Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, September 8, 2017

THƠ HAY TỨ TUYỆT - Nguyên Lạc

Tác giả Nguyên Lạc


Nguyên Lạc     
THƠ HAY TỨ TUYỆT
(VÀI Ý NGHĨ VỀ THƠ 
VÀ BÀI THƠ TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP)   
                                                 
Ôn cố nhi tri tân!
(Xem lại cái cũ, biết cái mới - Nhắc lại cái cũ để hiểu biết thêm cái mới)

               A. Sơ lược về Thơ Đường luật.

1.Thi pháp của Tàu và âm luật của ta: Như chúng ta đã biết, thơ Nôm ta làm theo phép tắc thơ Tàu, và âm thanh tiếng ta cũng tương tự tiếng Tàu, cùng là thứ tiếng đơn âm và cùng chia thành âm  bằng trắc (trầm bổng). Nên thi pháp của ta tức là thi pháp của Tàu và các niêm luật của thơ ta cũng phỏng theo thơ Tàu .

2.Thơ ngũ ngôn và thơ thất ngôn: Thơ là thể văn, có thanh, có vần, có thể ngâm vịnh được. Theo số chữ trong câu, thơ cổ có hai lối chính:
-Ngũ ngôn, mỗi câu năm chữ
-Thất ngôn, mỗi cây 7 chữ

3.Thơ cổ phong và thơ Đường luật: Theo cách làm, thơ chia làm hai thể:
-Cổ phong là thể thơ có trước đời nhà Đường, không theo niêm luật nhất định.
-Đường luật hoặc Cận thể là thể thơ đặt ra từ đời nhà Đường (618-907) phải theo niêm luật nhất định.

4.Thơ Tứ tuyệt và thơ Bát cú:  Theo số câu, thơ Đường luật chia làm hai lối:
-Tứ tuyệt, mỗi bài bốn câu.
-Bát cú, mỗi bài tám câu.

                   B. Sơ lược về thơ Tứ Tuyệt

I. Thế nào là Tứ Tuyệt?

1. Định nghĩa.
Tứ là bốn, Tuyệt là dứt, ngắt.
Sở dĩ có tên gọi như vậy là vì thể thơ này ngắt bài Đường luật tám câu ra, lấy bốn câu thôi

2. Các cách ngắt làm thành thơ Tứ Tuyệt.
Vì một bài thơ tám câu có thể ngắt nhiều cách, nên cũng có nhiều cách làm thơ Tứ Tuyệt:

1/ Ngắt bốn câu trên, thành ra bài thơ ba vần, hai câu trên không đối nhau, hai câu dưới đối nhau.
Thí dụ:
Con voi (Lê Thánh Tôn ?)
(so sánh với biểu Thất ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng ở dưới)
Xông pha bốn cõi bể chông gai,
Vùng vẫy mười phương bụi cát bay.
Phép nước gọi là tơ chỉ buộc, [3]
Sức này nào quản búa rìu tay.[4]
 [3] và [4] đối nhau.

2/ Ngắt 4 câu giữa, thành ra bài thơ 2 vần, cả bốn câu đối nhau.
Thí dụ:
Khóm gừng tỏi (Ôn Như Hầu)
(so sánh với biểu Ngũ ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng ở dưới.)
Lởm chởm vài hàng tỏi [1]
Lơ thơ mấy khóm gừng [2]
Vẻ chi là cảnh mọn, [3]
Mà cũng đến tang thương [4]
[1] và [2] đối nhau, [3] và [4] đối nhau .

3/ Ngắt 4 câu dưới, thành ra bài thơ hai vần, hai câu trên đối nhau, hai câu dưới không đối.
Thí dụ:
Đề chùa Vô vi (Vô danh)
(So sánh với biểu Ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng ở dưới.)
Vắt vẻo sườn non Trạo [1]
Lơ thơ mấy ngọn chùa. [2]
Hỏi ai là chủ đó?
Có bán tớ xin mua
[1] và [2] đối nhau.

4/ Ngắt 2 câu đầu và 2 câu cuối, thành ra bài thơ 3 vần, cả 4 câu không đối.
Thí dụ:
Cái pháo (Nguyễn Hữu Chỉnh)
(So sánh với biểu Thất ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng ở dưới.)
Xác không, vốn những cậy tay người,
Bao nả công trình, tạch cái thôi!
Kêu lắm, lại càng tan tác lắm.
Thế nào cũng một tiếng mà thôi.

5/ Ngắt hai câu 1-2 với hai câu 5-6 , thành ra bài thơ 3 vần hai câu cuối đối nhau.
Thí dụ:
Con cóc (Lê Thánh Tôn)
(So sánh với biểu Thất ngôn bát cú, luật trắc, vần bằng ở dưới.)
Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi,
Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi
Tép miệng năm ba con kiến gió [3]
Nghiến răng chuyện động bốn phương trời [4]
[3] và [4] đối nhau.
Nếu câu thơ trong bài chỉ có năm chữ,  ta gọi đó là bài ngũ ngôn tứ tuyệt; bảy chữ ta gọi  thất ngôn tứ tuyệt, sáu và tám chữ ta gọi lục bát tứ tuyệt.v.v..

II. Làm thế nào viết được một bài Tứ Tuyệt?
Để bàn về việc này, tôi xin giới thiệu thiền sư Muju (Nhật: Japan) sẽ hướng dẫn và minh họa hầu các bạn:
Người ta hỏi một thi sĩ Nhật nổi danh rằng làm thế nào viết được một bài thơ tứ tuyệt của Trung Hoa. Thi sĩ giảng giải: Câu đầu chứa phần khởi nhập; câu hai là phần chuyển tiếp của câu đầu; câu ba chuyển từ đề mục và bắt đầu một ý mới; và câu bốn gồm ba câu trước hợp lại với nhau. Một khúc dân ca Nhật minh họa ý này:
“Hai cô con gái của một người bán lụa ở Kyoto,
Cô chị hai mươi, cô em mười tám.
Một anh lính có thể giết người với lưỡi kiếm của anh ta,
Nhưng hai cô gái này giết đàn ông với đôi mắt của các nàng.” (1)

III. Cách làm thơ Tứ Tuyệt hay
Ngài Muju  đã có một minh họa tuyệt vời cho thể thơ Tứ Tuyệt, nhưng đó chỉ mới là thể thơ, tức là mới chỉ có hình thức mà thôi.  Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp, làm thế nào để làm được một bài thơ Tứ Tuyệt cho hay.

1. Định nghĩa thế nào là thơ
Trước hết, ta cần định nghĩa thế nào là thơ:
Để giải thích rõ về việc này, tôi xin mời  Phạm Đức Nhì nói hộ:

[ Theo tôi, mục đích chính của Văn là chuyển tải thông điệp. Cũng có khi có cảm xúc, nhưng nếu không có cũng không sao. Nhưng với Thơ thì cảm xúc là cốt yếu; nếu thiếu cảm xúc thì thơ sẽ không còn là thơ nữa, mà thành thể loại khác.

Tôi đồng ý với Nguyễn Đình Thi khi ông viết “Làm thơ, ấy là dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời nói -tức là chữ- để thể hiện một trạng thái tâm lý đang rung chuyển mạnh mẽ khác thường”… " thơ không nói bằng ý niệm thuần tuý, bởi nếu thế, thơ đã bị đánh đồng với đạo đức (luân lí), triết học... Con đường của thơ hướng tới việc "lay động những chiều sâu của tâm hồn, đem cảm xúc mà đi thẳng vào sự suy nghĩ.”  … (Mấy Ý Nghĩ  Về Thơ)

Còn Nguyễn Hưng Quốc thì cho rằng “Thơ là cảm xúc (bằng kỹ thuật thơ) đi tìm một đồng cảm” (mấy chữ trong ngoặc đơn là của PĐN thêm vào để tránh hiểu lầm). 

Có hai đặc tính để nhận ra một “Bài Thơ” không phải là Thơ:

1. Nó hoàn toàn là sản phẩm của lý trí.
hoặc là:

2. Tác giả đã bước vào khung cảnh của “Bài Thơ” nhưng chưa có những câu Sinh Tình.

a. Thí dụ  Minh giải 1:
-  Sản Phẩm Của Lý Trí:
 Hình Vuông
Muốn tìm chu vi hình vuông
Lấy cạnh nhân bốn lệ thường nhớ ghi
Diện tích hình vuông khó gì
Lấy cạnh nhân cạnh sai đi đường nào
Môt ông thầy dạy toán nào đấy đã mượn thể thơ lục bát để diễn tả một công thức toán cho học trò dễ nhớ. Nội dung của 4 câu lục bát hoàn toàn là sản phẩm của lý trí, không có một chút cảm xúc nào. Đây không phải là thơ.
- Sinh Tình
Anh Yêu Khoảnh Đất Hình Vuông
Ôi! Khoảnh đất hình vuông
ở giữa là căn nhà nhỏ bé
vách đất, mái rạ
nơi anh đã gởi cả trái tim
vì trong căn nhà đó có em.
(PĐN chế để minh họa)

Ở đây tác giả đã bước vào, đã xuất hiện trong khung cảnh thơ, tâm đã đối cảnh. Và đã có cảm xúc. Hay dở chưa bàn đến, nhưng Anh Yêu Khoảnh Đất Hình Vuông đã có thể gọi là thơ.

b. Thí dụ  Minh giải 2:
-  Sản Phẩm Của Lý Trí:
Công Cha Nghĩa Mẹ
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
(Ca dao)
Một nhà Nho đã đem quan niệm về chữ hiếu của Khổng Tử dàn trải trong 4 câu lục bát để loan truyền trong dân gian. Đây chỉ là sản phẩm của lý trí, tâm chưa đối cảnh, không có cảm xúc, không thể gọi là thơ.
- Sinh Tình
 Thôi xa rồi mẹ ới
lệ nhòa mi mắt
mong con phương trời
có lần chợt tỉnh đêm vơi
nghe giòn tiếng súng nhớ lời phân ly
mẹ ơi con mẹ tìm đi
bao giờ hết giặc con về mẹ vui.
(Nhà Tôi - Yên Thao)
 Tác giả đã bước vào khung cảnh thơ, cảm xúc đã dạt dào. Đích thị là thơ. ]
 Chúng ta đã hiểu thế nào là thơ rồi, phần kế tiếp sau đây liên hệ đến thế nào là THƠ HAY.

2. Thế nào là thơ hay:

a. Lan Man Về Cái Tôi
Trước khi bàn về THƠ HAY và cách làm thơ Tứ Tuyệt hay, xin cho phép lại mời  Ngài Phạm Đức Nhì  một lần nữa thủ thỉ với các bạn về THƠ CÓ HỒN.

[... Thông thường có ba loại CÁI TÔI:
- CÁI TÔI VĂN HOÁ (Lý Trí):  tuân thủ rất nhiều nguyên tắc giao tiếp, ứng xử trong xã hội. Xã hội càng văn minh số lượng nguyên tắc càng nhiều.(Cái Tôi Phải Đạo - NL)

Lý Trí là Kẻ Thù Của Thi Sĩ Trong Lúc Làm Thơ. Thi sĩ làm thơ trong lúc tỉnh táo quá thì những điều viết ra sẽ được cân nhắc, suy hơn, tính thiệt kỹ càng. Đó sẽ là những vần thơ phải đạo, được “đạo diễn” bởi “cỗ máy biết suy nghĩ” -  “cái tôi văn hóa”. Nếu thi sĩ có kỹ thuật thơ cao cường – ngôn từ trong sáng, thế trận chữ nghĩa chặt chẽ, hiệu quả - thì thơ vẫn có cảm xúc, vẫn có thể “hay” nhưng không có Hồn.

- CÁI TÔI "TEO CHIM": Nghĩ đến chết chóc, tù đày, gia đình bị tước đoạt mọi phương tiện, nguồn sống, ngòi bút của thi sĩ đôi lúc phải cong lại hoặc vừa viết lại vừa phải “lách”. ["hòa quá nhiều nước lã vào mực."  (Modern poets mix too much water with their ink - Goethe)  (Nghĩa là không chân thật, không lương thiện - NL)]

- CÁI TÔI ĐÍCH THỰC: Khi thi sĩ thật cao hứng, lên cơn điên vì yêu, hận (giận), vui sướng, buồn bã, ghen ghét, ham muốn … cảm xúc sẽ sôi lên phủ mờ lý trí, “cái tôi đích thực” sẽ vùng dậy đẩy “cái tôi văn hóa” (và “cái tôi teo chim”, nếu có) vào bóng tối để dành quyền “đạo diễn” bài thơ của mình. Thi phẩm viết ra trong tâm cảnh ấy sẽ chẳng màng đến chính kiến, lập trường, truyền thống, đạo đức, lễ giáo, thước đo giá trị của người đời … mà chỉ là những gì tuôn trào ra ngòi bút bởi “cơn điên” của thi sĩ đang thôi thúc trong lòng. Lúc ấy kỹ thuật thơ vẫn mang dáng dấp đẳng cấp của thi sĩ nhưng lời thơ, tứ thơ – không còn bị chi phối bởi cái tôi văn hóa - sẽ là tâm tình chân thật của “cái tôi đích thực”. Nếu thi sĩ chọn được thể thơ thích hợp, tứ thơ sẽ chảy thành dòng, cảm xúc sẽ lớn mạnh, bài thơ sẽ CÓ HỒN, thông điệp của thi sĩ sẽ đi vào lòng độc giả một cách dễ dàng...]  (PĐN)

b. THƠ HAY.
Qua trên, chúng ta thấy muốn làm THƠ HAY thì THƠ PHẢI CÓ HỒN, nghĩa là :“CÁI TÔI ĐÍCH THỰC” sẽ vùng dậy đẩy “CÁI TÔI VĂN HOÁ ” (và CÁI TÔI "TEO CHIM", nếu có)  vào bóng tối để dành quyền “đạo diễn” bài thơ.

  THƠ HAY là thơ đọc qua liền nghe lòng mình thổn thức, thuộc  và nhớ rất lâu!  Như người nữ đẹp (giai nhân), gặp qua một lần là suốt đời không quên!
Đọc một bài Tứ Tuyệt, muốn biết nó đáng được gọi là THƠ HAY  hay không thì phải thẩm xem câu cuối (kết) có mang lại cho ta bất ngờ tự nhiên, sảng khoái không!  Nếu không thì hỏng !

Nét độc của bài THƠ HAY là phải đảm bảo được nguyên tắc “mạch kỵ lộ” của thi pháp thơ Đường: Nghĩa là mạch thơ tối kỵ bị để lộ ra. Nhà thơ phải cách nào để đến câu cuối cùng, điều mình muốn nói, muốn nhắn nhủ mới lộ ra; gây bất ngờ cho người đọc. Bất ngờ càng lớn,  ngược lại được những đoán định, thì sức lay động sẽ càng mãnh liệt. Vì thế, câu cuối cùng thường là câu gánh vác nhiệm vụ thể hiện chủ đề của bài thơ.  Những câu đầu dù nói nhiều điều, tả nhiều thứ vẫn chỉ là sự chuẩn bị cho sự xuất hiện của câu cuối.

Có hai trường hợp:
1b. Khi làm một bài TỨ TUYỆT, quan trọng và khó khăn nhất lại là ở… câu đầu! Thường những người làm TỨ TUYỆT thường hay bị mắc lỗi ở chỗ này: bị ấn tượng bởi những bài thơ đã đọc, nên họ cứ nhè câu kết mà hạ trước, rồi mới vắt óc viết mấy câu đầu! Hậu quả là bài thơ đọc lên sẽ thấy  gượng ép!

Làm thơ cũng như… LÀM TÌNH, ta phải để hết tâm hồn vào cuộc chơi. Phải tự nhiên: Dạo đầu trước, rồi từ từ đi đến cực điểm, bừng vỡ cảm xúc. Đâu có ai vội vàng "chộp" cực điểm trước rồi mới trở lại điểm đầu đâu, phải không các bạn?

Cũng vậy, trong khi làm thơ tứ tuyệt, các bạn hãy nhẹ nhàng, khoan thai  "tóm" lấy câu đầu đã,  khoan nghĩ đến câu kết.  Khi câu đầu đã có thì tự nhiên câu thứ hai sẽ đến; tuần tự cứ thế, rồi thì cuối cùng câu kết sẽ tự nó đến với bạn thôi. Tất cả ý (cảm xúc) sẽ dồn vào câu cuối (cực điểm) này.

Đây là ý kiến của Laiquangnam Lai:
[...Trong thơ Tứ Tuyệt, câu cuối cực kỳ quan trọng bởi nó là câu mà trước khi người thưởng ngoạn rời bài thơ họ rất dể nhớ nhũng gì còn đọng .Ba câu đầu là nước trên mặt phễu (câu 1), vào miệng phễu và thân phễu (câu 2 ,3) rồi thoát ra với độ xoắn tâm tư là câu cuối (câu 4)...
Đánh giá xếp hạng cao thủ về giòng Tứ Tuyệt là câu cuối: Có chút mình trong ấy. Có chút đại chung, dân tộc và nhân loại trong ấy...]

2b.  Nếu gặp trường hợp bạn định làm một bài Tứ Tuyệt mà lại nẩy ra câu kết trước thì phải làm thế nào? Bạn cho rằng đó là một câu kết tuyệt cú, "đắc địa" cho bài thơ của mình, bạn thích nó quá đi và không muốn giữ nó .

Theo tôi, trường hợp nầy dành cho những người "cao thủ"quá rành về việc làm thơ,  "ngữ lực" cao. Giống như trong LÀM TÌNH , họ đã đạt được nhiều "cực điểm", họ tìm hiểu nguyên do đưa đến "điểm", rồi đem kinh nghiệm này trở ngược lại chỉ cách dạo đầu.
Vậy nếu bạn nẩy ra câu kết trước thì sao bạn không tận dụng, dùng luôn câu đấy mà làm câu khởi? Khi ấy, chẳng phải bài thơ của bạn sẽ vọt lên một tầm cao mới sao? Nhưng nhớ phải là người có kinh nghiệm.

Đây là ý kiến của Laiquangnam Lai:
[...Theo tôi (LQN) cao thủ luôn làm cầu kết trước , hoặc dốc sức vào câu kết  Từ bài Lương Châu Từ. của Vương Hàn đến bài Bạc vãn túy quy của Cao Bá Quát, v.v . Người Việt ít làm thơ tứ tuyệt. Đại cao thủ Nguyễn Du không có bài nào (Hay chỉ mỗi một bài duy nhất?)  Tàu thì nhiều lắm ... Nhân đây, bàn thêm về bài Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du.
Nguyễn Du đã làm hai câu cuối trước. Nhưng khi ráp 6 câu đầu vào thì trật chìa (do đời sau ghép )
Hai câu cuối làm trước.
BẤT TRI TAM BÁCH DƯ NIÊN HẬU
THIÊN HẠ HÀ NHÂN KHẮP TỐ NHƯ
Ráp 6 câu đầu không khớp (do mấy nguoi đời sau ráng lắp ghép, một cách cuõng bức, bởi Nguyễn Du là kẻ sĩ sao lại tự so đời mình với một “cô làm bé cho một ĐẠI GIA (Phùng Sinh)"?, và họ đã để Nguyễn Du mang tiếng làm thơ thất niêm. ...]

3. Thử phân tích một bài thơ
Nào! ta hãy thử phân tích bài thơ sau đây dựa theo hướng dẫn của thiền sư Muju.
Con sông Vàm Cỏ Tây trong vắt [1]
Trong vắt như đôi mắt lá răm  [2]
Chiến trường trăm trận chưa hề bại  [3]
Mà chết vì em tuổi nguyệt rằm.  [4]
(thơ Phạm Hồng Ân)
Ta thấy:
[1] là khởi nhập, 
[2] là chuyển tiếp của [1]
[3] chuyển từ đề mục và bắt đầu ý mới
[4] gồm ba câu trước lại với nhau đưa tới chủ ý
Rõ ràng quá phải không các bạn! Các bạn làm thử đi, chắc phải tuyệt thôi!

IV. Vài bài Tứ Tuyệt tiêu biểu
Sau đây là ít bài trong số tứ tuyệt mà tôi chỉ đọc qua một lần là tạc dạ, nhớ mãi:
Phong Kiều dạ bạc
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền 
(Trương Kế)

Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều
Quạ kêu sương đậm trăng tà
Đèn thuyền phong rủ đối qua giấc hồ
Hàn San tầm thấy Cô Tô
Nửa khuya chuông gióng bước vô khách thuyền
(Laiquangnam Lai dịch)

Tĩnh dạ tứ
Sàng tiền mình nguyệt quang, 
Nghi thị địa thượng sương. 
Cử đầu vọng mình nguyệt, 
Đê đầu tư cố hương.   
(Lý Bạch)

Đầu giường trăng sáng đứng soi
Nhởm mình ngỡ đất bời bời sương rơi
Ngẫng đầu trăng vãi trắng trời*
Cúi đầu đối bóng bồi hồi nhớ quê
(Laiquangnam Lai dịch)
----------------
[*-- trăng quê nhà sáng hơn trăng quê người.
-- vãi ? tại sao Vãi – bởi ánh trăng vắt trên cành lá như những hạt gạo lốm đốm trên sân.]
 -----------------
Đó ba bài Tứ Tuyệt của người Trung Hoa, sau đây là vài bài của người Việt Nam  mình.
NAM QUỐC SƠN HÀ (Bài Thơ TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP) (2)
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phân định tại Thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
(Lý Thường Kiệt)

SÔNG NÚI NƯỚC NAM
Nước non Nam Đế Nam hùng cứ!
Phân định sách trời xưa tỏ nay,
Lỗ mãng! cớ sao sang lấn phạm,
Ngữ bây thất bại chắc trong tay !
(Laiquangnam dịch)

Thuật hoài
Hoành sóc giang san cáp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu
Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.
(Thuật hoài - Phạm Ngũ Lão)

Ngọn giáo non sông trải mấy thâu,
Ba quân hùng hổ át sao Ngưu.
Công danh nếu để còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.
(Tỏ lòng – Phan Kế Bính dịch)

Bạc vãn túy quy
Minh đính quy lai bất dụng phù
Nhất giang yên trúc chính mô hồ
Nam nam tự dữ liên hoa thuyết
Khả đắc hồng như tửu diện vô ?
(Bạc vãn túy quy -Cao Bá Quát)

Say quá! đường về... cứ mặc ta .
Một sông khói trúc án lòa nhòa
Càm ràm cô độc bên sen đỏ
Rượu đỏ mặt này Sen kém Qua!
(Laiquangnam - Dịch thơ quốc âm)

Một trà, một rượu, một đàn bà,
Ba thức lăng nhăng nó quấy ta.
Chừa được thức nào hay thức nấy:
- Họa chăng chừa rượu với chừa trà! 
(Chừa ruợu - Trần Tế Xương)

Thân em như quả mít trên cây,
Da nó xù xì, múi nó dầy.
Quân tử có thương thì đóng cọc,
Xin đừng mân mó nhựa ra tay.
(Quả mít - Hồ Xuân Hương)

Tứ tuyệt của vài ông thi sĩ hiện đại:
- Của  thi sĩ  Luân Hoán (LH)
em nằm, phơi rốn, với chân
chiều đờ dẫn trải một sân nắng vàng
đúng vừa lúc tôi về ngang
hai con mắt níu hai bàn chân đi
(Đi Ngang - Luân Hoán)

 - Của  thi sĩ  Nguyễn Hàn Chung (NHC)
Đàn bà giống như bọt bia trào xuống tay mình
Không một thằng bợm nào bỏ qua không chấm mút
Nhưng chớ dại nốc cạn cùng đáy cốc
Đời chú mày không liệt cũng run run!  
(Nguyễn Hàn Chung)

-  Của  thi sĩ  Hồ Chí Bửu (HCB)
Nửa đêm thức dậy làm thơ
Tặng người tri kỷ bên bờ đại dương
Hỗn man thiên địa vô thường
Sáng ra mới thấy trên giường. Vắng em
(Thiên Lương 1 - Hồ Chí Bửu)

-  Của  thi sĩ  Linh Phương (LP)
Bùa yêu rớt xuống sân đời
Ai đem dán giữa ngực người trăm năm
Để anh tìm lại khuyết-rằm
Vầng trăng thành phố Sài Gòn và em
(Bùa Yêu - Linh Phương)

-  Của  thi sĩ  DƯ MỸ (DM)
Ân nghĩa thầy trò - ân nghĩa nặng
Nợ tình bạn hữu - nợ tình vương
Nhìn lại đầu xanh , nay đã bạc
Buồn vui rồi cũng chỉ vô thường .
(Sáu mươi lăm năm nhớ lại trường xưa - DƯ MỸ)

-  Của  Nguyên Lạc
chợ đời . gom nhặt sân si
quảy lên chùa đổi . từ bi . nắng vàng
trở về . rơi rắc dọc đàng
mẹ già đứng đợi . tôi bàng hoàng tôi !
(VÔ ĐỀ 1 - Nguyên Lạc)

- Của ông thi sĩ  Nguyễn Đức Sơn (NĐS)
Đời sau người có thương ta
Từ lâu xuống lỗ làm ma mất rồi!
Đường xa...
Thôi,
miễn bồi hồi
Mả hoang nhảy đại lên ngồi đi cha!
(Nhắn - Nguyễn Đức Sơn)

KẾT
Bạn hiền! Mọi việc đều phải biến đổi để tồn tại! Ta phải cách tân để làm đẹp thêm, như các ông LH, NHC, NĐS, LP, HCB, DM  đã làm đó.
Xin hiểu, những phần bàn trên chỉ là căn bản thôi, nó chỉ như  "giàn phóng" để  "phi thuyền tâm hồn" bạn bay vút! Phải không thi nhân?
                                                       
Phụ Bản                
Biểu Ngũ ngôn - Thất ngôn bát cú: luật bằng (B) trắc (T)
                          



Nguyên Lạc      2017
----------------      
Nguồn: Việt Nam văn học sử yếu - Dương Quảng Hàm, Đỗ Đình Đồng, Laiquangnam Lai, LeVinhHuy, Phạm Đức Nhì , Nguyễn Thị Tịnh Thy, Facebook...
Ghi chú:
(1) Thạch sa tập – Thiền sư Muju  (bản dịch của Đỗ Đình Đồng – Góp nhặt cát đá)
(2) Nói thêm về bài thơ Tứ Tuyệt thần:  NAM QUỐC SƠN HÀ 
- 6a. Nguồn Phạm Đức Nhì:
Năm 1076, hơn 30 vạn quân nhà Tống (Trung Quốc) do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược Đại Việt (tên nước Việt Nam thời đó). Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến tại sông Như Nguyệt (sông Cầu) để chặn địch. Quân của Quách Quỳ đánh đến sông Như Nguyệt thì bị chặn. Nhiều trận quyết chiến ác liệt đã xảy ra tại đây nhưng quân Tống không sao vượt được phòng tuyến Như Nguyệt, đành đóng trại chờ viện binh. Đang đêm, Lý Thường Kiệt cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát ở phía nam bờ sông Như Nguyệt, giả làm thần đọc vang bài thơ trên. Nhờ thế tinh thần binh sĩ lên rất cao. Lý Thường Kiệt liền cho quân vượt sông, tổ chức một trận quyết chiến, đánh thẳng vào trại giặc. Phần vì bất ngờ, phần vì sĩ khí quân Đại Việt đang lên, quân Tống chống đỡ yếu ớt, số bị chết, bị thương đã hơn quá nửa. Lý Thường Kiệt liền cho người sang nghị hòa, mở đường cho quân Tống rút quân về nước, giữ vững bờ cõi nước Đại Việt. Ý và tứ của bài thơ giống nhau và rất rõ ràng, một người dân bình thường cũng có thể hiểu được, không cần giải thích. Lúc ấy ý niệm về Luật Quốc Tế (International Law) còn rất xa lạ. Tác giả đã khéo léo lồng ý tứ bài thơ – quan niệm về chủ quyền quốc gia - vào thuyết thiên mệnh, một học thuyết gần gũi với suy nghĩ của người dân. Ý thơ hay và đầy sức thuyết phục nên binh sĩ đã hết lòng chiến đấu và đã đánh thắng quân Tống, giữ vững cõi bờ Đại Việt. Nhờ ý tứ mới lạ và độc đáo đó bài thơ đã được xem là tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nuớc. Hơn một ngàn năm trôi qua nó được tôn xưng là bài thơ có ý tưởng hay nhất của văn học Việt Nam và tôi tin rằng ngày nào nước Việt còn tồn tại bài thơ Nam Quốc Sơn Hà sẽ không bao giờ đi vào quên lãng.
(BÀI THƠ TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP- Phạm Đức Nhì)
http://vannghequangtri.blogspot.com/2016/06/loi-binh-ngan-tap-3-pham-uc-nhi.html
- 6b. Nguồn Laiquangnam Lai:
Năm 1076, (tức đời Tống Hy Ninh năm thứ 9). Mùa xuân, tháng 3, nhà Tống sai Quách Quỳ, tuyên phủ sứ Quảng Nam (Quảng Nam này là địa danh, là đất của Tàu trùng tên với tỉnh Quảng Nam của Việt nam có sau năm 1475 là đất của Chiêm thành ) làm Chiêu Thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân 9 tướng, hợp với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn nước ta. Ba mặt giáp công. Trong lần đánh phục hận này, Quách Quỳ nhận sứ mệnh phải đánh " chết bỏ " hầu rửa nhục cho Đại Tống. , Quách Quỳ vào trận với sự ủy thác "đánh phải thắng bằng mọi giá ", "đánh phục thù ", "đánh vuốt mặt" cho Tống Triều và "đánh làm quà cho tể tướng Vương an Thạch ", chứng minh đường lối cải cách theo Tân pháp của tể tướng Vương an Thạch đã thành công, "đánh tan giao châu của Đại Việt " nhằm thị uy với các nước phương bắc láng giềng của Tống. Thế nên khí thế tấn công của quân Tống rất mạnh. Không bao lâu sau họ đã đến bờ bắc của sông Như Nguyệt, cách kinh thành Thăng Long chừng vài chục dặm, khoảng chừng 60 km về phía bắc. Quân ta vất vả giữ vững trận địa. Quân Tống dùng súng bắn đá bắn xối xả vào bờ nam làm thuyền bè ta bị vỡ nát không ít. Hai hoàng tử đã hy sinh và vài tướng cũng bị tử thương. Thương vong cao. Lý tướng quân đã dùng diệu kế là cho đọc bản thơHịch lời thơ ngắn gọn, thời điểm công bố là trong một đêm trăng dưới làn mưa đá xối xả được bắn ra từ bên kia bờ bắc của sông Như Nguyệt, từ quân của viên tướng sừng sỏ Quách Quỳ. Khí thế địch thật hùng hổ. Tại chiến trường sôi động ấy Lý tướng quân thấy rằng bài hịch không thể viết dài, khó nhớ, không thể đọc trước hàng quân như thông lệ năm xưa qua đánh Tống , mà phải khéo chọn. Ông kỷ lưỡng chọn điểm phát ngôn là từ một ngôi miếu vốn nổi tiếng linh thiêng, "đền thờ thần sông " nằm ở phía nam sông Như Nguyệt, đền thờ hai vị anh hùng Trương Hát &Trương Hống, vốn là hai võ tướng dưới thời Triệu Quang Phục. Thật là một diệu kế của một danh tướng. Trong thế trận tưởng đã nghiêng về phía quân Tống, bổng đảo chiều khi binh sĩ nghe bài thơ phát ra từ miếu thần. 
"Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền của Trương tướng quân là thần sông Như nguyệt, có tiếng đọc to rằng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
Khí thế quân Nam trở nên bừng bừng như có thần nhân hổ trợ và quân Tống lấp tức bị chận lại. Tống quân bị tổn thất nặng nề. Quân Tống tiến thoái lưỡng nan từ dạo ấy. Lý tướng quân đề nghị giảng hòa nhằm giảm sự khổ đau cho nhân dân. Quách Quỳ thấy kéo dài là thua chắc nên thuận lui binh."

Nam quốc sơn hà là bài thơ thần. Chính bài thơ làm khí thế quân Nam tăng lên như một phép thần !

["Nam quốc sơn hà" - Bản hùng văn của danh tướng Lý Thường Kiệt - Laiquangnam Lai]

http://chimviet.free.fr/vanhoc/laiquangnam/lqnt071_namquocsonha.htm
READ MORE - THƠ HAY TỨ TUYỆT - Nguyên Lạc

HOA VƯỜN NHÀ - Chùm ảnh của Chu Vương Miện







READ MORE - HOA VƯỜN NHÀ - Chùm ảnh của Chu Vương Miện

Thursday, September 7, 2017

NHÀ THƠ PHẠM NGỌC THÁI NHƯỢNG TÊN TÁC GIẢ KỊCH BẢN SÂN KHẤU - Nguyễn Thị Hoàng


    A*  Vài lời giới thiệu kịch:
     Trong nghiệp bá văn chương, anh đã sáng tác thành công 5 kịch bản sân khấu, đó là những vở kịch nói:
          1.   Số phận những hòn đá tảng, kịch dài.
          2.   Bản án dưới mồ, kịch dài.
          3.   Cánh cửa quốc tế, kịch ngắn.
          4.   Chuyện ở quán gốc đa, kịch ngắn.
          5.   Mối tình hoa hồng bạch, kịch ngắn.
    Những vở kịch nói này, đều có khả năng công diễn trên sân khấu với những đoàn kịch lớn tầm vóc quốc gia.

 -  Thí dụ như "Số phận những hòn đá tảng" là một vở kịch dài,  diễn khoảng gần 3 tiếng trong một tối. Một kịch bản mà tác giả Phạm Ngọc Thái đã viết rất công phu trong nhiều năm. Nội dung:
      Đề cập đến sự tha hóa và thấp kém của những kẻ lãnh đạo trong một cơ quan kinh tế quốc gia, dẫn đến sự sụp đổ cả kinh tế lẫn guồng máy. Đó là cái mâu thuẫn thế hệ, sự cũ rích, bảo thủ. Họ như những hòn đá tảng phải bảy đi ! Trong đó tình yêu và cuộc sống, mới và cũ được phơi bày đầy kịch tính ở xã hội đương thời, v.v... với những nhân vật đại diện sừng sỏ, điển hình.
     Trong đợt sáng tác sân khấu toàn quốc ít năm trước, đã được cố NSND Trọng Khôi - Chủ tịch Hội Nghệ sĩ VN lúc đó, tặng thưởng kịch bản sâu sắc.

     Thời gian qua anh cũng đã gửi kịch bản này tới các đoàn kịch lớn quốc gia ở Thủ đô, như Đoàn kịch nói Trung Ương; Đoàn kịch Tuổi Trẻ; Nhà hát kịch Hà Nội và Đoàn kịch Tổng Cục Chính Trị  - Theo các đoàn kịch cũng như NSND Lê Hùng, nguyên giám đốc Đoàn kịch Trung Ương... thuộc trong những bậc đạo diễn sân khấu tài danh nhất hiện nay, cho biết: "Số phận những hòn đá tảng" là một vở kịch hoành tráng, nhưng dàn dựng tương đối tốn phí...
    Nếu được tài trợ kinh phí dàn dựng, thì các đoàn kịch lớn sẵn sàng dựng để công diễn trong toàn quốc.

-    Hoặc như 3 vở kịch ngắn: "Cánh cửa quốc tế * Chuyện ở quán gốc đa * Mối tình hoa hồng bạch) - Tác giả đã từng trao đổi với Nhà hát tuổi trẻ ở Hà Nội, là đoàn thường diễn 2-3 vở kịch ngắn trong một tối. Nhà hát cũng có gợi ý: Nếu được tài trợ kinh phí, đoàn kịch sẽ dàn dựng để công diễn...

         B*  Nhà văn Phạm Ngọc Thái ngỏ ý như sau:
1.   Nếu đại gia nào chịu chi ra một khoản kinh phí cho tác giả, theo thỏa thuận - Trước hết, Nhà văn sẽ cho xuất bản thành sách cả 5 vở kịch đó... "đồng tên tác giả" kịch bản, để cùng lưu danh đại gia đó!... không chỉ hiện tại, mà vĩnh viễn lâu dài trong nền sân khấu nước nhà.
     Thí dụ, như tác phẩm " Thi nhân Việt Nam 1932 - 1941" của Hoài Thanh chẳng hạn? Đến nay qua hơn nửa thế kỷ, mỗi khi xuất bản người ta vẫn lưu giữ, không chỉ riêng Hoài Thành... mà tên của cả hai tác giả trên sách, là "Hoài Thanh & Hoài Chân"!

2. Còn công diễn, chỉ cần tài trợ kinh phí cho Đoàn kịch dàn dựng - cũng sẽ đồng tên tác giả sáng tác kịch bản: cả Nhà văn và Đại gia đó !... để công bố với quảng đại công chúng trong cả nước.

3.  Có thể một công ty hay cơ sở nào... muốn mua bản quyền 5 kịch bản như đã nêu trên, xin trao đổi trực tiếp với Nhà văn Phạm Ngọc Thái.
     Về phía Tòa soạn: chúng tôi cũng có nhận được 5 kịch bản của tác giả gửi đến,  qua hộp thư điện tử - Nếu cá nhân hay công ty, cơ sở nào muốn giao dịch ? xin liên hệ, tòa soạn sẽ cung cấp kịch bản để quí vị thưởng lãm.
  Hoặc quí vị có thể trao đổi trực tiếp với chính tác giả Phạm Ngọc Thái, theo địa chỉ dưới đây:
                           ĐT:      0168 302 4194
                       Email:     ngocthai1948@gmail.com 
     Nhà văn sẽ cung cấp cho quí vị kịch bản để đọc.

   T/M Hội thi ca Thăng Long
     NGUYỄN THỊ HOÀNG

 Giảng viên Trường ĐH Sư phạm
READ MORE - NHÀ THƠ PHẠM NGỌC THÁI NHƯỢNG TÊN TÁC GIẢ KỊCH BẢN SÂN KHẤU - Nguyễn Thị Hoàng

CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN



              Nhà thơ Chu Vương Miện


NƯỚC ĐỔ ĐẦU VỊT

Nước chảy lá môn
Cơm đường cháo chợ
Nước chảy đá mòn
Một khối tình lớn
Dăm khối tình con
Hết vuông lại tròn
Hết tròn lại méo
Tinh như kẹo kéo
Càng kéo càng dài
Càng nhai càng ngọt
Con chim đang hót
Con bướm đang bay
Ta lạc chốn này
Trăm hoa đua nở
Muôn hồng ngàn tía 

  
NON NƯỚC ĐẠI NAM

tiểu tòng đại
nhược tòng cường
lý thê giã , thiên giã 
(Khổng Tử Gia Ngữ) *
lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng **
nhưng theo ta thì kẻ mạnh cũng thua 
sử biên niên truyền lại tới giờ
lọc phần chính bỏ đi phần ba xạo
khi dư giả ăn cơm toàn gạo
khi cùng đường nhếch miệng cười trừ
dân tộc nào ? mà chả nên hư
khi hưng thịnh khi thì mạt vận 
từ Đông Châu, Đại Đường, Đại Tống
cũng cứ thua dài dài mất nước như không
từ Liêu, Kim, Tiên Ty đến Khiết Đan
dầy xéo rách bươm giang san nhà Đại Hán
nước Việt ta trên ngàn năm quốc nạn
một cái vèo đuổi tuốt bọn xâm lược xâm lăng
vào thời nhà Lý
Lý Thường Kiệt xua quân chiếm Châu Ung
làm  mưa gió trên đất đai Lưỡng Quảng
thời nhà Trần
ba lần đánh tan quân Thành Cát Tư Hãn
cọc Bạch Đằng cắm sừng sững còn đây ?
kể làm cái gì ?
chuyện đánh Tàu, đánh Nhật, đánh Tây
bao bành trướng trên đất này
trước hoặc sau thua hết trọi
rồi tháo lui bất thần không kịp nói
rời âm thầm lặng lẽ chuồn đi ?
ôi bao thời mang tiếng man di
mà sức mạnh như thần
đánh đâu thắng đó
vũ trụ cứ quay
tuần hoàn muôn thủa
đảo Trường Sa, Hoàng Sa, thác Bản Dốc
cũng chỉ là chuyện nhỏ
chả có con đường nào
cách núi ngăn sông là khó
mà chẳng qua đất nước chúng ta
đang sửa soạn trở mình

* nhỏ phục lớn
yếu phục mạnh
cai lí là vậy , cái thế là vậy
ý trời cũng vậy

** E'dop


 NGHÈO NGHÈO

Sáng dậy sớm đi cày
Chờ mưa đi bừa
Một năm 12 tháng
Có thiếu có thừa
Có ngày no ngày đói
Có muà đuọc mùa thua
Hai con trâu đi trước
Theo sau là cái cày
Theo sau chót
Là hai vợ chồng con lừa
đồng cạn đồng sâu
bát gạo bát mồ hôi
chán mớ đời ?
từ xưa từ ngàn xưa
đến bây giờ
vẫn vác cày vác bừa
vẫn cặp bò cặp trâu
hết mưa cùng nắng 
dãi dầu
giàu sang thì không màng tới
nghèo sát đất
nghèo rớt mồng tơi
bao nhiêu chế độ đã đi qua
người vẫn ngang với vật

CHU VƯƠNG MIỆN

READ MORE - CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN

THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH, NHÀ THƠ CAO BIỀN - Nguyễn Ngọc Kiên


         Nguyễn Ngọc Kiên



THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH, NHÀ THƠ CAO BIỀN

Cao Biền 高駢 (821-887) tự Thiên Lý 千里, tướng đời Hậu Đường, cháu của Nam Bình đô vương Cao Sùng Văn (tướng cấm quân dưới triều vua Đường Hiến Tông Lý Thuần). 

Đầu đời vua Ý Tông, Cao Biền trấn giữ biên cương chống sự xâm lược của giặc Thổ Phồn 吐蕃. Năm Cảm Thông thứ 7 (866), Cao Biền trấn giữ An Nam, làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ. Năm Càn Phù thứ 2 (875) đời Hy Tông, chuyển sang trấn giữ Tây Xuyên.
 
寫懷其一 - 高駢
漁竿消日酒消愁, 
一醉忘情萬事休。 
卻恨韓彭興漢室, 
功成不向五湖遊。

Phiên âm:
Tả hoài kỳ 1 – Cao Biền
Ngư can tiêu nhật tửu tiêu sầu, 
Nhất tuý vong tình vạn sự hưu. 
Khước hận Hàn, Bành hưng Hán thất, 
Công thành bất hướng Ngũ Hồ du.

Dịch nghĩa:
Tỏ nỗi nhớ kỳ 1– Cao Biền
Câu cá giúp qua ngày, rượu say quên buồn bực, 
Một khi đã say, quên hết nhân tình thế thái, mọi sự kể như đã qua. 
Chỉ tiếc cho Hàn Tín và Bành Việt ra sức dựng nên nhà Hán, 
Công thành lại không về vùng Ngũ Hồ mà ngao du.

Dịch thơ:
Tỏ nỗi nhớ kỳ 1 – Cao Biền
Câu cá vui, rượu tiêu sầu
Khi say muôn sự còn đâu nữa mà
Hàn, Bành giúp Hán cơ đồ
Công thành chẳng đến Ngũ Hồ rong chơi. 

寫懷其二 - 高駢

花滿西園月滿池, 
笙歌搖曳畫船移。 
如今暗與心相約, 
不動征旗動酒旗。

Phiên âm:
Tả hoài kỳ 2 – Cao Biền
Hoa mãn tây viên nguyệt mãn trì, 
Sênh ca dao duệ hoạ thuyền di. 
Như kim ám dữ tâm tương ước, 
Bất động chinh kỳ động tửu kỳ.

Dịch nghĩa:
Tỏ nỗi nhớ kỳ 1 – Cao Biền
Đầy vườn tây hoa nở, đầy ao trăng sáng 
Tiếng sênh ca khua động, thuyền rẽ sóng băng đi 
Nay ngầm ước với lòng mình 
Không phất cờ trận mà phất cờ rượu

Dịch thơ:
Tỏ nỗi nhớ kỳ 2 – Cao Biền
Vườn Tây đầy hoa, ao đầy trăng
Sênh ca khua động thuyền rẽ băng
Lòng mình cho đến nay thầm ước
Cờ trận thay cờ quán rượu ngang.

 南征敘懷 - 高駢
萬里驅兵過海門, 
此生今日報君恩。 
回期直待烽煙靜, 
不遣征衣有淚痕。

Nam chinh tự hoài – Cao Biền
Vạn lý khu binh quá Hải Môn, 
Thử sinh kim nhật báo quân ân. 
Hồi kỳ trực đãi phong yên tĩnh, 
Bất khiển chinh y hữu lệ ngân.

Đất Giao Châu (nước ta thời Bắc thuộc) ở cực nam Trung Quốc đời Đường, bị người Nam Chiếu (nhóm người Thái ở giáp Giao Châu) quấy nhiễu. Tác giả Cao Biền được lệnh đem quân đi bình định. Sau cùng thì tác giả dẹp yên được giặc Nam Chiếu, lâp công lớn, nhưng ban đầu, ông bị xàm tấu là không chịu tiến quân, nên bị triều đình gọi về hạch tội. Bài này tác giả tả tâm tư mình (dù bị tấu oan cũng quyết không rơi lệ) trên đường về kinh đô. Hải Môn là cửa ải ra vào Giao Châu.

Dịch thơ:
Đi đánh phương nam, tự tỏ lòng  – Cao Biền
Vạn dặm xua quân vượt Hải Môn
Trong đời nay được báo quân ân
Về triều xin đợi khi tan giặc
Đừng để chiến y lệ ướt dần.

贈歌者其一 - 高駢
酒滿金船花滿枝, 
佳人立唱慘愁眉。 
一聲直入青雲去, 
多少悲歡起此時。

Tặng ca giả kỳ 1 – Cao Biền
Tửu mãn kim thuyền hoa mãn chi, 
Giai nhân lập xướng thảm sầu my. 
Nhất thanh trực nhập thanh vân khứ, 
Đa thiểu bi hoan khởi thử thì.

Dịch nghĩa:
Tặng con hát kỳ 1 – Cao Biền
Rượu đầy thuyền vàng, hoa đầy cành, 
Người đẹp đứng hát, hàng my sầu thảm. 
Một tiếng nhập thẳng vào mây xanh bay đi mất, 
Bao nhiêu vui buồn nổi dậy trong lúc này.

Dịch thơ:
Tặng con hát kỳ 1 – Cao Biền

Bản dịch 1:
Thuyền vàng đầy rượu cành đầy hoa 
Mi sầu người đẹp đứng hát ca 
Thanh âm nhập mây xanh bay mất 
Bao nỗi buồn vui dậy lòng ta

Bản dịch 2:
Thuyền  đầy rượu, cành đầy hoa 
Người đẹp đang đứng hát ca, mi sầu 
Thanh nhập mây xanh bay đâu 
Bao buồn vui đó hết rầu lòng ta.

贈歌者其二 
公子邀歡月滿樓, 
雙成揭調唱伊州。 
便從席上風沙起, 
直到陽關水盡頭。

Dịch nghĩa: 
Tặng ca giả kỳ 2 – Cao Biền
Công tử yêu hoan nguyệt mãn lâu, 
Giai nhân yết điệu xướng Y châu. 
Tiện tòng tịch thượng thu phong khởi, 
Trực đáo Tiêu Quan thuỷ tận đầu.

Dịch thơ:
Tặng ca giả kỳ 2 – Cao Biền
Công tử vui chơi trăng đầy lầu 
Giai nhân cất điệu hát Y châu 
Gió thu bỗng nổi trên bàn tiệc 
Thẳng tới Tiêu Quan  nước tận đầu.

赴西川途經虢縣作 
亞夫重過柳營門, 
路指岷峨隔暮雲。 
紅額少年遮道拜, 
殷勤認得舊將軍。

Phiên âm:
Phó Tây Xuyên, đồ kinh Quắc huyện tác 
Á Phu trùng quá Liễu doanh môn, 
Lộ chỉ Dân, Nga cách mộ vân. 
Hồng ngạch thiếu niên già đạo bái, 
Ân cần nhận đắc cựu tướng quân.

Dịch thơ:
Đến Tây Xuyên, khi đi qua huyện Quắc
Á Phu vượt quá Liễu doanh Môn
Dân, Nga thẳng chỉ cách hoàng hôn
Thiếu niên khăn đỏ đầy đường đón
Ân cần nhận rõ cựu tướng quân.


邊方春興 
草色青青柳色濃, 
玉壺傾酒滿金鐘。 
笙歌嘹亮隨風去, 
知盡關山第幾重。

Phiên âm: 
Biên phương xuân hứng 
Thảo sắc thanh thanh liễu sắc nùng, 
Ngọc hồ khuynh tửu mãn kim chung. 
Sinh ca liệu lượng tuỳ phong khứ, 
Tri tận quan sơn đệ kỷ trùng.

Dịch thơ: 
Hứng xuân nơi biên ải
Cỏ non xanh biếc, liễu sắc nồng 
Bầu ngọc rót nghiêng đầy chén vàng 
Nhịp phách lời ca theo gió thổi 
Biết tận quan san mấy lớp cùng 

安南送曹別敕歸朝 
雲水蒼茫日欲收, 
野煙深處鷓鴣愁。 
知君萬里朝天去, 
為說征南已五秋。

Phiên âm:
An Nam tống Tào Biệt Sắc quy triều 
Vân thuỷ thương mang nhật dục thu, 
Dã yên thâm xứ giá cô sầu. 
Tri quân vạn lý triều thiên khứ, 
Vị thuyết chinh nam dĩ ngũ thu.

Tào Biệt Sắc: chưa rõ thân thế.

Dịch thơ:
Tiễn Tào Biệt Sắc từ An Nam trở về triều
Mây nước mênh mang, ngày sắp tàn
Khói đồng mờ mịt gà gô than
Biết người muôn dặm chầu thiên tử
Rằng: tôi Nam chinh đã năm năm 

風箏 
夜靜弦聲響碧空, 
宮商信任往來風。 
依稀似曲才堪聽, 
又被移將別調中。

Phiên âm:
Phong tranh 
Dạ tĩnh huyền thanh hưởng bích không, 
Cung thương tín nhiệm vãng lai phong. 
Y hy tự khúc tài kham thính, 
Hựu bị di tương biệt điệu trung.

Dịch nghĩa:
Cánh diều
Đêm tĩnh, tiếng đàn vang lên trong không trung xanh thẳm, 
Âm điệu do gió thổi vào mà tạo thành. 
Mơ hồ như một bản nhạc có thể nghe được, 
Trong đó hàm ý sắp có đổi thay.

Tiêu đề bày này có bản chép là "Đề phong tranh ký ý" 題風箏寄意. Một đêm, ông nghe gió thổi vào cánh diều mà đoán được vận mệnh sắp thay đổi. Quả nhiên ít lâu sau, nhận được chiếu chỉ của vua giao nhiệm vụ khác.

Dịch thơ:
Cánh diều

Bản dịch1:
Tiếng diều đêm vắng vọng thinh không
Điệu âm  theo gió vẳng theo cùng
Mơ hồ nghe y như bản nhạc
 Điềm báo thay đổi ở bên trong.

Bản dịch 2:
Tiếng diều đêm vọng không trung
Âm điệu theo gió thổi cùng trời mây
Mơ hồ như bản nhạc hay
Báo điềm thay  đổi ở ngay trong mình!

山亭夏日 
綠樹陰濃夏日長, 
樓臺倒影入池塘。 
水精簾動微風起, 
滿架薔薇一院香。

Sơn Đình hạ nhật 
Lục thụ nùng âm hạ nhật trường, 
Lâu đài đảo ảnh nhập trì đường. 
Thuỷ tinh liêm động vi phong khởi, 
Nhất giá tường vi mãn viện hương.

Dịch nghĩa:
Ngày hè ở Sơn Đình
Cây xanh biếc, bóng rậm, ngày hè dài 
Bóng lâu đài in trên mặt ao 
rèm thuỷ tinh lay động bởi cơn gió nhẹ 
Một dàn hoa tường vi, đầy nhà mùi hương ngát

Dịch thơ:
Ngày hè ở Sơn Đình

Bản dịch 1:
Bóng rậm, cây xanh, ngày hè dài
Mặt ao in đậm bóng lâu đài
Thủy tinh rèm động cơn gió thoảng
Hương ngát  dàn tường vi nhà ai.

Bản dịch 2:
Cây xanh biếc, ngày hè dài
Bóng rậm soi bóng lâu đài mặt ao
Rèm động bởi ngọn gió nào
Dàn tường vi ngát hương vào nhà ai.

過天威徑 
豺狼坑盡卻朝天, 
戰馬休嘶瘴嶺煙。 
歸路嶮巇今坦蕩, 
一條千里直如弦。

Phiên âm: 
Quá Thiên Uy kính 
Sài lang khanh tận khước triều thiên, 
Chiến mã hưu tê chướng lĩnh yên. 
Quy lộ hiểm hy kim thản đãng, 
Nhất điều thiên lý trực như huyền.

Thiên Uy kính: Theo "Việt sử thông giám cương mục", năm Hàm Thông thứ 7 (866) nhà Đường, Cao Biền đi tuần đến châu Ung và châu Quảng, thấy đường biển nhiều đá ngầm, không tiện cho việc vận tải, liền sai Trưởng sử đem binh lính đi khai đào. Đến quãng giữa đường biển, gặp nơi có những tảng đá to nằm dài đến vài ba trượng, rìu búa không sao phá được, chợt một hôm có mấy trăm tiếng sét lớn đánh tan những tảng đá ấy, do đấy đường biển không bị ngăn trở, vì thế mới đặt tên là Thiên Uy kính.

 Dịch thơ:
Qua đường Thiên Uy 
Sói lang chôn sạch mới chầu triều, 
Khói mịt mờ ngựa chiến thôi kêu. 
Đường hiểm gập ghềnh nay phẳng rộng, 
Lối về muôn dặm thẳng một lèo.

                                                       Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH, NHÀ THƠ CAO BIỀN - Nguyễn Ngọc Kiên

QUÊ NGHÈO – XÓT XA NHỮNG TIẾNG LÒNG - Bùi Đồng



                  Bùi Đồng


QUÊ NGHÈO – XÓT XA NHỮNG TIẾNG LÒNG

Ngoài kia Ngâu đang rả rích. Trong này, tôi cũng đang lặn lội “về” với Quê Nghèo của Đặng Xuân Xuyến! Mà cũng lạ, cái quê này ở đâu vậy nhỉ? Cố tìm một địa danh mà chẳng thấy. Thì ra ai đọc Quê Nghèo cũng liên tưởng đến quê mình... củ khoai hạt lúa, chân chất mộc mạc, xa thương gần lại càng thương. 
Tác giả đã nói hộ mọi người:

Cha cả đời lam lũ
Mẹ một đời chắt chiu ...

Đọc hai câu thơ này giống như vế đối, lặp từ ĐỜI càng làm nặng thêm cái vất vả của bậc sinh thành. Tác giả có thể thay: cha suốt ngày lam lũ ... để tránh lặp từ nhưng may quá tác giả đã không làm như vậy! Đọc đến đây làm chúng con thấy chua xót mà cũng lăn tăn về trách nhiệm của mình nhưng có ngờ đâu đó là định mệnh mà xã hội làm chưa trọn!

Khoai sắn vẫn len vào giấc ngủ ...

Trời ạ, khi đói chả ai ngủ được, họ nằm trằn trọc, ước ao có được củ khoai, miếng sắn để quên đi bụng réo cồn cào... một lối tư duy rất thơ mà rất thực, cái đói cứ len vào giấc ngủ mà không làm gì được vì biết chắc chắn nhà mình chẳng còn gì cả, càng cố quên đi nó càng luồn lách, len lỏi vào tận... dạ dày! Chả còn gì để mà tự an ủi nữa, đến: Cánh cò (còn phải) bấu bíu lời ru!
Câu thơ đến đây làm nghẹn lòng người đọc, thương cho cánh cò rồi lại thương cái quê nghèo, cái thân phận của mình.
Có người nói: muốn biết vùng ấy thế nào thì nhìn vào chợ. Thì đây: phiên chợ èo uột,

Dăm ba nải chuối
Vài mớ rau tươi

Lèo tèo dăm người bán
Lẻ tẻ mấy người mua.

Ế bán
Chán mua

Lại một lần nữa cách diễn tả như vế đối, cô đọng hết cỡ, ngữ điệu dân gian... làm ta nghe phảng phất nhớ cụ Nguyễn Khuyến - Tú Xương. Thành công của bài thơ nằm ở đây. Tài thật, tôi biết đây là ngẫu hứng, tưởng tượng thôi nhưng thật tuyệt vì tác giả đã hòa hồn vào Quê Nghèo mới tinh chiết ra được như vậy.

Thương con cò con vạc
Mỏi cổ chồn chân trên đồng đất của mình.

Người nông dân thua trận ngay trên quê mình, mỏi cổ chồn chân ... miết rồi vẫn vậy. Đặng Xuân Xuyến ơi: 

"Ngoài sân một chiếc lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”
                             (Trần Đăng Khoa)

Đặng Xuân Xuyến đã làm tôi liên tưởng so sánh về sự hòa hồn với quê hương tới mức đồng thể! 
Ngạc nhiên thật. Thơ không giấu được về con người làm ra nó, có thế nào nó rải ra hết một cách vô tư và công bằng.
Bẵng đi... đến thời nay (mặc dù tạm quên đi chị Dậu, Giáo Thứ):

Chiếc cổng làng dựng nên thật đẹp
Ngạo nghễ tượng đài
Ngạo nghễ trần ai...
Để:
Giam hãm đời người 
Tù túng giấc mơ!

Quê tôi nghèo
Nghèo (đến) cả giấc mơ!

Đúng là hình ảnh làng văn hoá, đổi mới hiện nay rồi nhưng sao ta vẫn nếm được vị chua chát, bất mãn làm vậy. Rất may đây là cách chỉ ra gián tiếp nguyên do làm cho quê nghèo mãi nghèo! Ta đã thấy manh nhà một tư tưởng mới, cách sống không cam chịu và chẳng thèm thích nghi nữa.

Con cò: bấu víu lời ru
Con người: nghèo cả giấc mơ!

Mơ chả mất tiền, không ai đánh thuế, bắt vạ... ấy mà cũng chả dám mơ ước đổi đời…

Ngoài kia giọt mưa thu đã ngừng rơi 
Còn trong lòng mưa vẫn rơi sùi sụt!

Thương cho những quê nghèo với những xót xa tiếng lòng như trong Quê Nghèo của Đặng Xuân Xuyến!

                                         Thành Nam, 07 tháng 09.2017
                                                     BÙI ĐỒNG
                    Địa chỉ: 3/176 Phan Đình Phùng, t/p Nam Định.
                    Email: hatbuinhangian.db@gmail.com
                    Điện thoại: 090.219.18.04





QUÊ NGHÈO

Quê tôi nghèo lắm
Vẫn lác đác nhà tranh
Vẫn tiếng thở dài những chiều giáp hạt
Vẫn bát cơm chan mồ hôi mặn chát
Cha cả đời lam lũ
Mẹ một đời chắt chiu
Khoai sắn vẫn len vào giấc ngủ
Tuổi thơ tôi đói ngủ
Thương cánh cò bấu bíu lời ru. 

Quê tôi nghèo lắm
Phiên chợ còn èo ợt nghèo hơn
Dăm ba nải chuối
Vài mớ rau tươi
Mẹt sắn, mẹt ngô
Í ới mời chào cao hơn mời cỗ
Lèo tèo dăm người bán
Lẻ tẻ mấy người mua
Ế bán
Chán mua
Phiên chợ quê xác xơ già cỗi.


Quê tôi nghèo lắm
Lũ trẻ gầy như con cá mắm
Lũ trai mặt mũi mốc meo
Gặm nhấm nỗi đau nghèo khó
Nơm nớp âu lo đời như chiếu bạc
Thương con cò con vạc
Mỏi cổ chồn chân trên đồng đất của mình.

Quê tôi nghèo lắm
Nước mắt rơi từ thời chị Dậu
Tiếng oan khiên từ thời Giáo Thứ
Âm ỉ bủa quanh
Bám đeo đặc quánh
Chiếc cổng làng dựng lên thật đẹp
Sừng sững bê tông cốt thép
Ngạo nghễ tượng đài
Ngạo nghễ trần ai
Chiếc cổng làng thành tai hại
Giam hãm đời người
Tù túng giấc mơ.

Quê tôi nghèo
Nghèo cả giấc mơ...

Hưng Yên, chiều 29 tháng 12 năm 2014
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - QUÊ NGHÈO – XÓT XA NHỮNG TIẾNG LÒNG - Bùi Đồng