Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, May 10, 2018

U UẤT, MÊ HOẢNG - Thơ La Thuỵ

Rảnh rổi, mình giở lại những bản thảo cũ, đọc những dòng thơ viết từ năm 1974, một chút bâng khuâng của hồi ức về dĩ vãng...

          
                 La Thụy năm 1978


U UẤT

Mắt xanh giết mộng tìm tri kỷ
Chết lặng rồi đây những ước mơ
Đời thêm nhiều ti bỉ
Đen lòng bao giọt đắng
Nhỏ ố cả tình thơ
              
                  Huế, 28/12/1974

MÊ HOẢNG

Đời chưa đen đủ
Café buồn nhỏ giọt bôi thêm
Thêm đắng chết môi mềm lưỡi buốt
Cho thẩn thờ khoác rộng áo hôn mê
Đắm tri kỷ, lòng mắt xanh càng rộng mở
Lạc hồn về theo khói thuốc phiêu du

                                         La Thuỵ
                                  Huế, 28/12/1974

READ MORE - U UẤT, MÊ HOẢNG - Thơ La Thuỵ

ƠN EM - Thơ Trần Mai Ngân


        
                             Nhà thơ Trần Mai Ngân



      ƠN EM

       Ơn em ngày nắng ngày mưa
       Ơn em tình rót ban trưa thật đầy
       À ơi... ru nhau ... ru nhau
       Ơi à... tình trước tình sau ngọt ngào

       Ơn em vội vã về mau
       Mùi hương bỏ lại nghìn sau vẫn còn
       Ơn chiều ngày nắng héo hon
       Khắc ghi hai chữ sắt son tháng ngày

       Ơn em áo mỏng vai gầy
       Tay ta quấn trọn một ngày tình nhân
       Ơi à... môi rất ân cần
       Ơn em... em đã thật gần thật xa

       Ơn em một nét dáng hoa
       Ngát thơm quyến rũ thật thà hồn nhiên
       Ơn em cất giấu ưu phiền
       Mình em giữ lấy giữa miền hư vô !
       
                                        07-5-2018
                                     Trần Mai Ngân

READ MORE - ƠN EM - Thơ Trần Mai Ngân

CHÙM TỨ TUYỆT THÁNG 5-2018 (II) - Thơ Nguyễn Khôi



         Nhà thơ Nguyễn Khôi


 CHÙM TỨ TUYỆT THÁNG 5-2018 (II)

       "Gió Tây thổi bỏng tim gan
       Vịt đưa về Phủ sẽ làm sao đây ?"
        (thơ "Sống Chụ Son Sao")

                         
*1-Trung Ương bàn "chuyển xoay" Tổ chức ?
-Phải chặn ngay "chạy chức" cả nhà Quan
Tham nhũng vặt " sửa tuổi" man Lý lịch
Tỉnh / huyện "Quan" toàn dây dợ họ hàng...
                         
*2-Ừ, "Cải cách tiền lương" nghe sướng thật
"Ai cũng tăng" ...Tiền lấy ở đâu đây ?
Quan chức ngốn 2/3 Ngân sách
Ai ở / ai về... "giảm biên chế" là ai ?
                         
*3-Nghe Quảng Ngãi lại ế thừa Dưa Hấu ?
Đua nhau trồng..."giải cứu" đã bao năm !
-Đã máy tính, 4 chấm O, mở cửa...
Mà vẫn đi "xe 3 bánh Công Nông" !
                        
*4- Có thể ngợi ca  " Putin Đại đế " !
Bốn nhiệm ký xốc khí thế toàn Nga
-Mỹ đã thua ở Syria, Trung Quốc (1)
Nhiệm ký này Sput-nhich bay xa ...
                        
*5- Về quê vợ : khoái qua đường Lạch Huyện (2)
Nửa giờ xe là  vút tới Hạ Long...
- Mừng Đất Nước tiến như Đường cao tốc
Nhiều Tập Đoàn "khởi" Kinh tế Tư nhân  (3).


                            Nguyễn Khôi
Hà Nội, 9-5-2018 (Hội nghị TƯ 7 đang thảo luận)

---------


(1) Thời Tổng thống Donald Trump hiện đang thua về quân sự ở Syria, thua về Thương mại với Trung Quốc, lại hay phát ngôn tùy tiện làm mất
lòng các nước Đồng minh Anh, Pháp, Đức...
(2)Đường Cao tốc mới từ Hà Nội đi Hạ Long chỉ mất 1h30'
(3)Thực chất của Kinh tế Thị trường là Kinh tế tư nhân...

       
READ MORE - CHÙM TỨ TUYỆT THÁNG 5-2018 (II) - Thơ Nguyễn Khôi

CÒN LẠI GÌ ? - Thơ Tịnh Đàm


 
      Nhà thơ Tịnh Đàm




CÒN LẠI GÌ ?

Còn lại gì ?
Chút chiều phai
Vàng theo bóng nắng
Ngả dài thềm xưa
Gió ru tình
Gió đẩy đưa
Nghe trong hồn lá
Cũng vừa xôn xao
Còn lại gì ?
Những chiêm bao
Tỉnh ra...
Là nỗi khát khao đi tìm
Đời mơ hoài
Một cánh chim
Tung trời mây trắng...
Thỏa niềm ước mong
Còn lại gì ?
Mối tơ lòng
Bao năm vương vấn
Vẫn hong sợi buồn
Vì đâu ?
Nước mãi xa nguồn
Chốn về
Biết có...
Người luôn đợi người ?!

             TỊNH ĐÀM
     (Hóc Môn, TP.HCM)

READ MORE - CÒN LẠI GÌ ? - Thơ Tịnh Đàm

BIỂN CỦA NGUYỄN THANH LÂM TRONG "RỪNG XANH MƯA" - Đặng Xuân Xuyến


         

         BIỂN CỦA NGUYỄN THANH LÂM 
         TRONG "RỪNG XANH MƯA"


Định viết bài cảm nhận về tập thơ RỪNG XANH MƯA của nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm nhưng tôi không đủ sự kiên nhẫn để đọc một mạch hết tập thơ, vì thú thật, để hiểu được thơ của ông, với tôi quả thật là không dễ, nên đành chọn phương pháp vài ngày đọc một bài, nghiền ngẫm từ từ, thật chậm để "ngộ" được "nỗi niềm thầm kín" ẩn trong những bài thơ mang mang hơi thở Thiền của ông. Hôm nay, đọc mấy bài thơ về biển, gặp những tứ thơ hay, lạ, tôi vội gõ đôi dòng theo mạch cảm xúc: BIỂN CỦA NGUYỄN THANH LÂM TRONG RỪNG XANH MƯA.

      
                                              Nguyễn Thanh Lâm


Với nữ sĩ Xuân Quỳnh: “Biển như cô gái nhỏ/ Thầm thì gửi tâm tư”, dịu dàng những xao động của cõi người, nhưng với Nguyễn Thanh Lâm thì biển không chỉ dịu dàng như thiếu nữ tuổi dậy thì mà còn đẹp hơn thế, khi ông phát hiện: biển trong mưa thật đẹp, đẹp trắng trong, tinh khiết “Như thiếu nữ đã vào chùa xuống tóc”, chỉ nên chiêm ngưỡng bằng tâm thể thánh thiện của cõi Thiền. Vẻ đẹp ấy đã khiến nhà thơ và cõi phàm trần “trở bệnh tương tư”, “ngẩn ngơ” tiếc nuối:

Biển lại mưa
Như thiếu nữ đã vào chùa xuống tóc
Mây ngẩn ngơ bay
Gió trở bệnh tương tư
Đường chân trời ảo mờ trong mắt
                   (Biển lại mưa)

Khi mưa tạnh, biển trở lại hiền hòa, êm dịu, thì dưới lăng kính lãng mạn của nhà thơ, biển đẹp như “cô gái mới vào chùa chưa xuống tóc”, còn nguyên nét ngây thơ, trong sáng của tuổi mới lớn. Nét đẹp ấy mơn mởn những phồn thực mà hồn nhiên, sáng trong, lặng thầm của hương trinh nữ, làm xuyến xao nhà thơ với miền cảm mến thanh tao, không vẩn nét phàm trần, khiến những trăn trở, nghĩ suy của nhà thơ về trách nhiệm với cuộc đời trở nên an nhiên, tự tại:

Lòng tôi rỗng không ngắm biển
Tóc trắng trên đầu lặng sóng
Mắt khép hờ lỏng then quá khứ - tương lai
Hồn nhiên nhịp thở
Hương hạnh phúc dâng đầy
         (Biển sau mưa)

Đứng trước biển, nhà thơ lặng lẽ quan sát, lặng lẽ thả hồn đắm chìm vào những cảm xúc để hồn thơ thăng hoabay lên. Những hình ảnh sống động, đan quyện vào nhau, uyển chuyển giữa hư và thực, tạo nên một bức tranh “siêu thực”, đẹp như trong cổ tích, thể hiện tài sử dụng hình ảnh thật khéo, thuần thục đến nhuần nhuyễn của nhà thơ:

Mưa réo sôi trên đầu sóng
Biển sưởi hồn tôi bằng mặt trời năm xưa
Tôi khẽ nâng mặt trời trong sóng
Ôm vào lòng cho đỡ ướt tâm tư
                      (Gặp mưa)

Vâng! Tôi thích những câu thơ như thế. Tôi thích những hình ảnh tráng lệ từ nét vẽ tài hoa của Nguyễn Thanh Lâm. Những câu thơ như: “Mưa réo sôi trên đầu sóng”, “Tôi khẽ nâng mặt trời trong sóng”... đã nâng nhà thơ lên thêm một tầm cao.
Con người và thiên nhiên đã thẩm thấu nhau, hòa quyện vào nhau, cùng phiêu trong cảm xúc của nhà thơ, tạo nên một bức tranh lung linh huyền ảo, đẹp đến ngỡ ngàng:

Trong vòng tay tôi mặt trời thiêm thiếp
Tôi tự ru mình trong tiếng mưa
                    (Gặp mưa)

Tôi yêu những câu thơ này! Tôi tự hỏi: “mặt trời” nào của nhà thơ “thiêm thiếp” vậy? Là ảo ảnh của tình yêu năm xưa chợt ùa về? Hay ảo ảnh mặt trời trong sóng biển khiến nhà thơ liên tưởng? Uầy... Là gì thì những hình ảnh ấy cũng rất đẹp, cũng khiến người đọc mơ màng, ngơ ngẩn.
Nhưng có khi, biển của Nguyễn Thanh Lâm không khoác hình hài của một thiếu nữ tuổi trăng tròn, đẹp dịu dàng, trong sáng, cũng không là hình ảnh “mặt trời năm xưa” khiến nhà thơ nâng niu “Ôm vào lòng cho đỡ ướt tâm tư” mà biển mang dáng dấp như người đã trưởng thành, người từng trải... bằng những câu thơ đượm vị đời với những suy tư, chiêm nghiệm, đậm chất triết lý, với những nỗi đau cũng thật đời, rất người:

Biển chưa im lặng bao giờ
Suốt đời quằn quại sóng
Cả đời mặn nước mắt khổ đau
Mưa trời không thể bão hòa vị mặn
                  (Nước mắt biển)

Đắm mình trong không gian sống động của biển cả, thả tâm tư hòa quyện với trời mây… nhưng nhà thơ không quên đối diện với “lòng mình” mà “ngộ” ra điều: biển không hề yên bình, giống như lòng thi sĩ cũng đang ngổn ngang trăm nghìn tơ rối, để mà thêm thấm: “Nước mắt chảy vào trong mặn cõi người”, để mà tự thức tỉnh về lẽ đời nơi cõi người vốn nhiều oan trái, khổ đau:

Tôi nhìn vào lòng mình thấy biển
Nước mắt chảy vào trong mặn cõi người
                          (Nước mắt biển)

Và có những lúc, biển của Nguyễn Thanh Lâm trở nên khác lạ, không ồn ào, dữ dội, không "quằn quại sóng" bởi "cả đời mặn nước mắt khổ đau", cũng không dịu dàng như thiếu nữ tuổi cập kê trăng tròn, mà biển yên bình, lãng đãng chất lãng mạn chốn thôn quê:

Sóng ì oàm vỗ mạn tàu
Nghe như tiếng gàu sòng tát nước trăng khuya
                                       (Đêm tạm trú)

Có lẽ chỉ nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm mới nghe được tiếng sóng biển vỗ mạn tàu "ì oàm" "như tiếng gàu sòng tát nước trăng khuya". Và chỉ có ông mới vẽ biển bằng những nét vẽ lãng mạn, yên bình, đầy chất thơ mà khác, lạ như thế.
Chừng 8 bài thơ viết về biển, như thế không phải là ít trong tổng số 70 bài thơ của RỪNG XANH MƯA. Thơ ông viết về biển, bài nào cũng tươi rói cảm xúc, cũng được cảm nhận bằng một tình yêu trong sáng, thánh thiện của cõi Thiền. Có lẽ vì không phải là người vùng biển nhưng lại rất yêu biển nên ông viết về biển bằng những cảm xúc thật, đẹp và lạ, bằng tâm trạng của người lâu lắm rồi mới gặp lại biển, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp đa sắc thái, đa hình ảnh... của biển mà hồn thơ ông bay bổng với nhiều sắc thái tâm tưởng.  
*
Hà Nội, chiều 08 tháng 05 năm 2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
READ MORE - BIỂN CỦA NGUYỄN THANH LÂM TRONG "RỪNG XANH MƯA" - Đặng Xuân Xuyến

Wednesday, May 9, 2018

NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ (Kì 23) - Nguyễn Ngọc Kiên

          
                  Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên


       NHỮNG  THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ 
       TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ  (Kì 23)

(74) 天涯海角 [CHÂN TRỜI GÓC BỂ] (Chân trời góc bể)
Hàn Dũ, tự Thoái Chi, là một tác gia lớn giữa đời Đường.
Năm 2 tuổi ông đã mất cha, không lâu sau mẹ ông cũng qua đời. Hồi nhỏ được anh anh trai Hàn Hội và chị dâu họ Trịnh nuôi nấng. Hán Hội có một người con trai tên Lão Thành, vì là con thứ 12 nên còn có tên gọi khác là Thập Nhị lang, ít tuổi hơn Hán Dũ. Sau này, năm Hàn Hội 42 tuổi, vì việc của Tể tướng Nguyên Tải, mà ông bị giáng chức xuống làm Thứ sử Thiều Châu, mấy tháng sau liền qua đời ở Thiều Châu, lúc này Hán Dũ chỉ mới 11 tuổi, thập nhị lang cũng rất nhỏ. Hàn Dũ dù có 3 người anh trai ( Hội, Biện, Giới) nhưng đều chết sớm. Lúc đó, con cháu  kế tục sự nghiệp của tổ tiên chỉ có 2 người là Hán Dũ và cháu trai Thập Nhị lang, vô cùng gian khổ.
Năm 19 tuổi Hàn Dũ rời Nghi thành một mình đến kinh thành, trong vòng 10 năm chỉ gặp Thập Nhị lang 3 lần. Lúc ông dự định quay về mãi mãi  sống cùng với Thập Nhị lang thì không may Thập Nhị lang lại qua đời. Sau khi biết tin, Hán Dũ đau đớn tột cùng, liền viết bài “ Văn tế Thập Nhị lang”, kêu Kiến Trung chuẩn bị trước mắt một ít vật phẩm gửi từ nơi xa xôi để tế cháu trai. Bài văn tế này, từng từ từng chữ khi đọc lên đều cảm thấy đau xót, rơi lệ.
Trong bài văn tế có câu “一在天之涯, 一在地之角”“ Nhất tại thiên chi nhai, nhất tại địa chi giác.”, người đời sau liền dựa vào câu tế đó viết lên câu thành ngữ “ Chân trời góc biển/ bể”, dùng để chỉ một nơi cực kỳ xa xôi.

(75) 后来居上  [HẬU LAI CƯ THƯỢNG] ( Sinh sau đẻ muộn mà vượt lên hàng / Đến sau mà vượt lên trước)

Câu nói “Đến sau vượt trước” hay còn hiểu là “Đi trước về sau”, nhiều người hiểu là người sau vượt người trước, nhưng hàm nghĩa thực sự của thành ngữ này lại vô cùng sâu sắc.
Cấp Ảm là một vị quan Đại Thần dưới thời trị vì của Hán Vũ Đế trong thời kỳ Tây Hán (206 TCN – 23 SCN). Ông là một người thẳng thắn, cương quyết chính trực, không sợ uy quyền.
Thậm chí ông sẽ trực tiếp can gián Hoàng Đế nếu ngài làm trái đạo lý. Bởi tính cách thẳng thắn này, có lần Hán Vũ Đế đã giáng chức Cấp Ảm và điều ông tới một vùng xa xôi hẻo lánh với chức danh nhỏ bé.
Tuy vậy, Cấp Ảm đã xuất sắc đảm đương công việc, nêu cao nghĩa khí, lập lại thịnh trị cho toàn vùng. Tiếng lành đồn xa, sau rồi đến tai Hán Vũ Đế, vài năm sau ông được gọi trở về Hoàng Cung và phong lên tước vị cao hơn.
Truyện kể có lần Hán Vũ Đế muốn thực hiện một chính sách biểu thị lòng nhân từ và khoan dung nên đưa ra cùng quần thần luận bàn.
Khi ấy Cấp Ảm bẩm tấu: “Tâu Bệ Hạ, khoan dung và nhân từ xuất phát ở nội tâm, chứ không có chính sách”.
Vũ Đế nghe xong, mặt nghiêm nghị nhìn Cấp Ảm, nhưng Cấp Ảm vẫn một mực thần thái trước sau như một.
Một thời gian sau đó có hai vị công thần dưới cấp Cấp Ảm được thăng chức nhanh chóng. Như một bước lên mây, lần lượt trở thành Thừa tướng và Quan Ngự sử của triều đình.
Canh cánh mối lo cho quốc thái dân an, bất kể an nguy bản thân, ông kiên định cần phải giữ cho nghiêm chính việc phong tước vị trong triều đình.
Vì vậy, trong buổi lên triều, Cấp Ảm đã tấu lên Hoàng Đế: “Tâu Bệ Hạ, người nông dân chặt cây để khô rồi mới dùng làm củi nấu. Bệ hạ dùng người cũng vậy, người đến sau không nên phong chức vị quá cao”.
Câu chuyện này xuất phát từ Sử ký Tư Mã Thiên (1). Thế hệ sau này sử dụng cụm từ “Hậu Lai Cư Thượng” (後來居上), được dịch là “Đến sau vượt trước” như một thành ngữ.
Ngày nay, câu này được sử dụng để chỉ ra rằng người kế nhiệm có thể nổi trội hơn những người tiền nhiệm của họ, đó là hoàn toàn khác với ý nghĩa ban đầu của Cấp Ảm về đề bạt nhân tài trọng yếu cần xét đến tư cách lý lịch rõ ràng, chính trực.
Ghi chú:
(1) “Sử ký Tư Mã Thiên” được viết bởi nhà sử học vĩ đại Trung Quốc Tư Mã Thiên (Sima Qian) (135-86 TCN), bao gồm 130 Chương có nội dung bao quát khoảng thời gian từ khoảng 2.600 TCN đến 86 TCN.
                         (Theo Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh)

(76) 自相矛盾 [TỰ TƯƠNG MÂU THUẪN] (Mâu thuẫn / Tự mâu thuẫn)
Trong thời Chiến Quốc (475-221 TCN), có một thương nhân tại nước Chu chuyên bán mâu (cây giáo có cán dài và mũi nhọn) và thuẫn (khiên).
Một ngày, vị thương nhân nọ lên phố để bán hai loại vũ khí của mình. Ông tìm được vị trí có nhiều người qua lại và bày hàng hóa lên mặt đất.
Trước hết, ông giơ chiếc thuẫn lên và hô to rằng: “Các quý ông, quý bà, hãy đến và xem chiếc thuẫn lừng danh thiên hạ này! Không gì có thể sánh được với độ bền của nó. Thậm chí cả những chiếc mâu sắc nhọn nhất trên đời cũng không thể đâm qua được”.
Một đám đông lớn xúm lại quanh gian hàng của ông để cùng chiêm ngưỡng chiếc thuẫn vô song này.
Sau đó, vị thương nhân lại giơ lên một cây mâu và không ngớt lời ca ngợi: “Và các quý ông, quý bà, hãy nhìn chiếc mâu này. Không gì có thể chịu được độ sắc nhọn của nó, bởi đây là chiếc mâu sắc nhất dưới bầu trời. Nó có thể đâm thủng ngay cả chiếc thuẫn chắc khỏe nhất thế gian.”
Nghe những lời này, đám đông bắt đầu nghiêng ngả cười. Một trong số đó hỏi thương nhân: “Như những gì ngài vừa mới nói, không gì có thể sánh với chiếc mâu sắc nhọn của ngài bởi nó có thể đâm thủng cả chiếc thuẫn mạnh nhất thế gian. Và chiếc thuẫn của ngài là bền chắc nhất và có thể ngăn bất cứ chiếc mâu nào. Vậy nếu thử lấy mâu của ngài đâm vào thuẫn của ngài thì sao?”
Vị thương nhân không nói lên lời. Ông không thể đưa ra dù chỉ một lời đáp lại. Quá bối rối, ông vội vàng thu dọn mâu và thuẫn rồi rời đi.
Thành ngữ “Tự tương mâu thuẫn” (自相矛盾) xuất phát từ câu chuyện này. Theo nghĩa đen, đó là sử dụng mâu của một người đối lại với thuẫn của chính người đó. Truyện được viết trong cuốn cổ thư “Hàn Phi Tử” bởi Hàn Phi (khoảng 280-233 TCN), một trong những triết gia thời đầu của Trung Quốc.
Ý nghĩa chung của thành ngữ là ‘tự mâu thuẫn với chính bản thân mình’. Ngày nay, thành ngữ này được dùng để diễn tả những lời nói và hành động trái ngược với nhau ngay từ lúc đầu, và do đó, sẽ đưa đến một kết quả bất khả thi.
Trong tiếng Anh cũng có những cụm từ tương đương biểu thị sự trái ngược, như “a wealthy pauper” (một người ăn xin giàu có) hay “an honest thief” (một tên trộm thật thà). Còn trong tiếng Việt, chúng ta thường dùng ngắn gọn là “mâu thuẫn”.                                                                                                                   (Theo Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh)

                                     Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ (Kì 23) - Nguyễn Ngọc Kiên

CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN VỀ NHÂN QUẢ CÁC TRIỀU ĐẠI LÝ, TRẦN, HỒ

 
    


 TÔN THẤT NHÀ LÝ

Đúng y chang sự kiện như pho "Việt Nam Sử Lược "của cụ Lệ Thần Trần Trọng Kim nhưng sự thật sự việc lại xẩy ra theo như lý luận của học giả Lê Văn Siêu "đến năm Nhâm Thìn, nhân ngày lễ Tiên Hậu nhà Lý ở thôn Thái Dương, làng Hoa Lâm, huyện Đông Ngạn, tỉnh Bắc Ninh, thái sư Trần Thủ Độ sai đào hầm trên phủ lá để đến khi các tôn thất nhà Lý vào đấy tế lễ, thì xụt cả xuống hố, rồi đổ đất chôn sống hết."

Theo học giả Lê Văn Siêu thì y như vậy, nhưng những người đào hầm là tôn thất nhà Lý, để mục đích chôn sống hết nhà Trần để dành lại ngôi, nhưng thái Sư Trần Thủ Độ đến trước một ngày , quan sát hiện trường và phát hiện ra một vấn đề "bãi đất rộng đi ngựa trên đó không bình thường, đặc biệt là trong một góc bãi đất có một cái cọc nhô lên chừng 2 mét , ấn cái cọc xuống thì bãi đất thụt xuống, và khi kéo cái cọc lên thì bãi đất nhô lên, hôm sau khi hành lễ , Trần Thủ Độ thay đổi chương trình, bắt tôn thất nhà Lý vào tế lễ trước.

" Trích trong văn học Triều Lý của Lê Văn Siêu"


THỜI THẾ TẠO ANH HÙNG

thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn
họ Trần nguyên gốc người Chương Châu Phúc Kiến
nguyên là họ Dương *
nhưng vì bất hòa
một chi về Xuân Trường, Tức Mạc, Nam Định
đổi ra họ Trần
làm nghề đánh cá
chi cũ vẫn mang họ Dương
tổ là Trần Lý "cá Lý Ngư" tên Hán là "Chép "
con gái thứ là Trần thị Dung "là cá Ngừ"
bà con gần xa với Trần Thừa và Trần Thủ Độ
vốn là dân vạn chài
có sức khỏe và sống trên đầu sóng ngọn gió
rất can đảm
biết đoàn kết yêu thương
và đùm bọc lẫn nhau
theo Nguyễn Hòa Khánh **
thủa nhỏ Trần Thủ Độ lưu lạc qua Tàu
sang tuốt ngoại Mông
học được tính đoàn kết dân tộc
và loạn luân
hai yếu tố đánh đâu thắng đó
của Thiết Mộc Chân
nên khi nắm quyền
chọn ngay bà chị họ là hoàng hậu Trần Thị Dung
vợ cũ của vua Huệ Tôn
làm vợ.
bất kể luân thường
thu gom hết triều đình nhà Đại Lý
về cho nhà Đại Trần
khỏe re
không tốn một mã một binh
công trình của hai người loạn luân

* Theo nhà văn Trần Mỹ Giống
** Thân mẫu của anh Khánh họ Trần ở Tức Mạc


NHỔ CỎ NHỔ TẬN RỄ

vua Lý Huệ Tông
xuất gia làm hòa thượng chùa Chân Giáo
một buổi chiều ngài ngồi nhổ cỏ ngoài sân chùa
thì thái sư Trần thủ Độ quang lâm
nhìn quang cảnh rồi góp ý:
"nhổ cỏ phải nhổ tận gốc rễ cái của nó "
sư cụ hiểu ý mỉm cười
ba ngày sau Thái sư trở lại
sư cụ vào phòng trong thắt cổ
qua đời
-
Chiêu Thánh hoàng hậu
ở với nhà vua 12 năm
không có con
Trần Thủ Độ bắt giáng xuống công chúa
rồi đón người chị là Thuận Thiên công chúa
là vợ của Trần Liễu
đã có thai 3 tháng về làm hoàng hậu
sau khi Trần Lý "Chép" chết
con là Trần Tự Khánh, cháu là Trần Thừa
cùng Trần Thủ Độ
theo phò Huệ Tôn
nắm giữ hết binh quyền
Trần Thủ Độ giáng hoàng hậu Trần Thị Dung
xuống làm Thiên Cực công chúa
để gả cho mình
chị lấy em


HỒ QUÝ LY

cái gì mà nhà Trần làm cho nhà Lý
thì 300 năm sau
nhà Hồ cũng làm y như vậy
cho nhà Trần
tôn tộc họ Trần bị tàn sát gần hết
một số sống sót trốn thoát
chi Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải
vì có thông gia với Hồ Quí Ly
nên còn Trần Nguyên Đán, Trần Nguyên Hãn
và thêm Bạch Mã tướng quân
trấn nửa Châu Rí "Quảng Nghĩa "
là còn sống sót
phần còn lại thi thay tên đổi họ
đi nơi khác sinh sống làm ăn


HỒ NHẠC HUỆ

thu gom hết miền Nam của chúa Nguyễn
vơ vét hết của cải
cho quật mộ các Chúa
để tìm vàng bạc của qui giá
rồi vất xương cốt xuống sông Hương
đày cả dòng họ Trịnh vào Qui Nhơn
-
sau này Gia Long thống nhất
cũng lại làm y như vậy
với Tây Sơn
quả đất tròn
ai gieo thì gặt

        CHU VƯƠNG MIỆN

READ MORE - CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN VỀ NHÂN QUẢ CÁC TRIỀU ĐẠI LÝ, TRẦN, HỒ

HOA NHẬT QUỲNH - Chu Vương Miện









READ MORE - HOA NHẬT QUỲNH - Chu Vương Miện