Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, December 10, 2022

HOANG SƠ CHIỀU - Thơ Đặng Xuân Xuyến

 



HOANG SƠ CHIỀU

 

Em về với chút hoang sơ

Thả vào tôi chút ngẩn ngơ cuối chiều.

 

Tôi cười giỡn gió lêu bêu

Quờ tay nhẹ nhẹ khẽ khều nắng non

Em cười, nhí nhảnh gót son

Thẹn thùng tôi, rõ mắt tròn ngác ngơ...

 

Từ chiều đấy cứ vẩn vơ

Hoang sơ thả chút ngẩn ngơ với chiều.

*.

Hà Nội, chiều 08 tháng 12-2022

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

baothang_xuanxuyen@yahoo.com.vn

 

READ MORE - HOANG SƠ CHIỀU - Thơ Đặng Xuân Xuyến

CON GIẪM PHẢI MÙA ĐÔNG - Thơ Đoàn Trung Phong

 


CON GIẪM PHẢI MÙA ĐÔNG 

 

Nhặm buốt chân trần con giẫm phải mùa đông 

Ngút chạp rồi gọng cải ngồng cũng lụi

Thương phía cổng làng bao độ rồi cứ một mình lầm lũi

Ngày xưa nào đã qua...

 

Nhàu nhĩ tiếng rên giữa vạt ổ gà

Bánh xe vênh chồng ký ức 

Con bò nép vệ đường nuốt điều gì hư thực 

Loang lổ ánh chiều nặng cả khúc tương tư 

 

Mẹ trách bây nhuốm phố thị đến chừ

Nhạt bấc đèn quê xa hoa miền tráng lệ 

Quán nhỏ gốc đa gom thứ gì mà cũ càng cất để

Giấc mơ con cong cả mái đình

 

Luống cày nghiêng mùa thức sớm với bình minh

Con đa đa trốn nơi nào thuở cũ 

Sao cổng làng im lìm mà lòng con ngột bề vần vũ

Run run đông gọi con về!

 

Đoàn Trung Phong

Quỳnh khôi, Khánh Thành, Yên Thành, Nghệ An

<gammayoto@gmail.com

READ MORE - CON GIẪM PHẢI MÙA ĐÔNG - Thơ Đoàn Trung Phong

Thursday, December 8, 2022

ĐỌC “TỨ HỮU ĐỒNG VỌNG” TẬP THƠ CỦA 4 TÁC GIẢ - Châu Thạch


  
“Tứ Hữu Đồng Vọng” là tuyển tập thơ của 4 tác giả, họ tự xưng là “Bốn chàng lãng tử bốn câu thơ tàn”. Tác giả được giới thiệu đầu tiên trong sách là Lê Giao Văn, quê Quảng Nam, hiện sống tại Bà Rịa – Vũng Tàu. Tác giả thứ hai là Minh Đạo quê Thừa Thiên – Huế. Tác giả thứ ba là Hồ Kim Công quê Quảng Nam. tác giả thứ tư là Nguyễn Minh Hồ quê Bến Tre. Cả ba tác giả sau đều sống tại thành phố Thủ Đức – Hồ Chí Minh.
   
Đây là tuyển tập thơ 4 câu, dày 146 trang của 4 tác giả “đồng thanh tương ứng”. Châu Thạch tôi mạo muội xin đơn cử mỗi tác giả một bài thơ mà mình yêu thích theo chủ quan để viết đôi lời cảm nhận, hầu gởi đến quý vị yêu thơ và không chê văn Châu Thạch, có một vài phút vui nghe Dế gáy. Không dám viết dài vì sợ mệt mắt mệt tâm quý vị.
 
Lê Giao Văn (Văn Anh Tuấn): Xin chọn bài thơ có tựa đề  “Thắp” trong 32 bài thơ ông đăng trong “Tứ Hữu Đồng Vọng”.
 
THẮP!
   
Thắp tâm - hồn sáng làm người
Thắp tình - rực rỡ nụ cười thơm hoa
Thắp thơ  - mới rõ xót xa
Thắp trăng – ôm trọn quan hà vào mơ!
 
Thơ 4 câu là một loại thơ dễ làm nhưng khó hay, dễ làm vì nó ngắn, khó hay vì nó chỉ có 4 câu nhưng phải làm nổi bậc một ý nghĩa, một nỗi niềm, đánh động trực chỉ nhân tâm vào khiếu thẩm thấu văn chương của người đọc, khiến họ thăng hoa ngay như vừa bắt gặp một điều thú vị.
 
Bài thơ “Thắp” của Lê Giao Văn có 4 câu thơ là 4 câu triết lý tròn ý nghĩa. Chữ tâm có thể viết được trăm trang trong giáo ly tôn giáo, trong đạo đức làm người, nhưng rõ ràng khi tâm đã được thắp lên là ánh sáng chân lý làm cho tỏ rạng tâm hồn con người. Chữ tình mang ý nghĩa sâu xa và cao rộng trong đó có tình yêu trai gái và tình người. Chữ tình được thắp lên sẽ cho tâm hồn thăng hoa để hương tâm hồn lan toả, để thấy cuộc đời tươi đẹp. Chữ thơ diễn tả mọi tâm tư trong cuộc sống. Thắp thơ lên là thắp nguồn trong trẻo vô biên để soi rọi ngóc ngách của tâm hồn, trong đó hiểu được những niềm vui mà đời ban tặng cùng những xót xa mà đời đem đến. Cuối cùng trăng là thứ “nằm sòng soãi trên canh liễu”, là thứ “Ánh sáng tuôn tràn cả lối đi”. Nhà thơ thắp trăng lên để hoá thân vào vũ trụ, dang tay ôn trọn quan hà trong giấc mơ cao rộng của mình.
 
Bài thơ “Thắp” chỉ có 4 câu nhưng đã đưa ánh sáng của nhân phẩm, của tình người, của nội tâm và của thiên nhiên lung linh chiếu sáng, soi rọi chân lý viên miễn thắp sáng lên giữa cuộc đời tục luỵ!
 
Minh Đạo (Dương Đức Lộc): Xin chọn bài thơ có tựa đề “Ước” trong 32 bài thơ tác giả đăng trong “Tứ Hữu Đồng Vọng”
 
       ƯỚC     
                     
Mấy lâu ước được lên ngôi    
Mà duyên chẳng đến nên ngồi đợi trông      
Thấy tim chợt đổi máu hồn     
Y như cánh nhạn bay vòng quanh ta 
  
“Ước” của tác giả Minh Đạo là ước mơ. Ước mơ là sự khao khát của mỗi người chúng ta, ao ước về một điều gì đó vật chất hay tinh thần. Ước mơ thường là mục tiêu hướng đến trong cuộc sống. Ước mơ cho ta mộng tưởng và làm cho  cuộc đời thú vị hơn. Tuy thế, ước mơ không thành dễ đem đến cho ta chán đời, mặc cảm. Bài thơ của Minh Đạo nói về những ước mơ không thành. Nhà thơ ước được lên ngôi, có thể lên ngôi trong cuộc sống, hay lên ngôi trong tình yêu, nhưng sự lên ngôi đó không thành bởi duyên không đến, khiến người ước mơ dài năm tháng chờ mong.
   
Bài thơ không có gì để nói nếu không có hai câu thơ sau: “Thấy tim chợt đổi máu hồng/Y như cánh nhạn bay vòng quanh ta”. Đây là hai câu thơ lạc quan. Ước mơ không thành nhưng ước mơ đã làm thăng hoa trong cuộc sống. Máu hồng trong tim là niềm vui trong trái tim lành mạnh, cánh nhạn bay vòng thể hiện  một bầu trời tự do cho những hy vọng bay lượn trên cao.
   
Nhà thơ Minh Đạo có nhiều ước mơ không thành, nhưng không ưu tư, không buồn phiền, không mặc cảm, lại nẩy sinh ra nhiều hình ảnh đẹp quanh ông. Chính điều nghịch lý với sự thường tình khiến cho ý thơ thẩm thấu vào tâm hồn ta. Những thi vị trong suy tư mới lạ và sâu nhiệm đem vào thơ, làm cho bài thơ 4 câu trở thành độc đáo! Đọc thơ ta nghe như những ước mơ chưa thành trở nên sinh khí làm nóng dòng máu đỏ trong con tim đầy mong muốn, làm nhẹ đi nỗi buồn thất vọng, chia ly và tình yêu  mãi mãi hoài mong.
 
Hồ Kim Công: Xin chọn bài thơ có tựa đề “Chơi Vơi” trong 32 bài thơ đăng trong “Tứ Hữu Đồng Vọng”.
 
CHƠI VƠI
 (Tặng D)
 
Sao nàng sơn nữ cứ trêu ngươi
Giang rộng đôi tay với tới trời
Nơi núi giao mây hoà cảm xúc
Khiến cho hồn lạ cũng chơi vơi
    
Bài thơ chỉ là một bức tranh đẹp, một bức tranh đẹp mà được diễn tả nổi bậc trong 4 câu thơ là một thành công nổi bậc.  Nàng sơn nữ giang rộng đôi tay trên đỉnh non cao tiếp với mây trời, dưới chân nàng chắc chắn trùng trùng điệp điệp rừng xanh có vô vàn khe suối. Đó là một bức tranh nên thơ và hùng vỹ. Bức tranh nên thơ và hùng vỹ đó được người hoạ sĩ vẽ bằng thơ bởi những nét chấm phá điểm xuyết, đủ khơi dậy trí tưởng tượng của con người thấy được toàn cảnh.
 
Hình ảnh đẹp của nàng sơn nữ làm “trêu ngươi” người đứng ngắm. Trêu ngươi có nghĩa là làm cho người ta bực mình một cách cố ý. Ở đây trêu người có nghĩa ngược lại, nghĩa là làm cho đắm đuối đôi mắt người thưởng thức. Hai câu thơ tả tình trước rồi tả cảnh sau đã vẽ được thắng cảnh và nói được diễn biến trong tâm hồn người ngắm.
  
Thế rồi hai câu thơ tiếp hoà điệu được cảm xúc của con người cùng núi cao mây trời trong vô vi vũ trụ. Hai câu thơ “Nơi núi giao mây hoà cảm xúc/Khiến cho hồn lạ cũng chơi vơi” đã nhân cách hoá núi và mây và con người đồng điệu trong sự rung cảm của con tim. Hình như mọi vật bây giờ đều chơi vơi, chơi vơi bởi hình ảnh tuyệt đẹp của người sơn nữ đang giang rộng đôi tay hứng vũ trụ vào lòng.
 
Bài thơ 4 câu của Hồ Kim Công chỉ là một bức tranh, nhưng là một bức tranh treo mãi trong tâm hồn ai thẩm thấu được màu sắc, âm thanh và con tim rung động trong thơ.
 
Nguyệt Minh Hồ (Đỗ Minh Huệ): Xin chọn bài thơ “Mang Đi” trong 33 bài thơ tác giả đăng trong “Tứ Hữu Đồng vọng”:
 
MANG ĐI
                   
Cánh phượng em hái cạnh nhà                 
Mang theo từ đó…đi xa                  
Tâm tư bao mùa phượng nở                    
Bón xanh tưới gốc si già
   
Như tôi đã nói ở trên, thơ 4 câu dễ làm khó hay, bài thơ phải như một chiếc hồ lô có phép thuật chứa đựng con người, không gian, thời gian và mọi vật. Tất nhiên bài thơ “Mang Đi” của nhà thơ Nguyệt Minh Hồ chưa phải là chiếc hồ lô, nhưng đây là một bài thơ 4 câu chứa nhiều ẩn dụ về một mối tình buồn, và cô đọng không gian, thời gian của cuộc tình ly cách.
 
Câu thơ “Cánh phượng em hái cạnh nhà” không khác chi câu thơ “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi/Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn” trong bài thơ “Người Hàng Xóm” của Nguyễn Bính. Rồi thì người con gái mang cánh phượng kỷ niệm đi xa, để thi nhân ở lại với tâm tư nhớ thương mỗi mùa phượng nở. Tình yêu như trăm ngàn tình yêu đầu đời khác, bài thơ như trăm ngàn bài thơ tình đầu khác, khác chăng là câu thơ thứ 4 thành một tứ thơ lạ kỳ, độc đáo, mang trọn vẹn ẩn ý về một cuộc tình lớn lên trong năm tháng đợi chờ.
 
Người con trai trong thơ đã ôm mối tình, nhớ thương chờ đợi tháng ngày, và cứ mỗi mùa phượng nở thì tình yêu sâu đậm thêm. Cây si là ẩn dụ của tâm tư thương nhớ, cây si xanh là mối tình cứ lớn theo tháng năm. Gốc si gìà là cây đã thành cổ thụ, cây thành cổ thụ nghĩa là tình đã trải qua mưa gió, vươn cao giữa đời trong phong ba bão táp.
 
Câu thơ chót “Bón xanh tưới gốc cây già” trong bài thơ “Mang Đi” làm đôi cánh cất bài thơ bay cao. Bài thơ tưởng như đơn sơ, từ ngữ nhẹ nhàng nhưng tan chảy âm thầm trong thơ một tình yêu thuỷ chung, trường tồn và sâu đậm.
 
Bốn bài thơ trên đây của 4 tác giả không phải là những bài thơ hay nhất trong tập “Tứ Hữu Đồng Vọng”. Đó chỉ là 4 bài thơ người viết thấy hợp với mình trong phút giây chọn lựa. Ước mong quý vị có cơ hội đọc tập thơ để hoà điệu với những vần tuyệt tác mà 4 thi nhân đã đồng vọng giữa vườn thơ trong trẻo vô biên và quyến luyến!
                                       
Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC “TỨ HỮU ĐỒNG VỌNG” TẬP THƠ CỦA 4 TÁC GIẢ - Châu Thạch

VĂN TẾ ANH HÙNG THIÊN HỘ DƯƠNG – Kha Tiệm Ly


Nhà văn Kha Tiệm Ly

Than ôi!
 
Rừng Gò Tháp mấy dặm sầu giăng,
Dân Cao Lãnh muôn hàng lệ đổ!
Nhớ người hào kiệt, cỏ cây lúc thảm lúc sầu
Xót kẻ hùng anh, trăng sao khi mờ khi tỏ!
 
Nhớ xưa,
 
Sông Côn (1) trùng trùng linh mạch, sản sinh bao liệt nữ kiên trung,
Núi Thơm (1) ngân ngất khí thiêng, phát tích những anh tài văn võ.
 
Thôn Cù Lâm (1) xuất thiếu niên tài tuấn, đấu vỏ, kéo bè, sức mạnh siêu quần, dân lành cùng thời tôn gọi Ngũ Linh (2)
Đất Ba Giồng (3) nạp hào kiệt hảo bằng, đánh Tây, dẹp Rợ, công cán hơn người, vua sáng đương triều sắc phong Thiên Hộ.
 
Súng Lang Sa đạn bay sáu tỉnh, gót giày đinh dẫm nát xóm thôn; tàn ác sao loài quỷ trắng hung tàn.
Người Nam Kỳ lệ ngập chín sông, tiếng than oán thấu tận trời xanh, thương xót quá kiếp dân đen thống khổ !
 
Kẻ im miệng thì bị rỉa thịt rút xương,
Người phản kháng phải chịu cắt hầu chặt cổ!
 
Vì thế, Võ tướng quân:
 
Trương cờ nghĩa nạp đệ huynh bốn hướng; cờ bảo quốc, cờ an dân, cờ giành lấy độc lập tự do,
Tuốt gươm thiêng kết giao hào kiệt ba miền; gươm trừ ác, gươm diệt thù, gươm chém tan ba đào giông tố.
 
Xứ Ba Giồng chiêu dân lập ấp, gạo trắng nước trong: chỗ lý tưởng cho nghĩa sĩ ẩn mình.
Đất Gò Tháp xây lũy ngăn thù, bưng rộng trấp sâu: vùng đắc địa để  anh hùng dụng võ.
 
Bài quyền Yễm Bách (4), nhắm quân thù giương mạnh thần cung, tên bắn mút tầm,
Đường roi Song Đôi (4), cùng hảo hán chỉ thẳng bảo đao, ngựa phi thẳng vó!
 
Rõ ràng!
 
Tháp Mười đầm lầy miên dã, tạo bao tử địa quỷ khốc thần sầu.
Cao Lãnh cạm bẫy kinh người, góp những chiên công trời long đất lỡ.
 
Trận Mỹ Trà (5) giáp công ba mũi; phá tàu thủy, phá nhà việc, phá hết kho tàng; quân thù nghẹt xác.
Trận hỏa công lửa cháy bốn bề; đốt thằng lính, đốt thằng quan, đốt rụi cánh đồng; lính Tây phơi sọ (6).
 
Rắn thần (7) nhe nanh há họng, mổ thằng nhỏ, mổ thằng to, đám quan binh súng bỏ đầy đường.
Trâu binh (8) hữu đột tả xông, chém đằng trước, chém đằng sau, lũ cướp nước thây nằm vô số!
 
Dân Mỹ Ngãi, dân Ba Giồng, Rạch  Ruộng (9)…,  sát cánh kề vai, bám thế đất, quyết đưa thuyền độc lập cặp bờ.
Đốc Binh Kiều, Lảnh Binh Thăng, Bà Bướm (10)…chung lưng đấu cật, dựa lòng dân cùng trương buồm tự do căng gió.
 
Cao quý thay!
 
Trời cao lồng lộng, vì độc lập giống nòi, chí anh hùng đặt tại non cao.
Súng đạn ầm ầm, vì cơm áo muôn dân, chuyện sanh tử xem như cây cỏ!
 
Xông pha sóng gió, tay giữ vũng chèo,
Đối mặt quân thù, gươm bung khỏi vỏ.
Đồng Tháp Mười thập phần hiểm trở, địch quân càng mạnh, càng kiên định chồng thù.
Dòng Cửu Long chín khúc liệt oanh, giông tố càng to càng oai hùng sóng vỗ
 
Oanh liệt thay!
 
Dù nửa đời oanh liệt, mà dân Nam Kỳ chích đầu với mảnh khăn tang,
Bởi một trận cuồng phong, mà thần Biển Cả rước người về cùng tiên tổ!
 
Sống một lần, uy danh làm khiếp vía với vạn vạn địch quân, nào cần chi sắc phán đại thần,
Thác một lần, tên tuổi được tôn thờ trong triệu triệu trái tim, đâu cầu được siêu thăng tịnh độ!
 
Máu ghi công, xương ghi đức, sử sách thiên thu ghi nét chữ rành rành.
Sống làm tướng, thác làm thần, nhật nguyệt nghìn năm soi tiếng tăm lồ lộ.
 
Người đương thời than:
“Ai về Đòng Tháp mà coi,
Mộ ông Thiên Hộ trăng soi lạnh lùng”
 
Ô hô!
 
Máu cần phải đỏ, máu cần phải tươi, máu đổ vì dân, không hổ thẹn muôn người.
Mộ đâu cần lớn, mộ đâu cần cao; mộ ở lòng người mới trường tồn thiên cổ.
 
Sống vì dân, sống vì nước, bia đá khắc sâu người ái quốc vạn kỷ không phai
Nghĩa bằng biển, nghĩa bằng non, sử xanh đậm nét tiếng anh hùng thiên thu còn đó.
 
Xót thương thay!
 
Thương anh hùng xả thân cứu nước, bao ngày vào tử ra sinh.
Thương nghĩa binh đổ máu phơi xương, cả đời dầm sương dãi gió!
 
Thương người quên mình vì nước mà xác thân dập vùi nơi góc biển ven gành.
Thương người gởi xác sa trường mà hồn phách dật dờ chốn ngàn lau nội cỏ!
 
Thương người tăm hơi vời vợi, chập chờn trong con sóng lênh đênh,
Thương ai chiếc bóng lạnh lùng, hiu hắt dưới đèn khuya mờ tỏ!
 
Nợ tổ quốc, nợ đồng bào dù đã vẹn toàn,
Nợ anh hùng, nợ tào khang vẫn còn dang dở!
 
Tướng quân ôi!
 
Nợ dân đã trả, thần nhân sao chẳng nghênh ngang gõ bước về trời,
Chí lớn đền xong, anh hùng sao chưa ung dung vén mây lướt gió?
 
Ân như sông, ân như núi, đã được muôn người ghi dạ khắc xương,
Danh dậy đất, danh dậy trời, đâu cần mấy tiếng khua chiêng đánh mõ?
 
Hôm nay,
 
Muôn người vọng bái, chốn đền thiêng nghi ngút khói trầm bay,
Một dạ hướng về, miền linh địa đớn đau dòng lệ nhỏ!
 
“Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục” (11) ; hình hài dẫu nát tan, nhưng ô nhục vạn kỷ vẫn lưu truyền,
“Khả mai cốt bất khả mai danh” (12); xương cốt bị chôn vùi, mà thanh danh thiên thu không hoen ố.
 
Ngôn từ vụng dại mà tâm ý vô cùng, kính tiễn đấng hùng anh ngọc bộ đăng trình.
Lễ vật thô sơ nhưng thâm tình viên mãn, ngưỡng mong đại tướng quân thần uy chiếu cố.
 
Bậc tiên hiền một thưở ban ân,
Chúng hậu sinh muôn đời ngưỡng mộ!
 
Thượng hưởng! 
                                                                                
                                                      KHA TIỆM LY
 
...........
 
Chú thích:
 
(1). Những địa danh tại quê hương Thiên Hộ
(2). Ngũ linh: 5 trái linh, mỗi trái 60kg, Võ Duy Dương xách 2 trái, cặp nách 2 trái, cắn 1 trái. Người đời thấy ông sức khỏe thần kỳ nên tôn ông là Ngũ Linh Dương.
(3). Ba Giồng: Địa danh ở Cao Lãnh, căn cứ địa của nghĩa quân
(4). Hai thế võ bí truyền của Thiên Hộ Dương
(5). Mỹ Trà: Một địa danh ở Cao Lãnh, nơi xảy ra trận đánh khốc liệt; quân Pháp đại bại
(6). Phơi sọ: Trong trận hỏa công, quân Pháp chết như rạ, thây phơi đầy đồng; cánh đồng nầy gọi là Đồng Phơi Sọ
(7). Rắn thần: Tương truyền Thiên Hộ Dương có rắn thần giúp sức.
(8). Trâu binh: Thiên Hộ Dương có một vị tướng có tài điều khiển trâu bằng mõ, được phong là Ngưu Quân Thượng Tướng.
(9). Những địa danh tại Đồng Tháp
(10). Tên những tướng lãnh của Thiên Hộ Dương
(11). “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục” (câu nói xưa): Thà chịu chết chớ không chịu nhục
(12). “Khả mai cốt bất khả mai danh” (câu nói xưa): Có thể chôn xương cốt chớ không thể chôn danh tiếng.

READ MORE - VĂN TẾ ANH HÙNG THIÊN HỘ DƯƠNG – Kha Tiệm Ly

LỤC NGÔN THƠ, LỤC LỤC NGÔN, LÒNG SUỐI CẠN – Thơ Chu Vương Miện

 


 
LỤC NGÔN THƠ
 
trước mặt là duềnh nước mặn
sau lưng là dẫy thùy dương
ta đứng giữa trời đất rộng
phía xa là mấy con thuyền
minh mông một trời mấy nước
buồn vui giữa nắng hoàng hôn
 
bờ sông bên lở bên bồi
con sông quanh co khúc khuỷu
họa hoằn có đoạn chẩy xuôi
phía trái trường sơn trùng điệp
ven đường hoa nở thêm vui
thuyền trôi lững lờ trên nước
chiều trôi trên bãi tân bồi
 
cũng rầu làm thân con bướm
ở không bay tới bay lui
người sống chả hay chả biết
người chết khóc lóc rồi thôi?
thân thiết có chàng Nguyễn Bính
giờ đây xanh cỏ mất rồi?
làm thơ dăm ngàn cách trở
bây chừ 1 ánh trăng soi
 
chim bông lau cánh đồng lau
anh đi trước em đi sau
gió ngược chúng mình tơi tả
tóc tai nghiêng ngả trên đầu
trước mặt là thung xám nghoét
bên triền một cánh đồng dâu
 
có người thề để mà nhớ
có người thề để mà quên
người nói như đinh đóng cột
có người nói xong liếm liền
có người hứa nhăng hứa cuội
có người thề thốt luôn luôn?
 
 
LỤC LỤC NGÔN
 
sáu năm hoa nở hoa rụng
nở một mình rụng một mình
hai người chả còn gì nữa
lặng lờ an phận loài rong
hoa nào vô ưu tĩnh mạc
hoa nào vô nghĩa vộ tình
trước mặt lòng thung lũng rộng
bốn bề bát ngát xa trông?
 
miếng trầu là đầu câu chuyện
văn chương nguồn cội oan gia
cũng chỉ dăm câu bằng trắc
mà sao? tù mãi tận giờ?
 
tội tình thay cho trận gió
thổi lá vàng thổi lá hồng
lá nào cũng rơi xuống đất
con gái nào cũng lấy chồng?
tội nghiệp thi nhân nốc rượu
uống cả ngày có hơn không?
 
núi bạc đầu từ nguyên thủy
tuyết phủ trắng tự bao giờ
mây lâu lâu lại xuống thấp
chỉ có đêm và có mưa
lâu lâu bầy chim trốn tuyết
bay vội vàng và quá xa
ta vẫn nằm thiu thiu ngủ
chớp mắt à một sát na
 
đi trên con đường phong đỏ
thời xưa chả phải thời giờ
lang thang con đường phong tím
không còn dang dấp cà ngơ
thời gian không còn xán lạn
 
lùa đi năm tháng lững lờ
hoa phượng gió bay lãng đãng
vô tình còn chút đường tơ
năm năm thay cành thay lá
làm sao? tìm lại bây giờ?
 
 
LÒNG SUỐI CẠN
 
vì lòng suối cạn trước thác cạn
sau trơ ra bờ vực đá tai
 mèo cá chết nổi khô trên mặt
cát bùn non chen lẫn cả rong
bèo đâu nghĩ có ngày giòng thác
cạn đáy hồ đập nước đá tai
heo hai bên thềm núi mây khát
gió mây xám về qua quá đèo
 heo người cạn trơ ra giòng tóc
cạn phương xa có lẽ chả nhớ
gì? sóng cuộn uốn quanh hàng lớp
lớp hàng dương xõa tóc khóc Cam
Li từng hàng nham thạch chờ hoang
phế bãi cát từ xưa đã võ
vàng người mới tóc đen chừ tóc
trắng một mẩu dã tràng biển lang
thang thì trước hay sau đều cạn
cả bãi bờ hưu hắt nỗi niêm
riêng sóng đâu cào mãi trên gành
đá xô trọn vào lòng Thái Bình
Dương
 
Chu Vương Miện

READ MORE - LỤC NGÔN THƠ, LỤC LỤC NGÔN, LÒNG SUỐI CẠN – Thơ Chu Vương Miện

Chùm ảnh HOA CACTUS MÀU TRẮNG - Chu Vương Miện

 (Bấm chuột vào ảnh để phóng ảnh lớn hơn.)











READ MORE - Chùm ảnh HOA CACTUS MÀU TRẮNG - Chu Vương Miện

Chùm thơ Ngày PHẬT THÀNH ĐẠO - Mặc Phương Tử

 


Chùm thơ 

Ngày PHẬT THÀNH ĐẠO



PHẬT


Sen thơm miền Cực Lạc

Sen thơm cõi ta bà.

Tìm ra; đây đó khác,

Ngồi lại; Phật hằng sa.




GIÁO HOÁ


Phật gọi tỳ kheo đến

Mở ra phương trời tâm.

Ngồi bên bờ ảo ảnh,

Mà nghe lời thậm thâm.




YÊN TĨNH


Phật ngồi trên đỉnh tuyết

Mà sau cõi dâng bông.

Đá ngồi bên hồn nguyệt,

Nghe tĩnh giọt sương trong.





MIỀN SINH DIỆT


Hoa nở bên trời hạnh

Thơm lừng hương cõi tâm

Ở đây miền sinh diệt,

Tụng bài kinh thậm thâm.





NHIỆM MẦU


Ta rót vào cõi mộng

Một chút niềm suy tư.

Để nghe từ cuộc sống,

Ngàn hương hoa nhiệm mầu.



South Dakota, 6/12/2022.

MẶC PHƯƠNG TỬ




READ MORE - Chùm thơ Ngày PHẬT THÀNH ĐẠO - Mặc Phương Tử

MÙA XUÂN VỀ PHƯƠNG NAM - Thơ Nguyễn An Bình

 



NGUYỄN AN BÌNH

 

MÙA XUÂN VỀ PHƯƠNG NAM


Ta như cánh én trôi về Phương Nam

Theo đường bay của loài chim di trú

Mùa xô nghiêng giấc mơ ta ngày cũ

Nước sông Tiền reo nắng đục mưa trong.


Thả tình mình trên ngọn sóng Cửu Long

Mấy câu hò cũng nên duyên chồng vợ

Bài vọng cổ xa xưa em còn nhớ

Kiếp thương hồ chìm nổi nhịp song lang.


Ơi nắng xuân sao xanh mướt mỡ màng

Dòng nhựa ấm nẩy chồi non lộc lá

Giọt mưa xuân thấm sâu vào đất mẹ

Dậy đất trời đánh thức một mùa hoa.


Dẫu lỡ bồi thơm mãi hạt phù sa

Lời ước hẹn mùa xuân vừa chạm ngõ

Tuổi trẻ ta giống cánh diều thuở nọ

Mãi ham vui đâu nhớ tiếng em cười.


Cho ta gọi hai tiếng “Phương Nam” ơi 

Dòng sông Hậu mang mang tình đất nước

Sắc hoa vàng lung linh ngoài hiên trước

Đón ta về - bóng mẹ có còn không?


5/12/2022

Nguyễn An Bình

luongmanh2106@gmail.com









READ MORE - MÙA XUÂN VỀ PHƯƠNG NAM - Thơ Nguyễn An Bình