Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, November 7, 2021

CHO EM | NGUYỆT KHUYẾT - Thơ MacDung

 

Nhà thơ MacDung

CHO EM

 

Ta không trao em một trái tim

Vì đã có người dâng tặng

Cùng nỗi đau quặn đắng…

Ta chỉ tặng em khung trời yên lặng

Vương gió mây bay

Trăng vàng soi lối…

Kết nối niềm tin lung linh sợi nhớ!

Tơ trời thắt chặt nụ hồng…

Cho bài thơ muôn thuở!

Sự dang dở đến tự hai đầu…

Ghép vụng khéo hay hạnh lành ý nghĩa gì đâu?

Chủ yếu nhìn mùa hoa ngâu nở…

Trong sắc Xuân đợi chờ…

Bỡ ngỡ mối tình chung…

 

VL – 10.2.2019

MacDung

 

NGUYỆT KHUYẾT

 

Khuyết một vầng trăng

Vàng lên lối vắng

Gội tóc cho nàng thẹn mặt đỏ vì sao…

Ta muốn hoán thân làm con đò nhỏ

Gửi bên em chút ánh sáng nặng tình.

Buổi bình minh…

Giã từ trăng lóng lánh…

Còn chăng em? Cơn gió thoảng qua mành…

Say nữa đi…

Đêm nồng đâu còn mãi…

Lần lữa chi đời ngắn… khó thêm dài…

Lọn tóc ai bay…

Trăng cài nếp rối

Thiếu bàn tay vuốt ngủ sợi ngần trôi

Cười mặn môi…

Trời gieo si đắng lạ!

Đuổi vô tình giọt lệ mọng phù sa…

 

VL – 28.2.2019

MacDung

 macdungvh@gmail.com

 

 

READ MORE - CHO EM | NGUYỆT KHUYẾT - Thơ MacDung

HÔN QUÂN LƯU TỬ NGHIỆP VÀ VAI DIỄN CỦA TRƯƠNG DẬT KIỆT - Đặng Xuân Xuyến



 HÔN QUÂN LƯU TỬ NGHIỆP 

VÀ VAI DIỄN CỦA TRƯƠNG DẬT KIỆT

Đặng Xuân Xuyến

*

- Viết tặng con yêu Đặng Tuấn Hưng -

 

Theo chính sử Trung Hoa thì Lưu Tử Nghiệp, tự Pháp Sư, là con trưởng của Hiếu Vũ đế (vua Lưu Tuấn) và Vương Hoàng hậu. Nghiệp sinh năm 449, chết năm 465, ở ngôi vua chưa đầy hai năm. Mẹ của Lưu Tử Nghiệp là một phụ nữ hiền thục, có công rất lớn trong việc củng cố ngôi Thái tử và đưa Lưu Tử Nghiệp lên ngôi Hoàng đế.

Theo sách Sử Trung Quốc thì Lưu Tử Nghiệp "ít tuổi mà cường bạo, khi lên ngôi thì sự ngang ngược lại càng quá quắt, thông dâm với cả chị ruột là Sơn Âm công chúa” đều do Hoàng hậu Vương Hiến Nguyên sinh ra. Lưu Tử Nghiệp còn đưa em gái ruột của vua cha (Hiếu Vũ đế) là công chúa Tân Sái Trường (còn gọi là Tân Thái) vào cung lập làm "tiểu thiếp". Khi bị chú rể phát hiện, Lưu Tử Nghiệp đã thằng tay tàn sát cả gia đình chú rể.

Sử Trung Quốc còn chép: “Nhà vua dạo chơi ở Trúc Lâm đường trong Hoa Lâm Viên, bắt các phi, cung nữ và tả hữu cởi truồng theo sau, hoặc bắt một số nữ hành lạc với một nam, hoặc một số nam hành lạc với một nữ. Lại bắt cung nhân cởi truồng giao cấu với dê đực, khỉ hoặc chó, lại trói ngựa đặt nằm ngửa trên mặt đất, bắt cung nhân lõa thể mà giao hợp với ngựa. Một cung nữ không chịu, liền bị chặt đầu.”

Như vậy, Lưu Tử Nghiệp không chỉ là kẻ loạn luân mà đích thực y còn là kẻ thác loạn trong tính giao.

Hình tượng hôn quân Lưu Tử Nghiệp trong bộ phim PHƯỢNG TÙ HOÀNG (52 tập, phát sóng năm 2017) được các nhà làm phim Trung Quốc tái hiện không hoàn toàn dựng theo chính sử, mà gia giảm “cốt truyện” để “biến tấu” hình ảnh Lưu Tử Nghiệp bớt xấu xí và tàn ác trong mắt khán giả. Các nhà làm phim đã đưa tính chân thực xuống hàng thứ yếu nên gia giảm (hư cấu) nhiều tình tiết “cốt truyện” về Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp trong các mối quan hệ “mắt xích” với Lưu Sở Ngọc, Lưu Úc, Lưu Hưu Nhân... để tái hiện hình ảnh Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp “cũ mà mới”, “quen mà lạ” với khán giả là những bạn đọc có sự hiểu biết về triều Lưu Tống là khá mạo hiểm, rất dễ thất bại khi công chiếu nhưng khi phim được khởi chiếu, xem Trương Dật Kiệt thể hiện hình ảnh "thằng vua trẻ con ngang ngược tàn ác" Lưu Tử Nghiệp thì khán giả dù khó tính cũng trầm trồ trước tạo hình Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp mới nhưng không lạ, quen mà không cũ qua diễn xuất “đóng đinh cho vai diễn” của nam diễn viên còn quá trẻ Trương Dật Kiệt.

Trương Dật Kiệt sinh năm 1999, bắt đầu tham gia đóng phim năm 2010. Khi tham gia phim PHƯỢNG TÙ HOÀNG anh mới 16-17 tuổi, đã thể hiện xuất sắc vai diễn, làm sống lại một Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp tàn ác, phóng túng, loạn luân và bất đạo như trong chính sử (Trung Quốc) và làm mới hình ảnh hôn quân Lưu Tử Nghiệp với những trắc ẩn, đáng thương của “vị đế vương trẻ con đa nhân cách Lưu Tử Nghiệp”.

Xem Trương Dật Kiệt diễn, khán giả như đang được chứng kiến cuộc đời thực của Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp, với những hỉ nộ ái ố của một vị vua trẻ con trong độ tuổi mới lớn, ở tâm lý tuổi nổi loạn, muốn khẳng định cái tôi chủ quyền tối thượng của mình. Bực đấy, căm tức đấy nhưng rồi người xem cũng động lòng trắc ẩn với những uẩn khúc, những bi thương trong quãng đời quá ngắn ngủi nhưng cũng có quá nhiều việc làm xằng bậy, càn quấy của hôn quân Lưu Tử Nghiệp.

Tôi đã bị “Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp” hớp hồn ngay từ những thước phim đầu với cách nhếch miệng cười khẩy, cách phụng phịu bực tức, cách hất tay đuổi cung nữ... đều mang dáng dấp còn “trẻ con” của hôn quân Lưu Tử Nghiệp. Ở những thước phim này, người xem thấy một đế vương còn “con nít”, phách lối kiểu con nít, vẫn phảng phất còn chút ngây thơ, chút bản tính lương thiện khiến người xem ghét đấy mà cũng thương đấy nhưng đến những thước phim sau đó, ở phân đoạn Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp cho gọi “2 con lợn” (cách Nghiệp gọi 2 chú ruột của y) đến để y “kiểm tra” thể trạng trước ngày “cho lên vỉ nướng”, Trương Dật Kiệt đã làm người xem bất ngờ về tài biến hóa hình tượng vai diễn đa nhân cách của anh. Vừa mới hí hửng cười ngặt nghẽo trêu chọc “con lợn” Trư Vương Lưu Úc (tức Lưu Tông Minh Đế, người kế ngôi vua sau khi Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp đã bị giết chết) với vẻ khoái chí của "con nít” ở độ tuổi mới lớn, nhưng khi nghe Kiến An vương Lưu Hưu Nhân (diễn viên Khương Bành) lớn tiếng hạch tội: - “Lưu Tử Nghiệp! Ngươi vừa đăng cơ liền vội vàng giết chết huynh đệ ruột của mình. Bây giờ với các thúc thúc của ngươi, sỉ nhục đủ điều, hận không thể giết họ nhanh hơn chút. Rốt cuộc bọn ta đã làm sai điều gì mà ngươi đối xử với bọn ta như heo như chó. Ngươi đừng có quên đây là thiên hạ của nhà họ Lưu không phải của một mình Lưu Tử Nghiệp ngươi đâu. Ngươi cứ cốt nhục tương tàn như vậy, tung hoành ngang dọc khiến người trong thiên hạ không yên ổn rồi!”, đã chuyển phắt sang sắc mặt lạnh tanh rồi chiếu ánh mắt đằng đằng sát khí tiến về phía Kiến An vương Lưu Hưu Nhân với tác phong lạnh lùng, bình thản của kẻ quyền uy tối thượng: - “Ngươi nói lại lần nữa xem! Ngươi không nói ta còn không biết đó chứ! Ngươi bất mãn với ta nhiều như vậy sao?”. Tưởng sẽ giết chết ngay Kiến An vương Lưu Hưu Nhân nhưng Lưu Tử Nghiệp lại phá lên cười, thích thú với trò tiêu khiển mới khi phát hiện Trư Vương Lưu Úc (diễn viên Lưu Ân Thượng) vì sợ quá mà tè ra quần. Sự độc ác, tàn bạo của Lưu Tử Nghiệp được đẩy lên điểm tận cùng khi trêu đùa đã chán chê Trư Vương Lưu Úc, y liền tiến tới Kiến An vương Lưu Hưu Nhân, chiếu ánh mắt sắc lạnh cùng giọng nói rành rẽ nặng những âm khí chết chóc: “Được rồi! Đợi Trư Vương giải quyết xong việc lớn, 2 các ngươi lại cùng nhảy lên vỉ nướng xem nào. Ta lại rất muốn nhìn xem Hoàng thúc ngươi lúc ở trong lửa nóng có thể kiên cường giống bây giờ hay không?”. Rồi phá lên cười đắc thắng bằng vẻ mặt hả hê của một thằng trẻ con độc ác.

Xem Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp, tôi thích cách diễn của Trương Dật Kiệt ở những phân đoạn mà cái ác của Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp được đẩy đến đỉnh điểm như khi y cho gọi 2 chú ruột là Lưu Úc và Lưu Hưu Nhân đến để y kiểm tra “thể trạng” trước ngày “cho lên vỉ nướng”, hay khi Lưu Tử Nghiệp hành xử bất đạo, thảm sát hàng loạt cung nữ ngay ngày đầu Đại tang Thái Hậu (mẹ đẻ của y), hoặc khi y ra lệnh giết hết đám trẻ hát bài đồng dao “Hoàng đế thật hoàng đế giả”... Sự phẫn nộ trước những việc làm tàn ác, bất đạo của khán giả với Lưu Tử Nghiệp được Trương Dật Kiệt đẩy lên điểm đỉnh cao trào nhưng cũng (gần như) liền ngay sau đấy Trương Dật Kiệt lại “hạ nhiệt” sự phẫn nộ đó bằng những diễn xuất “bao biện” cho cái ác của Lưu Tử Nghiệp được phát sinh từ sự phách lối, ngang ngược bởi tâm hồn bị khuyết tật của một đứa trẻ. Ở các phân đoạn này, Trương Dật Kiệt đã để tính cách “vẫn còn trẻ con” chi phối những hành động bộc phát của Lưu Tử Nghiệp khi yêu, khi ghét, khi giận dữ, khi làm các việc tàn ác, bất đạo... khiến người xem vừa căm, vừa hận, vừa ghét, vừa động lòng trắc ẩn thương Lưu Tử Nghiệp. Đành rằng tạo tính cách cho hình tượng nhân vật Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp là do ý tưởng của tác giả kịch bản và ý đồ của đạo diễn nhưng với sự nhập vai của diễn viên Trương Dật Kiệt thì ý đồ đó không những đã thể hiện sắc nét mà còn được thăng hoa xuất sắc qua diễn xuất đóng đinh cho vai diễn của Trương Dật Kiệt. Xem Trương Dật Kiệt diễn, người xem ngộ ra điều: Cái ác không phải tự nó sinh ra mà nó được bắt nguồn từ những nguyên nhân sâu xa do chính con người (trong đó có cả những nạn nhân) góp phần khởi tạo, bởi con người vốn dĩ như người xưa đã nói: “Nhân chi sơ tính bản thiện”.

Một điểm nhấn trong thành công ở vai diễn Tiền Phế đế Lưu Tử Nghiệp là Trương Dật Kiệt diễn nội tâm rất giỏi, nhất là khi xem những phân cảnh ở những phân đoạn có sự xuất hiện nhân vật Lưu Sở Ngọc (diễn viên Quan Hiểu Đồng) người xem cảm nhận được bản chất hiền lương vẫn còn sót lại, với những khao khát yêu thương được sẻ chia, được bù đắp bên cạnh sự nổi loạn phách lối của tính cách ngang ngược, hung ác... trong con người đa nhân cách của quân vương trẻ con Lưu Tử Nghiệp. Những thể hiện xuất sắc qua sắc thái của ánh mắt, nụ cười, hay cái cau mày, nhếch miệng hoặc cử chỉ nũng nịu, đến cái mím môi, quắc mắt khi trở mặt... đều rất có hồn ở từng phân cảnh cụ thể của diễn viên Trương Dật Kiệt đã dẫn dắt người xem cùng dõi theo sự phát triển kịch tính của nhân vật.

Xem những bộ phim như thế này mới thấy BỐ GIÀ của Trấn Thành, một bộ phim làm hao tốn kha khá giấy mực và thời gian tranh luận của những người làm điện ảnh ở Việt Nam đầu năm 2021, còn đứng ở vị trí bên dưới xa... xa lắm.

Dán lên đây tập phim về hôn quân Lưu Tử Nghiệp để các “tình yêu” nhấp chuột cùng xem:

phim: LƯU TỬ NGHIỆP (Mộ Phim) - Đặng Xuân Xuyến sưu tầm


 


https://youtu.be/4V_zH41azFM
READ MORE - HÔN QUÂN LƯU TỬ NGHIỆP VÀ VAI DIỄN CỦA TRƯƠNG DẬT KIỆT - Đặng Xuân Xuyến

Saturday, November 6, 2021

BOLERO TÍM, Thơ: Hồng Thúy_Nhạc: Phạm Mạnh Cương_Ca sĩ: Ngọc Mỹ,

 

 

 

BOLERO TÍM 

Thơ:Hồng Thúy 

Nhạc: Phạm Mạnh Cương 

Ca sĩ:Ngọc Mỹ 

Hòa âm:Đỗ Hải 

PPS: Hùng Đặng 

 

THƠ BOLERO TÍM

 

Xin nỗi buồn chỉ còn là mây khói 

Cho quên đi dư lệ của thời gian 

Bao yêu thương ước mơ tình mê đắm 

Bão giông nào mưa phủ xám trường giang 

Cà phê đắng như cuộc tình chợt vắng 

Nghe bồi hồi lá rụng úa trời xa 

Mộng tàn phai trái tim sầu đông giá 

Áo phố dài chờ ai giữa mùa hoa 

Mang tâm tư chơ vơ… từng bước về 

Chiều theo chiều sương lạnh ướt hoàng hôn 

Nửa vầng trăng tiễn đưa mù mịt gió 

Nửa u buồn soi mắt biển mầu khuya 

Sao không đến nắng vàng hong tay ấm 

Để bờ môi không tím giọt lời ru 

Chẳng còn nhau chuyện xưa giờ đã cũ 

Hẹn hò nhau… nên muôn kiếp nợ thiên thu… 

 

Hồng Thúy

 thuyban2001@yahoo.com

READ MORE - BOLERO TÍM, Thơ: Hồng Thúy_Nhạc: Phạm Mạnh Cương_Ca sĩ: Ngọc Mỹ,

GIẤC MƠ RƠM RẠ - Thơ Tịnh Bình





GIẤC MƠ RƠM RẠ
 
Trộm nghe lời cỏ sương thu
Đồng xa thưa tiếng chim gù nhặt khoan
Ạ ời cái ngủ cho ngoan
Giấc mơ rơm rạ chín vàng màu thu
 
Tao nôi cánh võng lời ru
Bướm vàng đậu nhánh mù u mất rồi
Cánh đồng sợi khói mồ côi
Chiều len lén nhớ bồi hồi thầm thương...
 
Hoa tim tím nở cuối đường
Mẹ còn gánh gió đội sương nao lòng
Bốn mùa thầm lặng trôi không
Cánh diều chở hạ bềnh bồng chân mây
 
Câu thơ khóc mướn thương vay
Mượn chiều ra ngõ tỏ bày tâm tư
Núi xa nhòa ảnh thực hư
Ngỡ như bóng núi trầm tư quê mình
 
Vén đêm choàng tỉnh bình minh
Giấc mơ rơm rạ vẽ hình quê thương...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)

READ MORE - GIẤC MƠ RƠM RẠ - Thơ Tịnh Bình

MỜI EM VỀ THĂM QUÊ TÔI - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Phạm Bá Nhơn - Ca sĩ: Đông Nguyễn

 

 

Nhac sĩ Mai Hoài Thu

maihoaithu999@yahoo.com


READ MORE - MỜI EM VỀ THĂM QUÊ TÔI - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Phạm Bá Nhơn - Ca sĩ: Đông Nguyễn

VÀI CHUYỆN VỀ COMMENT TRÊN FACEBOOK - Đặng Xuân Xuyến

 

Nhà thơ Đặng Xuân Xuyến



VÀI CHUYỆN VỀ

COMMENT TRÊN FACEBOOK


Đặng Xuân Xuyến

*

Mấy hôm trước, đọc comment của nhà thơ Đồng Thị Chúc: "Có nhiều nhà thơ muốn cách tân thơ, muốn "cải tiến" thơ, có người muốn cải tiến về nội dung, có người muốn cải tiến về sử dụng từ ngữ... Điều tiếc là người đọc chưa thích ứng được với sự "cải tiến" đó nên dần xa lánh thơ, họ không hào hứng khi nhìn những trang thơ trên báo hay sách thơ trên quầy.", tôi chợt nhớ có lần cháu tôi, Đặng Quang Hiệp, viết trên facebook thế này:

"Xác chữ rơi

Con mèo lười

Nhìn chuột ve vẩy đuôi bới chữ"

Lần đấy, định comment trêu Đặng Quang Hiệp: - "Cháu bị như thế này lâu chưa? Bác sĩ kê đơn thuốc thế nào?" vì biết vốn chữ nghĩa của cháu cũng chỉ đủ để dùng trong giao tiếp mưu sinh nhưng đọc những bình luận của mấy nhà thơ có nhiều thơ đăng báo Trung ương, báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn (có nhà thơ tên Nguyễn L. ở xứ Huế, còn tranh thủ vồn vã khoe: “Với 7 tập thơ của tôi đã in có 9 giải thưởng trong nước, 30 bài thơ được các nhạc sỹ nổi tiếng phổ nhạc như cố nhạc sỹ bộ trưởng Văn hóa Thông tin Trần Hoàn... và các nghệ sỹ nổi danh qua nhiều thế hệ từ năm 1979 đến nay hát như Thu Hiền, Kiều Hưng, Trung Đức, Trọng Tấn... và có 7 bài báo đã viết về các tập thơ của tôi - cũng đủ chứng minh thơ tôi thế nào rồi - chỉ vậy không cần ai phải khen thêm nữa.”) ... hết lời khen ngợi: "Hay quá Đặng Quang Hiệp ơi!" "Đặng Quang Hiệp đúng là phù thủy của con chữ!". "Đặng Quang Hiệp độc nha! Tuyệt đỉnh tài sử dụng câu chữ!" "Tứ mới, lạ và độc lắm thi sĩ ạ!"... khiến tôi bối rối... rồi rụt rè e ngại nhắn tin hỏi Hiệp: - "Cháu viết: "Xác chữ rơi / Con mèo lười / Nhìn chuột ve vẩy đuôi bới chữ" có nghĩa gì thế?".

Hiệp điện thoại cho tôi, hô hố cười: - "Chú lại trêu cháu. Chú thừa biết cháu viết linh tinh chứ có biết gì thơ văn đâu mà ý với chả nghĩa... ".

Nghe Hiệp nói vậy tôi thở phào vì may quá tôi chưa comment khen hay chê mấy câu “thơ” được phong là "Tuyệt đỉnh tài sử dụng câu chữ!" của cháu. Bất giác tôi nhớ một “trạng thái” khác cũng khá “đặc biệt” của Đặng Quang Hiệp: "Người đọc không hiểu tác giả viết gì. Tác giả cũng không biết mình viết gì. Nhưng mọi người cứ khen nhau ngậu xị.". Ở statuts này, Đặng Quang Hiệp cũng nhận được vô số lời ngợi khen của mấy nhà thơ nhà văn có tên trong hội nhà văn Việt Nam là: "thấm lắm", "Đặng Quang Hiệp thâm thúy kinh khủng", "Nhà thơ sống ở thủ đô có khác, câu chữ sang trọng và bao hàm những triết lý sống cao siêu"... Có lẽ văn sĩ Thái Quốc Mưu đã đúng khi ông viết: “Hiện nay có nhiều người làm thơ cố tạo ra một vẻ mới lạ để gây sự chú ý của người khác và họ gọi đó là thơ cách tân, thơ hậu hiện đại. Còn người khen thơ, họ khen cũng để cho người khác nghĩ họ là kẻ biết thưởng thức thơ. Thực tế họ chẳng biết gì cả.”.

Tôi rất ít comment dưới status của bạn facebook vì ngại lỡ hiểu sai rồi comment sai hoặc “bộc bạch” thẳng quá sẽ mất lòng bạn facebook. Đã mất khá nhiều bạn (cả trên facebook và ngoài đời) vì tính thẳng ruột ngựa của mình nên tôi ý thức hạn chế comment dưới status của bạn facebook nhưng không hiểu sao nhiều lúc cứ comment thẳng tuột những suy nghĩ trong đầu. Ví dụ như khi đọc bài thơ "Bà Van Ga" của nhà thơ, nhà báo Phạm Đức Mạnh, thấy mọi người khen bài thơ những lời chất ngất: “Bài thơ viết về nhà tiên tri Vanga thật tuyệt với ngôn ngữ thơ xuất thần”, “Nhà thơ Phạm Đức Mạnh hội đủ Tâm - Đức - Tầm”, “Đọc bài thơ thăng hoa tri thức!”,... Tôi ngạc nhiên: Sao người ta comment dễ dãi thế? Khen như vậy khác gì là dối mình, dối bạn? Có khen xã giao, khen lấy lòng bạn facebook thì cũng nên nghĩ tới phản ứng khi đọc của người khác chứ? Định lướt sang bài khác thì đập vào mắt tôi dòng bình luận của nhà thơ Nguyễn Vũ S.: - “Thơ hay, đầy ẩn dụ về "những cái chết đã được báo trước". Như mất nước, khô hạn thiếu nước đồng bằng sông Cửu Long...” thế là tôi comment phản hồi rất thật: - “Thôi thì thơ hay hay không không bàn vì còn phụ thuộc vào “cảm nhận” của mỗi người hoặc khen hay vì xã giao, vì “áo thụng vái nhau” nhưng chỉ vì bài thơ có 2 chữ “thiên tai” mà còm lấy được là “đầy ẩn dụ về "những cái chết đã được báo trước". Như mất nước, khô hạn thiếu nước đồng bằng sông Cửu Long...” thì thật không nên chút nào.”. Sau bình luận đó, trên trang blog cá nhân của tôi (Trang Đặng Xuân Xuyến) “được đón nhận” lời “góp ý” rất “đã tai” của “bạn đọc” ẩn danh (đừng thích thể hiện): “Kinh nhỉ. Thích thể hiện thế nhỉ. Nhận xét cứ như đúng rồi ý: "Thôi thì thơ hay hay không không bàn vì còn phụ thuộc vào “cảm nhận” của mỗi người hoặc khen hay vì xã giao, vì “áo thụng vái nhau” nhưng chỉ vì bài thơ có 2 chữ “thiên tai” mà còm lấy được là “đầy ẩn dụ về "những cái chết đã được báo trước". Như mất nước, khô hạn thiếu nước đồng bằng sông Cửu Long...” thì thật không nên chút nào." Biết thì hãy nói còn không biết thì dựa cột mà nghe đừng đã ngu còn cố tỏ ra nguy hiểm.”. Cũng sau bình luận đó, danh sách bạn facebook của tôi hao hụt thêm mấy "bạn" tưởng như đã là chí cốt.

Lại như lần tình cờ đọc một status của nhà văn nọ từng làm Giám đốc một Nhà xuất bản, thông báo một truyện ngắn của ông lọt vào danh sách 10 truyện ngắn được bạn đọc yêu thích nhất năm.... trên trang web văn nghệ X, tôi đã vô tư comment: -“Chúc mừng anh! Nhờ statuts của anh, hôm nay em mới biết tới trang web này.”. Thế là nhà văn nọ hủy kết bạn rồi “chặn” nick facebook của tôi dù trước đó anh nhiều lần vồn vã trao đổi messenger với tôi "những lời gan ruột" về chuyện văn, chuyện đời.

Hay khi đọc bài "Trải qua một cuộc bể dâu... Đọc Huyết Ngọc, tiểu thuyết của Tống Ngọc Hân, Nhà xuất bản Phụ Nữ 2015" trên facebook Tống Ngọc Hân của tác giả Bùi Việt Thắng (Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Phê bình Hội Nhà văn Việt Nam) có những câu viết rất vội, kiểu: "Nhân vật là cốt lõi của tiểu thuyết, thiếu nó tác phẩm sẽ trở nên chống chếnh thậm chí hụt hơi.". Tôi đã thẳng ruột ngựa comment: Trời! Không có nhân vật thì sao gọi là tiểu thuyết, là tác phẩm văn học mà nhận định "thiếu nó tác phẩm sẽ trở nên chống chếnh thậm chí hụt hơi"?! mà quên nghĩ tới phản ứng của nhà văn Tống Ngọc Hân vì tác giả Bùi Việt Thắng là nhà phê bình văn học tên tuổi, đã "ưu ái" viết giới thiệu tác phẩm của chị với bạn đọc. Có lẽ Tống Ngọc Hân đã gỡ bỏ status đó hoặc xóa bình luận của tôi để tránh sự khó xử của chị với bạn đọc, nhất là với tác giả Bùi Việt Thắng.

Thật hiếm người như văn sĩ Trần Thị Hồng Châu lại tiếp nhận vui vẻ comment thẳng đến khó nghe của tôi dưới status chị cảm nhận bài thơ “Gởi buồn cuối năm” của nhà thơ Kha Tiệm Ly: “Tôi mới có duyên đọc thơ của Kha Tiệm Ly được mấy bài và mấy bài đó tôi đều thích chất ngông mà không nghênh, bi mà hùng tráng, đau mà hào sảng trong thơ của ông. Bài thơ này cũng vậy, cũng những nét rất riêng của thơ Kha Tiệm Ly. Đọc bài viết của văn sĩ Hong Tran, tôi thích cách cảm thơ văn mới lạ của chị nhưng có lẽ vì chị quá yêu mến tài thơ của nhà thơ Kha Tiệm Ly nên chị múa bút đẹp quá. Bài thơ là tâm trạng nhức nhối, đau đớn và tuyệt vọng của một đấng nam nhi trước hiện trạng đau thương của đất nước. Chỉ vậy thôi, không là những dự cảm, tiên tri như văn sĩ Hong Tran đã phóng bút. Vì yêu những trang viết của chị nên chia sẻ đôi dòng trái ý, mong chị đừng giận.”. Sau bình luận đó, hình như mến tính thẳng ruột ngựa của tôi nên chị năng ghé thăm trang facebook của tôi hơn và thường để lại những comment cũng rất thẳng.

*.

Hà Nội, 01 tháng 11-2021

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

 

 


READ MORE - VÀI CHUYỆN VỀ COMMENT TRÊN FACEBOOK - Đặng Xuân Xuyến

TÂN LIÊU TRAI - Nguyễn Đức Tùng




Hoan vốn người miền Trung, trôi nổi vào Sài Gòn làm nghề buôn bán lặt vặt, trơ trọi một thân, không vợ con, chẳng điền sản gì ráo ngoài các căn nhà nhỏ. Nhưng đó không phải là nhà của chàng. Rằm tháng giêng Hoan vào vườn Tao Đàn. Người đi lễ bái đền Hùng rất đông. Trên loa phóng thanh đọc đi đọc lại rền rĩ bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm, trước cửa đền Hùng vô số con đồng hát, mỗi người đem theo hàng chục đệ tử, quỳ lạy lung tung trước một bàn thờ. Hoan không hiểu sao trong đền Hùng có ba bàn thờ, một thờ vua Hùng ở chính giữa, một thờ mẹ Âu Cơ ở một bên, một thờ một bậc bô lão râu dài ở bên kia, mà chàng không biết là ai, đoán là vị hoàng tử nhỏ nhất của vua Hùng, chỉ lấy làm lạ là nhiều người thắp nhang khấn bái ở đó, rút tiền ra không ngớt cho vào cái khe hẹp ở bụng của tượng, dưới rốn.
 
Hoan thấy trong bọn đi lễ có một cô gái vừa tuổi cập kê, sắc đẹp mĩ miều, lấy làm khoan khoái, mon men đến gần. Chàng giả đò cúi lại rồi sờ tay vào bàn chân nàng, vì những người đến tế lễ đều tháo giày để ở cửa. Cô nàng quay lại, giận dữ, rụt chân lại. Hoan chờ cơ hội lại xích người đến gần đưa tay sờ chân nàng như trước. Tan lễ, cô gái ra về, mặt vẫn còn sắc giận.
 
Trời mùa xuân, hoa đào cùng với mưa xuân rơi lắc rắc, không biết thứ nào nhiều hơn, nhưng việc không thành, Hoan buồn bã, thấy mưa rơi nhiều hơn hoa đào.
 
Dần rồi tháng này qua tháng khác, ngày mùng một ngày rằm Hoan đều đi lễ đền, đều gặp hai mẹ con, trước lạ sau quen, cuối cùng rồi cũng xuôi. Hoan bán nhà, dành dụm đủ tiền để cưới vợ, vì biết vợ đẹp lại giỏi giang thế nào cũng giúp chồng làm nên. Hoan sinh tật cờ bạc, rượu chè ăn chơi lêu lổng. Vợ hết lời khuyên bảo, nặng nhẹ, khi đọc sách dưới đèn, khi thì thầm bên gối, nhưng chàng chẳng nghe cho, ngày càng hư hỏng.
 
Được mấy năm hai người không có con, nhưng tình nghĩa vẫn đậm đà. Vợ dành dụm mua cho Hoan một chức vụ cao, thứ trưởng bộ Phá rừng, nhờ đó làm ăn khấm khá, tiền bạc lẻng xẻng. Nhưng càng nhiều tiền Hoan càng ăn chơi, ham mê cờ bạc, gian díu cả với bọn nghiện ngập đường phố. Thân làm quan lớn mà tụ họp với bọn đầu đường xó chợ, ở nơi riêng tư thì ăn nói tục tĩu. Gia sản phải hết. Một hôm tụi bạn lêu lổng đến nhà chơi, nhìn thấy mặt vợ thảy đều kinh ngạc.
 
Chúng kéo Hoan ra ngoài hiên bảo thầm rằng nếu đem vợ mà bán đi, vào chỗ ăn chơi thì sẽ được một món tiền lớn. Hoan nghe nói động lòng. Một hôm chàng đánh tiếng, người chủ quán một chốn ăn chơi nổi tiếng ở Sài thành đến nhà coi mắt, mới nhìn qua như bị điện giật, rút tiền trả ngay, đòi làm giấy tờ bằng mặt, sợ Hoan đổi ý.
 
Hoan bán được vợ rồi, mừng lắm, hí hửng đem một cọc tiền cất trong nhà, ngày ngày rút tiền mang đi đánh bạc, ăn chơi, lòng đôi khi hối hận, nhớ lại người vợ cũ vừa xinh đẹp vừa nết na thùy mị, nhưng tính ham chơi trác táng lại nổi lên, bèn quên phắt.
 
Ngày qua ngày, tiền bạc lần hồi cũng hết, Hoan dùng chức vụ trong chính quyền xoay xở. Nghề gì chứ nghề này thì dễ, lúc nào cũng có kẻ sẵn sàng mua quan bán tước. Chẳng bao lâu chuyện bị lộ, Hoan bị cho vào lò củi của Chánh vương cháy hừng hực. Năm năm sau ra tù, bạn chẳng còn, nhà cửa trống hoang, đồ vật bàn ghế mất sạch, trơ mỗi cái sàn đất lạnh. Chàng đói khát lần mò kiếm ăn, đưa đẩy vào làm nhân viên rửa bát cho hiệu ăn Lạc thú viên. Thật ra hiệu ăn là nơi trá hình của thần rắc muối, bên ngoài là quán bán thịt nướng, bên trong là nơi đàn hát vui chơi, lầu xanh kỹ nữ. Hoan vốn người đọc sách, trông thấy hai chữ Lạc thú viên mà không hiểu nghĩa thật đáng trách. Một hôm được lệnh dọn dẹp mấy căn phòng để đón khách quý. Nhiều người lục tục kéo vào cả chục người, bọn bảo vệ tấp nập dáo dác. Gã khách quý và đàn em gọi chủ quán vào, đòi gặp ca nữ danh tiếng nhất Sài thành. Cô gái được vời tới mặt hoa da phấn, ngồi trong lòng đại gia mà hát. Chẳng bao lâu bọn khách say sưa, vốn có tính cuồng dâm, lột hết áo quần kỹ nữ, trói vào ghế xô pha, chuẩn bị hãm hiếp tập thể. Lúc ấy Hoan tình cờ bước vào, nhìn thấy như bị sét đánh, kêu rú lên. Thì ra kiều nữ không ai khác chính là vợ cũ. Vốn hèn nhát, Hoan bỗng đâu lại lấy được can đảm, không biết sợ gì nữa, xông lại, dùng vỏ bia đập vào đầu khách, máu chảy lênh láng, ôm xốc nàng lên nhảy qua cửa sổ. Chẳng may bọn bảo vệ đến kịp, đè Hoan xuống, chặt đứt hai chân, ném ra đường. Chàng sống sót, trở nên người tàn tật sống cũng như chết, nhiều lúc chán nản vô cùng, nhưng người Việt vốn thà nhục chứ không có máu tự tử, nên Hoan sống lay lất qua ngày, ăn xin chỗ này chỗ nọ.
 
Một hôm đang ngồi góc đường, chợt thấy mấy bông hoa hải đường đỏ rực phô sắc đầu cành như những nét chấm phá cho quãng đời vàng son thuở trước, chàng chạnh lòng mang thân về chốn cũ. Đền Hùng nay cũng khác, sơn son thếp vàng diêm dúa, sau làn mưa xuân lất phất, người đi lễ tấp nập hơn xưa. Vào đền càng ngạc nhiên, ba bức tượng thờ vẫn còn đó nhưng thay đổi vị trí, bức tượng vua Hùng được dời qua bên trái, tượng Âu cơ qua bên phải, tượng ông lão râu dài mà chàng nghi là con út của vua Hùng đặt chễm chệ chính giữa, kê cao hơn, sắc mặt trắng hơn xưa không ra vẻ giận không ra vẻ vui, không ra vẻ bằng lòng cũng không ra vẻ không bằng lòng, bụng lớn như Phật Di Lặc vì phải hứng quá nhiều tiền cúng bái. Hoan ngồi lì suốt ngày ở đó, tai nghe bài thơ Đất nước phát đi phát lại như khóc như than, như oán như hờn, thơ hay thành thơ dở, chữ đẹp thành chữ xấu, đến bữa qua xóm ăn cơm bụi, kỳ dư ngẩn mặt nhìn đời. Có người quen biết thân thế chàng ghé hỏi bỡn, Hoan ngậm miệng không trả lời. Một hôm đang ngồi trước cửa đền thì gáy chàng chợt lạnh, một luồng gió mát thổi qua, tà áo phấp phới, xiêm lụa loạc xoạc, phu nhân của bậc quyền quý từ Hà nội đổ xịch xe trước cửa, trên xe bước xuống. Hoan ngẩng mặt, chết điếng: chính là vợ cũ của chàng. Lòng rối tơ vò, Hoan ráng lết qua cửa, chờ khi nàng quỳ xuống trước bức tượng lâm râm cầu khấn trong ánh đèn mờ tỏ, chàng liền giở trò cũ, đưa tay sờ vào gót chân son.
Nàng quay phắt lại, quắc mắt la mắng:
– Đồ khốn kiếp. Ngày trước mày bơ vơ như kẻ không nhà, người chua như giấm, mồ hôi nồng nặc, tóc tai bờm xờm. Khi ta về làm dâu nhà mày, sớm hôm quét tước, chăm lo buôn bán, làm cho nhà cửa khang trang, đầy tớ đông đúc, khách quý vãng lai, ta hỏi mày sung sướng như thế sao nỡ ăn chơi đến nỗi mất hết nhân cách?
Mọi người bu lại đứng coi. Nàng nói tiếp:
– Trong bao năm ăn ở ta chẳng làm điều chi xấu, mày ham chơi cờ bạc đành một nhẽ, lại nhẫn tâm bán vợ vào chốn lầu xanh bia ôm karaokê, thật là không có tình nghĩa. Quân ăn ở bạc bẽo.
 
Bọn con ở nghe nàng hạch tội xúm lại kẻ nhéo tai người nhổ nước miếng, kẻ túm tóc, làm cho Hoan khổ sở vô cùng, giọt châu lả tả. N àng đưa tay ngăn chúng lại.
– May trời có mắt, bây giờ tàn tật thế này. Nghĩ ngươi cũng có công cứu ta ở Lạc thú viên ngày nọ, thôi cũng tha cho. Hoan cố lết người theo ôm lấy chân nhưng nàng đã co chân đạp rồi bước lên xe rồ máy. Chàng bắt được một chiếc giày trong tay.
Nghĩ sao, nàng cúi xuống dặn nhỏ:
– Ta để lại chiếc giày cho ngươi. Khi nào nhớ thì úp mặt vào nó, sẽ được thấy. Nói xong, sập cửa lại, xe số xanh Hà Nội chạy mất.
 
Hoan mang chiếc giày về nhà, quý hơn kim cương, đêm ngày ôm ấp, ngủ để đầu giường, được vài năm thì tình cờ một hôm trong chiếc giày có giọng hát vang ra. Chính là giọng hát của người cũ. Từ đó về sau hễ khi nào Hoan nghĩ tới nàng, đâm nhớ nhung mà hôn khẽ chiếc giày thì nghe giọng hát. Những khi thèm muốn xác thịt mà ôm lấy, thì nhìn thấy mặt nàng. Nhưng không bao giờ chàng có được cả hai cùng một lúc.
 
Nguyễn Đức Tùng
 
READ MORE - TÂN LIÊU TRAI - Nguyễn Đức Tùng

Friday, November 5, 2021

“BẮT ĐỀN” THƠ MY THỤC, BÀI THƠ GHEN HƠN MỌI BÀI THƠ GHEN - Châu Thạch


 
 

BẮT ĐỀN
 
cũng từng trúc mã thanh mai
chưa có em, anh với ai một thời?
cũng từng xuống phố song đôi
chưa có em - quán anh ngồi cùng ai?
 
với anh, họ có cầm tay
có du dương lắm cho dài du dương?
có ngơ ngẩn có bồn chồn
có ôm anh bữa em còn đâu đâu?...
 
bắt đền anh - bắt đền nhau
chờ em khôn lớn mà sao chẳng chờ?
 
bắt đền quán nhỏ chiều thưa
đền em cái thuở mình chưa của mình...
             
                                        MY THỤC




“BẮT ĐỀN” THƠ MY THỤC - BÀI THƠ GHEN HƠN MỌI BÀI THƠ GHEN 
                                           Châu Thạch
    
My Thục là một nhà thơ trên quê hương Quảng Nam tôi, là một bạn facebook của tôi, nhưng rất tiếc cho đến nay tôi mới đọc được thơ của bạn ấy qua Tin Thơ của nhà thơ Hoàng Lộc. Xin trích một phần Tin Thơ của nhà thơ Hoàng Lộc:
 
 
TIN THƠ
   
“Đầy ngạc nhiên và vui mừng với bạn tôi là Hứa Nguyễn, khi biết tin, nhà xuất bản Đà Nẵng vừa phát hành tập thơ đầu tay của ái nữ anh là MY THỤC, có tên RỒI CŨNG TRĂNG VỀ.
    
Sớm Duy Xuyên tơ vàng giăng nghẽn lối
(thơ Tường Linh)
 
Là cái đẹp nhiều đời của Duy Xuyên, Quảng Nam: nuôi tằm và dệt lụa. Những người con gái Mã Châu đại diện cho nét đẹp này. RỒI CŨNG TRĂNG VỀ - là nét đẹp khác của một người nữ khác của Duy Xuyên. Nét đẹp chữ nghĩa.      
Thơ My Thục lại là thơ truyền thống Việt Nam. Cô sử dụng nhuần nhuyễn các thể loại thơ có vần điệu.
Thơ cô là thơ tình. Chữ tình trong thơ cô luôn trong sáng, đượm chút u buồn. Tình yêu hồn nhiên trong một trái tim thơ dại thường có những vần thơ thật đẹp.”
    
Dưới bài viết, nhà thơ Hoàng Lộc giới thiệu bài thơ “Bắt Đền”, một bài thơ mà ông đã đọc 10 năm trước. Nhà thơ Lê Mai Lĩnh comment phía dưới: “Tôi nói lại, BẮT ĐỀN , thơ đỉnh của thơ” 
 
Bởi uy tín của hai nhà thơ thượng thừa Hoàng Lộc và Lê Mai Lĩnh, khiến tôi không thể không đọc bài thơ “Bắt Đền”. Và khi đọc xong “Bắt Đền”, bài thơ khiến tôi không thể không viết vài lời cạm nhận, bởi ý tứ của bài thơ có cái ghen rất lạ đời.
   
Đọc “Bắt Đền” của My Thục, ta không thể không nhớ đến bài thơ “Ghen” của Nguyễn Bính. Ghen của Nguyễn Bính lạ kỳ đến độ ghen cả với những đồ vật vô tri: “Tôi muốn cô đừng nghĩ đến ai/Đừng hôn dù thấy cánh hoa tươi/ Đừng ôm gối chiếc đêm nay ngủ/ Đừng tắm chiều nay biển lắm người” hoặc là ghen cả trong giấc mơ của người thiếu nữ; “Tôi muốn những đêm đông giá lạnh /Chiêm bao đừng lẩn quẩn bên cô / Bằng không tôi muốn cô đừng gặp/ Một trẻ trai nào trong giấc mơ”.
 
Nguyễn Bính ghen như thế, ghen trên đời hiếm có ai, nhưng dầu sao nhà thơ cũng chỉ ghen vơi “Cô nhân tình bé cúa tôi ơi” là ghen trong hiện tại, cấm kỵ người nữ nhiều điều khi hai người đang yêu nhau. Ngược lại nhà thơ My Thục lại ghen đến quá khứ của chàng, ghen đến những mối tình mà nàng tưởng tượng ra khi hai người chưa biết nhau:
 
cũng từng trúc mã thanh mai
chưa có em, anh với ai một thời?
cũng từng xuống phố song đôi
chưa có em - quán anh ngồi cùng ai?     
 
My Thục điều tra trong quá khứ chàng đã yêu ai, chàng dạo phố với ai và chàng ngồi quán với ai?. My Thục cũng giống như Nguyễn Bính, cái ghen của hai nhà thơ nầy, ở ngoài đời có thể gọi là một bệnh lý, nhưng vào thơ thì thành ý lạ tứ hay, bày tỏ sự mầu nhiệm của một hồn thơ yêu sâu xa, yêu cùng  yêu tận. 
   
Thế rồi cô gái My Thục tiếp tục tra vấn chàng trai, hỏi đến những điều thầm kín trong quá khứ của chàng:
 
với anh, họ có cầm tay
có du dương lắm cho dài du dương?
có ngơ ngẩn có bồn chồn
có ôm anh bữa em còn đâu đâu?...
  
Thật ra nhà thơ hỏi những điều trong quá khứ, nhưng chính những câu hỏi đó, tác giả đã tự khẳng định cảm xúc của mình với người yêu trong hiện tại. Có thể hiểu My Thục đã hỏi người yêu mình như sau “Họ có cầm tay như em đã cầm tay anh không? Họ có du dương như em đã du dương với anh không? Họ có ngơ ngẫn bồn chồn như em đã ngơ ngẫn bồn chồn vì anh hay không, và họ có ôm anh như em đã ôm anh không? Một khổ thơ ẩn dụ, một khổ thơ ghen người nhưng lại tỏ tình mình kín đáo.
  
Cuối cùng My Thục nũng nịu bắt đền người yêu của mình thật lạ đời, thật dễ thương và thật ngây thơ: 
 
bắt đền anh - bắt đền nhau
chờ em khôn lớn mà sao chẳng chờ?
bắt đền quán nhỏ chiều thưa
đền em cái thuở mình chưa của mình...
     
Nhà thơ Lê Mai Lĩnh đã phán một câu “Bắt Đền, thơ đỉnh của thơ”, theo tôi là nhờ ở khổ thơ cuối nầy. Hai khổ thơ trên chỉ là sự tra vấn vì sự tò mò của cô gái, muốn biết quá khứ người mình yêu. Khổ thơ cuối gây sự bất ngờ, tạo thú vị bởi sự ngộ nghĩnh, sự độc đáo trong những câu thơ hờn giận. Những câu thơ đó, ý thơ không những chỉ bắt đền vì anh không chịu chờ em lớn. mà bắt đền cả quán nhỏ, cả chiều thưa, và bắt đền cả chính em vì em không chịu lớn.
   
Nhà thơ Hoàng Lộc đã nhận xét rất đúng về thơ My Thục: “Tình yêu hồn nhiên trong một trái tim thơ dại thường có  những vần thơ thật đẹp.” Tôi cũng nói vậy về thơ My Thục.
 
“Bắt đền” là một sự không bắt đền, còn là sự ban tặng một trái tim yêu của người con gái có tâm hồn, lảng mạn, nhạy cảm, biết yêu và chắc chắn là chung thủy với chàng vĩnh viễn.
                                       
Châu Thạch

READ MORE - “BẮT ĐỀN” THƠ MY THỤC, BÀI THƠ GHEN HƠN MỌI BÀI THƠ GHEN - Châu Thạch

Wednesday, November 3, 2021

MÊ HƯƠNG, XUỐNG PHỐ, PHIẾN NHỚ - Thơ Nguyên Lạc


 


MÊ HƯƠNG
 
Em từ tiền kiếp về đây
Thướt tha áo lụa điếng tôi cúc vàng
Chùn chân một kiếp đi hoang
Ngất hồn lãng tử bởi làn mê hương
Vàng thu trăng mộng bất thường
Cùng ai thắp lửa lên triền môi nhau
 
Mong manh sương khói tình đầu
Cúc vàng áo lụa mùa sau theo chồng!
Để người ngơ ngẩn bâng khuâng
Tiếc vàng hoa cúc nuối triền môi son
 
Mùa về chợt nhớ mùi hương
Hương thu nghe đắng chạm miền tim đau
Cúc hoa áo lụa tình nào
Vỡ toang ký ức trào thao thiết buồn!
 
 
XUỐNG PHỐ
 
1.
Đưa em xuống phố đêm nay
Môi còn thơm ngát hương say
Đưa em xuống phố loanh quanh
Xa nhau ta chẳng thể đành!
Em ơi!
 
Đưa em không biết đi đâu!
Chỉ cần đây đó cho lâu
Cho lâu giây phút có nhau
Có nhau tình đó ngọt ngào
Rồi đau!
 
Mai đây phố sẽ không nhau
Mình ta đường vắng bâng khuâng
Bên ta chỉ khoảng hư không
Đủ cho tim nỗi đau thương...
Ngọt ngào!
 
2.
Đưa ta xuống phố đêm nay
Môi còn ngất ngất cơn say
Đón ta hiu hắt mưa rơi
Đường xưa đếm bước thở dài
Em đâu?
 
Đêm nay xuống phố không nhau
Chốn xưa ký ức nỗi đau
Phôi pha tình đã phôi pha
Cố nhân sương khói tan mau
Phương nào?!
 
 
PHIẾN NHỚ
 
Đêm xanh
thắp hồn nến mộng
Gửi em
tình đó êm đềm
Tôi ơi!
đêm thôi sầu nữa
Giấc hồ tìm lại quỳnh thơm
 
Khanh ơi mùi hương đêm đó
Bướm mơ từng phiến nhớ hồn!
 
Đêm xanh
thắp hồn nến mộng
Mơ em nhan sắc nguyệt rằm
Huyễn mộng chỉ là huyễn mộng
Điệp hồ ta vẫn đêm mong!
 
Khanh ơi liêu trai đêm đó
Nồng nàn nhắp chén quỳnh tương
Quế hương môi thơm rượu đỏ
Trăm năm lòng vẫn vấn vương
 
Nguyên Lạc

READ MORE - MÊ HƯƠNG, XUỐNG PHỐ, PHIẾN NHỚ - Thơ Nguyên Lạc

TRÊN LỐI THU PHAI... – Thơ Tịnh Bình

 
                

                Nhà thơ Tịnh Bình



TRÊN LỐI THU PHAI...
 
Đã tàn chưa hỡi cúc hoa?
Cơn mưa mùa cũ ướt nhòa tháng năm
Thu bay khuất nẻo xa xăm
Lá nghiêng phiến mỏng lặng thầm nhớ ai
 
Màu chiều chếnh choáng như say
Biệt ly phút ấy cảm hoài niềm riêng
Cúc hoa lẻ bạn ưu phiền
Gầy hao cánh tím u huyền gió lay
 
Ngỡ màu sương khói phôi phai
Càng thêm xa cách càng dài luyến vương
Giấu hờ riêng nỗi niềm thương
Bướm xưa về đậu bên tường rêu xưa
 
Tiếng gà gáy lặng vào trưa
Heo may vương vấn duyên thừa chớm se
Nhớ người nơi khói sương che
Mưa thu trầm giọt mà nghe tôi buồn...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)
READ MORE - TRÊN LỐI THU PHAI... – Thơ Tịnh Bình