Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, January 26, 2024

TẦM HỒN NHƯ MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT qua bài thơ GIỌNG HUẾ của TÔ KIỀU NGÂN - Trương Công Hải

 


Nhà thơ Tô Kiều Ngân



TẦM HỒN NHƯ MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT

qua bài thơ GIỌNG HUẾ của TÔ KIỀU NGÂN

Trương Công Hải


Trước hết là câu chuyện của tôi và Huế.

Tôi, nội Quảng Trị, ngoại Huế, hiện ở Đà Nẵng. Như vậy con người tôi hai phần Quảng, một phần Huế, chưa kể trong suốt 30 năm trời, vì lý do công việc, mỗi tháng ở Huế hết mười mấy ngày, nên tôi với Huế đều thuộc lòng nhau. Gặp nhau hoài nên cứ êm êm rứa!

Thuở vào Đại học, xứ mưa dầm, thấm lâu rồi cũng vương. Người tôi hò hẹn nhan sắc không bằng tính tình, nên sau này, khi làm thơ thì khó tả về chân dung, tôi đành nói chung chung về cái tính Huế của cô ấy mà thôi.

Này em Huế,

“Em ở trong tôi nét u hoài trầm tích

Giọng nói nhu mì tóc rũ dáng kiêu sa

Chút ngây thơ đem che dấu điệu đà

Và khôn khéo,

Cái chi cũng đều sợ mạ”.

Rủ đi chơi đi chơi thì đi nhưng vừa đi vừa kêu sợ mạ. Còn tôi thì:

“Tôi ở trong em, chàng sinh viên non dạ

Tập truyện tình yêu chỉ mới lật trang đầu

Làm dáng vậy thôi, chứ em nhìn là ú ớ

Chẳng có lớp học nào dạy cách yêu nhau

Nếu có, thì bài đầu tiên

Học để thôi đừng lớ ngớ”

Sau đó, do hoàn cảnh di tản năm 1972:

“Quảng Trị mất

Tôi về nơi không định hướng

Mọi chuyện rồi như mây trắng giữa trời

Liệu là em có đi về méc mạ ?”

Tính nông nổi, được nước tôi tới luôn:

“Cứ méc đi thằng dấu hồn du đảng

Giả đò say để sinh sự tự tình

Giả ngu ngơ để làm câu thơ đểu

Ôi biết làm sao để khỏi tự dối mình!”

Câu chuyện của tôi là câu chuyện của kẻ ngoại đạo, trải nghiệm tình yêu một thời với người em xứ Huế.

Không phải là vô cớ, tôi viết ra như một minh họa thực tế về tính cách của cô gái Huế, người có nét tương đồng với nàng thơ trong bài Giọng Huế của Tô Kiều Ngân.

Và câu chuyện của tôi cứ xem như là một lời dẫn cho bài viết.


GIỌNG HUẾ

Ngắt một chút mây trên lăng Tự Đức

Thả vào mắt em thêm một dáng u hoài

Đôi mắt ấy vốn đã buồn thăm thẳm

Đem mây vào e tan nát lòng ai.


Anh quỳ xuống hôn lên đôi mắt đó

Bỗng dưng sao thương nhớ Huế lạ lùng

Hay tại bên anh em ngồi thỏ thẻ

Tiếng quê hương xao động đến vô cùng.


Hèn chi rứa, răng chừ, em sợ lắm

Mạ ngày xưa cũng từng nói như em

Anh mất mạ càng thương em tha thiết

Như từng thương câu hát Huế êm đềm.


Cám ơn em đã cho anh nhìn lại

Dòng sông Hương trên bến cảng Sài Gòn

Nước như ngọc in bóng thuyền lấp lánh

Mái chèo khua vương nhẹ nhánh rong non.


Nếu lại được em ru bằng giọng Huế

Được vỗ về như mạ hát ngày xưa

Câu hát Huế chứa chan lời dịu ngọt

Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô.

Ngắt một chút mây trên lăng Tự Đức là lời nói phát ra từ mơ thức, đôi mắt vốn buồn của em qua lăng kính mơ thì trở nên đẹp u hoài, sâu lắng, vô cùng lãng mạn.

“Đôi mắt ấy vốn đã buồn thăm thẳm

Đem mây vào e tan nát lòng ai”

Chữ “e tan nát lòng ai” đưa nghĩa câu thơ vào thế lấp lửng. Sự e thẹn, ngại ngùng trong ánh mắt, sự lấp lửng trong ý tứ luôn là đặc sản bước đầu trong tình yêu của em Huế. Chữ “e” đó đâu có khác gì chữ “e” trong câu Kiều: “Tình trong như đã / Mặt ngoài còn e”, và cũng chẳng khác gì hình ảnh hai vạt tà áo dài bay của người con gái Huế khi đi ngược gió như trong thơ của Phạm Thiên Thư:

“Áo em vạt tím ngàn sim

Nửa nào nức gọi nửa im đợi chờ

Yêu nhau tự thuở bao giờ

Gặp đây giả bộ hững hờ mây bay”

Vạt sau tà áo tung bay như nao nức gọi, vạt trước gió ép vào thân như im lặng đợi chờ. Con gái Huế là vậy đó, kiểu nói thôi nhưng phải hiểu là thôi nữa!

Em Huế với dáng u hoài và mắt buồn sâu thẳm là hóa thân của những hoài mong, mơ màng, tiếc nuối về một vương triều Nguyễn đã lụi tàn nhưng cái cụ thể còn lại muôn đời vẫn là giọng Huế.

Chế Lan Viên đã từng cho rằng: ”Khi ta ở chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” và Tô Kiều Ngân cũng như thế:

“Anh quỳ xuống hôn lên đôi mắt đó

Bỗng dưng sao thương nhớ Huế lạ lùng

Hay tại bên anh em ngồi thỏ thẻ

Tiếng quê hương xao động đến vô cùng.”

Nếu cho rằng tiếng nói là linh hồn của một dân tộc thì giọng Huế chính là hồn của Huế.

“Hèn chi rứa, răng chừ, em sợ lắm

Mạ ngày xưa cũng từng nói như em

Anh mất mạ càng thương em tha thiết

Như từng thương câu hát Huế êm đềm.”

Một số hư từ, đặc ngữ của Huế như “mạ, hèn chi rứa, răng chừ” cũng như câu cuối cùng: “Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô”, tất cả như một hương vị đặc trưng của Huế, lan tỏa, thấm đều trên trang thơ, ngấm vào từng câu chữ, cho ta cảm giác đọc bài thơ như đọc giọng Huế vào lòng.

Qua người em Huế, dòng Hương được gợi nhớ, hiện lên trên bến cảng Sài Gòn với một hình ảnh đẹp lãng mạn vốn có.

“Cám ơn em đã cho anh nhìn lại

Dòng sông Hương trên bến cảng Sài Gòn

Nước như ngọc in bóng thuyền lấp lánh

Mái chèo khua vương nhẹ nhánh rong non”

Một dòng sông mộng, nước chảy là đà đã được nhìn chồng lên con sông cuồn cuộn sóng, nước đục lờ đờ trên bến cảng Sài Gòn, đó là khi cảm xúc dâng cao đến nao lòng thì nhà thơ bị đưa đi từ cõi mơ đến mớ.

Khổ thơ cuối cùng đã đánh thức một hoài vọng về Huế và em, đã khơi dậy một hồi ức thời thơ ấu trong vòng tay mẹ, cùng âm vang chứa chan lời dịu ngọt của câu hát Huế.

“Nếu lại được em ru bằng giọng Huế

Được vỗ về như mạ hát ngày xưa

Câu hát Huế chứa chan lời dịu ngọt

Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô”

Người ta thường ca ngợi văn hóa Huế với những di sản vật thể. Ngoài Nhã Nhạc Cung Đình còn có giọng Huế, chất giọng của ngâm thơ, của dân ca hay của điệu hò mái nhì, mái đẩy. tất cả đều thuộc về phần văn hóa phi vật thể thì ít được ai đề cập đến .

Họa hoằn lắm ta mới nghe Trịnh Công Sơn nhắc đến: “Một ngày chợt nghe quê quán tôi xưa / Giọng người gọi tôi nghe tiếng rất nhu mì”.

Tô Kiều Ngân là người con của của Huế sống tại Sài Gòn, là một nhà thơ, một tay sáo nỗi tiếng trước 75 đồng thời cũng là nhà diễn ngâm thơ bằng giọng Huế, thì việc cảm xúc chất giọng để thả vào thơ một linh hồn Huế chẳng có gì là lạ.

Người em Huế trong thơ là cái cớ để nhà thơ trút nỗi niềm về cố quận, ta xem đây như là tiếng lòng của một người trong cuộc nhớ thương về nguồn cội của mình.

Bởi là tiếng lòng nên tự nó đã có chất thơ mà không cần phải gia cố vần vận, cả bài thơ chỉ có 2 vần, không nhất thiết phải liền mà là cách vận như ở khổ 2 và 4 đều nằm ở câu thứ 2 và thứ 4.

Lời thơ thì chan chứa, dạt dào, tự nhiên như âm sắc giọng Huế và dặt dìu như tiếng sáo của Tô Kiều Ngân thổi vào từng thi khúc.

Mặt khác, nhà thơ cũng không cần phải dụng công vào một biện pháp nghệ thuật nào cả để xây dựng hình ảnh, bởi hình ảnh vốn có về Huế đã nằm sẵn trong ký ức khi xúc cảm tuôn trào thì nó đã tự lôi ra để đặt vào trang thơ.

“Hèn chi rứa, răng chừ em sợ lắm

Mạ ngày xưa cũng từng nói như em

Anh mất mạ càng thương em tha thiết

Như tình thương câu hát Huế êm đềm

Nếu lại được em ru bằng giọng Huế

Được vỗ về như mạ hát ngày xưa

Câu hát Huế chứa chan lời dịu ngọt

Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô.”

Tận cùng của sự đánh cược cho một tình yêu cao quý nhất trong đời mình là cái chết. Chỉ có tình yêu của đất và người mới

Khiến nhà thơ nói được điều đó vì ông đã yêu Huế bằng một tình yêu đẳng cấp tới mức thượng thừa.

Có thể không sai khi cho rằng Tô Kiều Ngân đã dùng chính tâm hồn ông như một thủ pháp nghệ thuật để viết nên bài Giọng Huế . Giọng Huế là hồn của Huế, nên chỉ có tâm hồn người trong cuộc mới dễ lột tả được hết bản sắc văn hóa Huế mà thôi.

TRƯƠNG CÔNG HẢI

Những ngày cuối đông nhớ Huế 1/2024.


____________________________________________________

GIỌNG HUẾ

Thơ Tô Kiều Ngân

Đăng trên https://www.thivien.net/


GIỌNG HUẾ, thơ TÔ KIỀU NGÂN
READ MORE - TẦM HỒN NHƯ MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT qua bài thơ GIỌNG HUẾ của TÔ KIỀU NGÂN - Trương Công Hải

DÒNG SÔNG CŨ – Thơ Lê Văn Trung


  

 
DÒNG SÔNG CŨ
(Gửi một thời tắm nước sông Vu Gia)
 
Người về tắm lại dòng sông cũ
Con nước ngày xưa đã đổi màu
Thầm hỏi lòng mình hay trời đất
Mất còn gì sau cuộc binh đao
Người ngồi soi bóng mình trong nước
Chỉ thấy mây bay trắng cả chiều
Thầm hỏi mà lòng không giải được
Bao giờ trăm họ hết thương đau
Ngồi nhẩm thời gian tính tuổi đời
Năm mươi năm vật đổi sao dời
Sá gì duyên nợ nghìn năm cũ
Hà tất vì đâu mà ngậm ngùi
Người về tắm lại dòng sông cũ
Nước có còn xanh màu áo xưa
Hỏi lòng là hỏi niềm quên lãng
Hỏi để mà ươm nỗi đợi chờ.
 
                      Lê Văn Trung

READ MORE - DÒNG SÔNG CŨ – Thơ Lê Văn Trung

Thursday, January 25, 2024

Ca khúc TRĂNG HÔM NAY MUỐN KHÓC - Thơ Như Nguyệt - Nhạc & hòa âm Trần Nhàn - Trình bày: Diệu Hiền (YouTube)



TRĂNG HÔM NAY MUỐN KHÓC 


Nhà thơ Như Nguyệt


Thơ Như Nguyệt - nhạc & hòa âm Trần Nhàn - trình bày Diệu Hiền (youtube.com)



Trăng hôm nay muốn khóc

Đọc lại những bài thơ

Anh làm mà muốn khóc

Nhớ thơ anh quá đỗi

Nhớ thơ hay là anh?

Đọc lại những bài thơ

Ca ngợi ánh trăng thanh

Trăng là tên em đó

Nên anh nhắc trăng hoài

Thơ anh làm thiết tha

Có trăng và có hoa

Có trời mây biển cả

Có ánh nắng chói lòa

Tương tư người nơi xa

Anh nào dám nói ra

Chỉ nói yêu qua thơ

Tỏ tình qua lời nhạc

Những vầng thơ diễm tuyệt

Viết cho người tên Nguyệt

Viết tặng người tên trăng

Một mối tình tuyệt vọng!

Anh yêu trong vô vọng

Yêu để mà làm thơ

Để đau khổ thẩn thờ

Đọc lại những bài thơ

Thi sĩ làm tặng em

Nghẹn ngào rơi nước mắt

Trăng hôm nay nhớ thơ

Ước gì mình dại khờ

Bỏ tất cả yêu thơ

Dường như thơ giận dỗi

Những bài thơ còn đây

Người làm thơ đâu rồi?

Người mất tăm, mất biệt

Để cho người tên Nguyệt

Thương, tưởng nhớ quá chừng!

Dặn lòng đừng vướng mắc

Đừng đọc những bài thơ

Chỉ thấy tim se thắt

Chỉ thấy buồn khôn nguôi

Nhớ thơ quá đi thôi

Dù nhủ lòng đừng nhớ

Đừng thương cũng đừng buồn

Buồn chi chuyện mây trôi?!....


Như Nguyệt






READ MORE - Ca khúc TRĂNG HÔM NAY MUỐN KHÓC - Thơ Như Nguyệt - Nhạc & hòa âm Trần Nhàn - Trình bày: Diệu Hiền (YouTube)

Wednesday, January 24, 2024

Chùm ảnh TRÁI CỌ - Chu Vương Miện

 Bấm chuột vào ảnh để phóng to.





READ MORE - Chùm ảnh TRÁI CỌ - Chu Vương Miện

GIÁP TẾT – Thơ Tịnh Bình


  
                  Nhà thơ Tịnh Bình

 
GIÁP TẾT
 
Chợt nghe hương nắng bâng khuâng
Giao mùa khúc gió tần ngần buổi mai
Nửa đông se sắt bờ vai
Nửa xuân e ấp hoa cài tóc mây
 
Cuối năm lòng Chạp như say
Dập dờn khói biếc thơ ngây nụ chồi
Vài ba cánh én xa xôi
Chưa xuân lòng đã bồi hồi tháng Giêng
 
Đường hoa trăm sắc khoe duyên
Chợ quê giáp Tết huyên thuyên chào mời
Lão mai thả lá về trời
Nõn nà nụ búp hong phơi nắng vàng
 
Giấc sương ban sớm mơ màng
Lời chim thỏ thẻ rộn ràng hiên xuân...
 
                                         Tịnh Bình
                                         (Tây Ninh)

READ MORE - GIÁP TẾT – Thơ Tịnh Bình

ĐỌC “BÀI CA CUỐI CÙNG” THƠ TUỆ SỸ - Châu Thạch

 
      
                              Ảnh Tuệ Sỹ 
               
 
BÀI CA CUỐI CÙNG
 
Chim trời xếp cánh
Hát vu vơ mấy tiếng trong lồng
Nhớ mãi rừng cây thăm thẳm
Ủ tâm tư cho hạt thóc cay nồng
Rát bỏng với nỗi hơn khổ nhục
Nó nhịn ăn
Rồi chết gục
 
Ta đã hát những bài ca phố chợ
Người ăn mày kêu lịch sử đi lui
Chàng tuổi trẻ cụt chân từ chiến địa
Vỗ lề đường đoán mộng tương lai
 
Lộng lẫy chiếc lồng son
Hạt thóc căng nỗi hờn
Giữa tường cao bóng mát
Âm u lời ca khổ nhục
Nó nhịn ăn
Và chết
 
Ta đã hát bài ca của suối
Gã anh hùng bẻ vụn mặt trời
Gọi quỉ sứ từ âm ty kéo dậy
Ngập rừng xanh lấp lánh ma trơi
 
Đêm qua chiêm bao ta thấy máu
Từ sông Ngân đổ xuống cõi người
Bà mẹ xoi tim con thành lỗ
Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời
 
Lồng son hạt cơm trắng
Cánh nhỏ run uất hận
Tiếng hát lịm tắt dần
Nó đi về vô tận
 
Nguồn: Tuệ Sỹ, Giấc mơ Trường Sơn, An Tiêm xuất bản, California, 2002

*


ĐỌC “BÀI CA CUỐI CÙNG” THƠ TUỆ SỸ
                                                        Châu Thạch
 
Trong bài “Tuệ Sỹ, Thái Độ Của Nhà Sư Nhập Thể”, hòa thương Thích Nguyên Siêu đã viết như sau:
 
“Từ thời lập quốc, từ thủa sơ khai của nước nhà Lạc Việt là thời thái bình, an cư lạc nghiệp, đó là buổi bình minh, là tiếng khóc đầu đời của dân tộc Việt có mặt trên dải đất dấu yêu. Để xây dựng cho giang sơn gấm vóc, bao anh hùng liệt nữ đã tô đậm non sông bằng máu đỏ của thân mình để làm tươi thắm ruộng đồng, mà hôm nay Thầy tiếp nối dòng sông lịch sử ấy, đem nước mát, phù sa phì nhiêu cho dân sinh nhuần đượm. Nhưng nay, thời thanh bình thịnh trị đó đã không còn để Thầy phải viết lên tâm tư qua ‘Bài Ca Cuối Cùng’. “Hình ảnh này là thực trạng của quê hương Việt Nam chúng ta hôm nay. Thầy đã đi từng vỉa hè, góc phố, chứng kiến cảnh trạng đau thương từ muôn người đến muôn vật, từ tình cảm đơn côi đến cái nhìn nhãn quan tổng thể. Thái độ nhập thế không chủ quan, phiến diện mà là tâm trạng đau buồn cho quê hương, dân tộc, ngang qua những hình ảnh xót xa đau đớn. Nỗi đau của dân tộc cũng là nỗi đau của chính mỗi người trong chúng ta. Nỗi đau của người Mẹ mất con, nỗi đau của bà con ruột thịt chia lìa, của cửa mất nhà tan, của một dân tộc bị lưu đày”
 
Thiết nghĩ, trích đoạn lời bình của thượng tọa Thích Nguyên Siêu đã nói đủ ý nghĩa của bài thơ, nay Châu Thạch tôi chỉ xin bàn về nghệ thuật của bài thơ.
 
Vào khổ đầu của bài thơ, Tuệ Sỹ giới thiệu cái chết và nguyên nhân cái chết của con chim trời. Chim bị nhốt trong lồng, nó nhớ khu rừng nó sống tự do, nó nhịn ăn và chết:
 
Chim trời xếp cánh
Hát vu vơ mấy tiếng trong lồng
Nhớ mãi rừng cây thăm thẳm
Ủ tâm tư cho hạt thóc cay nồng
Rát bỏng với nỗi hơn khổ nhục
Nó nhịn ăn
Rồi chết gục
 
Đọc khổ thơ nầy, dễ cho ta nhớ đến bài thơ “Hổ Nhớ Rừng” của Thế Lữ. Con hổ của Thế Lữ cũng bị nhốt trong củi sắt, cũng nhớ rừng nhưng nó gầm nó thét, nó chịu sống trong tủi nhục để hằng ngày nhớ về quá khứ:
 
“Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,”
 
… “Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
- Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!”
 
Ngược lại với hổ nhớ rừng, chim cũng nhớ rừng nhưng không chịu nhục, chim nhjn ăn để chết. So mức độ của lòng quả cảm thì con chim nhỏ nhoi hơn, yếu đuối hơn ngàn lần con hổ, nhưng lòng quả cảm, sự tự tôn của nó cao hơn hổ rất nhiều. Thơ là người, Tuệ Sỹ lấy cái chết của con chim để bày tỏ chí khí của mình, và nhà thơ đã làm như thế khi ngài đã tuyệt thực, không viết đơn xin ân xá khi nhà nước Cọng Sản buộc ngài làm như thế mới phóng thích ngài. Cũng may, trong trường hợp nầy con chim Tuệ Sỹ đã thắng mà không chết.
 
Khổ đầu của bài thơ viết về con chim, khổ thứ hai của bài thơ tự nhiên viết qua con người, tưởng là lạc đề nhưng không phải lạc đề:
 
Ta đã hát những bài ca phố chợ
Người ăn mày kêu lịch sử đi lui
Chàng tuổi trẻ cụt chân từ chiến địa
Vỗ lề đường đoán mộng tương lai
 
“Ta” ở đây là ai? Bài thơ của Tuệ Sỹ nên “ta” ở đây là Tuệ Sỹ rồi. Thế nhưng ta cũng có thể hiểu là chúng ta, là những con người sống cùng thời với Tuệ Sỹ, những người thấy người ăn mày xuất hiện lại giữa đời, thấy những thương binh cụt chân lê lết trên lề đường.
 
Tại sao nhà thơ viết “Người ăn mày kêu lịch sử đi lui” ? Bời vì nhà thơ đã từng sống một thời đại không có ăn mày. Nay nhà thơ thấy ăn mày xuất hiện lại, làm ngài tưởng như hình ảnh đó đà kêu quá khứ khổ đau xa xăm quay về hiện tại. Tại sao nhà thơ viết “Chàng tuổi trẻ cụt chân từ chiến địa/Vỗ lề đường đoán mộng tương lại”. Đó là ngài muốn nói đến người thương binh của phe thua cuộc, kéo tấm thân lê lết trên lề đường với bàn tay trắng, vỗ lề đường là cử chỉ bức xúc, đoán mộng tương lai vì hiện tại đau thương và tương lai mù mịt.
 
Tại sao khổ đầu Tuệ Sỹ viết về con chim mà khổ hai lại viết về con người? Tại vì nhà thơ muốn ám chỉ con chim chính là con người hay chính là mình, là Tuệ Sỹ. Tuệ Sy đã “Ta đã hát những bài thơ phố chợ” nghĩa là đã tố cáo những hình ảnh không đẹp giữa đời nên đã bị bắt nhốt vào tù như thân phận con chim kia bị nhốt vào lồng.
 
Qua khổ thơ thứ ba nhà thơ không viết về chim, không viết về người mà viết về huyễn mông:
 
Đêm qua chiêm bao ta thấy máu
Từ sông Ngân đổ xuống cõi người
Bà mẹ xoi tim con thành lỗ
Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời
 
Đêm qua nhà thơ nằm mơ thấy máu, nhưng máu đó không phải do con người chém giết nhau trên đất, mà là máu “Từ sông Ngân đổ xuống cõi người”. Tại sao? Hai câu thơ nầy nhà thơ muốn nói đến nghiệp, đến nhân quả mà “cõi người” phải gánh chịu. “Cõi người” đã gieo nhân gì thì “cõi người” nhận quả ấy. Với đức độ của một Thiền Sư, Tuệ Sỹ không nói đến hận thù, không tố cáo ai gây tội ác, không khuyến khích báo oán mà ngài thức tỉnh con người bằng giáo lý cao siêu của Phật pháp. Ngài chỉ cho thấy “cõi người” gieo nhân thì gặt quả để “cõi người” tự thức tỉnh.
 
“Bà mẹ moi tim con thành lỗ/ Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời” nghĩa là sao và bà mẹ là ai? Tất nhiên ta nghĩ ngay bà mẹ là mẹ Việt Nam, bà mẹ ấy không moi lồng ngực con mình mà moi ngay quả tim con mình để lấy ra hạt ngọc sáng ngời. Trong hai câu thơ nầy nhà thơ muốn nói trong mọi trái tim con của mẹ đều có hạt ngọc sáng ngời. Đứa nào chết, mẹ lấy hạt ngọc giữ lại trên tay mình, hay đúng hơn mẹ giữ nguyên truyền thống tốt đẹp đời đời, dầu cho có một thế hệ con mẹ suy đồi nhưng viên ngọc trên tay mẹ vẫn còn thì tương lai còn hy vọng . Ý cả khổ thơ hình như nhà thơ muốn “cõi người” hãy nhận viên ngọc của mẹ Việt Nam mà thức tỉnh làm điều lành tránh điều ác.
 
Ở khổ thơ cuối cùng Tuê Sỹ cho con chim chết bên hạt cơm trắng, nghĩa là nó chết vì mất tự do chớ không phải vì đói. Khổ thơ muốn nói quyền tự do quý hơn sự sống. Con chim lịm tắt dần trong tiếng hát của mình, đó là tiếng hát tôn vinh quyền tự do. Cái chết của chim thật là bất công, ai oán nhưng là một cái chết quật cường để được tự do cho “Nó bay về vô tận”:
 
Lồng son hạt cơm trắng
Cánh nhỏ run uất hận
Tiếng hát lịm tắt dần
Nó đi về vô tận
 
Cuối cùng, “Bài Ca Cuối Cùng” là cuối cùng của con chim bị nhốt trong lồng. Cái chết của chim là cái chết của con người bất khuất, đấu tranh cho tự do. Cái chết đó trao cho mẹ Việt Nam viên ngọc sáng ngời, viên ngọc đó nằm trên tay mẹ sẽ không chết bao giờ, là sự bắt đầu của hứa hẹn một tương lai ngọc trong tay mẹ sẽ thay đổi “cõi người” trở nên tốt đẹp hơn!                                                                 
Châu Thạch
READ MORE - ĐỌC “BÀI CA CUỐI CÙNG” THƠ TUỆ SỸ - Châu Thạch

Tuesday, January 23, 2024

ĐÊM TRẮNG TUYẾT – Thơ Nguyên Lạc


  
                 Nhà thơ Nguyên Lạc

 
ĐÊM TRẮNG TUYẾT
 
Đêm buốt giá nỗi niềm cố lý
Bông tuyết rơi trắng xóa não nùng!
Chạm ký ức mùi hương ngày cũ?
Cố nhân ơi xa cách nghìn trùng!
 
Đêm trắng mắt rơi rơi lệ tuyết!
Lệ khóc ai hay khóc riêng mình?
Quên sao được thanh xuân mắt biếc?
Hiến dâng tình men ngọt môi trinh!
 
Đêm giá băng có người cô lữ
Nghe trong tim nhức nhối một thời
Thời để yêu một thời để nhớ
Thời chia xa nát mộng đôi mươi
 
Thời khóc ngất quê hương tan vỡ
Thời bể dâu tan tác muôn phương
Đêm đất khách ngoài song tuyết đổ
Ngấn lệ đau gõ nhịp Hồ trường
 
"Hồ trường, hồ trường,
ta biết rót về đâu?
Rót về Nam phương
trời Nam mù mịt,
có người quá chén như điên như cuồng" [*]
 
Xứ đoài xa cách đại dương
Song ngoài trắng tuyết tang thương một trời!
Còn gì đâu cố nhân ơi?
Đành thôi, thôi nhé, kiếp đời lưu vong!
Mắt đầy tuyết lệ căm căm
Rót sầu độc ẩm thống ngâm Hồ trường
 
                                         Nguyên Lạc
..........

[*] Lời thơ Hồ trường của Nguyễn Bá Trác

 

READ MORE - ĐÊM TRẮNG TUYẾT – Thơ Nguyên Lạc

CÁI SỰ MẦN THƠ, KHỈ VỚI VƯỢN, H. THỜI, DD – Thơ Chu Vương Miện


  


CÁI SỰ MẦN THƠ
 
cái con tu hú không bao giờ lập gia đình
và không bao giờ làm tổ
tùy tiện mần ái tình
và đẻ nhờ vào tổ chim khác
cặp nhau tạm vài tháng là thôi
 
con gà mái ghẹ vừa đẻ vừa cục tác
khoảng từ 12/16 trứng
thôi đẻ rồi ấp
 
con vịt thì lung tung
đẻ vung đẻ vãi
trên bờ ao bờ ruộng bờ sông
rồi cũng có thời gian nghỉ ở không
không bao giờ ấp trứng
 
thi sĩ thì phải có thuốc lào hút
nước lạnh nước sôi nước trà cà phê
mới có hứng mần thơ
mỗi ngày một bài
có ghệ thì khỏi cần các thứ trên
một ngày nhiều bài
thơ chùa
toàn làm cho tha nhân đọc
bao kẻ già kẻ bệnh kẻ thất nghiệp
kẻ thất tình kẻ ở không
mần đủ các loại thơ
từ cổ điển xướng họa
đến modern và tân hình thức
chả có ma nào liếc măt
thôi thì châm vào một que diêm
cháy nghi ngút và bốc khói
cúng dường cái tâm cho Đức Phật
nội dung thơ toàn là than trách
đen thùi lùi hơn củ tam thất
bao nhiêu tâm huyết
khi không thành chim cồng cộc
nhiều nhất là thơ tự ro tự nhiên
kế là thơ lục bát
kế đó là dùng hai tay ăn bốc
giản đơn không cần đũa
vì một kiếp mần thơ
nó y như cái này này?


KHỈ VỚI VƯỢN
 
trên rừng xanh
khỉ đánh đu
vượn bồng con cho bú
chuyền cành
cả một đời tự do
trên cây
rất ít khi xuống đất
ăn toàn trái chín trái ngọt
một thời để yêu
và chả bao giờ chết
thoải mái hơn loài người
dù chỉ là khỉ đột
 
thơ thời xưa
có giai nhân mỹ nữ
thời thời nay có ghế có ghệ
cũng là một thứ y chang
quần áo tóc tai có khác
giống sòng bạc
ngày xưa chơi trên chiếu
bây giờ chơi trên bàn trên máy
cũng vẫn là nam nữ hồ lỳ
cũng vẫn là tan thây mất xác
vẫn là con nhạn la đà
vẫn con gà mái kêu cục ta cục tác
 
tất cả những lo âu
tất cả những nợ nần
buồn phiền
thôi để tạm ngoài sòng bạc
Las Vegas
đôi lúc cũng cần
quẳng gánh lo đi
suốt đời cúc cung tận tụy
cũng chả ích gì?
chuyện bát cơm chén nứơc
chuyện gia đình cha mẹ anh em
chuyện non sông tổ quốc
đôi khi quá mệt
dù đã kiệt lực
dòng sông vẫn trôi
dòng đời vẫn trôi
con bài vừa đỏ vừa đen
vừa buồn vừa vui
 
 
H. THỜI
 
Cuộc sống bi chừ ngày càng ngắn lại
Bạn bè bằng hữu mí nhau
cũng kiệm lời
Chỉ nói chuyện với nhau về hợp tác
Tiền bạc & chia chác
Không bao giờ nói chuyện chơi?
Lâu lâu phôn xem chừng đã tịch chưa?
Lâu lâu email vài câu ngắn ngủn
Như chó cụt đuôi
Không đầu chả đuôi
Blog & web không còn ai tiếp hơi tiếp sức
Báo giấy chết tiệt
 
 
DD
 
Anh thắp lên bàn ngọn nến
Ghé mồm em thổi lênh đênh
Nửa kiếp tới đây là tận
Sáng lên cũng chả vui buồn
Lơ láo lần này lần cuối
Em về ghé Hạnh Hoa Thôn
Cho anh kèm lời tạ lỗi
Sông xưa nay đã lên cồn
Gặp nhau chả duyên chả nợ
May mà mình lại mau tan
Nợ nần nay mai mốt trả
Nước xuôi trôi mất con thuyền
Đời này còn chăng quân tử?
Phương nào mờ bóng thuyền quyên?
 
                             Chu Vương Miện

READ MORE - CÁI SỰ MẦN THƠ, KHỈ VỚI VƯỢN, H. THỜI, DD – Thơ Chu Vương Miện

Monday, January 22, 2024

VIẾNG CHÙA GIÁC ĐẠO - Thơ Khaly Chàm

 



khaly chàm

viếng chùa giác đạo*


vào chùa giác đạo gặp người vác gậy

trên bục cao nghểnh mặt vểnh râu hàm

chắc hoan hỉ đã hoàn thành tâm nguyện

lòng nhớ cố hương mắt nhìn về phía tây nam?

 

gặp trụ trì… hỏi cho biết tên chính xác

ngờ ngợ dễ chừng chưa hẳn lão đạt ma

tất cả tượng hình đều tam sao thất bản

bồ đề chán nhìn tứ phương bát nháo chốn ta bà


hơn một ngàn năm sau tình từ ngày thích ca nhắm mắt

chưa chắc khi thuyết đạo rồi ngài truyền đạt di ngôn

ta khen đat ma một mình lên phương bắc

nên bây giờ lắm xảo ngữ phô diễn thiền tông


nói như thế… ai không có hạt trân châu trí tuệ

phật đã dạy ta biết đó là ngọc trí huệ đấy thôi

nên rờ rẫm nhờ hơi hướng ta từng ngày tỏa sáng

lòng sẽ nhân ái bao dung chẳng nghĩ chuyện lỗ lời


bồ đề đạt ma có lần đã nói với ta

hơn một ngàn năm trăm năm nào ai đã biết

trên gậy ta vác, chiếc giày tả hữu bên nào

nay ta tặng ngươi để làm kỷ niệm

nếu phàm phu hỏi: giày vải bên chân nào của đạt ma

cứ trả lời, ngươi chẳng biết thì chỉ có sự im lặng thế thôi! 

***

Hốc Môn, ngày đông 2024.

*Chùa Phật giáo Giác Đạo, đường Giác Đạo thuộc địa phận huyện Hốc Môn (gần đường song hành ql 22).


READ MORE - VIẾNG CHÙA GIÁC ĐẠO - Thơ Khaly Chàm