Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, June 3, 2020

NGƯỜI NẮN TƯỢNG ĐẤT - Truyện ngắn MacDung


Người Nắn Tượng Đất
Truyện ngắn
MacDung




…Về sân ta quét lá đa…
Sớm chiều hai buổi dưa cà hắt hiu…


Chuyện kể rằng vào thời gian xa xưa, nhân thế còn bị chia cắt bởi quyền lực các vị tù trưởng. Cuộc sống con người rất khó khăn, vì việc giao thương qua lại giữa các nhóm bộ tộc không thống nhất. Khó khăn bởi lẽ “người cho đi nhưng chắc gì kẻ được nhận”… Vì vậy cuộc sống giữa các thành viên sa vào cơ cực, bữa đói bữa no…
Có một người hoàn cảnh sống cũng không khác chi, nhưng được trời phú cho bàn tay khéo léo và giỏi xoay xở nên quyết chí kết giao bạn bè, tìm học một cái nghề giúp thoát cảnh sống gian lao. Sau nhiều năm lưu lạc, anh ta gặp được một nghệ nhân truyền cho nghề nắn tượng đất. Vốn bản tính thông minh, qua vài năm theo học thì tài nghệ anh vượt xa người thầy. Những cục đất thô vụng qua tay anh như có phép phù thủy, biến thành những cô tiên, hoàng tử… phong cách tiêu sái, sống động lạ thường… Có người thấy tượng do anh nắn mà cứ ngỡ là thật, chỉ cái bé hơn con người thật thụ. Biết mình đã đạt được tinh hoa nghề nắn tượng, anh từ giã thầy trở lại quê nhà…
Ngôi làng hiu quạnh ngày nào bỗng chốc đông người lại qua. Tất cả mọi người từ già tới bé đều chen nhau, đến xem tài năng người nắn tượng. Mà không xem sao được khi anh quá tài hoa, những bức tượng rời khỏi bàn tay như bước vào cuộc sống, hòa mình vào đời thường không chút sai biệt… 
Người Nắn Tượng rất chịu khó trong việc chỉn chu cho tác phẩm của mình. Anh đi tìm và đào thật sâu xuống từng lớp đất, tìm cho được loại đất nâu đỏ, có vân, nhằm tạo ra những tuyệt tác có một không hai lưu danh hậu thế…
Từ một kẻ nghèo như bao người khác, Người Nắn Tượng bỗng chốc trở nên giàu có vì thu được lợi từ các sản phẩm độc đáo của mình. Tiếng lành đồn xa… Cuộc sống cơ khổ khiến nhiều người lao đến, xin anh truyền thụ cho nghề nắn tượng… Nhớ bài học “bó đũa” ngày nào do người già kể lại, và cũng không muốn tài nghệ mình bị mai một trong chốn nhân gian, anh liền nhận lời… Thế là từ lúc ấy sinh nghiệp của anh ngày càng to ra, to mãi… đến khi thâu tóm hết quyền lực trong bộ tộc…
Nam thanh, nữ tú. Phụ góa, con cô, đều trở thành đệ tử của anh với tuyệt nghệ nắn tượng đất. Ai ai cũng vui vì có một việc để làm, để cải tạo nơi ăn chốn ở quá nghèo nàn, lạc hậu.
Để có được nhiều tiền, người ta chen nhau kéo tới xin thụ giáo, và nơi Người Nắn Tượng ở, phút chốc trở nên chật chội khác thường. Nhu cầu về nơi ăn chốn ở trở nên cấp bách và một số người thành tài quyết định tìm nơi khác để phát huy tài năng…
Bất cứ nơi đâu cũng không thiếu vắng những học trò Người Nắn Tượng. Và bất cứ nơi đâu người ta cũng biết đến tên tuổi anh với tài nghệ siêu tuyệt hớp hồn người…
Thời gian cứ trôi và đi mãi… Một hôm người ta chợt nhìn lại quê hương của mình mà không sao nhận ra bóng dáng ngày nào. Cây xanh, đồng ruộng đã không còn, chỉ trơ lại những hồ ao tiếp nối: Hậu quả của việc lấy đất để nặn tượng… Lúc này mọi người mới ngỡ ngàng, mới đớn đau nhớ lại… Họ chỉ nhớ để mà đau, chứ không thể nào dùng những tượng đất lấp đi khiếm khuyết bởi sự tàn phá vô hạn…
Tượng đất dù đẹp, có thể cho ra tiền, nhưng bản thân nó vô tri, vô cảm, không biết khóc cười. Còn quê hương có thể cho ra trái ngọt, nước mát. Có thể ôm ấp, nuôi nấng con người bằng nhiều hình thái biến hóa từ đất mẹ - những cái mà con người chưa chịu nghĩ và khai thác đến cùng… 
Người Nắn Tượng đã không còn. Quê hương lại chịu sự tàn phá. Con cháu ly tán trong cảnh đồ sinh… Giá như… Phải chi… ngày ấy mọi người không học nghề nắn tượng, chắc ngày nay đã khác hơn. Ai đó đã khóc khi nhìn lại những pho tượng lặng chết. Con người muốn có được tiền, phải cho ra những hình nhân bằng đất, im lặng, phản cảm, không biết chia sẻ nỗi đau với chính nơi đã sinh ra mình…
Người Nắn Tượng biết chăng? Anh ta không còn nữa… 
Quê hương khóc… 
Những người sống thì không thể quên sự cạn nghĩ, nông nổi của chính mình…

Có thể từ câu chuyện phiêu linh trong tiết trời lộng gió, thổi những chiếc lá đa xoáy cuồng trên mảnh sân vắng, mà ngày nay trên mặt đất loài người sinh sống không có sự bằng phẳng. Thiên nhiên cũng có… Nhưng tác hại lớn nhất vẫn chính là con người… Tham vọng và sự tàn phá… Điều đó có ích gì!?

...Về sân ta quét lá đa…
Sớm chiều hai buổi dưa cà hắt hiu…


Saigon - 17.4.2017

MacDung
         



READ MORE - NGƯỜI NẮN TƯỢNG ĐẤT - Truyện ngắn MacDung

Tuesday, June 2, 2020

GẶP NHAU, GIANG ĐẦU, GỬI T/S KHÔI ĐÌNH BẢNG, KHI MÌNH, KHỔ SỞ - Thơ Chu Vương Miện






GẶP NHAU

gặp nhau dang dở dở dang
cùng chung một chuyến chiều tàn về không
khi xưa em cũng có chồng
mà nay phiêu bạt tang bồng chốn nao ?
mùa xuân hoa mận hoa đào
mùa thu hoa cúc rộn chào nơi nơi
dời ơi đời đáng mớ đời
bỏ em kẹt giữa chợ trời vắng teo ?
hoàng hôn quán xá tiêu điều
kẻ buôn ngườì bán xế chiều đuờng xa
chuyện gần lan tới hôm qua
chuyện nay toàn chuyện con gà lứa heo
văn chương giá rẻ ngang bèo
12 bến nưóc chèo queo một mình
dở dang ôi chuyện cũng đành


GIANG ĐẦU

ngồi không ở bến nước giang đầu
con lạch dẫn vào vụng Tô Châu
Hàn San cổ tự Phong Kiều Trấn
Hàng phong thu nhuộm đỏ một màu
Một con thuyền nho neo nơi bến
lửa chài le lói giữa đêm thâu
hồi chuông thong thả rơi từng tiếng
sóng vỗ nghe buồn mé thuyền câu
giấc mơ hồ điệp còn đâu đó
sầu miên không rõ ở phưong nào ?


GỬI T/S KHÔI ĐÌNH BẢNG

quê vợ anh cũng là quê ngoại tôi
cách bến đò Dầng khoảng vài cây số
đi từ Thuỷ Nguyên Nuí Đèo qua Làng Sưa
rẽ về bên tay phải
đi thêm hai cây số nữa là lò gạch
rẽ phải đi khoảng 300 m nữa
là nhà ông ngoại tôi
mẹ tôi họ Đinh
làng Phục Lễ lớn quá chia làm hai
ngay hông chợ
phía đi về Trúc Động Gíáng Động
là Phả Lễ
đến bờ sông Lục đầu Giang

đọc bài thơ  “Đói Sách” của anh
tưởng đói cơm đói cháo
thì thác ngay
còn đói sách thì chả chết thằng tây nào ?
chúng ta tự hào
là có tới 4000 năm vdăng ghoá
vừa sinh ra đã biết đứng biết đi
đã trở thành trai làng Phù Đổng
Sách in ra bán làm chó gì ?
học chữ Nho chữ Hán
thì làm hầu sáng cho Tàu
trước sau cũng bị Hán hoá
học tiếng Gauloa
thì làm bếp làm bồi
làm phu mỏ than
ngoài Cẩm Phả Hòn Gai
làm phu cạo mủ cao su
Thủ Dầu Một Dầu Tiếng
làm phu nhổ cỏ
đờn điền cà phê DakLak Daknông
học dăm ba chữ Anglo Saxon
phụ thêm hai tay huơ huơ nữa
học làm ngươi nô lệ
tưởng đói cái thứ gì ?
hoá ra đói sách
như Nguyễn Mạnh Tường
Trần Đức Thảo
bội thực chữ lăn quay ra
mà chết ?
sách bày biện trong tiệm
bày đầy vỉa hè
nhưng cần vài cuốn
Học Làm Người không có


HỮU VÔ SẮC

hữu sắc như Tứ đại Mỹ Nhân
Tây Thi, Chiêu Quân
Điêu Thuyền, Dương Thái Chân
đẹp từ người tới tóc tới răng
không chê vào chỗ nào đưọc
vô sắc như Chung Vô Diệm
Trương Chi
Người trên là mẫu nghi thiên hạ
Người dươí là dân chài
cả hai đều tài
tài páo và tài xiểu
hoa hữu hương vô sắc
ngược lại hữu sắc vô hương
có hoa ở rừng
có hoa ở vườn
có hoa trồng dưới đất
có hoa treo lưng chừng
là loài chum gửi phong lan
“tụ kết tinh anh của gió sương
Muôn mầu muôn vẻ thoảng muôn hương”
Ơi hữu hữu vô vô
Ơi sắc sắc không không
sớm nở tối tàn
y phù dung
y thiêu thân
hoa quỳnh
chả còn gì ?
ngoài hư không ?


KHI MÌNH

“biểu được bình minh đẹp
nắng quái chiều hôm cũng tắt rồi”
                            (Thơ Chế Vân)

Nhân nghĩa cũng đi vào đoạn cuối
Trên bàn sạch nhẵn nước cùng nôi
Cơm rưọu no say người dông biệt
Phưong xa cát bụi gió tơi bời
Vườn hoang nhà trống tàu lá chuối
Bên nhà văng vẳng tiếng à ơi ?
Ngày ngày năm năm rồi thàng tháng
Mà ta lạc bưóc nước non người
Nhìn lê dăm tháp nơi đâu núi
Đêm hè đom đóm ánh trăng rơi


KHỔ SỞ

Xã hội làm khổ mình một nửa
Con lại mình làm khổ mình
Đang ông biến thành thằng
Đang dạy thành mất dạy
Có ông ăn việc làm
Khi không thành bị gậy
Đang làm nài voi
xuống làm nghề thịt chó
đang ở trong nhà
bị tống ra ngủ ngoài đường
đang công dân thành tù nhân
đang tỉnh trở thành điên
bị vợ cho mọc sừng
bị ghệ cho leo cây
xơi thịt chó không có
toàn giả cầy
hết giả đến dói
đều lừa đảo
chả cơm toàn cháo
không có Bố Cái Đại Vương
toàn là Bố Lếu Bố Láo

                 Chu Vương Miện

READ MORE - GẶP NHAU, GIANG ĐẦU, GỬI T/S KHÔI ĐÌNH BẢNG, KHI MÌNH, KHỔ SỞ - Thơ Chu Vương Miện

MƯA CẦN THƠ - Thơ Nguyên Lạc





MƯA CẦN THƠ

Phố người thảng thốt mưa rơi
Sầu luồn ngất ngất một thời xa xưa

Mưa tình góc khuất ru mơ
Nhung thơm tóc xỏa nghiêng bờ vai tôi
Nồng nàn một nụ hôn môi
Ngọt ngào câu nói "anh ơi thương hoài"

Mưa ướt má mưa ướt môi
Cần Thơ một thuở có tôi yêu người
Con đường lất phất mưa rơi
Tung tăng chân sáo em cười giòn tươi

Mưa trong mắt. sầu trong tôi
Đón đưa trễ hẹn lệ đầy ngây thơ
Ly chè tạ lỗi ngày xưa
Trường Đoàn Thị Điểm như vừa hôm qua

Em lên đại học Văn khoa
Cái Răng một thuở cúc hoa áo dài  [*]
Đường về vàng cả chiều phai
Trong tôi rạng rỡ hình hài dấu yêu

Mưa thương nhớ biết bao nhiêu
Rộn ràng bến chợ Ninh Kiều lang thang
Tay trong tay. quán đèn vàng
Mắt trong mắt. nhạc "Em tan trường về"

"Em tan trường về đường mưa nho nhỏ
Em đi dịu dàng, bờ vai em nhỏ
Chim non lề đường, nằm im dấu mỏ
Ôm nghiêng tập vở, tóc dài tà áo vờn bay"

"Em tan trường về, mưa bay mờ mờ
Em tan trường về, anh theo ngọ về
Anh trao vội vàng, chùm hoa mới nở
Ép vào cuối vở muôn thuở còn thương" [**]

Mưa. lữ khách. nỗi nhớ quên
Làm sao quên được mà quên đây người?
Những cơn mưa của một thời
Cần Thơ yêu dấu có người tôi yêu!

Phố người một bóng hắt hiu
Mưa đêm lất phất nghiêng xiêu ngăn đời
Ngoài trời. mưa mãi không thôi!
Trong tôi. mưa nhớ một thời có em

                                            Nguyên Lạc

.............

[*] Trường đại học Văn Khoa trên đường về Cái Răng, Cần Thơ
[**] Lời nhạc Ngày Xưa Hoàng Thị - Phạm Duy

READ MORE - MƯA CẦN THƠ - Thơ Nguyên Lạc

CHÙM ẢNH HOA CÚC VÀNG CỦA CHU VƯƠNG MIỆN




 

 



READ MORE - CHÙM ẢNH HOA CÚC VÀNG CỦA CHU VƯƠNG MIỆN

NGÀY XƯA... - Thơ Lê Phước Sinh



    Nhà thơ Lê Phước Sinh


NGÀY XƯA...

muốn biết mùa Hạ đến
cứ nghe tiếng ve reo
dập dồn như nhạc ngựa
từ xa đang đổ đèo...

đem về chùm nắng ngát
treo những nhánh phượng hồng
để chia tay nhung nhớ
cười mà mắt lệ trông ...

Bạn, nhớ  Hè  xưa  không ?

                   Lê Phước Sinh

READ MORE - NGÀY XƯA... - Thơ Lê Phước Sinh

Monday, June 1, 2020

NHỮNG NGƯỜI NHẢY TÀU - Trần Duệ


                Nhà văn Trần Duệ


NHỮNG NGƯỜI NHẢY TÀU
                                                                     Trần Duệ
                                                                         
Đêm. Rừng cao su u tịch. Bóng đen phủ kín cả vùng trời. Cố nhướng mắt nhìn nhưng tôi không thể nào thấy được những hàng cây cao su đứng thẳng tắp trước mặt; chỉ thi thoảng vài tiếng tắc kè kêu và đôi tiếng lào xào của vòm cây tối thẫm. Trời như chuẩn bị đổ mưa, những ánh chớp lóe lên ở phía xa xa cũng đủ soi chiếu tới ngôi mộ được quét vôi trắng nằm ở giữa vườn. Người chủ trang trại đang nằm cái võng kế bên tôi cho biết, đó là mộ của một thanh niên bị voi đạp chết, nhưng không có thân nhân nên dân địa phương chôn ngay tại nơi thọ nạn. Sau khi mua lại mảnh đất này thì anh xây mộ, hàng đêm đều cho công nhân thắp nhang và thành tâm cầu mong người đã khuất phù hộ cho mình được yên ổn làm ăn. Đó quả là một cảnh tượng rùng rợn, ma quái, nhất là đối với những người chưa quen ngủ trong rừng cao su vào ban đêm như tôi.
Anh chủ vườn nói, trước lúc anh đến nơi này thì đây là một vùng rừng núi rộng lớn. Ở đó có đường tàu Bắc Nam đi qua và có một ga nhỏ, chủ yếu là để tránh tàu lúc cần thiết và cũng là nơi trú ngụ của công nhân đi tuần đường. Mọi chuyến tàu vào ga đều giảm tốc độ, và đây chính là điều kiện để người ta tuồn gỗ lên tàu. Ga xép vì vậy trở thành nơi cưu mang, nơi nương tựa cho những mảnh đời, những phận người tứ cố vô thân... Anh về đây mua gần 30 hecta đất để trồng cao su. Lúc đó rừng không còn, và đàn voi vốn gieo rắc kinh hoàng bằng việc phá phách và đạp chết gần chục người đã được chính phủ bắt về nuôi ở rừng Tây Nguyên. Nông trường cao su quốc doanh được thành lập, kéo theo vài ngàn công nhân tụ về, khiến cái ga xép ngày xưa cũng bớt đi phần nào quạnh quẽ. Rừng xưa không còn, nhưng vẫn còn đó những câu chuyện đau thương của những người khai cơ dựng nghiệp, những thợ rừng, những người “rớt tàu”, vẫn được mang ra kể cho nhau nghe trong những lúc trà dư tửu hậu. Tôi nằm im trên võng giữa đêm khuya ở vườn cao su đang khai thác hơn 10 năm để nghe người bảo vệ già của nhà anh bạn, và cũng là người sống lâu năm ở địa phương này, kể về những người “rớt tàu”. Tôi chợt hiểu ra sự thành công nào cũng kết tinh bằng cái vinh, cái nhục của con người, bất luận cao sang hay thấp hèn. Người bảo vệ già kể về nhiều người ở địa phương, nhưng sao tôi vẫn không quên được một người có tên là Trung
Câu chuyện như thế này…
Tiếng còi tàu nghe càng to dần. Mọi người đều hiểu lái tàu chỉ báo là tàu chạy chậm vào ga chứ không dừng. Một người lao ra khỏi tàu. Đoàn tàu vô tư chạy vào cánh rừng trước mặt. Ga nhỏ chìm vào bóng đêm. Tất cả trở lại không khí rờn rợn của vùng rừng núi. Trung liêu xiêu đi dọc đường sắt. Đá lởm chởm dưới chân hắn. Chiều nay hắn uống hơi nhiều. Hết thằng thợ rừng này tới thằng thợ rừng khác mời hắn uống rượu. Tụi nó mới bán được mấy mét khối gỗ. Trung bực bội khi thằng nào đó dám nằm ngáng đường đi của hắn. Khuya rồi mà mầy còn nằm ngủ đây hả? Hắn càu nhàu. Mày biết tao là ai không, hả? Hắn đá mấy đá lách nhách vào lưng cái thằng đang nằm ngáng trên đường sắt. Thằng ngáng đường vẫn nằm im. Mày không sợ tao thì thôi. Tao ngủ luôn đây cho vui. Chỉ có trời đất mới nghe được giọng lè nhè của thằng say rượu. Trời chưa mờ sáng. Anh tuần đường bắt đầu đi làm. Anh nghĩ, may mà không có tàu chạy qua. Nếu có chắc tụi mày chết từ lâu rồi. Kéo hai tên vi phạm luật an toàn giao thông ra khỏi đường sắt, anh tiếp tục đi tuần. Trời sáng trợt, Trung giật mình thức giấc. Không hiểu sao mình lại ngủ đây. Thằng nằm với mình sao bị dính nhiều máu như vậy? Trung lật đật chạy về nhà. Nhà hắn cách nơi đó cũng không xa. Mấy hôm trước, con bò kéo xe vẫn ăn cỏ ở quanh đây, vậy mà hắn tìm mãi mới ra. Con bò chẳng buồn nhìn hắn.
Chiếc xe bò cọc cạch đi về huyện. Thằng nhảy tàu vẫn nằm im. Máu ở mũi đã ngưng chảy. Trung quất roi thật mạnh để con bò đi nhanh hơn, nhưng cũng phải đến gần trưa thì mới tới được bệnh viện huyện. Bác sĩ và cô y tá lau máu trên mặt rồi hỏi tên bệnh nhân. Lỳ - Trần Đình Lỳ, Trung dõng dạc, dù Trần Đình chính là họ và chữ lót của Trung, còn Lỳ là…lỳ, vậy đi! Vợ Trung thuê xe ôm chạy lên bệnh viện, nhăn nhó nhìn Trung, “đúng là thứ người thích rước họa vào thân”. Trung chẳng buồn cãi. Vợ hắn đưa cho hắn một cọc tiền và chiếc khoen vàng vừa tháo ở ngón tay rồi lại quày quả về. Ngày hôm sau, thằng Lỳ tỉnh. Nó nhướng mắt nhìn Trung. Trung mừng trong bụng. Nhà ở gần đường sắt nên hắn hiểu rằng những thằng nhảy tàu không đúng cách hay rớt tàu đều khó mà tỉnh lại. Trung bưng ly nước cho thằng Lỳ uống. Nó nhếch môi, “cho em xin ly rượu”. Trung nghĩ trong đầu, đời tao uống rượu đã hơn hai chục năm, nhưng bệnh mà cũng đòi rượu thì đúng là sư phụ của tao rồi. Miễn! Bắt gặp ánh nhìn khó chịu của Trung, thằng nhỏ vừa đang muốn nói gì bỗng ngưng lại, nuốt nước bọt nhìn lơ chỗ khác. Trung nghĩ, dù gì thì mình vẫn còn hên hơn thằng nhỏ này. Mình cũng nhảy tàu xuống đây vào ban đêm nhưng thân thể lành lặn. Không biết thằng nhỏ này tìm đến đây vì lý do gì, còn riêng Trung chỉ đơn giản tìm đến đây để làm ăn và cầu mong một sự đổi đời vì quê hương bản quán của Trung làm ăn khó khăn quá. Rồi Trung gặp được vợ cũng hạng dân tha phương cầu thực như mình. Vậy là hai mảnh đời rách nát ráp lại với nhau để mong một sự đổi đời trên vùng đất mới. Gần 6 năm sống chung, tài sản của họ là chiếc xe và con bò kéo, cùng ngôi nhà lá nho nhỏ.
Trung tiếp tục làm nghề đánh xe bò chở gỗ thuê. Ngày nào thằng Lỳ cũng theo hắn bốc gỗ lên xe. Nó không đòi tiền công, không đòi ăn ngon. Nó chỉ thích ngủ ngoài hiên nhà. Hằng ngày nó chỉ thích uống rượu thay nước. Vợ Trung nhẩm tính. Mới mấy tháng mà thằng Lỳ đã làm lợi gấp mấy lần số tiền bỏ ra nuôi nó nằm bệnh viện. Lỳ không quan hệ với người khác, buổi chiều ngồi ở nhà uống rượu với Trung. Không hiểu hai người này hợp nhau ở điểm nào nữa? Vợ Trung cứ phân vân.
Đường rừng. Trời tối nhá nhem. Một người đàn ông đi làm về. Dáng hắn tỏ ra mệt mỏi. Ba người đàn ông nhảy trong bụi cây ra đứng ngáng giữa đường. Một tên dí dao vào cổ người đi đường.
-       Đứng im.
Người đàn ông chậm rãi trả lời:
- Có chuyện gì không ?
- Có bao nhiêu tiền bỏ ra hết.
- Có đồng nào đâu mà bỏ ra.
- Mày cương hả ?
- Các ông cứ lục soát đi.
Người đi đường vẫn thái độ chậm rãi. Một tên lục tìm trong túi áo và túi quần và cái bao cát đeo sau lưng nhưng chẳng tìm ra được một đồng tiền lẻ hay một vật dụng nào đáng giá cả.
- Rách việc.
- Mấy ông “chơi” lộn người rồi.
Một tên trong bọn quát lớn:
- Biến
- Để từ từ người ta đi
Tiếng một tên có dáng cao to nhất trong bọn:
- Thằng này ngon nhỉ?
Vẫn giọng nói chậm rãi:
- Mấy ông có gấp thì cứ đi đi. Tôi chẵng có chuyện gì mà vội.
- Mày có biết tao là ai không ?
- Không biết?
- Đồ điên. Mày mà không đi thì tao cho một dao bây giờ.
- Các ông cứ cho một dao để tôi thoát khỏi cuộc đời chó ỉa này.
Ba cái đầu chụm lại bàn bạc:
- Tụi mình gặp thằng điên rồi.
- Tao thấy nó đâu có điên
- Tao thấy nó quen quen.
Và hắn nói nhỏ đủ cho ba tên cùng nghe:
- Hình như thằng rớt tàu.
- Có phải thằng rớt tàu mà ông Trung xe bò lượm được.
- Ừ
- Thôi, thôi. Đụng vào ông Trung xe bò đó là phiền lắm.
Ba tên cướp im lặng rút vào rừng.
Người đàn ông đứng nhìn theo rồi lẩm nhẩm: “ Bọn này cũng sợ ở tù như tao”. Người vừa nói đó chính là thằng Lỳ. Trời tối hẳn.
Thằng Lỳ không uống cà phê buổi sáng. Thật ra là nó đi nếm thịt chó thuê ở một quán phía trước ga. Nghe nói chủ quán thịt chó là người luyện một loại bùa phép nào đó? Ông ta chỉ dám chế biến chứ không dám nếm. Nếu nó chê nhạt thì thêm muối, chê mặn thì thêm nước vô cho nhạt. Sáng nào thằng Lỳ cũng ăn một chén thịt chó và uống một xị rượu tiền công. Buổi sáng Lỳ đến quán thịt chó thật sớm để “ làm công” và hắn về nhà lúc chưa có khách đến ăn sáng. Sau đó nhiều thợ rừng vào nhậu, họ đến từng tốp, từng tốp rồi uống rượu, ăn thịt chó cho tới chiều. Những cuộc chửi lộn, đánh lộn diễn ra thường xuyên. Chủ quán không thèm can.
Lỳ không thích quan hệ với nhiều người nhưng không hiểu sao nó lại thích thằng Hoà đến như vậy ?! Vợ Trung càu nhàu cho cái tính tào lao của chồng mình. Người gì mà cứ thích rước ba thứ người cù bất, cù bơ ở đâu đâu về nhà mình. Ngôi nhà lợp lá của vợ chồng Trung vốn đã nhỏ nay có thêm một người vào ở chung nữa, đó là Hòa. Ngày nào Hoà cũng đi bốc củi thuê còn Trung và Lỳ đánh xe bò chở gỗ. Cứ chiều chiều, ba người lại ngồi uống rượu. Có hôm không biết họ nói với nhau những chuyện gì mà vợ Trung thấy Hoà khóc tại bàn nhậu. Có hôm vợ Trung nghe thằng Lỳ nói với Hoà “ Đời mày sao buồn như cóc cắn vậy?”. Lúc rảnh rỗi vợ Trung hỏi lý do thì Trung chỉ trả lời “ Ai mà biết cho được”. Nói vậy nhưng Trung biết rất rõ hoàn cảnh của thằng Hoà. Trung kể hoàn cảnh của Hòa để vợ biết. Gia đình thằng Hoà ở cái tỉnh nào đó tận ngoài miền trung và giàu có lắm, nhưng nó bỏ nhà đi chứ không ở chung với cha mẹ. Hoà có 4 chị em gồm hai trai và hai gái, Hòa con út. Ai cũng chí thú làm ăn, riêng Hoà thích đờn địch cả ngày nên cha mẹ nó không thích. Việc không thích đó được phơi bày rõ nhất là khi cha mẹ Hoà tự thấy mình đã già nên viết di chúc chia tài sản cho các con. Ai cũng có phần nhưng riêng Hoà thì không. Lý do cha mẹ của Hoà đưa ra là “ Giao của cải cho thằng mê ca hát thì nó không giữ được”. Hòa bỏ nhà ra đi với những suy nghĩ đến cháy lòng. Hắn lên chuyến tàu xuôi Nam với ý nghĩ bất định. Không biết ai trên cùng chuyến tàu đã chỉ cho hắn nơi dung thân. Hắn “rớt” xuống đây. Vậy là nơi này sẵn sàng dung nạp hắn nhưng với điều kiện là siêng làm, chịu cực và có đủ sức chịu đựng những cơn sốt rét rừng. Trong cơn đói khát đến tận cùng, người đầu tiên mà Hòa gặp ở đây chính là Trung. Trung đưa Hòa về nhà của mình, rồi họ gắn kết cuộc đời với nhau. Không biết đây là điều rủi hay may trong cuộc đời của nhau. Điều mà nhiều người ở đây không ngờ là Hòa đánh biết chơi đàn và cũng là người duy nhất ở đây biết chơi đàn. Nhìn bàn tay của Hòa lướt trên cây Guitar và những âm thanh lả lướt phát ra từ đó, làm cho những khuôn mặt đen đúa, dữ dằn, chai sạn trước cái đẹp của những người đàn ông đang sống và làm nghề rừng ở đây đều dừng lại để chiêm nghiệm về cuộc đời mình. Hình như lúc đó con người của họ hiền ra. Từ tân nhạc cho đến cổ nhạc Hòa đều chơi được nên nhiều người từ đàn ông, đàn bà, con nít trong xóm rừng cùng tìm đến để nghe Hòa đánh đàn rồi họ cùng hát theo. Vậy là Hòa trở thành của quý ở cái xóm này.
Không hiểu Trung nói sao đó mà Hòa lại đi phát rẫy rồi làm một cái chòi bằng gỗ, lợp lá cho riêng mình. Trong đó Trung và Lỳ cùng phụ với Hòa tất cả các công việc. Hồi đó việc đi phát rừng làm rẫy không bị chính quyền ngăn cấm, vậy là trên trái đất mênh mông này đã ưu ái dành cho Hòa một mảnh đất, một tài sản nho nhỏ.
Người đàn bà chuyên đi mua gỗ về bán cho các nhà máy chế biến gỗ ở trên thành phố đã phát hiện ra thằng Lỳ ở quán thịt chó. Bà tìm gặp Trung nói nhỏ: “Cái thằng ông đang nuôi là một tên cướp nổi tiếng. Nó cướp của, giết người rồi bị Công an bắt. Lợi dụng sơ hở nên nó nhảy tàu trốn thoát”. Trung im lặng. Đêm hôm đó, không hiểu Trung nói gì với Lỳ mà thấy nó càng lầm lì hơn. Và kể từ đêm hôm đó, thằng Lỳ vô ngủ ở nhà của Hòa ở trong rẫy, còn ban ngày cả Hòa và Lỳ đều đi bốc gỗ và đánh xe bò cho Trung. Tiền công của cả hai đều được vợ chồng Trung cất giữ riêng nhưng chẳng bao giờ thấy họ yêu cầu trả công. Đêm đêm trong căn chòi nằm sâu trong rẫy phát lên những âm thanh nghe vang vang, réo rắt bằng tiếng đàn guitar và một giọng ca cổ nhạc đầy ai oán, bi thương... Trong mênh mông của núi rừng chỉ có một người đàn và một người hát.
Rồi cái đêm định mệnh đã đến. Trong ánh trăng mờ mờ, có một đàn voi không biết từ đâu nó đi lạc về đây. Thực ra đàn voi không đi lạc mà đây là một cuộc di cư để tìm đất sống, bởi vì những cánh rừng nơi chúng cư ngụ từ ngàn đời đã bị tàn phá đến cạn kiệt. Chúng tìm đến nơi đây dù gỗ quý không còn nhiều nhưng vẫn còn cây cao, bóng mát cho chúng nương thân. Đàn voi kéo nhau đi trong sự căm hận loài người đã cướp đi đại ngàn của chúng. Con voi đầu đàn tìm đến chòi rẫy nơi Hòa và Lỳ đang ngủ, nó rống lên một tiếng thật to để báo hiệu cho đồng loại. Hòa và Lỳ bật dậy nhưng chưa hiểu điều gì vừa xảy ra. Theo bản năng, cả hai người cùng bỏ chạy ra khỏi chòi. Lỳ may mắn chạy thoát, riêng Hòa vấp phải gốc cây té xuống. Vậy là Hòa đã chết dưới lòng căm hận đến tột cùng của đàn voi hung dữ. Căn chòi cũng bị chúng đạp nát, cây đàn guitar bị chúng hất văng lên và treo lơ lửng trên ngọn cây.
Hòa được chôn ngay vào buổi chiều hôm đó bằng những tấm ván được tháo ra từ vách nhà của Trung. Huyệt mộ cũng được đào ngay nơi Hòa đã chết. Đám tang chỉ có vài chục thợ rừng đến chứng kiến, không vui không buồn, không có nước mắt rơi, chỉ có những cái cổ nhướn lên nốc rượu đến say mèm. Trung nói nhỏ với Lỳ: “Hãy để cho gia đình thằng Hòa nghĩ là nó chỉ bỏ đi vài ba năm rồi cũng phải tìm về nhà”.
Đêm đêm, trong nhà Trung vang lên tiếng bài kinh Lạy Cha cùng những lời nguyện “...Lạy chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục, xin đem các linh hồn lên thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng chúa thương xót hơn.”
Những con người trong câu chuyện mà tôi đã kể không còn sống ở đây nữa. Sau đám tang của Hòa, thằng Lỳ được Trung đưa về huyện để đầu thú theo lệnh truy nã được ban hành từ nhiều năm trước. Tòa án ở thành phố xử nó vì tội tham gia giết người với mức án là 12 năm tù giam. Ra tù, Lỳ về lại nhà của cha mẹ ruột của mình ở trên thành phố và chăm chỉ làm ăn chứ không lấy vợ. Lỳ nhận nuôi nhiều đứa trẻ mồ côi cha mẹ ăn học đến thành tài, trong đó có 3 đứa ở địa òaphương này. Vợ chồng Trung cũng qua đời vì bệnh sốt ác tính ít năm sau cái chết của Hòa; hai đứa con gái của vợ chồng Trung đi lấy chồng xa và lâu lâu mới về thắp nhang cho cha mẹ một lần; khu đất của gia đình Trung đã được nhà nước thu hồi để xây dựng trường học. Thôi. Vậy cũng hết một kiếp người!
Mãi với suy nghĩ mông lung, tôi giật mình khi nghe tiếng xe máy chạy vào. Tiếng một phụ nữ nói lớn: “Dậy cạo mủ đi”. Tiếng trở mình và ngồi bật dậy của những công nhân cạo mủ cao su trong lán trại. Họ đang chuẩn bị cho công việc của một ngày mới. Tôi liếc nhìn đồng hồ, lúc đó là hai giờ sáng.  
                                                                           Trần Duệ                       

READ MORE - NHỮNG NGƯỜI NHẢY TÀU - Trần Duệ

CÒN THƯƠNG ÁO TRẮNG MỘNG MƠ - Thơ Nhật Quang

Ảnh minh họa: Người mẫu Tô Loan.

CÒN THƯƠNG ÁO TRẮNG MỘNG MƠ

Nhớ thời áo trắng mộng mơ…
Nghiêng che vành nón bài thơ dịu dàng
Bâng khuâng kỷ niệm…Hè sang
Còn vương ký ức rộn ràng đầy vơi

Thương sao xe đạp một thời
Con đường đến lớp phương rơi thắm hồng
Tóc mây gió nhẹ bềnh bồng
Theo sau bao gã trong lòng thầm yêu…

Nắng thơm vai lụa mỹ miều
Tuổi hoa đèn sách những chiều trường tan
Đùa vui bắt bướm, hoa ngàn
Giờ nghe nuối tiếc thời gian qua rồi

Luyến lưu lắm xe đạp ơi!
Còn trong giấc mộng bồi hồi…vấn vương
Nhớ thời áo trắng mà thương
Giỏ xe đạp chở ngát hương phượng buồn.

                                          Nhật Quang







READ MORE - CÒN THƯƠNG ÁO TRẮNG MỘNG MƠ - Thơ Nhật Quang

Sunday, May 31, 2020

NGẠO NGHỄ, DẾ GÁY - Thơ Châu Thạch



                  Nhà thơ Châu Thạch



NGẠO NGHỄ

Ta đứng đó như thời còn trai trẻ
Xuân sau lưng và mùa hạ trên đầu
Trước mặt ta rơi rụng lá thu mau
Và đông lạnh thuyền linh chờ cặp bến

Không cần biết thời gian đi hay đến
Buổi ta về Chúa sẽ đón trên cao
Thì giờ đây cứ ngạo nghễ đi nào
Còn một phút ta còn yêu một phút!
                      

DẾ GÁY

Trời đã định ta làm con dế mọn
Gáy từng đêm với những ánh trăng sao
Trong cơn mưa ta nuốt tiếng thơ vào
Xép đôi cánh nát lòng trong tăm tối!

Trời đã định ta làm con dế mọn
Suốt từng đêm ta cất tiếng lên cao
Để cho người chí sĩ ở trong lao
Nghe ta gáy mà đau hồn sông núi!

Dưới lớp cỏ ta chỉ là cát bụi
Đôi cánh ta Thượng Đế tỏ ơn lành
Để muôn chim khi tắt tiếng trên cành
Thì ta gáy chờ bình minh hé sáng!

Ta con dế, có gì đâu phải ngán
Sấm sét kia dẫu đến chổ ta nằm
Đêm càng dài ta càng chống tối tăm
Tiếng ta gáy động màng sương nhỏ lệ!

                                         Châu Thạch

READ MORE - NGẠO NGHỄ, DẾ GÁY - Thơ Châu Thạch

HÀ TIÊN THẬP CẢNH - Thơ Trần Đức Phổ


Hà Tiên Thập Cảnh


Hà Tiên phong cảnh đẹp như mơ!
Thập Vịnh* lưu danh mãi đến giờ
Kim Dự Lan Đào ngăn sóng cả
Bình San Điệp Thúy hiện tranh thơ
Đông Hồ Ấn Nguyệt trăng hoài mộng
Nam Phố Trùng Ba biển đợi chờ
Tiêu Tự Thần Chung hồn Mạc Cửu
Giang Thành Dạ Cổ trống doanh cơ

Giang Thành Dạ Cổ trống doanh cơ
Thuở ấy cha ông mở cõi bờ
Lộc Trĩ Thôn Cư miền đất hứa
Lư Khê Ngư Bạc chốn hoang sơ
Châu Nham Lạc Lộ chim về tổ
Thạch Động Thôn Vân ngọc tỏ mờ!
Nước biếc, non xanh, trời biển rộng
Hà Tiên phong cảnh đẹp như mơ!


tranducpho
READ MORE - HÀ TIÊN THẬP CẢNH - Thơ Trần Đức Phổ