Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, October 28, 2020

KHÚC ĐỘC HÀNH – Thơ Tịnh Bình

 

                   Nhà thơ Tịnh Bình



KHÚC ĐỘC HÀNH

 

Tận cùng buồn vui tận cùng dâu bể

Lang thang về đâu kiếp sống phù trầm

Người lầm lũi trong màn tăm tối

Gót luân hồi mòn vẹt nẻo điêu linh

 

Con đường cũ khứ hồi ngàn muôn lượt

Muôn vở tuồng thiện ác cả hai vai

Khi thánh thiện khi hóa hình dã quỷ

Ta là ai ?

Bao hư ảnh chập chờn...

 

Ta tìm ta giữa đôi bờ mộng thực

Giấc trăm năm phủ dụ khúc mê buồn

Chiều mây trắng ngỡ làm mây du thủ

Mịt mờ xa đâu bóng cố hương

 

Ngày chợt hiện nụ cười ai khe khẽ

Bước đơn côi hun hút hành trình

Gõ vách núi lời thẳm xa vọng lại

Tiếng chuông nào gọi thức một bình minh...

 

                                             TỊNH BÌNH

                                              (Tây Ninh)


READ MORE - KHÚC ĐỘC HÀNH – Thơ Tịnh Bình

QUÊ HƯƠNG CÒN GÌ? – Thơ Nguyên Lạc




QUÊ HƯƠNG CÒN GÌ?

 

Quê hương còn gì để nhớ?

Dối gian chia rẽ lòng người!

Mệnh danh yêu thương tổ quốc

Máu xương lãng phí dân tôi!

 

Quê hương còn gì để nhớ ?

Chia nhau trên những tai ương [*]

Cười vui trên những căm hờn

Trưởng giả học đòi "giao hưởng"

 

Mệnh danh tương lai dân tộc

Dạy con em chữ lạ lùng

Thiên tai đói nghèo dân khóc!

Chia nhau cùng hưởng "công trình" [**]

 

Quê ơi khổ đau hãy chịu !

Dân ơi oan nghiệt phải đành !

Mệnh danh giang sơn giàu mạnh

Tạo bao thống hận điêu linh !

 

Quê hương chắc còn để nhớ?

Hận ai đốt cháy cơ đồ!

Bao nhiêu công ơn tiên tổ

Tư dục họ nỡ thờ ơ!

 

Người ơi sao không lên tiếng!

Chúng quên xương máu ông cha

Dân Việt ơi mau góp tiếng!

Kẻo mai mất trắng sơn hà

 

                     Nguyên Lạc

………….

[*] Ăn chặn đồ cứu tế

[**] Xây nhà hát giao hưởng Thủ Thiêm để lấy đất của dân và những công trình khác.


READ MORE - QUÊ HƯƠNG CÒN GÌ? – Thơ Nguyên Lạc

QUÊ TÔI MÙA NƯỚC NỔI – Trần Mai Ngân

 


Tôi được sinh ra tại Sài Gòn nhưng lớn lên ở miền Tây.

Cái nơi mà được xem là mưa thuận gió hoà, con người thì thật thà và hiếu khách !

Miền Tây quê tôi không có bốn mùa rõ rệt. Không có mùa Thu lá vàng để mơ mộng ngắm lá Bàng rơi mà làm thơ, cũng không có những ngày đông giá rét như Hà Nội để được ngồi đan áo len cho người mình thương...

Quê tôi chỉ có hai mùa mưa nắng và trong đó đặc biệt là mùa nước nổi.

Hằng năm cứ vào khoảng tháng 7 đến tháng 10 âm lịch ( tức tháng 8 đến tháng 11 dương lịch ) là con nước từ thượng nguôn sông Mekong lại đổ về đồng bằng sông Cửu Long tạo thành một biển nước mênh mông nhất là ở các tỉnh Đồng Tháp và An Giang.

Tôi ở Vĩnh Long nên không ảnh hưởng nhiều. Chỉ có những ngày cao điểm của con nước 17 hay 30 thì sông Tiền dâng lên đầy tràn bờ... và trong thành phố những con đường còn thấp bị ngập nước theo triều cường lên xuống... Người dân ở đây đã quen theo con nước hằng năm lại quay về nên vẫn sinh hoat bình thường. Còn các em nhỏ có vẻ thích thú vì được nhìn nước, lội nước... Nhớ lúc nhỏ tôi rất thích mùa này vì được lội nước khi đi học về và tôi hay xếp những con thuyền giấy thả chúng với nhiều mơ ước mong thuyền đi ra biển... Giờ thì tôi thấy đúng là trẻ con, thuyền mong manh quá sao ra được biển khơi...

Trở lại mùa nước nổi, tuy có nhọc nhằn trong việc đi lại nhưng thiên nhiên cũng bù đắp cho người nông dân những cánh vật và sản vật tuyệt vời trong cuộc sống. Đó là một sức sống tràn đầy cho những cánh đồng Sen, Súng, cỏ năng, rừng Tràm thêm xanh tốt... Tất cả như được mặc vào một chiếc áo mới đẹp màu xanh rực rỡ...và chim khắp nơi lại bay về làm tổ. Có thể nói đây là mùa sinh sôi nảy nở ở vùng đất này...

Mùa nước nổi thiên nhiên cũng hào phóng ban tặng cho người dân nơi đây những sản vật tuyệt vời như cá Linh, cá Lòng Tong non cho ra nhiều món ăn ngon như lẫu Cá Linh, cá Lòng Tong chiên giòn hoặc kho tiêu thật đậm đà và ấm áp trong mùa nước lũ...

Mùa này các bạn sẽ thấy những cánh đồng hoa Súng, hoa Điên Điển thật đẹp và nó cũng là những món ăn đặc sản cho những ai yêu thích...Cọng Súng dùng ăn kèm với lẫu Mắm, chấm cá kho tiêu, làm các món gỏi hấp dẫn hoặc bông Điên Điển xào tép rong nha các bạn... Còn nữa , nồi canh chua hay sang hơn là đĩa bò xào bông Điên Điền...bạn sẽ ăn liền ba chén cơm ngon đó...

Ngoài phần ẩm thực mùa nước nổi còn cho những ai yêu thích thiên nhiên và muốn khám phá những điểm đến lý thú sẽ có nhiều ấn tượng khó quên...

Mời các bạn đến Rừng Tràm Chim tại Gáo Giồng nhé...Chỉ việc ngồi trên chiếc xuồng ba lá thú vị xuôi theo con kênh đi vào vùng nước xem những loài chim lạ bay về làm tổ... chúng ta sẽ thấy thiên nhiên đẹp và kỳ diệu đến dường nào...

Các bạn cũng không thể bỏ qua rừng Tràm Trà Sư nhé! Ở đây, chiếc xuồng máy sẽ chở các bạn như đi sâu vào khu rừng bí ẩn đầy màu xanh của cây lá, của dòng bèo bát ngát màu xanh non... và phía trên đầu ta là hoa Tràm trắng lung linh rung rinh trong gió với tiếng kêu của muôn chim lạ gọi nhau bay đến tìm thức ăn...

Bạn cũng đừng quên ghé thăm kênh Vĩnh Tế ở An Giang để trải nghiệm cuộc sống của dân miền  Tây sông nước nha. Ở đây bạn hãy thử vào vai người nông dân bắt cá đồng, hái hoa súng, hoa điên điển và tự nấu cho mình cùng gia đình món ăn mùa nước nổi... Lúc này bạn sẽ cảm nhận hạnh phúc sao mà giản dị và bình yên đến vậy... Một bữa cơm quây quần bên người thân thật ấm áp trong những ngày mưa lũ...

Thực ra thiên nhiên là người bạn tốt luôn mang lại và ban tặng cho chúng ta những món quà kỳ diệu trong cuộc sống. Chúng ta hãy biết trân trọng và bảo vệ thiên nhiên. Đừng vắt cạn kiệt, tàn phá... để thiên nhiên nổi giận quay lại trừng phạt chúng ta ...

Hãy yêu thiên nhiên, bồi đắp cho thiên nhiên vì Việt Nam chúng ta do ông cha để lại vốn đã là rừng vàng biển bạc... Hãy giữ gìn từng cảnh vật, sản vật như giữ gìn trái tim của chúng ta, bạn nhé!

Tôi yêu miền Tây!

                                                             Trần Mai Ngân


READ MORE - QUÊ TÔI MÙA NƯỚC NỔI – Trần Mai Ngân

MIỀN TRUNG ƠI! – Thơ Nguyễn Đại Duẫn


Nhà thơ Nguyễn Đại Duẫn


MIỀN TRUNG ƠI!

 

Lũ chồng lũ

Khổ chồng lên đau khổ

Mưa cứ sụt sùi

thương lắm miền Trung

 

“Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng”

Cạn nước mắt tiễn đưa bao người chiến sĩ

Anh dũng cứu dân trong dữ dằn con lũ

Hồn thiêng các anh đã hóa thành sông núi cỏ cây

 

Miền trung ơi! Đòn gánh hai đầu đất nước

Gồng gánh thiên tai gánh bao khổ cực

Nắng cháy sạm da mưa nguồn tối mắt

Cơm chưa đủ no giấc ngủ chẳng được yên.

 

Lũ chồng lũ người miền Trung gồng mình chống lũ

Cùng cả nước bên nhau chỉa sẻ cơ hàn

Chống thiên tai chống kẻ gian tham

Cho mưa thuận gió hòa lòng người lương thiện

 

Lũ chồng lũ

Khổ chồng thêm đói khổ

Tin bão lại về

Thương lắm miền Trung

 

Nguyễn Đại Duẫn

51, Nguyễn Hữu Cảnh, TDP Hùng Phú, thị trấn Quán Hàu, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

DĐ: 0977194533; TK:53110000581134 BIDV                          

READ MORE - MIỀN TRUNG ƠI! – Thơ Nguyễn Đại Duẫn

Tuesday, October 27, 2020

CHỌN | LẠC - Thơ Đặng Xuân Xuyến

 

Nhà thơ Đặng Xuân Xuyến

CHỌN

 

Người ta chọn lược tặng sư

Chọn tranh đem tặng người mù ngắm chơi

Người ta chọn điếc ráp lời

Chọn câm phản biện lẽ đời đúng sai.

 

Người ta, ừ, thế mà tài

Đảo điên thiên hạ diễn hài quậy chơi.

 

Hà Nội, 26 tháng 10-2020

Đ.X.X.



LẠC

 

Cuộn chiều bóng đổ về đêm

Mà bên đấy chẳng chịu têm nắng vào

Gió thì vòi vọi trên cao

Mây thì lững lững trôi vào phía tây.

 

Gió mùa chả ngả về đây

Mà se se lạnh mà gầy nhớ thương

Tơ trời ai thả mà vương

Vẩn vơ chi chuyện nõn nường người dưng.

 

 

Đã rằng chẳng nợ thì đừng

Mà sao cứ rộn lưng chừng phía tây

Nắng chiều chả chạm về đây

Mà hong sợi nhớ giăng dầy ngõ xưa.

 

Cạn chiều cạn cả bóng mưa

Hững hờ đấy cứ như vừa biết đây

Giao mùa lại gió lạc mây

Lại quên rải nắng bên này, đấy ơi.

*.

Hà Nội, chiều 27 tháng 10.2020

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

 

 

READ MORE - CHỌN | LẠC - Thơ Đặng Xuân Xuyến

CHÙM THƠ 1-2-3 - Nguyễn Hồng Linh

 

Nhà thơ Nguyễn Hồng Linh


Chùm thơ 1-2-3


Nhặt lá vàng tìm mùa thu cũ
 
Khóc tháng mười mưa lũ xám tan hoang
Miền Trung lũ chồng lũ đau thương chất ngất
 
Rào Trăng các anh ra đi không về, rừng mưa ôm niềm nhớ
Bao người đã nằm xuống, hàng triệu trái tim xót xa
Tôi ngậm ngùi bất lực giữa mảnh đời nghiệt ngã.
 
Tiếng khóc xé lòng trong biển nước mênh mông
 
Mưa tràn trắng đồng không chỗ dung thân
Trái tim mẹ đớn đau ôm con thơ vật vã
 
Tiếng khóc chỉ còn tiếng nấc nghẹn ngào
Màu xanh thay bằng màu xám đục ngầu biển nước
Cầu nguyện bão lũ mau qua, miền Trung lại hồi sinh.

Không còn bài thơ hoa cúc, chỉ còn ngày đông xám
 
Đất sạt lở, mưa điên cuồng trút nước
Trắng đất trời, người chìm nổi lênh đênh
 
Mùa bão lũ đau thương
Hạnh phúc riêng không còn là thứ nhất
Tình yêu chúng mình nhân đôi gửi nỗi mất mát miền Trung.
 
Người đàn ông mang niềm đau hấp hối
 
Hãy dừng ngập lụt, giông gió bão bùng
Dang đôi cánh, mẹ thiên nhiên hoà ái
 
Mang cuộc sống yên bình cho bao người dân vô tội
Tiếng thét thất thanh giữa dòng bàn tay anh chới với
Con thơ còn trong bụng mẹ chìm giữa giông bão cuồng phong.
 
Xin ngày tháng buồn hãy qua mau
 
Cho màu xanh tràn ngập đồng ruộng xác xơ
Cho rừng hồi sinh tươi vui chim muông cây cỏ
 
Hạt giống ươm mầm cây đâm chồi nẩy lộc
Nắng gió ấm áp như thuở hồng hoang
Biển thôi cuồng nộ và ánh sáng tình yêu ngập tràn nhân loại.
 
10.2020
Nguyễn Hồng Linh
 honglinh8861@yahoo.de
READ MORE - CHÙM THƠ 1-2-3 - Nguyễn Hồng Linh

Monday, October 26, 2020

HOA MẮT – Thơ Lê Phước Sinh

 


                         Nhà thơ Lê Phước Sinh


HOA MẮT

 

Tạnh Mưa rồi Nắng rát

từng vạt chen lấn nhau

chẳng ngại giòn vụn vỡ

giữa Trưa nắng leo đầu...

 

có phải Sài gòn nắng

hổ phách vàng quánh màu?

 

LÊ PHƯỚC SINH 


READ MORE - HOA MẮT – Thơ Lê Phước Sinh

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 9) - Nguyên Lạc



CÁCH THỨC PHA TRÀ, THƯỞNG THỨC TRÀ

1. Cách thức pha trà

Chén trà pha đúng nghi thức sẽ không còn mang tính chất tầm thường do bàn tay của kẻ vô tình, nếu muốn tránh chữ phàm phu, và để cho kẻ vẫn bị gọi là “ngưu ẩm”. Pha đúng nghi thức sẽ thành một chén của “Dịch Thể Ngạnh Ngọc Bào” như đã nói ở trên.

Mời các bạn đọc trích đoạn này từ bài nghiên cứu Trà Đạo Việt Nam của Phan Lan Hoa:

[... “Nhất nước, nhì trà, tam pha, tứ ấm”

Đó là quy tắc pha trà của người Việt. Tuy gọi là pha trà, nhưng trà xếp hàng coi trọng sau nước. Đã thế các cụ ta còn triết lý:

Nước không chân thì không có thần

Thể không tinh thì khiếm khuyết.

Thần là thần khí, hồn phách; thể là thể chất, hình dạng. Tách trà rót ra sắc màu vàng chanh huyền ảo sóng sánh, ấy là mắt ta sắp sửa bị hình thái bắt mắt của thể dẫn dụ vào đam mê. Thần không nhìn trực diện được bằng mắt, mà phải cảm nhận ở nơi tâm hồn. Phải đợi khi trà thấm lưỡi, hơi ấm, hương thơm và vị ngọt đắng lan tỏa lên tận trí não, tác động vào chân khí, làm khai thông đan điền, sảng khoái khắp cả vùng thần lực của ta, khiến cho đầu óc ta cảm thấy thanh thoát và tỉnh táo vô cùng, ấy là khi ta ngộ ra cái triết lý về chân thủy của cổ nhân Việt Nam thật hoàn hảo làm sao!

Trong nghệ thuật pha trà của người Việt, quan trọng hàng đầu là phải tìm cho được nguồn nước có chân thủy, tức loại nước có nguồn gốc tự nhiên sinh ra trong trời đất. Trong thuyết ngũ hành của người Việt: Kim - Thủy – Khí - Hỏa – Thổ, thì Thủy được cho là nguồn gốc tạo nên sự sống. Thủy sinh khí, nên thủy tinh khôi thì khí trong lành. Vạn vật sống trong môi trường trong lành thì mạnh khỏe, không bệnh tật. Nước trà uống vào có giá trị khai thông chân khí, khai thông thần lực của con người, giúp con người thêm tỉnh táo minh mẫn. Cho nên đã “nhất nước”, mà lại phải là loại có “chân thủy” tự nhiên, khả năng dẫn thần mới đỉnh cao nhất.

Chân thủy trong quan niệm dân gian Việt Nam có hai nguồn gốc là chân Thiên và chân Địa. Thiên thủy là nước trời mưa, nước sương đêm - là những “hạt ngọc” của Trời ban tặng Trần gian để nuôi dưỡng vạn vật; Địa thủy là nước giếng khơi, nước sông, nước suối - là thứ nước sản sinh ra từ trong lòng đất mẹ, cũng để nuôi dưỡng vạn vật. Kinh nghiệm lấy nước cũng được cổ nhân truyền dạy rằng:

“Khê thủy thượng,

Giang thủy trung,

Tỉnh thủy hạ”

Nghĩa là nước suối phải lấy ở đầu nguồn, nước sông phải lấy giữa dòng, còn nước giếng thì khi thả gàu xuống, phải khỏa gàu cho lớp trên bề mặt nước giếng dạt qua hai bên, vục gàu sâu xuống mà múc lấy lớp nước ở dưới mới tinh khiết.

Cách tìm chân thủy để pha trà ở đất kinh đô Huế lại không giống với Nghệ An. Sử sách còn lưu truyền câu chuyện thưởng trà của vua Tự Đức “...Sáng sáng các cung nữ thường chèo thuyền nhỏ đi gom hứng những giọt sương vương đọng trên lá sen về pha tra cho vua ngự...”. Trong nội đô Huế có hồ sen Tịnh Tâm, bông lớn, sắc sen tươi hồng, hương sen thơm đặc biệt, hạt sen ở hồ này cho đến nay vẫn là đặc sản lưu truyền của xứ Huế. Nước sương được đem về gom vào một cái vại sành, cất dành chỉ để dùng pha trà. Chân thủy của nước ấy có nguồn gốc từ trời cao muôn vàn tinh tú. Đậu xuống lá sen và trải qua một đêm gần gũi đất mẹ và vạn vật. Nước ấy cũng hài hòa âm dương nên cũng là loại nước có thần lực vậy. Tìm được nước rồi lại còn phải biết cách để giữ được cái thần của nước cũng là điều đáng bàn. Trên vại sành đựng nước sương thường được đậy một cái sàng đan bằng tre, trên sàng đậy thêm dăm ba lớp lá sen hoặc lá chuối lên trên, làm như vậy thoáng khí mà không bay hơi. Dăm bữa nửa tháng, trong vại sành có chút rêu xanh mọc lên, nước trở nên trong vắt như gương soi. Người sành trà cho rằng nước ấy mà dụng để pha trà, nhấp vào đến đầu lưỡi là biết sự thanh khiết của trà đến đâu]

                       (Trà Đạo Việt Nam - Phan Lan Hoa)

Yếu tố cần thiết để có thể pha trà ngon còn là yếu tố nước; không phải lấy nước ở đâu cũng được và bất cứ ngày giờ nào cũng được.

Thứ nước làm cho trà tăng hương vị, hoặc giữ trọn hương vị gọi là nước suối núi vì suối là bạn của trà (tuyền dĩ trà vi hữu), thứ hai là nước giếng núi, là hai thứ nước của thiên nhiên, vị nước ngọt, thanh. Thứ ba là nước sông, những dòng sông ngày chưa bị ô nhiễm.

Ngày xưa nước mưa, cũng như nước tuyết cũng được liệt vào hạng bạn của trà, nhưng ngày nay, ở thời đại ô nhiễm nầy thì mây trên trời cũng không còn mang lại những giọt nước trong lành nữa. Cũng thời xưa, các ông vua cầu kỳ, sai hứng lấy sương đọng từ lá sen để pha trà. Ngày nay người ta uống nước máy nhưng với các chất sát trùng hóa học, hoặc chất vôi trong nước làm cho trà trở thành tím và mất rất nhiều hương vị.

Ngày nay với thời đại văn minh nầy, người nghiện trà, hoặc là mua nước suối, hoặc dùng nước máy nhưng phải đun lên một lần, mang lọc qua những cái lọc giấy mà người ta vẫn dùng để lọc cà phê, có thể đặt thêm một miếng bông gòn để cho các chất vôi, cáu và thuốc khử trùng hóa học đi bớt. Thứ nước nấu và lọc nầy xong, còn phải để ra vài ba ngày mới mang đun trà, có như thế trà mới không đổi sắc và hương vị. Cố nhiên là không bằng với nước suối núi được. Thời Lục Vũ người ta chia ra đến mấy chục thứ nước nhưng bây giờ thì con người đành phải bớt khó tính, bớt cầu kỳ.

Nước sôi có 3 độ, lúc ban đầu nước sủi lăn tăn như những hạt cườm nhỏ, hay mắt cá đang nổi lên, độ thứ hai trở thành hạt châu, to hơn, những hạt châu lăn lóc trên mâm bạc, độ thứ ba nước bắt đầu lên tiếng gào thét, những hạt châu trở nên điên cuồng đòi vùng ra khỏi nồi nước. Lúc nầy cần phải lấy xuống ngay, không nên để lâu nước sẽ làm cứng trà. Kỵ nhất là nước đun từ nửa tiếng hay một tiếng đồng hồ trước, mặc dầu đã bỏ vào bình thủy, nước vẫn không đủ sức làm chìm trà. Khi một ấm trà đã hỏng rồi thì chỉ có cách là bỏ ra làm ấm khác.

Những nguyên tắc căn bản

- Nước sôi đổ vào để tráng ấm cho nóng và sạch.

- Bỏ trà vào ấm, vừa với độ chứa của ấm, độc ẩm hay song ẩm hay quần ẩm. Người nghiện còn bỏ một lớp trà một lớp mạt trà, rồi lại một lớp trà trên nữa. Mạt trà là để gọi những vụn trà còn lại bên dưới, mỗi lần thay trà mới vào hộp, người ta cất riêng cái vụn không cho lẫn.

- Nước đang sôi chế vào trà rồi đổ ra ngay, gọi là rửa trà hay là để cho trà được thấm chất ẩm.

- Đặt ấm vào dầm chế nước sôi vào ấm (Xin nhắc lại - đã viết ở trên: Cái dầm hay đĩa dầm dùng để ngâm ấm trà cho nóng; còn gọi là trà tẩm hay trà thuyền), đậy nắp ấm và sẵn nước sôi, chế cả lên ấm cho gần ngập, làm như thế để trà được nóng từ trong ra ngoài tất cả trà phải toát ra hết chất tinh túy.

Trong lúc chờ trà ngấm, lối 5 phút thì phải lo sửa soạn quay chén vào nước sôi, cả chén tống cũng phải được tráng nước sôi. Sau 5 phút có thể pha trà ra chén tống để rồi chuyển vào những chén quân mà thưởng thức với tri kỷ.

Không kể lần nước đổ ra khi rửa trà, nước nầy gọi là Khất Cái, tức là nước đổ cho ăn mày uống, vì người ăn mày thời xưa cũng biết thưởng thức trà.

Nước thứ hai, mới chính là nước trà nhất, vừa thơm ngon đậm đà, đủ ba yếu tố, tam tài tức là thiên, địa, nhân, thiên là Hương trà, địa là Vị trà và Nhân là màu Sắc của trà. Nước thứ nhất được gọi là Hoàng Đế trà, theo nguyên tắc Quân Sư Phụ; nước thứ hai là Lão Bá, tức là cha mẹ ông bà, hay thầy giáo, người mình kính trọng; Nước thứ ba gọi là Bình Dân trà.


Đi đầu trong việc pha trà là chọn nước. Từ xưa người Trung Hoa đã bỏ nhiều công sức bàn về chuyện này, có người viết cả cuốn sách chỉ luận thứ nước nào pha trà ngon như cuốn Tiễn Trà Thủy Ký - “Ghi chép các loại nước pha trà ngâm” của Trương Văn Tân viết năm 814; trong đó nêu nhiều địa danh ở Trung Hoa nổi tiếng cho nước pha trà ngon. Lục Vũ thì cho rằng nước suối pha trà ngon nhưng phải tránh nơi gần thác vì nước vẫn đục, thứ đến là nước sông nhưng phải lấy giữa dòng. Nhưng đúc kết của trà nhân từ xưa để lại ba kinh nghiệm: thứ nhất Sơn thủy thượng (nước đầu nguồn hoặc sương tuyết tan trên vùng băng giá), thứ nhì Giang thủy trung (nước ở giữa lòng sông) và cuối cùng Tỉnh thủy hạ (nước ở giếng sâu).  Theo giới chơi trà thời nay, nước pha trà phải khử độ cứng của nước và có một hàm lượng vi khoáng nhất định mới ngon, họ cho rằng nước cất hay nước mưa (nước tinh khiết) pha trà uống lạt phèo.

Độ nóng của nước cũng quyết định chất lượng chén trà, không đủ độ nóng thì không chiết hết tinh trà, quá nóng trà nhũn và bay mất hương vị. Giới quen dùng trà hiện nay thường bảo với nhau: trà xanh dùng nước khoảng 85 C, trà lài khoảng 90 C, còn hồng trà (tức trà đen theo lối gọi Phương Tây) phải sôi 100 C. Ngày xưa người ta lắng đọng tâm hồn vào chén trà ngay trước khi nó được pha, các cụ thưởng thức trà ngay từ tiếng reo của nước đang đun nên tinh tế phân biệt ba loại nước sôi: độ thứ nhất là nước sôi “giải nhãn” trông như mắt loài cua (mới chớm sôi); độ thứ nhì là “ngư nhãn” tức bọt nước lăn tăn trông giống như mắt đàn cá đang lội gần mặt nước (sôi vừa); cuối cùng là nước sôi to.

Tùy loại trà và kinh nghiệm uống mà hãm 15 đến 60 giây đồng hồ có khi 3 phút. Nước thứ nhất chỉ nên rót ra 2/3 ấm, chùa lại 1/3 ầm làm nước cốt cho lần thứ hai. Lần thứ hai cũng vậy, chừa 1/3 cho nước ba. Nước ba là nước cuối cùng.

Múc trà cho vào ấm pha phải dùng một thứ dụng cụ gọi là cóng xúc trà chứ không bốc tay, và xưa kia các cụ nho gia gọi động tác này rất văn chương: “Ngọc diệp hồi cung” (lá ngọc quay về cung). Nước châm lần thứ nhất hơi ngập mặt trà rồi chắt ra để tráng (rửa) trà được gọi là “Cao sơn trường thủy” (núi cao sông dài). Nước lần thứ hai đổ gần đầy có tên “hạ sơn nhập thủy” (xuống núi tắm sông). Bấy giờ chờ khoảng 1 phút cho trà thấm ra, rồi rót ra chén tống và chia cho từng chén quân. Khi chia trà cũng không rót đầu chén này rồi qua chén kia; mà rót một chút vào mỗi chén, hết vòng nếu còn rót thêm một vòng nữa. Rót như thế hương vị và độ đậm nhạt các chén đều như nhau. Rót trà cũng đòi hỏi có khuôn phép và thể thức. Nếu rót xoay vòng các chén quân mà không nhấc tay lên gọi là cách rót “Quan Công Tuần Thành”; còn nếu rót một chén xong nhấc tay lên rồi rót chén khác gọi là cách “Hàn Tín Điểm Binh”.

Lại nữa, khi rót trà đừng bao giờ rót đầy chén, chỉ rót 2/3 mà thôi. Những loại trà vàng, trà trắng, trà xanh nên hãn trong chén có nắp mới ngon. Còn dùng ấm là trà đen, trà phổ nhĩ và trà Ô Long.

2. Thưởng lãm trà

Thưởng lãm trà có nghĩa là thưởng thức trà; nó là một nghệ thuật. Ở Việt Nam chúng ta nên lưu ý có hai thú uống trà: thú của giới bình dân uống trà xanh chan chát và thú của giới trung lưu trí thức uống trà tàu (tức tiễn trà). Mỗi thú nên dùng một loại bình riêng: trà xanh nên dùng bình to loại lam xanh của Việt Nam, trà tàu nên dùng ấm sứ theo kiểu đời Minh-Thanh. Ngay cả dùng thứ trà bột (mạt trà) dùng đồ lam Huế của Việt Nam mới ngon; do vậy có một thời giới trà đạo Nhật Bản nhập gốm sứ lam Huế về phục vụ cho nghi thức uống trà của họ: Lam Huế lừng danh thế giới từ đó.

Loại trà tươi mà người Việt quen gọi là trà xanh được nấu từ nguyên nhánh trà tươi nấu lên hay từ nụ vối, lá vối nên uống bát sành mới thấy thú. Ngày xưa trên đầu môi người Việt luôn có chữ “bát chè xanh” tức là loại trà này, nó được bán ở đầu chợ đầu làng mà nay ít còn thấy. Loại trà này uống vào có vị chát nhưng sau đó trong cổ có hậu ngọt. Khi phong trào uống trà xanh có lợi cho sức khỏe khởi đầu vào thập niên cuối của thế kỷ 20, các chợ ở Việt Nam có bán trà tươi nguyên nhánh và nhiều người mua về tự nấu tại nhà.

Trà ngon phải hội đủ ba yếu tố: Hương, Vị, Sắc. Nếu để mất đi một là không thể đạt được, đây dành cho người biết thưởng thức. Lắm khi trà ngon lại pha không thành, mà trà thường lại pha ra ngon, đó cũng là nhờ tài pha của người biết trà. Hà tiện, bỏ ít trà, thì vị sẽ kém, bỏ quá nhiều thì vị và sắc cũng quá độ.

3 - Lợi ích của uống trà:

Lợi ích của việc uống trà được viết rất nhiều trong các sách cổ của Trung Quốc. Riêng về lợi ích sức khoẻ, có sách viết như sau: “Uống trà đúng cách giúp giải khát cũng như tiêu hoá, tiêu đàm, tránh sự buồn ngủ, kích thích sự hoạt động của thận, tăng cường thị lực, minh mẫn trong tinh thần, xua tan sự uể oải và làm tiêu mỡ.”

Trong những năm gần đây, những đặc tính y học thần kỳ của trà đã được các nhà khoa học chấp nhận một cách nghiêm túc. Nhiều nghiên cứu cho thấy, uống bốn cốc Trà xanh mỗi ngày có thể làm giảm sự nguy hiểm cho hoạt động bao tử, ung thư phổi cũng như bệnh tim.

(Còn tiếp nhiều kỳ)

                                                              Nguyên Lạc


READ MORE - TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 9) - Nguyên Lạc

CHÙM THƠ CHO THỦY TIÊN – Châu Thạch

      


VỊNH ẢNH THỦY TIÊN 

(Nữ nghệ sĩ dấn thân cứu trợ nạn nhân lũ lụt)

                             

Người cóng, tay run bưng bát mì 

Bỏ ăn quên uống bởi vì chi 

Thương dân nước lớn càng xông tới 

Cứu đói mưa dầm vẫn cứ đi 

Dung mạo thua đâu trang quốc sắc 

Anh hùng chẳng khác đấng nam nhi 

Cả và thiên hạ đều yêu mến 

Chỉ chó tranh công sủa ngại gì . 

 

THUỶ TIÊN TIÊN THUỶ!  

(Tặng nghệ sĩ Thuỷ Tiên) 

 

Em là cô tiên nước 

Đi cứu nạn thuỷ tai 

Trên đời không có hai. 

Chỉ em là tiên nước! 

 

Em xông về phía trước  

Đi vỗ về ưu phiền 

Tên em hoa Thủy Tiên 

Nên em là tiên nước 

 

Em chở nguồn ơn phước 

Đến xoá bớt nỗi đau 

Khi lũ lụt đến mau 

Cuốn an lành ra biển 

 

Em con người của thiện 

Em chỉ là nữ nhân  

Em không phải là thần 

Nhưng em làm việc thánh 

 

Nhìn em trong mưa lạnh 

Nhìn em trên sóng hồng 

Em xinh khi lội nước 

Đẹp ngồi thuyền qua sông 

 

Nhìn thấy em lồng lộng 

Rất lớn và rất cao 

Như nguồn sáng thanh tao 

Như nguồn ân ngọt ngào 

 

Em linh hồn của đạo 

Em tâm hồn chính nhân 

Em nghệ sĩ thời tân 

Em Thuỷ Tiên, tiên thuỷ!!! 

             

TÔI THẤY 

 

Tôi thấy một bà già 

Ngồi ngay trước cửa nhà 

Đói lạnh run liên miên  

 

Tôi thấy một cô Tiên 

Lội nước ôm túi tiền 

Cô cho bà mười triệu 

 

Bà già như muốn xỉu 

Vì vui mừng quá chừng 

Một đời làm còng lưng 

Có đâu được thế nhé 

 

Tôi thấy một bà mẹ 

Nhận mười triệu sửa nhà 

Thấy nữ sinh lệ nhoà 

Có tiền học đại học  

 

Trong lòng tôi muốn khóc 

Thấy bao cảnh đáng thương 

Niềm vui đến bất thường 

Vỡ oà trong tim họ 

 

Còn vạn ngàn cảnh khó 

Cô tiên chắc gian nan 

Lội nước và băng ngàn 

Đến tận nơi cứu trợ 

 

Có mấy tên man rợ 

Lòng ô uế nghi ngờ 

Buông lời thật nhuốt nhơ 

Tưởng ai cũng như nó 

 

Đời lọc lừa muôn ngỏ  

Vẫn có một nàng Tiền 

Trong sáng và dịu hiền 

Để niềm tin chẳng mất. 

 

               Châu Thạch 


READ MORE - CHÙM THƠ CHO THỦY TIÊN – Châu Thạch

QUA RỒI BÃO LŨ... – Thơ Tịnh Bình


   


QUA RỒI BÃO LŨ...

 

Quê nhà thức những sớm mai

Qua rồi bão lũ xanh ngày bình yên

Cành tre rộn tiếng chim chuyền

Chồi non mở mắt hồn nhiên bật mầm

 

Cánh đồng thả khói xa xăm

Mùa màng tiếp nối tháng năm miệt mài

Ngọt bùi xoa dịu đắng cay

Vòng tay mở rộng vòng tay chung lòng

 

Tan rồi vần vũ bão giông

Đàn gà cục tác nắng hồng vừa nhen

Đời quê cơ cực đã quen

Đâu than phận khó nâu phèn bám chân

 

Quê nhà nghe lại thanh tân

Mẹ ngồi vun luống cúc tần hiên mai...

 

                                     TỊNH BÌNH


READ MORE - QUA RỒI BÃO LŨ... – Thơ Tịnh Bình