Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, December 13, 2011

NGUYỄN ĐỨC TÙNG - NHƯ HOA MẪU ĐƠN


tặng bạn bè tôi



Một chiều thứ bảy cuối xuân lạnh gắt, đang mưa phơi phới trời bỗng tạnh như thu mình sắp sửa đổ tuyết, tôi một mình dọn nhà từ Hamilton về thị trấn phía nam, nơi tôi được nhận đi thực tập vài tháng. Đó là vùng dân cư chỉ mấy chục ngàn, hầu hết người da trắng, theo đạo Mennonite, có một bệnh viện nhỏ, vài quán tạp hóa, hai trạm đổ xăng, một hai quán cà phê và giải khát, sau tám giờ tối các nhà đều đóng cửa không còn ai ra đường. Tôi chở đầy một xe pick up những vật dụng cá nhân, chăn mền, sách vở, quần áo, không quên mang theo một chậu hoa mẫu đơn mà lúc nào tôi cũng giữ bên mình.


Tôi để chậu hoa ngoài cửa, phần vì mệt, phần vì chưa biết làm gì, để đâu. Cái chậu lớn rất nặng, hoa ra nụ bằng đầu ngón tay chúm chím sắp nở trong vài ngày. Đó là một giống hoa quý mà bạn tôi đi chơi ở Nhật mang về. Tôi vốn thích mẫu đơn, nhất là các giống mẫu đơn Trung Quốc, nhưng xem hình của loại hoa này do anh ấy chụp thì tôi mê quá. Lá nhỏ và dài, màu xanh nõn như lá chuối non. Hoa trắng hồng, chứ không đỏ tươi hay trắng hẳn, cánh kép, mỏng và mịn nhưng coi bộ chắc chắn, không lớn nhưng tụ lại, thân và cuống hoa cứng, gặp mưa gió ít rũ tàn. Bạn tôi xin củ đem về trồng, gầy được mấy gốc. Nhưng tôi quý bụi hoa này vì chuyện khác.


Rồi tôi ngủ thiếp đi. Thức dậy sáng hôm sau, chủ nhật, nhìn ra cửa sổ, ngạc nhiên, tuyết đã xuống mù trời. Một trận tuyết cuối cùng. Tôi đi pha cà phê và sửa soạn bày biện đồ đạc trong nhà, chợt nhớ đến chậu hoa ngoài cửa vội chạy ra để mang vào.


Chậu hoa mẫu đơn, như người ta nói, không cánh mà bay.

Một chàng trai người châu Âu lai Ấn Độ đã tặng gốc hoa cho tôi. Sadi bốn mươi tuổi nhưng còn độc thân, cao, gầy, mặt hơi xạm, có nhiều tàn nhang, móm nhưng có duyên, hay cười, vui tính.


Một lần anh đến thăm tôi lúc còn ở Hamilton, khệ nệ mang theo một túi ni lông lớn, chứa đất với bụi cây.Tôi ngạc nhiên vì đang ở tầng thứ bảy một cao ốc, gần bờ hồ, lại một mình, lấy ai chăm sóc hoa cảnh. Sadi theo đạo Tin lành nhưng cũng tập thiền, là một tay đua thuyền buồm giỏi, từng sailing nhiều lần trong các cuộc tranh tài ở Mỹ và nhiều nơi trên thế giới. Anh bảo: anh sắp sang Nhật dự một chuyến đi thuyền buồm lớn, kéo dài nhiều ngày, với bạn bè, vượt qua các đảo nhỏ, tiến ra khơi xa Thái Bình Dương. Truớc khi đi chuyến đi này anh muốn tặng tôi gốc mẫu đơn làm kỉ niệm.

Tôi hỏi anh những chuyến đi như thế có nguy hiểm gì không. Anh bảo cũng có người mất tích vì gặp bão bất ngờ trên biển; và nói thêm, anh có linh tính chuyến đi này là chuyến cuối cùng của anh. Tôi lạnh người, khuyên anh hủy bỏ chuyến bay. Anh lắc đầu cười, bảo rằng những người chơi thuyền buồm thỉnh thoảng có linh cảm như thế là thường; vả lại chết trên biển chưa chắc đã là sự kết thúc quá tệ hại của kiếp người. Anh vốn không phải là kẻ chán đời, khi nhắc đến tai nạn và cái chết của bạn bè cũng không lộ vẻ u sầu bi quan.Tôi hơi yên tâm.


Nhưng sau đó Sadi không về nữa. Suốt một thời gian tôi dò hỏi tin tức, nhờ cả người thân trong các giới thẩm quyền Canada tìm kiếm vẫn không nghe tăm tích. Tôi không biết điều gì xảy ra với anh. Từ đó đi đâu tôi cũng giữ theo bên mình chậu hoa của Sadi, bón phân, tưới nước, cẩn thận để ở ngoài chỗ có nắng hay ánh sáng. Mẫu đơn bề ngoài quý phái, mỏng mảnh nhưng bên trong dễ tính, bền bỉ; ưa lạnh nhưng không thích tối tăm, ẩm thấp.


Bây giờ nó biến mất. Tôi ngơ ngác nhìn quanh. Tôi đi vòng ra sau nhà, coi cửa trước cửa sau, lật hết các tấm bạt, xô các cánh cổng, mở thùng rác sau vườn, nín thở đưa hẳn cả đầu vào trong như một tay cảnh sát hình sự. Một nỗi giận trào lên làm tôi nghẹt thở, tức ở ngực, phía trước, lan ra sau lưng giữa hai bả vai, đau như trúng một lưỡi dao nhọn. Tôi trở ra đứng trên đường, chưa biết phải làm gì, quên cả mặc áo khoác. Gió thổi hun hút lùa tuyết bay đi, bắt đầu se chúng lại thành từng hòn bi nhỏ, hai tay tôi lạnh cóng. Mặt tôi lúc ấy chắc rất xấu xí nên mấy con chim sẻ ở đâu rụt rè tiến lại làm quen cũng hoảng hốt bay vụt đi.


Căn nhà thuê gồm có hai tầng, phía trên là chủ nhà, một người tôi mới quen nhưng lúc đó đi vắng, vả lại chẳng có lý nào họ lại đi ăn cắp của mình. Những nhà hai bên cửa đóng im ỉm, nhìn qua phong cảnh và cách bầy biện hầu hết là những người hàng xóm lớn tuổi về hưu, ngăn nắp. Ngoài đường không có rác hay các lon nước ngọt lăn lóc như ở thành phố lớn, không thấy bọn thanh niên lãng tử đi lại. Lạnh quá, tôi đành bước vào nhà, ngán ngẩm cho cái thị trấn nhỏ chưa chi đã chào đón mình một cách không mấy thân thiện, thú vị.


Tôi quyết định rút ngắn thời gian thực tập.


Rồi tôi nhớ ra một chuyện. Chính cô ta chứ còn ai vào đây nữa, kẻ đã làm tôi khổ sở mấy tháng qua, là lý do khiến tôi nhận lời đề nghị của một bệnh viện nhỏ rất xa, mặc dù tôi có thể chọn thành phố lớn hơn.


Nhưng tôi kịp nghĩ lại, không lẽ cô ta biết bay hay có phép thần thông biến hóa?


Hay là gã đàn ông đầu đường mà tôi thoáng thấy khi lái xe rẽ vào, đứng chờ xe buýt, mũ đen sùm sụp, bây giờ càng nghĩ càng thấy đáng nghi?Đang ngồi thẫn thờ với những mối hận và các bài học triết lý về lẽ đời sâu xa thì có tiếng gõ cửa. Tôi giật mình đứng lên, nhìn quanh tìm cái búa đóng đinh, cầm trên tay phải, dùng tay trái mở hé, giấu mình sau cánh cửa.


Một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi đứng nhìn tôi xưng tên, cười rất rộng miệng, hồn nhiên bắt chuyện. Thì ra anh ở nhà đối diện. Tên Federico, gốc Ý. Tôi không có hứng làm quen và đang định than phiền về chuyện hôm qua, bỗng nhác thấy phía sau lưng anh chậu hoa của tôi nằm đó, vẫn còn tươi tốt.


Người hàng xóm bảo rằng tối qua đã khuya, tuyết xuống nhiều và trời lạnh gấp, anh từ chỗ làm lái xe về nhà, ngang qua, biết là có người mới dọn vào, thấy cái chậu hoa để trước sân hờ hững sợ nó chết nên lẳng lặng mang về, để trong nhà mình cho đến sáng nay.


Tôi mừng rỡ cám ơn, bắt chuyện. Sau hôm đó chúng tôi dần dà trở thành bạn thân. Federico thích uống rượu vang, tự tay làm rượu từ các dàn nho chi chít quả trong vườn . Anh dạy tôi cách làm rượu, cách ủ cất lâu năm, cách nếm. Anh dẫn tôi xuống hầm rượu, chỉ cho tôi cách dùng bàn tay và các ngón tay gõ lên vỏ thùng bằng gỗ sồi để thăm rượu, kiểu như các bác sĩ gõ lên lưng người bệnh để khám bệnh vậy. Tôi vốn thích rượu vang trắng, bị anh chê là quê mùa, vì dân sành điệu không coi vang trắng là rượu vang. Tôi bị chọc quê, từ đó vào các hiệu ăn không dám gọi vang trắng nữa! Đến bây giờ mặc dù năm nào chúng tôi cũng tìm cách gặp nhau vài bận, tôi vẫn chưa bao giờ có ý định nói cho Federico nghe về những mối nghi ngờ, thù hận và những câu chửi thề khủng khiếp mà tôi đã sáng tạo ra dành riêng cho anh, mặc dù trong im lặng, trong mấy giờ đồng hồ của mình.


Tôi vẫn ngạc nhiên khi thỉnh thoảng nhớ lại chuyện cũ, nghĩ đến một người can đảm tới mức thấy chuyện nên làm là làm ngay, mặc dù nhỏ thôi, hình dung anh im lặng bước tới sát cửa nhà người khác lúc nửa đêm, nhấc cái chậu cây nặng lên tay, khuân về nhà mà không để ý là thể có người nhìn sau lưng anh qua khe cửa, ngờ anh là tên trộm bần tiện. Không, không phải sự can đảm, có lẽ tôi muốn nói đến sự chất phác. Hay là lòng tin cậy ở cuộc đời.


Vài năm sau, có nhà riêng, tôi trồng giống hoa của Sadi một góc vườn. Mẫu đơn thường nở sớm, chỉ sau một hai loài hoa khác. Những đêm trăng sáng tôi đứng bâng khuâng trên bãi cỏ đầy sương, hít thở mùi hương dịu ngọt của chúng thoảng bay trên một nền không gian vốn đã đầy vị oải hương, là thứ biết nén mình lại dưới cơn mưa, chờ tạnh là thơm dội lên, ngai ngái như vừa ngủ dậy; ngắm đi ngắm lại những bông hoa trắng hồng biến đổi khi như mặt người thiếu nữ khi như vầng trăng, mỗi năm sau mùa đông ẩn mình dưới đất tuyết lạnh, nhớ trần gian mà ngoi lên trở lại. Chúng vui tươi như tình hàng xóm, diễm lệ như tình bạn tuy quả thật có cũng lúc buồn phiền hờn giận, mưa gió phũ phàng, tưởng chết đi nhưng rồi vẫn mọc, tưởng đã tàn nhưng rồi lại thắm.

NĐT
READ MORE - NGUYỄN ĐỨC TÙNG - NHƯ HOA MẪU ĐƠN

Sunday, December 11, 2011

Châu Thạch - Đôi điều về bài thơ Miền Trăng của Lê Ngọc Phái



 Miền Trăng

Nhỏ xuống buồn vui những giọt thơ
Trăng hay nến khóc dưới hiên mờ

Chênh chao bóng lẻ, đêm trầm mặc
Nghiêng ngả vòm xanh, lá ngẩn ngơ

Dáng ai thấp thoáng miền trăng lệch
Quá nửa đời ta vẫn đợi chờ.
                                     
                                          Lê Ngọc Phái


Lời bàn của Châu Thạch:

                 Nhỏ xuống buồn vui những giọt thơ
                 Trăng hay nến khóc dưới hiên mờ.

Vào đề, giọt nắng, giọt thơ, giọt trăng, ba thứ khác biệt nhau ấy đã cùng chung một linh hồn, hiệp một và đồng đẳng, mang ý nghĩa của một nỗi buồn được bày tỏ dưới hiên mờ. Ở câu đầu của bài thơ tác giả nói cái buồn, cái vui đều thành thơ nhỏ xuống, nhưng qua câu hai của bài thơ, tác giả lại nói rằng “trăng hay nến khóc”. Trăng hay nến mà đã khóc thì không thể khóc cho niềm vui được mà chỉ có thể khóc cho nỗi buồn mà thôi. Vậy thì cớ sao tác giả lại trộn cái niềm vui trong giọt nến? Bởi vì khi nhìn giọt nến nhỏ xuống, tác giả đang liên tưởng đến biết bao kỷ niệm trong đời, những kỷ niệm vừa buồn vừa vui trong giờ phút ấy đã thành những giọt thơ hóa thân vào trong giọt nến và rơi như giọt nước mắt lăn dài. Cái vui thuở trước nay không còn nữa thì cũng biến thành cái buồn trong nhớ thương hoài niệm. Vì vậy, giọt nến (cũng là giọt trăng, giọt thơ) không chỉ khóc cho cái buồn mà còn khóc cho cả niềm vui ngày xưa đã mất.
 Trăng đã chiếu đến từng giọt nến để tác giả không thể phân định trăng hay là nến khóc, vậy thì trăng rất sáng. Trăng đã sáng thì hiên trăng không mờ được, thế nhưng tác giả lại viết “Trăng hay nến khóc dưới hiên mờ”. Chắc chắn ở đây trăng không khóc mà nến cũng không khóc nhưng chính tác giả là người đã khóc. Nước mắt đã làm cho hiên cũng hóa ra mờ. Lần sau xin chớ đổ thừa cho trăng và nến.

                      Chênh chao bóng lẻ, đêm trầm mặc
                      Nghiêng ngả vòm xanh, lá ngẩn ngơ

Ở đây tác giả nói “đêm trầm mặc” nhưng không nói ai, cái gì “chênh chao bóng lẻ”. Vậy có thể trăng chênh chao bóng lẻ, người chênh chao bóng lẻ hoặc cả hai trăng và người đều chênh chao bóng lẻ. Đêm trầm mặc là đêm yên lặng. Đêm yên lặng thì không thể có gió mạnh làm cho “nghiêng ngả vòm xanh”. Vậy thì cái gì làm cho nghiêng ngả vòm xanh? Đó chính là tâm tư của tác giả. Tâm tư của tác giả chênh chao bóng lẻ nên thấy trăng cũng chênh chao và chính cái chênh chao trong tâm hồn đã làm cho tác giả tưởng như vòm xanh nghiêng ngả. Thúy Kiều ở lầu Ngưng bích, khi cái sầu lên quá cao thì nàng nghe “ ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”. Ở đây, Lê Ngọc Phái cũng thấy mọi vật chênh chao, vòm cây nghiêng ngả, thơ, nến và người cùng khóc với trăng.

                         Dáng ai thấp thoáng miền trăng lệch
                         Quá nửa đời ta vẫn đợi chờ.

Miền là một vùng đất mang rõ rệt một tính chất địa lý riêng biệt, hay là một vùng đất xác định đại khái theo phương. Vậy miền trăng cũng thế, là một vùng trăng chiếu có tính chất riêng biệt hay là một vùng trăng chiếu được xác định theo phương.  Tuy thế, miền trăng cũng có thể không được xác định bởi tính cách địa lý mà được xác định theo cảm xúc bởi tâm tư tình cảm của con người. Miền trăng thứ hai là thứ miền trăng của Lê Ngọc Phái. Thứ miền trăng thấp thoáng bóng của quá khứ và bóng ấy nặng đến độ khiến cả miền trăng lệch. Bóng dáng của một người thì chỉ có thể thấp thoáng dưới ánh trăng ở một điểm nào chứ làm sao thấp thoáng dưới cả một miền trăng được. Lê Ngọc Phái đã viết rằng “dáng ai thấp thoáng miền trăng lệch”. Vậy miền trăng đây không phải là miền trăng trong hiện tại mà là miền trăng ở trong đầu tác giả, miền trăng của quá khứ, miền trăng trong ký ức đã bị dáng ai ám ảnh suốt một thời. Miền trăng ấy không thấy bằng mắt, chỉ thấy bằng tâm nên xa xôi, mơ màng, huyền ảo và buồn vô hạn.

Lê Ngọc Phái đang ngồi dưới một miền trăng mà thấy về một miền trăng khác, một miền trăng mà anh đã “quá nửa đời ta vẫn đợi chờ”. Miền trăng của Lê Ngọc Phái là miền trăng có nhiều tính chất, chiếm cả không gian và thời gian, là miền trăng của mắt thấy trong hiện tại, miền trăng của quá khứ thấy trong đầu, miền trăng của ký ức trong bóng dáng người xưa ẩn hiện trong trăng. Tất cả những miền trăng ấy hòa quyện nhau, ẩn chứa trong nhau, đến nỗi không phân biệt được đâu là cũ đâu là mới, khiến cho cái tĩnh và cái động lẫn lộn vào nhau êm ái. Miền trăng làm “chênh chao bóng lẻ, nghiêng ngả vòm xanh” là miền trăng động. Động nhưng mà tĩnh vì nó chỉ xảy ra sâu trong lòng tác giả. Miền trăng “ đêm trầm mặc, lá ngẩn ngơ” là miền trăng tĩnh. Tĩnh nhưng ở trong thực tế hiện tại thấy được, sờ được là miền trăng sống và động.
Tôi nói nhiều đến chữ tĩnh và động vì tôi muốn đề cập đến cái chiều sâu xa và chiều rộng lớn có tính triết lý trong bài thơ Miền Trăng. Bài thơ nầy ẩn chứa sự huyền nhiệm của tĩnh và động, của có và không, của mơ và thật, của quá khứ và hiện tại hòa lẫn vào nhau. Nỗi đau khổ của sự cách ly trùm lên vũ trụ lại biến thành những giọt trăng, những giọt thơ đẹp làm sao. Dáng ai thấp thoáng làm lệch miền trăng trong quá khứ lại nằm trong đêm trầm mặc của trời trăng hiện tại. Đọc miền trăng ta thấy trời gần, trời xa ở chung với nhau, quá khứ và hiện tại hòa quyện nhau dưới hiên mờ, trong vòm xanh với lá ngẩn ngơ, nhập hồn trong giọt nến giọt trăng biến thành giọt thơ nhỏ xuống buồn vui lẫn lộn. Vậy có phải chăng là sắc tức thành không, không tức thành sắc đó sao?
  
Đọc sáu câu thơ của Miền Trăng như đọc sáu bài thơ, như đọc sáu chục bài thơ và nhiều hơn thế nữa, như lạc vào động huyền không, động sửng sốt hay như đi giữa miền trăng ảo tưởng, ảo vọng, ảo mộng mà ta thấy trước mắt mọi vật rất gần nhưng đi hoài không đến.
  
Tôi đã lạc vào Miền Trăng của Lê Ngọc Phái và cũng có lúc tưởng mình “quá nửa đời ta để đợi chờ”, đợi chờ khám phá cho hết Miền Trăng ./.
                                                      
Châu Thạch             

READ MORE - Châu Thạch - Đôi điều về bài thơ Miền Trăng của Lê Ngọc Phái

Friday, December 9, 2011

LÊ THIÊN MINH KHOA - CHÙM THƠ TÌNH


LỐI XƯA
(Tặng Nguyễn Thị Bích Sơn)

Một mình anh trở về phố cũ
Hàng cây sao rũ nhớ bên đường
Nhánh tay gầy âm thầm nhắc nhở
Chuyện xa xưa ngỡ đã chết trong lòng.

Chuyện xa xưa bật dậy trong lòng
Những bức tường rêu phủ màu rêu phủ
Bên cổng trường ngút ngàn là cỏ
Hơn một lần em ngượng ngập đến thăm

Lối ta đi về bỗng hóa trẻ cơn
Sắc già nua nhuốm dần mái tóc
Chuyện cũ mười năm, những trang sách mới đọc
Những trang đời lật ngược vẫn xuôi

Những trang đời đã viết có em
Mà giờ đây một mình anh đọc lại
Nên trang thơ chiều nay viết vội
Chữ câu đi luống cuống đời người.


Vũng Tàu - ngày lễ các Thánh nam nữ




YÊU NHAU DẠI KHỜ
(Cho những người từng yêu nhau)

Ngày xưa một thời anh rất yêu em
Ngày xưa một thời em rất yêu anh
Ngày xưa một thời đôi ta yêu nhau
Ngày xưa một thời mối tình thật đẹp.

Ngày nay một lần đôi ta gặp nhau
Ngày nay một lần đôi ta trẻ lại
Ngày nay một lần đôi ta hóa dại
Ngày nay một lần như thuở ngày xưa.

Ngày xưa một thời đôi ta yêu nhau
Ngày xưa một thời đôi ta bé dại
Ngày xưa một lần đôi ta rồ dại
Ngày xưa một lần đôi ta mất nhau.

Ngày xưa bao lần đôi ta ước thệ
Ngày sau một đời vẫn còn nhớ nhau.




LẠC ĐIỆU

Rồi một lần choáng ngợp trước tình yêu
Phút quyến rũ bắt nguồn bao nỗi nhớ
Điều bình thường khi lòng để ngõ
Ước vọng dẫn đi. Thực tại đưa về…

Ranh giới nào giới hạn nỗi cuồng si
Từ khoảnh khắc suy tư
Từ ước mơ sầu muộn
Từ sâu kín đáy lòng thanh thản
Hay từ em - một diễm phúc trắng trong

Những gì đã qua gọi là kỹ niệm
Em đi qua rồi, tình có qua đâu!
Để âm thầm chờ thời gian trang điểm
Rồi mỉm cười trên cuộc sống lặng câm

Giữa bao điều hỗn tạp vây quanh
Mọi giá trị chưa nằm đúng chỗ
Giữa sông đời bên bồi bên lở
Thuyền tình anh biết đổ về đâu?...

LTMK
my.opera.com/lethienminhkhoa/blog/
READ MORE - LÊ THIÊN MINH KHOA - CHÙM THƠ TÌNH

Huy Uyên - GIÁNG SINH Ở NÚI



Tháng chạp giáng sinh về trên núi
Chúa buồn cũng chỉ tại vắng em
Giáo đường lẻ bóng giăng mưa bụi
Anh xót xa và nhớ em nhiều

Từ độ em đi đã bao mùa
Giáng sinh vàng lạnh bước chân xưa
a, mưa bay hoài mãi
Anh thầm thì hỏi em về chư
a

Hình như
bên núi mây đang ngũ
ng đèo thánh thót tiếng chuông ngân
Chạnh lòng anh nhớ mùa chay cũ
Cầu chúa ba ngôi của hai mình

Tháng chạp giáng sinh về trên núi
Từ em hoe đỏ mắt chia tay
Quảnh quẻ giáo đường đêm đứng đợi
Bóng một người đi sương khói bay...

(Tặng Huyền ngày trở lại Pennsyl, 2007)
HUY UYÊN
READ MORE - Huy Uyên - GIÁNG SINH Ở NÚI

Wednesday, December 7, 2011

NGUYỄN THỊ LIÊN HƯNG – CHUYỆN DÂN CA

 Tranh của Hà Huỳnh Mỹ


Trong kho tàng văn chương bình dân quê mình, hò đối đáp là thể loại thú vị nhất. Đó là những câu hò có vần, có điệu ngẫu hứng để ứng đối nhanh,  câu hò nào thú vị thì được truyền khẩu nhiều trong dân gian. Chủ đạo vẫn hai thể loại hò: Hò ân tình và hò đâm bắt. Nếu hò ân tình thường làm xao xuyến lòng người thì hò đâm bắt khiến người nghe cười nôn ruột hoặc là tức ứ hơi. Mẹ tôi kể ngày xưa ấy bà có người anh con ông bác ruột tài hoa, học giỏi. Mới 15 tuổi mà cậu đã nức tiếng trong xứ về hò đối đáp. Nếp phong kiến gia đình khiến đấng thân sinh của cậu ra sức cấm đoán, song sự nghiêm khắc ấy không ngăn được niềm đam mê, cậu thường lén theo trai làng hò đối đáp để rồi sau đó về nhà chịu những trận phạt nặng nề. Tiếc rằng cậu qua đời sớm, song một số câu hò thông minh, dí dỏm của cậu đã lưu truyền qua nhiều địa phương trong tỉnh và cho đến nay mẹ tôi vẫn còn nhớ được một ít. Vậy xin mời bà con mình hãy tạm quên đi cuộc sống hiện tại trong giây lát để cùng trở về với Quảng Trị ngày xưa nhé


Một buổi chiều đẹp trời, chàng trai rời trường học, thả bộ trên hương lộ để về nhà. Những hạt nắng cuối ngày xuyên qua con kênh tạo thành những tia sáng tựa ánh hào quang lấp loáng đủ màu sắc trên dòng nước mát, qua chiếc cầu nhỏ có rặng tre già gió đưa kẽo kẹt bỗng một cô gái xuất hiện. Cô ấy cố ý đi trước mặt chàng trai một quãng ngắn, ỏng a ỏng ẹo làm dáng, chàng đi nhanh thì cô bước nhanh, chàng đi chậm thì cô chậm lại như muốn chàng ngắm nhìn dáng dấp ẻo lả của mình hay là cái kiểu trêu ngươi. Chàng thư sinh làm thinh cố bước nhanh về nhà nhưng trong lòng bực lắm, mãi khi đến đoạn rẽ vào xóm nhà mình chàng mới thoát nạn. Hôm sau lại cảnh cũ màn hai, hôm sau nữa lại màn ba cảnh cũ. Sự bất quá tam khiến chàng trai hết nhịn nổi bèn cất tiếng hò… đổng:
     - Hò ơi! Con gái có duyên nép mình bên song cửa. Con gái vô duyên bước sấp bước ngửa giữa đàng. Chân son em bước hai hàng. Sàng qua sàng lại “cực chẳng đả” cho con mắt chàng lắm thay.
     Hình như chỉ chờ có thế, cô gái liền trả treo:
     - Nghe đồn nức tiếng văn chương. Mà chừ tận mặt mới tường trắng đen.
Biết mình gặp phải tay chẳng vừa nên chàng trai nín thở lắng nghe. Cô gái cũng làm thinh một chút như lấy hơi rồi cất cao giọng hò tiếp:
     - Hơ hơ… Văn chi anh chưa đầy lá mít. Võ nghệ chi anh chưa khít lang rơm. Mang tiếng đấng nam nhi chi anh lưng dài vai rộng mà tài năng chẳng qua được thằng cu Bờm. Thiệt là uổng công thầy mẹ chọn cá nuôi cơm tháng ngày.
     A hà! Hạ đo ván nhé. Đừng hòng! Chàng trai đưa tay khoát vạt áo đánh soạt một cái rồi hắng giọng trả lời liền:
     - Nàng ơi! Bước qua đây nhè nhẹ, ngồi xuống sè sẹ cho anh phân. Thiệt là tội nghiệp cho em cái phận gái đành hanh. Nên chi chưa tỏ ngọn ngành đó thôi.
     Đến phiên cô gái dừng chân, nín thở chờ đợi. Chàng trai cũng dừng chân rồi cất giọng kiêu hãnh:
     -  Hò hơ… Văn anh đây không thua gì Đức Khổng Phu Tử. Võ nghệ nầy há kém Đại Thánh Tề Thiên? Vì chưng lệnh nhà nước chưa truyền. Nên anh đành ôm lòng chờ đợi ưu phiền tam khoa.
     Trời ! Cái ba hoa của chàng trai khiến cô gái kênh kiệu muốn té nhào. Phải một hồi lâu cô mới ú ớ đáp lời được:
     - Hơ hơ… Nếu ai kia đúng là tài nghệ vô song, thì xin mời vẽ lại cái dung mạo của gái má hồng có được chăng?
     Chữ "chăng" vừa dứt, cô gái đã xoay người lại đối diện chàng trai và nhoẻn miệng cười duyên dáng. Trời! Cô ta đẹp quá! Chàng trai chỉ có thể la thầm được như thế. Một nét đẹp sắc sảo và có phần ngỗ ngáo - như những câu hò và cái thói trêu ngươi của cô ta. Có lẽ cô ấy không phải người xứ nầy. Đàn bà con gái gì mà quá quắt, muốn vẽ dung nhan thì ta vẽ dung nhan. Đúng là chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Phải cho cô ả kênh kiệu này một bài học mới được. Nghĩ thế nên sau phút choáng váng, chàng trai nhanh chóng lấy lại thăng bằng và dõng dạc bảo “Được rồi! Nếu nàng không chê thì hãy nghe đây”. Và chàng cất giọng sang sảng ngâm:

Con gái nhà ai đẹp quá ma
Hình dung yểu điệu giống ông già
Chân đi nhè nhẹ như voi bước
Cất tiếng thanh thanh giống phèng la
Tóc thả dài dài như đuôi cuốc
Miệng nói phiêu phiêu giống mỏ gà
Da trắng như ngà tựa da con cóc
Cổ cao ba ngấn là cổ ba ba
Cô gái không còn đủ can đảm để nghe tiếp nên dùng hai tay bịt chặt tai và chạy vội về nhà. Thế mà cái giọng ngâm quái ác kia vẫn đuổi theo:

Con gái nhà ai đẹp quá yêu
Hình dung tha thướt giống ông tiều
Gót son dời bước như trâu phóng
Miệng hoa chúm chím quá mỏ diều
Chàng trai về nhà trong chiến thắng, lòng mở hội.
Nhưng ngày sau và những ngày sau nữa trên quãng đường đó chẳng còn ai bước trước mặt để trêu ghẹo, bỗng dưng chàng thấy buồn, rồi đâm ra nhớ cô gái đanh đá ấy. Qua tìm hiểu, chàng biết nàng ấy không phải người ở vùng này. Nhân dịp về đây thăm bà cô lấy chồng khác xứ, mỗi chiều thấy chàng ngang qua nhà trông phong thái tuấn tú, nàng bèn hỏi người nhà và biết đó là người nổi tiếng văn chương vùng nầy. Vốn là cô gái vừa xinh đẹp lại vừa thông minh, đáo để và có phần kiêu hãnh. Tự tin về tài trí và nhan sắc của mình, nàng nẩy ý ghẹo thử chơi, không dè gặp phải đối thủ vừa thông minh vừa bản lãnh lại chẳng bị sắc đẹp hớp hồn tí nào. Đã thua đau lại còn lãnh một bài thơ tặng chí mạng nên nàng đã trở về đất Huế ngay sáng hôm sau với lời thề sẽ không trở lại vùng nầy lần thứ hai nữa. Nghe chuyện, chàng trai lấy làm hối tiếc nhưng lỡ dĩ rồi: Xuất ngôn như phá thạch, chẳng thể cứu vãn được. Nếu không có bài thơ quái ác kia hẳn hai người đã phục tài nhau rồi bén duyên cũng không chừng.

Thưa bà con! Chàng trai ngày xưa ấy chính là Lê Thanh Thảo - cậu họ của tôi.. Khi kháng chiến bùng nổ, cậu gia nhập Vệ Quốc Đoàn, mạ tôi kể hồi đó cậu làm chức gì to lắm. Mỗi lần cậu ghé thăm nhà, mạ tôi thấy cậu đeo vũ khí hai bên hông, một bên là khẩu súng ngắn, một bên là cây kiếm dài ngoằng, oai lắm. Mấy năm sau, cậu bị Tây phục kích bắn chết trên đường đi công tác tại rú Qua Lồ thuộc làng Văn Vận khi vừa bước vào tuổi 30.

Đó là chuyện kể về một trong những người dân Quảng Trị đã để lại những câu hò đối đáp thú vị. Câu hò buột khỏi miệng của họ bay đi theo gió là trở thành của chung. Người ta chỉ nhớ câu hò mà chẳng cần quan tâm đến tác giả là ai vì nó đã thuộc về đại chúng. Trở lại chuyện dân ca, tôi xin chuyển đến bà con một số câu hò thuở ấy. 

Những câu hò quen thuộc mà ai cũng biết thường nói lên tình cảm của con cái đối với cha mẹ. Ơn nghĩa sinh thành luôn là bài học đầu tiên từ khi ta còn nằm trong nôi. Những lời ru của mẹ đã thấm vào con và theo con đi suốt cả cuộc đời. Bởi vậy dù đi đâu, về đâu, người Việt Nam nói chung - người Quảng Trị nói riêng - luôn nhớ đến cha mẹ của mình dù còn hay mất.

Khi đấng sinh thành còn sống thì:
-    Mẹ già là mẹ già chung. Anh lo cơm cháo em cùng thuốc thang.
-  Biết răng chừ con cá gáy hoá rồng. Đền công ơn thầy mẹ ẵm bồng ngày xưa.
Và khi cha mẹ qua đời:
-   Công cha ba năm lai láng. Nghĩa mẹ chín tháng cưu mang. Bên ướt mẹ nằm bên ráo con lăn. Biết lấy chi đền nghĩa khó khăn. Đôi đứa mình lên non gánh đá về xây lăng phụng thờ.
-  Mẹ anh khác thể mẹ nàng. Lẽ thời tạc đá bia vàng thờ chung.

Tình cha mẹ, tình chị em huyết thống, tình làng nghĩa xóm, tình quê hương đất nước... Tình nào cũng nặng, cũng đầy ăm ắp qua điệu hò câu hát. Tuy nhiên đề tài tình yêu nam nữ vẫn là chuyện muôn thuở, muôn đời của nhân loại. Tình yêu còn là động lực giúp người lao động bình dân vượt qua những gian nan, vất vả trong cuộc mưu sinh. Bởi thế bạn đừng ngạc nhiên khi một chàng trai mở lời ởm ờ với người con gái vừa ý mình:
-  Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Nếu “tình trong như đã” thì cô gái sẽ thẹn thùng mở lối:
-  Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
Đó là chàng trai duy nhất may mắn trong số ngàn lẻ một chàng đấy nhé. Vì nếu chàng không lọt vào tầm ngắm của cô gái thì sẽ có ngàn lẻ một câu trả lời chua ngoa khiến chàng tức anh ách mà chả làm gì được.
Và cũng có ngàn lẻ một cách ướm lời. Chàng trai "mận, đào" vừa nói chắc có chút học hành, còn anh chàng nông dân nầy thì thiệt thà đến mức:
- Vói tay vít ngọn tre còng
Hỏi o gánh nước muốn chồng hay chưa?
Và cái o ni cũng chả thèm thưa gởi gì mà trả lời tức khắc:
- Nghe hỏi mà dạ muốn bưa
Muốn tài muốn đức chứ chưa muốn chồng.
Thôi rồi. Cái kiểu nầy thì chàng ta phải mau mau thả cái cọng tre còng mà dọt lẹ.

Thế đó. Cũng là cách ướm lời nhưng có câu hỏi kết nên duyên giai ngẫu mà cũng có câu chẳng làm nên cái tích sự gì - chưa nói là để lại ác cảm cho người nghe. Tuy nhiên thuở đó người ta vẫn dùng những câu hò vè để gởi gắm lòng mình. Văn chương bình dân của người Quảng Trị cũng không thoát ra ngoài khuôn mẫu ấy. Hò ân tình hay hò đâm bắt đôi khi không rạch ròi lắm. Vì có thể đang hò ân tình mà gặp phải những câu có ý châm chích là đối tượng  chuyển qua hò đâm bắt ngay. Nhưng cũng có khi đang hò đâm bắt mà chợt được "rót" vài tiếng êm tai là người nghe thích thú và câu trả lời chuyển qua hò ân tình lúc nào không hay. Như đoạn hò sau đây.
Chàng trai cất tiếng gạ gẫm:
- Đường đi cà trúc cà trắc. Ngó ra biển bắc viễn vọng mù khơi. Cho dù đây đó hai nơi. Rứa mà cá nước chim trời gặp nhau.
Bên nam mở đầu bằng phương pháp lung khởi: mượn đường, mượn biển để dẫn chuyện. Bên nữ cũng không vừa, nói vòng vo: mượn núi, mượn trâu, mượn ngựa để gởi ý mình:
- Núi cheo leo trâu trèo trâu trợt, ngựa trèo ngựa bỗ (ngã, té). Chuyện duyên tình tự cổ chí kim. Biết răng chừ cho đá nổi lông chìm, muối chua chanh mặn để mình nên đôi?
Khó đấy. Chẳng lẽ cô gái tự ví mình là núi cheo leo còn ta là trâu là ngựa sao? Lại còn nói những điều không thể xảy ra? Được! Kiêu thế thì ta bỡn cho nàng biết tay nhé. Ý nghĩ đó làm chàng trai đỏ phừng mặt hò lớn:
- Hơ hơ…Sông càng ngày càng rộng, núi càng ngày càng cao. Bởi gái thuyền quyên dĩ lỡ … với trai anh hào. Chừ sự tình đã ra như rứa thì tính sao cũng đặng mà.
Thiệt tức chết đi được. Nhưng bị gán cho thế thì buộc phải lên tiếng đính chính thôi. Thế là cô gái hò rằng:
- Ơi bạn mới ơi! Bạn mới mau đứng xa ra cho ngái. Ơi bạn cũ ơi! Bạn cũ cũng dừng lại cho xa xa. Bởi em đây đang còn mang thân nghèo khó nên mô dám mặn mà với ai.
Cái cách biện hộ của nàng coi bộ cũng hiền thục, không chua ngoa. Được nước, chàng liền cất tiếng … rao:
- Ngó lên trời tàu bay đang liệng. Ngó xuống quan lộ xe điện chạy liên miên. Ơi tình! Ơi nợ! Ơi duyên! Răng con mắt nớ không liếc qua đây mà kết vấn thề nguyền? Chứ mơ cao chi mà ni chờ mai đợi để lỡ duyên bạn cười.
Có thế chứ! Cô gái thầm đắc ý rồi thả một câu hò trí tuệ mà cũng không kém phần tự kiêu:
- Trèo lên cây chanh, hái chanh, ăn chanh, ngả áo bọc chanh.
Khuyên chàng chớ thấy chanh chua mà chép miệng, chớ thấy con gái lành mà chết mê.
Chà! Ghê nhỉ! Nàng ra câu đối chăng? Nào là cây chanh, hái chanh, ăn chanh còn bọc chanh trong áo. Đúng là chua thật. Chàng trai đang còn vò đầu bứt tóc tìm lời đáp thì cô gái lại lên tiếng:
- Chanh chua, chua trái chua cành. Xin anh đừng nếm mà thành khỉ con.
Lại thêm 1-0. Không biết nàng ta nói ăn chua sẽ nhăn mặt như khỉ hay chửi ta là đồ khỉ đây nhỉ. Chẳng lẽ xếp giáo quy hàng? Đến nước nầy thì đành phải gỡ gạc thôi:
- Chanh chua anh bẻ nguyên cành. Trái đem vắt nước, cây để dành… nấu cám heo.
 Đàn ông mà cũng trả treo ác hè? Không gian lắng đi một chốc rồi giọng hò thánh thót lại trỗi lên:
- Hơ hơ…Gặp anh đây hỏi chuyện anh đây. Sông sâu hay cạn? Đò đầy hay lưng?
Gió đã xoay chiều. Chàng gật gù. Thôi được! Nàng chuyển qua câu đố thì ta giải đố vậy:
- Hơ ơ… Một chuyến đò đầy năm bảy chuyến đò lưng. Sông có khúc sâu khúc cạn ai từng dò mới hay. Đò anh ghé bến còn lưng. Ai nhanh chân thì xuống trước ai lừng khừng thì xuống sau.
Câu hò đã chuyển hướng coi bộ không còn gay gắt, cô gái sẻ sàng:
- May ai thì ai qua chuyến đò trước. Rủi em thì em ngược chuyến đò sau. Nếu hữu duyên thì cũng như nhau. Xuôi buồm thuận gió kịp mau tới chàng.
Giọng hò mới dễ thương làm sao! Nghe thế chàng trai liền bày tỏ lòng mình:
- Ra đi mẹ có dặn lòng. Cam chua mua lấy ngọt bòng chớ tham. Cho dù cách trở quan san. Nàng đà hữu ý thì gian nan anh cũng chẳng sờn.
Cô gái cũng ý tứ nhắn nhủ:
- Nói lời xin giữ lấy lời. Đừng vì sóng cả mà rời thuyền em.
Được lời như cởi tấm lòng. Họ đã phục tài nhau. Thế là bắt đầu cho những lời thề nguyền, tình tự:
- Thiếp với chàng keo sơn gắn bó như ló (lúa) với chồ, như  chày vồ với cối, như lợi với răng. Trên có thiên tri thập đạo dưới có đất bằng chứng minh.
Thế nhưng chàng vẫn dặn dò:
- Thiếp gặp chàng như cá vàng gặp chậu, chàng gặp thiếp như hạc đậu lưng quy. Một lời giao nhận như ri: Có nơi mô giàu sang cũng chớ chuộng mà anh có khốn khó lâm nguy cũng chớ phụ tình.
Và lo ngại:
- E mai nước chảy phăng phăng
Bạn tham chốn khác ai ngăn được chừ
Và:
- Ước chi ngăn đón được ai
Sông sâu lấp lại, đường dài bớt đi.
Để chàng yên tâm, cô gái buộc phải nói rõ lòng mình:
-  Sóng xao bờ bãi khôn cùng
Dạ đây thương đó ngàn trùng người ơi!
 Dù thế, nỗi lo âu của chàng trai vẫn canh cánh:
-   E mai nói rứa không chờ
Cao tay tiền bạc lấp bờ ngăn đôi
E mai nói rứa rồi thôi
Giấy đi đàng giấy hồ trôi đàng hồ
Để trấn áp nỗi nghi ngờ của cái anh chàng Tào Tháo nầy, nàng phải tự xem mình như là cá chậu chim lồng:
-   Khuyên chàng chớ ngại đừng nghi. Sóng xao bởi gió em thì không xao. Mặc ai đua hội thuyền rồng. Em đây cá chậu chim lồng nỏ lo.
Vậy mà chưa yên tâm, chàng trai còn dặn dò:
- Thương thì đó đợi đây chờ. Có nơi mô đến ngõ trao thơ cũng đừng cầm.
Và cô gái phải khẳng định:
- Việc gì đón ngõ nhận thơ. Biết đâu trao lộn cái tờ giấy không. Trao thơ chắc chắn chi thơ. Hai ta tốt đợi bền chờ thì hơn.
Một khi đã tin vào nhau thì chàng trai liền trở về nhà để tính chuyện trăm năm:
-  Hò hơ… Khen ai tốt đợi bền chờ. Anh về làm cầu bắc sông rộng nối liền bờ đến nhà em.
Và họ cùng một lòng một dạ:
- Tay bưng dĩa muối chắm gừng. Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau.
Còn đây là nỗi tương tư khi xa ngái:
-  Tay cầm trái cau vừa rọc vừa bửa. Tay cầm ngọn trầu vừa rọc vừa têm. Tưởng là lời thuận lẽ êm. Chàng xa thiếp cách dạ đêm âu sầu.
Hay:
- Thiếp trông chàng như than trông lửa. Chàng trông thiếp như đại hạn trông mưa. Dù nơi tê chẳng thiếu gì duyên ái nợ ưa. Răng bằng tình cũ nghĩa xưa mặn mà. Ơi người tình cũ nghĩa xưa. Nhớ răng mà nhớ những lời ăn tiếng nói thốt thưa dịu dàng.
Tình họ thiết tha là thế. Hy vọng phơi phới là thế nhưng chuyện đời không đơn giản như thế. Duyên không thành khiến chàng trai trách móc:
-  Dạ đây thương đó chưa nguôi. Đó răng như nước chảy xuôi ngoài bờ.
Khen ai tốt đợi bền chờ. Trở ra hội nớ ai ngờ rã duyên.
Cô gái biện bạch:
-   Mình thương nhau mà mà mụ o nói mần ri, mụ dì nói mần khác, ông chú nói trâu bạc, ông bác lại bảo trâu đen. Chồn đèn bao lăm thịt, con nít bao lăm hơi. Em đây chưa bao lăm tuổi mà phải chịu lắm cái sự đời đắng cay.
Rồi nàng khóc:
-   Em thương mà thầy mẹ khiến đừng. Hai hàng nước mắt rưng rưng ngắn dài
Chàng trai an ủi và khuyên lơn người thương::
- Khóc lóc làm chi nín đi ơi bạn. Tai nghe thầy mẹ bên nhà đành đoạn không thương. Hai ta đang vấn đang vương. Dù có nơi mô trong hơn nước sáng hơn gương cũng đừng.
Nhưng người phụ nữ thời ấy đâu dám vượt qua lễ giáo phong kiến:
- Thương không thương cũng quyền đương thầy mẹ. Tấm thân nầy chỉ là cải bẹ, nhánh dâu. Xa nhau đêm thảm ngày sầu. Khác chi Thuý Kiều xa Kim Trọng vì mấy câu hiếu tình.
Hay:
- Thầy mẹ thương thì con mới dám thương theo. Chiếc tàu đang chạy mà thả neo cũng phải dừng.
Và khi cất bước sang ngang, nàng cất giọng hò ai oán:
-  Em ở trắng tinh in tờ giấy bạch. Cơ chi ăn ở lau lách thì duyên đã bén duyên. Chỉ vì chữ hiếu trinh nên thiếp muộn chàng phiền. Ngậm chanh thì chua xót mà ngậm riềng thì đắng cay.


Lễ giáo phong kiến ngày xưa khiến người phụ nữ không chỉ đau khổ vì tình duyên dang dỡ mà còn khổ sở vì cảnh lấy chồng xa xứ, cảnh làm dâu và cả cảnh phải làm nàng Tô Thị.
Hãy nghe người con gái lấy chồng xa xứ than thở để thương cho thân phận của người phụ nữ thời ấy.
Khi theo chồng, lòng cô gái khắc khoải trong tâm dạ bất an:
-   Ra đi bỏ mẹ ở nhà. Gối nghiêng ai sửa, chén trà ai bưng.
-  Vai mang khăn gói qua đèo. Ngó lui thấy mẹ cheo leo một mình.
Và cái quay lại sau đây mới quá ư tội nghiệp:
-  Vai mang khăn gói lên non. Mẹ kêu một tiếng ới con. Con quay lại cúi đầu lạy mẹ 136 lạy. Sự bất đắc là dĩ sự bất đắc đành giã. Thầy mẹ đã bán gã thì người ta dẫn con đi hang rắn hang rồng cũng phải theo.
Đúng thế! Chữ “tam tòng” khiến cô gái khi về nhà chồng thì suốt đời cột mình ở đó, đến nổi chồng đi hang rắn hang rồng cũng phải theo. Nghĩa là dù biết nguy hiểm, dù biết chết cũng phải nhắm mắt tuân phục nhà chồng. Nàng chỉ còn cách ngậm đắng nuốt cay mà gởi nỗi lòng vào giọng hò ai oán:
- Người ta lấy chồng ở làng như vàng treo cửa ngõ. Em đi lấy chồng xa xứ như mõ không quai. Việc nhà làm quá canh hai. Cơm thừa canh cặn ai hoài anh ơi.
- Anh đến nhà em làm rể ăn cơm với cá. Em về làm dâu thầy mạ ăn rau má với rạm đồng. Thậm ư chí khổ mà đạo ngãi vợ chồng phải theo.
Công việc nặng nhọc. Ăn uống kham khổ. Lại thêm nỗi nhớ cha mẹ:
- Em đi lấy chồng xa xứ khác gì con thuyền đậu giữa vời. Đêm năm canh không thấy thầy nỏ thấy mẹ chỉ thấy biển trời mênh mông.
Nhớ. Nhưng việc về thăm cha mẹ không phải là chuyện dễ:
- Đường đi không tới một ngày. Xin chồng về thăm mẹ mà cứ hẹn rày hẹn mai. Không theo anh thì lỗi đạo tam tòng. Theo anh thì bất hiếu thất trung với mẹ già.
Rồi thân cò vò võ lo gia nương khi chồng đi xa:
-  Anh ra đi đường xa dặm thẳm. Em ở nhà lo tròn đạo hiếu với thầy mẹ như bát nước đầy không chọng nỏ chao. Đêm nằm mộng kiến chiêm bao. Xót xa trong dạ như ai bào lá gan.
Một mình người phụ nữ phải lo toan mọi việc:
- Ru hời ru hỡi là ru. Bên cạn thì chống bên su (sâu) thì chèo. Mình em cả chống cả chèo. Không ai tát nước đỡ nghèo một phen.
Sự cô đơn và vất vả làm nàng ước ao:
-  Bác mẹ già phơ phơ đầu bạc, con chàng còn trứng nước thơ ngây. Phải chi chàng ở đâu đây. Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng.
Nỗi mong đợi ngậm ngùi ấy đôi khi làm người phụ nữ chạnh lòng:
-  Chàng ơi phụ thiếp làm chi. Thiếp là cơm nguội để khi đói lòng. Đói lòng ăn nửa trái sim. Uống lưng bát nước đi tìm người thương. Vì thương anh nên bờ bụi cũng lòn. Chớ không thương thì đường thẳng trăng tròn cũng mặc trăng.
Sự hy sinh, chịu thương chịu khó ấy đôi khi lại bị đáp trả bằng sự phụ bạc khiến người phụ nữ đau khổ chỉ biết gởi tâm sự mình vào câu hò ru con trong đêm vắng:
- Ru con cho théc cho muồi. Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu. Mua vôi chợ Quán chợ Cầu. Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh. Chợ Dinh bán áo con trai. Chợ Sơn bán nón, chợ Tài bán kim. Kim găm bâu áo mất rồi. Tiếc công thầy mẹ đứng ngồi chọn kim.
Hoặc có khi không thèm ví von mà nói thẳng tuột, gay gắt:
- Anh nói với em như rìu sa xuống đá, như rạ (rựa) chém xuống đất, như mật rót vào tai. Mà chừ anh đã nghe ai. Tranh mòn rui mọt, mèn phai hỡi mèn. (tranh, rui, mèn: Những thứ dùng để làm nhà).


Có một ngàn lẻ một câu hò tình tự thì cũng có một ngàn lẻ một câu hò than thân trách phận. Bởi vậy có dùng ngàn lẻ một trang giấy cũng chưa chắc đã ghi lại hết những câu hò của một thời Quảng Trị xưa. Bài viết xin tạm ngừng ở đây và trước khi chào tạm biệt, người viết xin chuyển đến quý vị vài câu hò đâm bắt đầy ẩn ý vừa nghịch ngợm, dung tục mà cũng không kém thông minh của những người thời xưa mà chưa thật là xưa ấy.


Đó là chuyện kể về anh thợ mộc láu cá. Một bữa kia có một họ tộc nọ thuê thợ mộc sửa nhà thờ họ. Biết tay thợ mộc vừa giỏi nghề lại vừa biết hò đối đáp nên một cô nàng trong đám phụ nữ giúp việc lo cơm nước muốn thử tài đã  cất tiếng hò:
-   Hò hơ … Thiếp xa chàng bơ ngơ báo ngáo. Chàng xa thiếp may áo quên bâu. Đêm năm canh ngày sáu khắc trong dạ sầu chứa chan.
Câu hò ân tình nhớ nhung khắc khoải là thế mà anh chàng thơ mộc lại nghịch ngợm trả treo:
-   Chàng xa thiếp tội đếch chi mà sầu. Cơm ăn ba đọi canh bầu một tréc to.
Cái giọng ngạo mạn kia làm cô gái nổi điên, cô dựa vào công việc thợ mộc của đối phương để… chửi một cách tinh quái:
-         Làm thợ chi anh chưa đắn đã đo. Xuyên xà chưa lắp đã lo đậy cù.
Câu hò đanh đá và dung tục ấy làm bọn thợ giật mình ngừng cả công việc nhưng đối tượng thì cứ tỉnh bơ, vừa tiếp tục làm việc, anh ta vừa cất tiếng hò trả lời:
-         Thấy ta có dạy cho ta. Nắng thì đậy nắng mà mù sa thì đậy mù.
Đúng là mướp đắng mạt cưa, đám thợ phá lên cười còn cô gái thì đỏ mặt chết trân. Nhưng là tay đáo để nên cô nàng vớt vát … chửi tiếp:
-         Con gà mái nằm ngay trong tổ. Nó kêu mấy tiếng tổ tổ anh tề.
Tay thợ mộc cũng không vừa, anh ta chỉ ra hàng tre trước ngõ:
-    Chim chàng làng đậu hàng tre họ. Hắn kêu ba tiếng họ họ nàng tê.


Đến nước nầy thì cô gái đành rút lui về méc các bậc trưởng thượng trong họ rằng hắn ta chưởi cả họ nhà mình. Các cụ tức lắm bèn tìm cách trả đũa. Nhân thể một bữa người thợ mộc ấy giặt áo quần phơi trước hàng tre, họ liền bắt lỗi rằng phơi quần trước nhà thờ họ là thất lễ, phạt vạ. Anh ta chịu phạt liền. Ngày chịu phạt, các bậc trưởng thượng trong họ ngồi chờ đánh chén. Khi hai vợ chồng lễ mễ xách rượu thịt đến, anh thợ mộc dặn bà vợ xách bình rượu nán lại ngoài gốc tre. Xôi thịt đã bày lên mà chưa có rượu, chờ mãi làm các cụ nóng ruột hỏi rượu đâu. Thế là anh ta giả vờ khúm núm: Dạ thưa! Xin họ chờ một chút ạ. Chắc tại nhà con mắc đi đấy (đi tiểu) đó thôi. Vừa thưa xong anh ta liền cất tiếng gọi lớn: Mạ cu ơi! Đấy mau lên để đem vào cho các cụ uống.


Chưa hết, ngày sửa nhà thờ xong, họ làm lễ tế. Hương đèn vừa lên, cụ tộc trưởng vừa thắp nhang quỳ xuống thì tay thợ mộc liền la lên: Thôi chết! Cây đòn đôông (dông) có chỗ chưa xuyên kỹ. Xin phép họ cho tôi lên đóng chốt lại chứ không thôi nó rớt xuống thì bể óc cả họ. Nghe thế ai mà không sợ, mọi người vội tránh ra để anh ta lên sửa. Chỉ đợi có thế, anh thợ mộc liền tuột quần, cột túm chéo hai vạt áo dài lại để che của quý rồi trèo lên chỗ đòn dông, tuy nhiên che làm sao kín? Cả họ ngơ ngác mất một hồi rồi các cụ đồng loạt hét lớn: Anh tê làm cái quái chi lạ rứa hử? Vẫn khúm múm che trước dấu sau trên trần nhà, anh ta lễ phép trả lời: Dạ thưa họ! Hôm trước tôi lỡ dại phơi nó trước hàng tre đối diện nhà thờ còn bị họ phạt vạ nên nay đâu dám đưa nó lên trên bàn thờ họ của các cụ.

Thật là ác. Đuối lý, cả họ đành chịu thua, tức ói máu mà chẳng làm gì anh thợ mộc được. Đòn trả đũa đó quả là ghê gớm.



Lại có chuyện kể có lần nhà kia tổ chức hò đối đáp giữa sân, ông chồng vô tư cứ hết hò tình hò tứ với cô nầy lại hò đối hò đáp với cô kia. Bà vợ ở trong nhà bận dỗ con đã lên máu hoạn thư, thế mà cao hứng ông chồng còn kêu vợ ra hò cho vui. Thế là bà vợ ở trong nhà hò vọng ra:
-   Vui chi mà hát mà hò. Con thơ hai nách đứa bò đứa đeo.
Ha ha ha… thế là trăng chưa tàn, bóng chưa xế bà con đã lục tục kéo nhau về nhà … ngủ.


Thôi nhé. Tôi chỉ nên ghi lại chừng đó thôi. Sân chơi chữ nghĩa còn mênh mông, xin mời mọi người tham gia tiếp cho vườn dân ca Quảng Trị của quê mình thêm phần phong phú.


Chiều thứ bảy, đầu mùa hạ năm 2010
Nguyễn Thị Liên Hưng


READ MORE - NGUYỄN THỊ LIÊN HƯNG – CHUYỆN DÂN CA

HOÀNG VĂN CHẨM - CHÙM THƠ

                     
                         THEO CHÂN NGƯỜI ĐI 

                     Chiều nghiêng theo em bơ vơ
                     Bước đi nặng trĩu cơn mơ chập chùng
                     Kéo tay giữ một tận cùng
                     Lòng ai bỏ lại thương mong ngày về.
                     Câu thơ theo bóng người đi
                     Nhịp đời lặng lẻ những khi chợt buồn.
                     Em đi lôi cuốn ngọn nguồn
                     Chia đôi khúc nhớ nghe hồn gọi nhau.
                                 
                                                                Sg  24-10-2011


                                Tranh của Hà Huỳnh My

             TÓC GIÓ L
ỜI RU

            Trong mắt em vời vợi một ngàn lau
            Mới biết mong thương kéo lại gần nhau
            Một hơi thở nhẹ dậy lên gió cuốn
            Mấy mươi năm đi lạc hãy về mau

            Về ngó lại mặt mày xưa tóc trắng
            Vun vén tình mà trả nợ hư không
            Em có biết ai mang theo nỗi nhớ
            Về với mùa thu thức với dòng sông

            Bên con hồ mù sương buồn phố núi
            Ai lặng thầm soi bóng với chiều thu
            Một bóng dáng đi về buông tóc gió
            Bay suốt đời tình em một lời ru

                                                       09 tháng 8 -2009
READ MORE - HOÀNG VĂN CHẨM - CHÙM THƠ