Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, June 27, 2023

TRĂNG LẠNH, GẶP LẠI NGƯỜI TRI KỶ – Thơ Nguyên Lạc


   
                     Nhà thơ Nguyên Lạc
 

TRĂNG LẠNH
 
Đêm nay trăng lạnh người có lạnh?
Điệp khúc hư không vọng muôn trùng
Lưu xứ nâng ly hồn cố thổ
Mời trăng tri kỷ rượu say chung!
 
 
GẶP LẠI NGƯỜI TRI KỶ
 
Kẻ sĩ thời mạt sĩ
Sá chi cái chữ nghèo
Gặp lại người tri kỷ
Vỗ vai nhau cười reo
 
"Cửu hạn phùng cam vũ
Tha hương ngộ cố tri" [1]
Không say thời mới lạ
Không xỉn thời mới kỳ
Tha hương gặp tri kỷ
Như trời hạn gặp mưa
Tình tràn theo ly rượu
Cạn bình đi đừng chừa!
 
Ly tràn bạn uống đi
Bao năm rồi phân kỳ
"Lận đận trời một lứa"
Quê người gặp mấy khi?
 
"Em ơi bình khô rượu
Lửa tắt... say với ai?" [2]
Nhớ không lời thơ ấy?
Sầu tình ta cùng say
Hết rồi thời tuổi mộng
Hai đứa cùng thở dài!
Phải không người tri kỷ
Không tình say với ai?
Cạn ly người tri kỷ!
"Ngàn chung ta không say"
 
Đời nhiều nỗi u hoài!
Tình mộng huyễn bi ai
Kẻ sĩ thời mạt vận
Bạc đầu ngắm mây bay
 
"Bạch vân không du du" [3]
Ngàn năm mây bay vù
Nhân sinh trò hư ảo
Còn nỗi sầu thiên thu!
 
Mạt sĩ ta mạt sĩ
Khó tìm người cùng say
Đời nhân cùng nghĩa tận
Toàn những chuyện bi hài!
 
Có rồi ta gặp lại?
Hai đứa cùng ngất say
Thất chí thời mạt sĩ
Thống hận kiếp lưu đày
 
Có rồi ta gặp lại?
Hai đứa cùng nhau say
Hay chỉ là độc ẩm
Hồ trường lệ đắng cay!
 
"Nào ai tỉnh, nào ai say,
chí ta ta biết, lòng ta ta hay
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ,
hà tất cùng sầu đối cỏ cây" [4]
 
Lưu vong thất chí thở dài
Rượu sầu hai đứa cùng say
Đắng cay vọng về cố lý
Nỗi đau luân lạc đoạn đòi!
 
                      Nguyên Lạc
...........................
 
[1] thơ Uông Thù
[2] thơ Vũ Hoàng Chương
[3] thơ Thôi Hiệu
[4] Lời thơ Hồ Trường - Nguyễn Bá Trác

READ MORE - TRĂNG LẠNH, GẶP LẠI NGƯỜI TRI KỶ – Thơ Nguyên Lạc

Monday, June 26, 2023

TÌNH VIỄN PHƯƠNG - Thơ Mặc Phương Tử

 




TÌNH VIỄN PHƯƠNG

                                            

            Tạm biệt Chùa Kỳ Viên, South Dakota.



Từ lúc mây xa về phố núi

Chim trời cũng theo gió về xuôi.

Áo vai dù đã bao mưa nắng,

Lòng vẫn xanh theo những bước đời.


Đây mảnh vườn xuân rộn tiếng chim

Giữa trời phương thảo mấy chung riêng.

Ta nghe thanh thản đời hôm sớm,

Cả nhịp lòng theo khắp mọi miền.


Mấy độ đông tàn, mấy độ xuân

Mấy mùa hoa nở rụng bao lần.

Đó đây cũng lắm tuồng dâu bể,

Bao nỗi vui buồn chuyện thế nhân!


Một sớm ta rời nơi chốn cũ

Xa rồi miền gió núi mây ngàn.

Xa mùa tuyết trắng, sương mù đục,

Phố núi trời xưa, mấy điệu đàn.


Biết thế, lòng ta đâu phải thế!

Mai đây dù ở chốn quê hương.

Vẫn xanh cuộc lữ bao xuân trước,

Vẫn một tình xuân buổi viễn phương.


Florida, Tampa, 26/6/2023

MẶC PHƯƠNG TỬ












READ MORE - TÌNH VIỄN PHƯƠNG - Thơ Mặc Phương Tử

HẠ MUỘN - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

 

Nhà thơ Lê Thanh Hùng



Hạ muộn


Lung linh nắng đong mùa thương nhớ

Cây phượng già nở muộn rưng rưng

Hoa từng cánh dịu dàng bung mở

Gói tiếng ve mùa cũ ngập ngừng


Liếng thoáng đôi chim sâu lích chích

Nhảy vô tư dưới tán lá xanh

Chợt cơn gió lạc mùa thổi nghịch

Bung biên bay chùm phượng đầu cành


Có cô bé ngượng ngùng lén ngắm

Cánh hoa rơi, một chút đắn đo

Trong bóng nắng buông chiều gạ gẫm

Âm thầm trôi, qua một hẹn hò


Vạt mây trắng giăng như dấu hỏi

Giữa trời xanh, lồng lộng tầm nhìn

Một tiếng vọng ngang đời níu gọi

Cánh phượng hồng, cháy đỏ hương trinh


Đôi mắt biếc buồn so vô cớ

Đưa cái nhìn rớt xuống thinh không

Quay ngoắt lại, xen chừng mắc cở

Khi anh nhìn, nắng chảy mênh mông…



Nhớ nắng


Anh đến Huế, mùa thu ẩm ướt

Mưa giăng giăng cả tháng lê thê

Đường thành nội, mờ trơn bước trợt

Khách đường xa, háo hức đi về

                     *

Mây loang tan đôi bờ phẳng lặng 

Tiếng chèo khua sương trên sông Hương

Cứ mê mãi miệt mài sâu lắng

Một tiếng hò xa nỗi nhớ thương

                    *

Dáng nhỏ qua Trường Tiền gợn gió

Áo mưa e ấp, nét hoa duyên

Chợ Đông Ba chắc còn để ngỏ

Dặm đời xa gồng gánh ưu phiền

                    *

Mưa dai dẳng, đoạn khoan đoạn nhặt

Bến sông xa, mờ tỏ nhọc nhằn

Mưa qua phố, màn trời xám ngắt

Sóng gọi bờ vọng đổ lăn tăn

                    *

Anh lặng lẽ ngồi đây bó gối

Chợt nhớ màu nắng ở phương nam

Nhớ quay quắt, vô chừng vô đổi

Nắng nồng nàn, nỗi nhớ miên man ...



Hà Nội - mùa hoa tháng sáu


Góc phố em, nhỏ là rất nhỏ

Lấm lem trong khuya sớm tảo tần

Sau khúc quanh, nhà em ở đó

Cây Lộc vừng, hoa rụng đầy sân

                    *

Tháng sáu Hà Nội còn bức bối

Nắng ong ong rót ngập lối đi

Lá chớm vàng, ngập ngừng cứu rỗi

Một mùa sen khoe sắc đương thì

                    *

Hoa trái chợt trở mình thức dậy

Bóng em lặng lẽ, gánh mùa đi

Trên khẩu trang, mắt tròn đen láy

Nghe tiếng rao mời gọi điều gì?

                    *

Chầm chậm bước, lắng trong phố cổ

Phượng cuối mùa trút cả sắc hoa

Tím biếc bằng lăng, màu cổ độ

Bong vỡ ngày, trưa nắng nhạt nhòa

                    *

Rưng rức cánh hoa muồng hoàng yến

Mong manh rơi, e ấp cong quăn

Hương cốm mới xanh hồn quê kiểng

Gánh hàng rong, nhẹ bẫng nhọc nhằn...



Giọt nước mắt em rơi


Nghệch bảng đèn quảng cáo

Hình như có một chút gì gượng gạo


Trong lời chia tay, sao ngắc ngứ rối bời

Biết không thể giữ em được nữa

Sao ngoảnh mặt lại nhìn, đôi mắt đen ngân ngấn nước - người ơi…



Em gấp vội trang đời, tuổi bốn mươi


Gói dĩ vãng trong cái nhìn trúc trắc

Miền ký ức, đan cài thưa nhặt


Đẫm một màu trăng năm cũ trêu ngươi

Lơ đãng gió lay tấm màn trống trải

Đổ xuống thềm sương từng giọt khóc cười


Lê Thanh Hùng

    Bắc Bình, Bình Thuận

thanhhungmtbb@yahoo.com.vn


READ MORE - HẠ MUỘN - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (2) - Trương Ngọc Bỉnh

 


NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC 

VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (2)


Trương Ngọc Bỉnh, 

Cựu học sinh Trường Trung học Công lập Hải Lăng, 

Khóa 5, 1964 – 1968.


(Tiếp theo kỳ 1 đã đăng)

Một con người mang bệnh hen phế quản, từ lúc lớp Nhì ... cho đến học Hải Lăng, ra Nguyễn Hoàng rồi vô Huế học Sư phạm …, cả đến lúc ra trường, bệnh hen vẫn đeo đuổi bên tôi như hình với bóng! Thế mà hồi gia đình sơ tán vào Đà Nẵng - Dân thành phố Huế cũng sơ tán, tất cả các Trường học đều đóng cửa! Đêm đêm chỉ có xe quân sự hú còi tuần tra các con phố chính: Trần Hưng Đạo , Chi Lăng, Lê Lợi lên Ga Huế, về Đập Đá ... Hỏa tiễn 122 ly vẫn dồn dập xoèn xoẹt vút trên bầu trời từ hướng Nam Hòa lao xuống Mang Cá, Tây Lộc - nơi có BTL Tiền phương Sư đoàn 1! Quân Giải phóng đã tới bờ Bắc Sông Mỹ Chánh! Căn cứ Baston và Chi khu Nam Hòa (Tây Huế), chưa cứu được mình, đang trong ngàn cân treo sợi tóc! Mấy Lữ đoàn: 147, 258 và 369 đang ém quân từ Cầu Vân Trình, có trục lộ 49 chạy ra Tháp Một (thuộc địa phận Thừa Thiên), rồi mới gặp các làng xã Xuân Viên, Diên Khánh, Hải Ba, - Dương … Một hướng rẻ phải về Nhà thờ Tháp Đôi, xã Điền Lộc, Hải Nhuận, phá Tam Giang... lên dọc thị trấn Ưu Điềm, Phong Hòa, Mỹ Chánh... có dịp về mà xem Thành phố Ma của con cháu vượt biển về báo hiếu! Tập làm P V chiến trường, hâm lại một tí!

Trở lại chứng bệnh và việc học hành của tôi. Có ai ngờ đâu? Khi dân Thành phố Huế lục tục từ Đà Nẵng trở về, các Trường học bắt đầu mở cửa cũng là lúc Khóa 2, Sư Phạm Huế thi Tốt nghiệp ra trường. Phạm vi tuyển sinh từ Tỉnh Quảng Tín (Quảng Nam) ra tới Quảng Trị, còn từ Quảng Ngãi vào học ở Quy Nhơn! Tôi đã tốt nghiệp Thủ khoa, Khóa 2, ngày 27.6.1972 với hơn 150 giáo sinh và tôi ở lại Huế ngao du thắng cảnh các lăng tẩm, Đại Nội ... với chiếc Honda Dame đỏ SS 50 của Bác Họ, tôi vượt đèo Hải Vân ra Huế ở lại để thi Tốt nghiệp và Tú Tài Phần 2, ngày 05-7-1972 và đổ luôn. Trong vòng đúng 10 ngày. Hồi đó còn thi viết chứ không phải ABC khoanh, IBM! Một nổ lực của bản thân, bóp còi qua mặt các bạn cùng khóa là dân Quốc Học, Đồng Khánh, Hàm Nghi, Nguyễn Tri Phương … cũng phải nể mặt dân Hải Lăng, Nguyễn Hoàng! Nói trạng, nói khoác một tí các bạn nghe - nhưng có thực để mà nói là một điều bất thường! "Thắng mình là một chiến thắng vẻ vang nhất!" có phải như vậy không các bạn?

Một kỳ thi nghiệt ngã nhưng đầy tự hào của các sỹ tử tí hon!

-Khoảng 90°/° số học sinh tốt nghiệp bậc Tiểu học xuất thân là con em nông dân, đời sống kinh tế còn rất khó khăn. Hằng năm, bão lụt thường xuyên ập tới đe dọa. Mùa màng thất bát, Có năm dân đồng bằng lên mua sắn củ của dân tộc Hướng Hóa, Khe Sanh, Cùa... hoặc vô rừng hái dây búng, trái trắc mao, dom, bứa, hột sót... về Chợ Diên Sanh hay Mỹ Chánh bán, đổi lấy gạo xô, gạo tạ! Trong số con em đó, có nhiều người hiếu học, học khá giỏi hoặc đã lớn tuổi, một số đã không có xe đạp đi lại, chủ yếu là cặp giò và đôi dép "Nhật" mỗi bên chỉ con lưu luyến vơi nữa bàn chân phía trước! Tôi còn nhớ Ba tôi đã gọi bạn chuyên làm "Xáo" đến để mở "chồ". Một đống lúa ngất ngưỡng như cái nón khổng lồ mà chỉ mua được một chiếc xe đạp sườn ngang với gía 800 đồng, năm 1963. Hồi đó mấy ai có được cơ hội ra học trường quận cách xa nhà > 15 < km. Thế nhưng được vào - bước qua cổng trường Trung học Công lập Hải Lăng ví như "Cá vượt vũ môn", là niềm tự hào và vinh dự cho bản thân và gia đình. Hằng năm cứ vào đầu tháng Bảy, có kỳ thi tuyển đầu vào lớp Đệ Thất. Thời đó, các bậc phụ huynh còn bị ảnh hưởng của nền giáo dục Pháp thuộc còn sót lại. Nhiều cụ đã đi học và đỗ đạt bằng Yếu lược,Tiểu học hoặc họa hoằn lắm mới có cụ đỗ Diplôme (Trung học)! Họ sính dùng Tiếng Pháp trong đàm đạo hằng ngày và gọi kỳ thi này là thi "Càng cua", nguyên ngữ Tiếng Pháp là "Concours", từ đó, từ ngữ này được thông dụng, kể cả mấy chị em ngoài chợ cũng thông thạo và xài luôn! Học sinh trúng tuyển đầu vào lớp đệ thất gọi là "bẻ càng", ai trượt vỏ chuối coi như "gãy càng". Vậy, số con em "bẻ càng" là bao nhiêu? Và số còn lại "gãy càng" đi đâu? làm gì?

Trước khi đi tìm các ẩn số nêu trên, người viết xin ngược dòng thời gian, lùi sâu vào lịch sử, mạo mụôi trình làng những điều mình biết để nói lên mạng lưới trường lớp của quận Hải Lăng thời đó:

-Đơn vị hành chánh cấp quận và tên gọi "Quận" thay cho "Phủ" hoặc "Huyện" trong toàn vùng Pháp tạm chiếm vào cuối năm 1953. Thời kỳ Đệ nhất Cộng Hòa (Ngô Đình Diệm, 1956 - 1963 ), ở miền Nam Việt Nam, vào năm 1960, quận Hải Lăng có 22 xã. Mỗi xã có một trường Tiểu học, có xã có 2 trường (Hải Thọ). Trong số 22 xã, có 5 xã vùng ven, áp sát thị xã Quảng Trị: Hải Thựơng, Hải Lệ, Hải Phú, Hải Quy và thị xã Quảng Trị. Số học sinh 5 xã này, dự thi càng cua vào trường Nguyễn Hoàng ở thị xã Quảng Trị. Số gãy càng - nếu gia đình khấm khá và có nhu cầu cho con em học tiếp mới vào học các trường Bồ Đề và Thánh Tâm cũng ở thị xã Q.Trị. Như vậy còn lại 17/22 xã, mỗi xã có một lớp Nhất, bình quân 50 em /1 lớp. Tổng số 850 em mà chỉ có một kỳ thi tuyển một lớp Đệ thất! Tỉ lệ chọi là 1/15! Đối với những sỹ tử tí hon "lều chõng" ngày ấy, sáng sớm mở mắt chỉ thây ao làng, con trâu, giếng nước và cánh đồng ngút ngàn tầm mắt đến thế! Hôm nay ngày thi, lại từng tốp 5, 7 đứa từ các ngõ xóm, qua khỏi cổng làng, rảo bước tòng teng, lặn lội đổ về trường quân để "so găng" đấu trí. Sáng: Làm văn (loại giải thích, so sánh hoặc bình luận); chiều: Toán pháp (gồm các kiểu đề: động tử xe, vòi nước, số học kết hợp số học, hình học...). Một kỳ thi quyết định tuổi thanh xuân đang vẫy gọi phía trước!

Với một lực lượng vị thành niên dôi dư không mấy may mắn còn lại ở các làng xã khoảng > 700 < em (đã khấu trừ 200 em vào học các trường Tư thục; Minh Đức (Diên Sanh), Tân Dân (Hải Chánh), hoặc vào hệ Bán công Hải Lăng - có chung cơ sở với Công lập), đành đoạn ở nhà phụ việc đồng áng, công việc nhà; nữ thì học nghề may, chằm nón lá hoặc ra thành thị giúp việc … Đến lúc con trai thì vai u thịt bắp, trổ tiếng ồ ồ như vịt đực; con gái đến tuổi dây thì "ra mả" thiếu nữ! Bẳng đi một thời gian sau lũy tre làng, nghe nói bị "chuồm nhánh nè" với cặp cá tràu và bó chè Lương Điền, Mỹ Chánh, Tân Lâm... to chà bá rồi! Hoặc đã mang dép râu, nón cối … hay đầu quân trước tuổi với nón sắt, giày sô (botte de saut) ...

(Còn tiếp)

Trương Ngọc Bỉnh

READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (2) - Trương Ngọc Bỉnh

HỌP GIAO BAN NGÀY – Phụ lục “Đồ Long nữ tử” của Chu Vương Miện



Trong nhà cưới, chú rể giáo chủ Trương Vô Kỵ nhìn nắm tóc mầu vàng của nghĩa phụ Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn rồi chạy tức thì theo Triệu Mẫn quận chúa. Cô dâu chưởng môn Chu Chỉ Nhược bị bỏ lại không nói được lời nào, bèn chạy theo tân lang dùng Cửu Âm Bạch Cốt Trảo đâm mười ngón tay vào hai vai quận chúa nương nương máu nhỏ giọt thấm ướt áo rồi phóng đi mất, sư tỷ Đinh Mẫn Quân và Tĩnh Huyền sư thái vội vã chạy theo. Thế là đám cưới trở thành đám chạy đua. Cũng may là cỗ bàn chưa dọn ra, đúng là lễ hội tưng bừng khai trương và âm thầm đóng cửa. Các lục đại phái tự động lui gót có trật tự. 

Nhân tiện bàn ghế cơm rượu có sẵn cũng chưa kịp dọn dẹp, để chiếm thời cơ tả sứ Dương Tiêu cùng hữu sứ Phạm Dao liền cho tổ chức cấp kỳ ngay một cuộc họp “Giao ban Ngày ngoài ban chấp hành thường nhật cuả bổn giáo, có thêm hai bộ phận quan trọng cuả Minh Giáo là Đại Minh Vương Hàn Sơn Đồng và Thái Minh Vương Từ Thọ Huy, là hai lực lượng nắm giữ binh quyền kiểm soát toàn vùng Hoa Hạ và vùng Hoa Nam. 

Những giáo đồ giáo chúng không cần thiết cho quy an, nghỉ ngơi dưỡng quân. Những chiếc bàn cho nối lại thành hình chữ nhật. Khi các vị chức sắc trong bản giáo ngồi đầy đủ. Dương tả sứ cùng Phạm hữu sứ cùng đứng lên một lượt kính chào giao tế các đạo hữu, các vị chức sắc cao cấp lãnh đạo trong bổn giáo. Tả sứ Dương Tiêu cung tay ôm quyền nói:
- Vì hoàn cảnh cấp bách lịch sử đã điểm, tuỳ nghi và tùng quyền  đã khải bẩm giáo chủ, nay nhân tiện công bố cùng toàn thể anh hùng hảo hán trong Minh Giáo toàn quốc:
- Vì nhu cầu quốc sự, bổn giáo cho tăng một lúc Quang Minh tả hữu nhị sứ lên làm phó giáo chủ, Dương Tiêu là phó giáo chủ đặc trách nội vụ, Phạm Dao làm phó giáo chủ đặc trách ngoại vụ.
- Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính, Hân Dã Vương, Thanh Dực Bức Vương Vi Nhất Tiếu thăng lên làm tam sứ: tả, hữu và trung sứ.
- Ngũ Tản Nhân là Lãnh Khiêm tiên sinh, Thiết Quan đạo nhân Trương Trung, Hoà Thượng Thuyết bất Đắc, Hoà Thượng Bành Oánh Ngọc, đại hiệp Chu Điên đồng một lượt thăng lên làm ngũ đại Pháp Vương.
- Ngũ Kỳ là Hồng Thuỷ Kỳ, Liệt Hoả Kỳ, Nhuệ Kim Kỳ, Cự Mộc Kỳ, Hậu Thổ Kỳ, thêm một chữ Doanh đằng sau nưã, gọi là Kỳ Doanh, lực lượng sẽ phát triển khoảng hai ngàn người cho mỗi Kỳ.
- Thiên, Điạ, Phong, Lôi, tứ môn lên một cấp là Tứ Đường Môn.
- Bộ phận Đại Minh Vương Hàn Sơn Đồng được phong là Đại nguyên soái, chủ động địa bàn vùng Hoa Nam với các danh tướng Chu Nguyên Chương, Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân, Thăng Hoà, Hàn Lâm Nhi.
- Bộ phận Thái Minh Vương Từ Thọ Huy [gốc từ Chu Tý Vương, Chu Tử Vượng] thăng lên thiên hạ binh mã Đại nguyên soái thống lĩnh toàn vùng Hoa Hạ, với các danh tướng Mộc Anh, Lam Ngọc...
 
*
Tiếp theo lời cuả Tả sứ Dương Tiêu, hưũ sứ Phạm Dao đứng lên tiếp:
- Manigiáo hay Minh Giáo bắt nguồn từ Ba Tư [tức là Perse] năm 694 sau công nguyên, tức vào thời kỳ nhà Đường thời Võ Hậu cai trị, nhằm vào ngày 22 tháng sáu Đường đại lịch tam niên, sứ giả Hốt Đa Đán được sự ủy thác cuả giáo chủ cầm cuốn Tôn Tam Kinh từ Ba Tư sang dâng cho Võ Hậu. Manigiáo được chấp thuận rao giảng lý thuyết và hành đạo từ đó Cũng xin được nói cho rộng ra là nhà đại Đường là một triều đại vang danh là đức độ và nhân bản nhất trong lịch sử Trung Quốc. Thời Đường Thái Tôn thì đã có Đường Tam Tạng tức Đường Huyền Trang đi Tây Vực Nêpal thỉnh kinh, nên tại kinh đô Đông Đô Lạc Dương [tức tỉnh Hà Nam bây giờ] cho xây cất ngôi chùa đầu tiên của Manigiáo là Đại Vân Quang Minh Tự. Cả thẩy vùng Hoa Hạ và Hoa Bắc là 3.600 ngôi chuà cuả Minh Giáo. Sau đó khoảng vài chục năm, vào năm thứ ba cuả vua Hậu Xương nhà Đường, vua nghe lời sàm tấu của một số quan lại người Hán, cho là Minh Giáo thuộc loại “Tà Ma ngoại đạo’ nên chuà chiền cuả giáo này bị huỷ hoại và nhân sự đạo giáo thì chìm vào trong bóng tối. Qua thời nhà Đường đến thời Ngũ Đại, qua nhà đại Tống, đến bây giờ thì bổn giáo qua nhiều giai đoạn thăng trầm theo lịch sử và cũng từ đó rút ra được một bài học sinh tử. Từ Tổng giáo Ba Tư cũng có những khuyết điểm, vì là con người thì ai ai cũng có khuyết điểm cả! Nếu không tìm ra nguyên do, để canh cải để sửa đổi thì suy vong, diệt vong là cái chuyện đương nhiên! Ngay Tổng giáo Ba Tư thì các giáo chủ đời đời là thánh nữ . Nhưng bản chất là Thánh Nữ nên các võ công chân truyền cuả bổn giáo, càng ngày càng mai một rồi bí kíp mất tích luôn lúc nào không biết. Khi truyền sang Trung Thổ, bí kíp trấn môn là pho “Càn Khôn đại na di tâm pháp” và bí quyết ghi trên sáu thanh Thánh hoả Lệnh lại là chữ Ba Tư, người Hán không đọc được. Nên hai môn võ công thượng thừa này không có ai học, ngoại trừ giáo chủ. Các nhân tuyển trong Minh Giáo thì võ nghệ hầm bà làng, chả ai giống ai, mỗi người một lộ võ công võ tư khác nhau, chả ai truyền thụ cho ai. Vì không đọc được chữ Ba Tư đến nỗi đến đời Thạch giáo chủ thứ ba mươi hai thì bị các cao thủ Cái Bang xâm nhập Tổng Đàn như vào chỗ không người, ăn cướp một lúc mất cả sáu thanh Thánh hoả Lệnh, thành ra một Giáo mà không có Lệnh thì cũng chỉ lờ mờ. Qua đời thứ ba mươi ba là giáo chủ Dương Đỉnh Thiên, lúc vị này “tẩu hoả nhập ma” chết đi thì lại ba bè bẩy mối phân hoá chia rẽ, chả ma chịu ma nào ? Nhờ tài thông minh và nhân ái giáo chủ đời thứ ba mươi tư là Trương Vô Kỵ mới hàn gắn đoàn kết lại được thành một khối.
 
*
Hai vị nội ngoại phó giáo chủ phát biểu xong thì Đại Minh Vương Hàn Sơn Đồng cũng nhân dịp đứng lên nói tiếp:
- Nước chở thuyền, nhưng nước cũng làm chìm thuyền, cái đạo lý này thì ai ai cũng rõ mồn một. Đạo với Đời có khi là một, nhưng cũng có khi lại là hai, phải tuỳ lúc, tuỳ thời điểm và tuỳ hoàn cảnh, không cứ phải bo bo cố chấp. Mà sự đời cứ cố chấp là hỏng, chả hạn như thời nhà đại Đường, Lý Thế Dân lúc còn Đông chinh Tây thảo, thì có đích thân mời những vị cao tăng cao thủ chuà Thiếu Lâm tham dự trận mạc với triều đình để sớm thống nhất sơn hà. Khi toàn cõi qui về một mối, thì nhà vua trả công cho nhà Chuà [phái Thiếu Lâm] ai ra làm quan thì làm, ai tu trì thì cứ tiếp tục tu trì. Triêù đình trả công cho chuà Thiếu Lâm tịnh tài [là tiền mặt ngân lượng] và vật tư vật công như gạch đỏ ngói xanh để xây chuà xây bảo tháp, và kể như xong. Đạo ra Đạo và Đời ra Đời? Ai là đại sư... thiền sư thì cứ như thế, ai là Nguyên Soái, Thượng tướng quân thì là quân tướng cuả triều đình. Dù Chuà mang danh là chuà Đại Tướng Quốc thì cái ông đại tướng này đại diện cho nhà vua thí phát đi tu, lúc đó là sư cụ chứ không phải là vừa làm Đại tướng vừa làm nhà Sư. Trong lúc toàn dân, toàn quân, toàn tôn giáo đứng chung với nhau góp toàn lực để chống ngoại tộc là nhà Nguyên Mông Cổ cai trị, thì chúng ta có thể lẫn lộn Đạo và Đời, nhưng nếu mai mốt đáo mã thành công, thì vị nào ở cõi Đạo nên trở về vơí cõi Đạo, vị nào ở cõi Đời thì nên ở lại vơí cõi Đời. Chứ Đạo trộn vào Đời, Đơì trộn vào Đạo thì hết sức nguy hiểm. Khi đó kẻ nắm quyền Đạo trở thành Vua quan để nắm quyền Đời, bá tánh tha hồ mà chết oan, tha hồ mà lầm than đói khổ, tha hồ mà chết không kịp ngáp, tha hồ mà tự do về cõi Tây Phương Cực Lạc.

Và Thái Minh Vương Từ Thọ Huy cũng lên tiếng nhân hậu như sau:
- Ai đi tu thì cứ việc đi tu, ai làm quan thì cứ việc làm quan, ai làm dân cày thì cứ làm dân cày, cái hoàn cảnh một người mà kiêm nhiệm làm cả ba thứ một lúc thì chỉ có thời đại loạn xà bần như bây giờ mà thôi. Nếu đòi lại được chính quyền trong tay người Thát Đát, thì chúng ta ai việc gì thì làm việc đó, không nên bao cấp ôm đồm dẫm chân vào người khác để làm cái chi cho mất thì giờ, y như trong pho truyện “lục súc tranh công” vậy, con chó giữ nhà con mèo bắt chuột, con ngựa kéo xe, con trâu kéo cày, con gà gáy sáng, con heo con dê ăn cho mập ú để chờ ngày giết thịt?

Bạch Mi Ưng Vương cũng góp tiếng nói cho vui vẻ cả làng cả xóm:
- “Nhất nghệ tinh nhất thân vinh, quý hồ tinh bất quí hồ đa”,  nếu người Mông Cổ Mông Đít biết thân biết phận “an phận thủ thường”, chỉ ngày ngày chăn dê chăn cừu trong thảo nguyên, bắn chim điêu ngoài đại mạc, thì thiên hạ đâu có đại loạn như ngày hôm nay! Mà thôi hết loạn thì tới an, hết an thì tới loạn, chuyện cuả đất cuả trời, làm con người thì cũng chấp nhận cái luật này mà thôi!  
 
chuvươngmiện

READ MORE - HỌP GIAO BAN NGÀY – Phụ lục “Đồ Long nữ tử” của Chu Vương Miện

Saturday, June 24, 2023

BUỔI RA MẮT SÁCH "BỤI CÁT CHÁN MÂY" VÀ KỶ NIỆM NGÀY TRÒN 2 NĂM LÊ CUNG BẮC ĐI XA - Võ Văn Cẩm


 

Biên tập viên Cháu Thổ và chi Bùi Thị Giang



BUỔI RA MẮT SÁCH "BỤI CÁT CHÁN MÂY" 

VÀ KỶ NIỆM NGÀY TRÒN 2 NĂM LÊ CUNG BẮC ĐI XA 

(Do Hiệp hội Điện ảnh TPHCM, gia đình, bạn bè tổ chức)


   Chuyển tàu SE1 đến ga Đông Hà trễ mất 1giờ 30 theo lịch. Đến ga Sài Gòn 8g15 thay vì 6g35 như thường lệ. Tôi vội về nhà, vừa đem hành lý lên phòng là đến dự buổi ra mắt sách  "Bụi Cát Chân Mây" và kỷ niệm ngày 13/6, ngày Lê Cung Bắc -  một người bạn cùng quê mà tôi quý mến - vĩnh viễn đi xa tròn 2 năm. Buổi lễ rất hoành tráng để làm vui lòng người nghệ sĩ tài hoa. Chắc ở nơi cõi vĩnh hằng anh vui lắm?

 Sáng hôm nay rất nhiều đạo diễn, nghệ sĩ nỗi tiếng đồng nghiệp của anh và nhiều học trò đi lên đỉnh cao Nghệ Thuật, cả đời gắn bó với LCB và chinh người đã tạo nên vóc dáng cho họ.

  Khi phát biểu về người thầy LCB, đôi lúc họ nghẹn lời với những dòng nước mắt. Họ thầm nói với anh rằng: Nếu không gặp anh thì Cuộc đời họ không biết đi về đâu? Danh phận và sự nghiệp ra sao? Những lời nói chân thật ấy, những giọt nước mắt ấy làm cho buổi gặp gỡ vô cùng ý nghĩa và đây là  những lời tâm tình dành cho người đã khuất.

  Chúng tôi bắt gặp một MC sành điệu, chị Châu Thổ. Chính chị cũng là một biên đạo diễn danh tiếng trong giới nghệ sĩ, trong Hội Điện  ảnh. Chị có nhiều phim và người gắn bó với Đạo diễn LCB nhiều năm.

  Là bạn bè, đồng môn, đồng hương nhưng không phải đồng nghiệp nên những góc khuất nghệ thuật tôi không mấy am tường. 

 Hôm nay qua những tâm tình của đồng nghiệp, của những người gắn bó trong nghề nhiều năm với LCB như ĐD Trần ngọc Phong, Biên tập viên Châu Thổ, diễn viên Trường Thịnh... Diễn viên gạo cội Việt Trinh, Hồng Ánh và nhiều danh tài trong giới nghệ Văn nghệ sĩ. Tôi gặp HS Bình từ Đà Nẵng vào.  Người đảm nhận biên tập, in ấn tập hồi kỳ "Cát Bụi Chân Mày" kỷ vật cuối đời của người nghệ sĩ tài hoa LCB. Chính bức ánh hình bìa do anh nhờ một Hoa sĩ người cùng quê vẽ.

  Đặc biệt những người nỗi tiếng, những ngôi sao điện ảnh mà mọi người hâm mộ như VS Hương, Hồng Ánh, Việt Trinh lại là những học trò của anh. Hôm nay chính những giọt nước mắt đầy ân tình là những bài học về nhân nghĩa và đạo lý. Một sự trả ơn đời, ơn người. Sự trả ơn ấy là vô giá, đôi lúc tiền bạc không mua được.

  Sự trân trọng và quý mến LCB đã nói lên được tài năng, trí tuệ và sự đam mê nghề nghiệp mà LCB đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị. Để lại những tinh cảm thân thương và sâu lắng. Cái ước vọng nhỏ nhoi ấy không phải ai cũng làm được?.

  Tôi không có đủ ngôn từ để nói hết cảm xúc của mình khi vinh hạnh được dự lễ Đại Tường của người bạn tài danh bỏ đời ra đi hơi sớm.

   Dịp ra mắt sách và những ân tình mà những người làm nghệ thuật nỗi tiếng dành cho anh là cơ hội để gia đình LCB thực hiện di nguyện của anh.

 Vốn là con nhà Phật, LCB hiểu được cuộc đời là vô thường, ngắn ngủi "Sắc sắc không không". Anh nguyện sống theo lời Phật dạy. Khi buông tay ta mang được gì? Cải gắn bó nhất là vợ, con mà anh chẳng mang theo?.

   Tất cả là phù du. Những kỷ vật mà đời dành tặng, anh cũng chẳng màng, anh đành tặng lại cho đời, trong đó có:  "cải điếu cày thuốc lào, anh thường dùng những lúc buồn vui. chiếc mũ không vành, những chai rượu, quà tặng trong những lần được vinh danh ở nước ngoài. cái đồng hồ đi theo bao năm tháng."

  Anh muốn bạn bè, người thân đấu giá. "Số tiền có được đem làm từ thiện".

  Nghệ sĩ nổi tiếng Việt Trinh, vì bệnh trầm cảm mà  bỏ nghề. Thế mà hôm nay với mối ân tình sâu nặng, Việt Trinh làm MC cho việc đẳu giá các kỷ vật theo di nguyện của anh.

 LCB, một nghệ sĩ tài danh, có cuộc sống thanh bạch, đơn giản, chân tình với bạn bè và luôn hướng về quê hương. Anh từng nói: "Mình phải làm một cái gì cho quê nhà" nhưng anh đành lỗi hẹn?.

 Trong anh luôn luôn có ước vọng chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh.

  Những người quen đến  tham dự hôm nay rất thông hiểu ý nguyện của anh, nên chung tay góp sức. Tôi cảm thấy xót xa khi đem đấu giá những kỳ vật để làm một nghĩa cử đẹp. Nhưng lực bất tòng tâm.

  Việc giúp đời, giúp người là việc làm cao cả và không có hạn mức.

   Tôi có ý tưởng số tiền đấu giá thay vì làm từ thiện thì làm "Quỹ Khuyến Học Lê Cung Bắc" do Hội Khuyến học Quảng Trị Quản lý. Hằng năm Hội nhận tiền lãi ngân hàng giúp cho học sinh, sinh viên nghèo hiếu hoc. Nếu có người thân giúp thêm quỹ. Số tiền quỹ sẽ tăng lên. Cần có những giao ước trơng hợp đồng thật chât chẽ.

   Quỹ khuyến học LCB sẽ tồn tại mãi mãi, nhiều đời, nhiều thế hệ. Và ta xem những kỷ vật của anh vẫn còn hiện hữu. Đây là gợi ý riêng của tôi. Tôi tôn trọng quyết định của người nhà khi thực hiện di nguyện của anh.

  Trong lời tiễn biệt LCB tôi có chia sẻ :

 "Một phút giây lắng lòng, trong cuộc vui bè bạn, LCB đã để lộ nỗi buồn thế sự?".

 Chính nghề Đạo diễn cho anh nhiều cung bậc cảm xúc. Chính nghề Đạo diễn đã làm cho cuộc đời anh thăng hoa, làm nên tên tuổi Lê Hữu Ty tức Đạo diễn LCB nỗi đình nỗi đám. Anh đã để lại cho đời nhiều bộ phim nhiều tập có giá trị.

 "BIẾT ĐÂU TRONG SỰ THĂNG HOA ẤY ĐANG ẨN CHỨA NHỮNG NỖI ĐAU, NHỮNG UẨN KHÚC VÀ SỰ SÂU LẮNG CỦA ĐỜI MÌNH"

  Có một điều trắc ẩn về "Cuộc đời và sự nghiệp", sau chuyến đi Mỹ trở về mà ít người biết, vì điều ấy LCB ít tâm sự cùng ai. Và điều trăn trở ấy "LCB sống để đó và chết mang theo".

 Thiêm và Tôi cũng vậy???.

   Khi về quê tôi được chị Giang ưu tiên tặng tập 'BCCM" vừa in xong để đọc trên đường về Quảng Trị, nơi quê chồng mà nhiều năm rồi chị không được trở lại, và điều ấy không biết lúc nào xảy ra? Tôi đọc hết ngay chiều hôm đó.

 Sách dày 223 trang, chừng ấy trang giấy không thể diễn đạt hết cuộc đời một nghệ sĩ tài danh LCB!

 Gia đình, thế sự, tuổi thơ, trách nhiệm làm người, sự nghiệp, người thân, bạn bè, đồng nghiệp và mối quan hệ xã hội.

  Trong tràng giang đại hải, câu chuyện của đời anh. Đọc xong chỉ còn sót lại trong tôi "MỘT CHÚT TÌNH" đáng trân quý, một bài học sâu sắc, một tấm gương về lòng chung thủy, một sự hy sinh cao cả về tình chồng vợ, một nét đẹp văn hóa của kiếp làm người, khác lạ của một tín đồ sùng đạo.

 Chỉ chừng ấy hạnh phúc cũng làm cho người ra đi an lòng và chắc chắn trong khoảnh khắc chia ly không còn bận bịu, lo âu.

  Chị Giang là một con chiên ngoan đạo. Anh Bắc là con nhà trâm anh thể phiệt Nho học, sâu thẳm về Đạo Phật. Thể mà anh chị đã vượt qua hố ngăn cách đời thường ấy.

  Giây phút biệt ly, giây phút mà ít ai cầm được dòng nước mắt, trước giờ phút lâm chung, chị ghé sát vào tai anh để niệm "NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT".

  Một con chiên ngoan đạo đã làm được một việc hệ trọng mà trong giáo điều Thiên Chúa không có. Chưa một lần nghe bất cứ một vị Giám mục nào rao giảng.

 Chỉ có tình thương yêu từ trái tim chân chính mới làm được chuyện phi thường ấy?. Cảm ơn chị.

VÕ VĂN CẨM

READ MORE - BUỔI RA MẮT SÁCH "BỤI CÁT CHÁN MÂY" VÀ KỶ NIỆM NGÀY TRÒN 2 NĂM LÊ CUNG BẮC ĐI XA - Võ Văn Cẩm

QUÊ NHÀ TIẾNG VỌNG LỜI RU, TRÊN NÚI, CHỦ NHẬT – Thơ Tịnh Bình


 
         Nhà thơ Tịnh Bình

 
QUÊ NHÀ TIẾNG VỌNG LỜI RU
 
Đợi người... người đã về chưa?
Cánh đồng năm nắng mười mưa niềm gì
Hoàng hôn hoe mắt chim di
Sông quê thao thiết ở đi dùng dằng
 
Vàng ươm thóc trải đầy sân
Ngày mùa sợi nắng trong ngần reo vui
Bay lên đời khói ngậm ngùi
Rạ rơm ấm áp ngủ vùi giấc đông
 
Đợi người... chín nhớ mười mong
Giọt mưa gieo xuống cánh đồng hoang vu
Quê nhà tiếng vọng lời ru
Đường xa cỏ ướt sương thu lối về
 
Bao năm gác lại bộn bề
Đò đưa bến hẹn chân quê lạc lầm
Trăng vàng cuối nẻo trầm ngâm
Người đi, kẻ ở tím bầm gió sương...
 
 
TRÊN NÚI
 
Ta li ti bụi cát
Chạm con đường thủy tinh
Ban mai tinh khiết quá
Trong veo một ánh nhìn
 
Ồn ào hay u tịch
Soi lòng gạn đục trong
Sương trắng mờ đỉnh núi
Hé lộ chưa trời hồng?
 
Ngây ngô lời suối cạn
Hát nghìn dòng vu vơ
Trầm tư viên đá nhỏ
Trên đỉnh đèo chơ vơ...
 
 
CHỦ NHẬT
 
Trong nỗi nhớ vọng về tiếng chim xa
Đóa hoa hồng vừa kịp bung nở vào một buổi sáng ngày chủ nhật
Sớm mai thảnh thơi ngắm nhìn
Từng cơn gió đổ đầy tinh khôi
 
Nhặt lên nỗi niềm không buồn không vui
Lối hoang vu chưa kịp ấm hơi người
Tận hưởng mùi tĩnh lặng
Nắng áp mặt lên màu xanh cỏ dại
Hoen rêu một giấc mơ thầm
 
Đã lâu rồi quên cất lên lời ca nho nhỏ
Tự thưởng cho mình một khúc nhạc vui
Chú sâu nhỏ trộm nghe
Đóa hồng và sớm mai chủ nhật
Đi vắng những ưu phiền...
 
Tịnh Bình
(Tây Ninh)
 
READ MORE - QUÊ NHÀ TIẾNG VỌNG LỜI RU, TRÊN NÚI, CHỦ NHẬT – Thơ Tịnh Bình