lượng), ý lực thâm tàng bất lộ, văn chương của Đoạn Trường vô thanh cũng đã đến mức tuyệt vời đẹp đẽ với trong ngần. Đoạn cuối trong chương Chải tóc thu phong kể chuyện Kiều về thăm chốn cũ, thăm nhang cho mộ Đạm Tiên là một trong rất nhiều ví dụ.  Hình ảnh của nàng thiếu phụ ngoài ba mươi vẫn mê hồn và thơm đi từ một dòng tóc hương để rồi thơm suối thơm mây bay lên thành một đóa mơ :
Bâng khuâng bước dạo cầu sương/Tóc bay dài một dòng hương la đà
Có nàng cắp rổ bèo hoa/Vén quần cánh nhụy lội qua suối về
Bè ai thả vó ven đê/ Nửa ngâm ráng đỏ , nửa kề mây xanh
Gió thu hiu hắt lùa nhanh/ Đáy khe cát trắng long lanh ngấn trời
Qua cầu suối cũng đua tươi/ Bờ vai phơ phất tóc xuôi hững hờ
Trên dòng tơ, dưới dòng tơ/ Hai dòng thêu một đóa hoa nhạt nhòa
Còn này là khúc đàn cho Kim Trọng :
Tiếng nào bàng bạc ngàn sim/ Tiếng nào mạch máu ngàn tim rung thành
Cây đàn tự vỡ nên thanh/ Tiếng đàn óng ánh trên nhành đọng sương
Sóng đàn là giải thoát hương/ Dây đàn bốn mạch chân thường thiết tha
Một dây làm mạch máu thành rung, một dây sương óng ánh và chập lại là cả chân  thường. Trong giai âm đã hội đủ cả sắc màu và trí huệ. Thiết nghĩ khúc đàn Kiều gãy cho Kim Trọng của Nguyễn Du cũng không thể vượt qua khi chỉ gợi lên những hình ảnh so sánh :
Trong như tiếng hạc bay qua / Đục như tiếng suối mới xa nửa vời
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài / tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa
                                                    (Đoạn trường Tân thanh )
Cho nên, chỉ khúc đàn này cũng đủ phô diễn tài thơ của tác giả Đoạn Trường Vô Thanh vì càng nghe càng rời rụng, càng đọc càng mê ly và nghe đến khúc đàn dành cho họ Từ thì tin rằng ai đó cũng phải lẩy bẩy rẩy run : 
Vị gì nấc tiếng tơ lên/ Trong hơi gió vuốt rung trên tỳ bà
Lục bát của PTT thực sự có phong vị riêng và phong vị đó, trước hết là Việt tính :
Não nùng hai tiếng từ ly/ Buồn thưa thốt miệng, sầu chi chít lòng
Qua khe ngó cá lòng tong/ Áo xanh ai đó in dòng suối xanh
Nhớ nhà xe cuộn thêm nhanh/Ải xa cổng đó mấy nhành hồng mai
Đây là một đoạn Kiều chia tay về quê, một đoạn rất đặc sắc vì chan chứa đủ mùi vị: có nồng nàn , có dằng dặc , có cả róc rách buồn rầu và đặc biệt là rất Việt Nam Ngoài hai từ não nùng từ ly còn lại là thưa thốt, chi chít , cá lòng tong …, những từ thuần Việt. Trong thâm ý đó, PTT cũng đã cố gắng Việt hóa ngay cả các tên địa phương để nàng Kiều là Kiều của Việt chứ không phải của Thanh Tâm Tài Nhân…Cũng như khi thi hóa Kinh Phật,  tên địa phương của Ấn độ đã được cải biên.
Thơ là gì ? Sáng tác như thế nào? Hãy nghe ông tâm sự : “Sáng tác phải có cái riêng của Việt Nam. Người ta sáng tác, không theo nhà này thì theo nhà khác. Là nghệ sĩ, sáng tác, thì phải hướng về dân tộc”. Cái dân tộc tính đó không ở đâu xa mà trước hết là ngữ ngôn với con chữ.  PTT đã tinh đã lọc để làm thành những vần lục bát trong ngần mà rười rượi tinh thần ca dao muôn năm cũ.
***
Thiền Sư lên chót đỉnh rừng/ Trong tim chợt thắp một viền tà dương.
Phạm Thiên Thư, ông là ai? Câu hỏi đã có thể trả lời. Tôi đã bỏ qua phần thông tin cần thiết về thân thế kể cả một bảng danh mục dài dằng dặc những tác phẩm đã in, cũng không nói đến các kỷ lục mà ông đạt được, không cả  ghi chú những thành tích ông gặt hái trên phương diện điện công Phathata vì với tôi, PTT chính hiệu là nhà thơ mà Trong tim chợt thắp một viền tà dương. Viền tà dương đó vẫn còn lấp lóa sáng bên chiều Hoa Vàng và nhất định sẽ viết tiếp những vần thơ lục bát đượm tình ca dao … Xin chúc tiên sinh vẫn sống tiếp cuộc đời:  
"Gối tay nệm cỏ nằm say /Gõ vào đá tụng một vài biển kinh /
 Mai sau trời đất thái bình / Về lưng núi phượng một mình cuồng ca…"

Tp HCM 22/6/2011
Vĩnh Phúc
vinhphuccr@gmail.com
1-       Mấy câu thơ của Vĩnh Phúc sau buổi gặp gỡ
2-       Pháp hiệu của Phạm Thiên Thư
3-       Trích Phỏng vấn của nhà văn Thu Trần
4-       Các chữ in nghiêng là thơ trích và lời tự bạch của Phạm Thiên Thư
5-         Đôi nét về Phạm Thiên Thư:
+ Tên thật Phạm Kim Long, nguyên quán Thái Bình, sinh tại Hải Phòng, năm Canh Thìn 1940 .
+ Tác phẩm chính của Phạm Thiên Thư: Thơ Phạm Thiên Thư (1968), Kinh Ngọc (Thi hoá Kinh Kim Cương), Động Hoa Vàng (Thơ, 1971), Đạo ca (Nhạc Phạm Duy); Hậu Kiều - Đoạn Trường Vô Thanh (1972), Kinh thơ (Thi hoá Kinh Pháp Cú); Quyên Từ Độ Bỏ Thôn Đoài (Thơ), Kinh Hiếu (Thi hóa), Kinh Hiền (Thi hoá Kinh Hiền Ngu, gồm 12.000 câu lục bát), Ngày xưa người tình (thơ), Trại Hoa Đỉnh Đồi (thơ, 1975), Thơ Phạm Thiên Thư (NXB Đồng Nai tái bản), Tự điển cười ( 24.000 bài tứ tuyệt tiếu liệu pháp).


READ MORE - PHẠM THIÊN THƯ: XƯA LÀ GIỌT LỆ NAY LÀ HẠT CHÂU - Vĩnh Phúc