Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, April 23, 2015

ÔNG ĐỒ: NHỮNG BỨC TRANH THƠ - Phạm Đức Nhì


Nhà thơ Vũ Đình Liên. Hình từ Báo Mới (baomoi.com)


Phạm Đức Nhì

ÔNG ĐỒ: NHỮNG BỨC TRANH THƠ 

Bài thơ Ông Đồ được đăng năm 1936 trên báo Tinh Hoa lúc tác giả của nó, Vũ Đình Liên, mới 23 tuổi. Ông là người theo tân học, đậu Tú Tài năm 1932 (lúc 19 tuổi). Nhờ khả năng quan sát sắc bén ông đã sáng tác được bài thơ mà theo Hoài Thanh: “Theo đuổi nghề văn mà làm được một bài thơ như thế cũng đủ. Nghĩa là đủ lưu danh với đời.” (Thi Nhân Việt Nam).

Hoài Thanh đưa ra những lời khen ngợi trên và đã chọn đưa vào tuyển tập Thi Nhân Việt Nam chứng tỏ bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên, dưới cái nhìn của đôi mắt thơ có nội lực sung mãn vào hạng nhất thời bấy giờ, được đánh giá rất cao.
  
             ÔNG  ĐỒ

          Mỗi năm hoa đào nở
          Lại thấy ông đồ già
          Bày mực tàu, giấy đỏ
          Bên phố đông người qua

          Bao nhiêu người thuê viết
          Tấm tắc ngợi khen tài
          Hoa tay thảo những nét
          Như phượng múa rồng bay

          Nhưng mỗi năm mỗi vắng
          Người thuê viết nay đâu?
          Giấy đỏ buồn không thắm
          Mực đọng trong nghiên sầu

          Ông đồ vẫn ngồi đấy
          Qua đường không ai hay
          Lá vàng rơi trên giấy
          Ngoài trời mưa bụi bay

          Năm nay đào lại nở
          Không thấy ông đồ xưa
          Những người muôn năm cũ
          Hồn ở đâu bây giờ?
                             Vũ Đình Liên

Tứ thơ:

     Mỗi độ xuân về ông Đồ lại ngồi bên phố trổ tài viết câu đối cho người qua, kẻ lại. Nhưng mỗi năm mỗi ít người thuê viết, ông đồ ngồi lặng lẽ bên đường. Và năm nay không thấy ông đồ nữa.

Ý thơ:
    
Qua hình ảnh ông đồ tác giả tỏ ý thương tiếc một nền Nho học đang lụi tàn dần theo năm tháng.
    
Ở đây ý và tứ khác nhau, nghĩa là tác giả đã sử dụng phép ẩn dụ toàn bài. Ông không chơi bài cào, kiểu ngửa mặt lớn nút ăn tiền, mà chọn ván bài xì phé trong đó con tẩy được dấu kín. Con tẩy càng kín thì ván bài càng hấp dẫn và tay chơi (tác giả) càng có lợi thế. Đến phút cuối cùng, con tẩy được lật lên, người đọc à lên một tiếng thích thú. Từ lúc hiểu tứ đến lúc cảm thông được ý - chủ đích của tác giả khi viết bài thơ - chỉ một tích tắc. Điều đáng nói là chính cái tích tắc ngắn ngủi đó đã cho người đọc cái cảm giác sảng khoái như khám phá được một điều gì to lớn lắm.

Đọc xong đoạn cuối:

                   Năm nay đào lại nở
                   Không thấy ông Đồ xưa
                   Những người muôn năm cũ
                   Hồn ở đâu bây giờ?

Qua dòng liên tưởng của chính mình người đọc thấy con bài tẩy đã được ngửa ra. Sự mất dạng của Ông Đồ giữa phố Tết dẫn đến tâm trạng nuối tiếc một nền Nho học đang lụi tàn. Đây là một tứ thơ hay, bao quát toàn bài, được vận dụng khéo léo, kín kẽ, không một tý sơ hở để có thể dẫn đến những hiệu ứng phụ khiến người đọc có thể vặn vẹo, bắt bẻ.

Ngoài phép ẩn dụ, bài thơ Ông Đồ còn có những cái hay sau đây:

Không có hội chứng nhàm chán vần.

Một trong những hạn chế của thể thơ trường thiên (ở đây là ngũ ngôn trường thiên) là hội chứng nhàm chán vần. Mỗi câu vừa vặn 5 chữ, vần gieo 1/3 (trắc), 2/4 (bằng) rất đều đặn từ đầu đến cuối khiến người đọc có cảm giác “ngán vần” nếu bài thơ quá dài. May mắn, bài thơ chỉ có 20 câu; tuy vị ngọt thơ ca hơi “đậm đà” nhưng cảm giác nhàm chán chưa kịp đến thì bài thơ đã hết.

Tứ thơ không bị phân tán.

Hạn chế thứ hai của thể thơ trường thiên là tứ thơ phân tán. Bài thơ chia làm nhiều đoạn, mỗi đoạn 4 câu độc lập, không có mắt xích nối các đoạn với nhau nên không có dòng chảy của thơ. Thay vào đó chỉ có những vũng thơ, những hố thơ riêng biệt; mỗi vũng, mỗi hố thể hiện một mảnh tâm trạng của tác giả. Người đọc phải đến từng hố thơ để cảm nhận từng mảnh vụn tâm tình đó. Tứ thơ vì thế bị phân tán. Bài thơ Ta Về của Tô Thùy Yên đã vướng phải hạn chế này. Ông viết:

                      Ta về như tứ thơ xiêu tán
       
là rất đúng. Bởi bài Ta Về có đến 124 câu, 31 đoạn; tứ thơ chủ đạo hoàn toàn bị phân tán, manh mún.

Bài thơ Ông Đồ về hình thức không có những mắt xích nối các đoạn thơ với nhau nhưng may mắn (lại may mắn), không kể đoạn đầu giới thiệu ông Đồ, 4 đoạn còn lại là chuỗi hình ảnh nối tiếp nhau theo thứ tự thời gian nên người đọc vẫn có được sự chú tâm cần thiết thả hồn theo dòng thơ – chính là dòng thời gian –  để cảm được tâm tình của tác giả.

Áp dụng thành công nguyên tắc “bày tỏ, không kể lại” (show, not tell): tác giả dùng ngôn từ đơn giản của đời thường, tạo ra những hình ảnh gần gũi, quen thuộc để người đọc có thể cảm nhận trực tiếp, không qua sự biện giải dài dòng của lý trí.

Cái hay nữa của bài thơ là “thi trung hữu họa”; họa ở đây không phải chỉ khi ẩn, khi hiện mà mỗi đoạn thơ đã được tác giả vẽ thành một bức tranh sống động.

                   Mỗi năm hoa đào nở
                   Lại thấy ông đồ già
                   Bày mực tàu, giấy đỏ
                   Bên phố đông người qua


Bức tranh nhìn từ xa: đám đông vây quanh một ông già mặc áo chùng thâm, đội khăn đóng (ông Đồ) đang lúi húi viết; mặt ông Đồ và những người vây quanh đều lờ mờ, không rõ nét. Đây đó một vài cây đào đang nở hoa, báo hiệu xuân sang, tết đến.

                   Bao nhiêu người thuê viết
                   Tấm tắc ngợi khen tài
                   Hoa tay thảo những nét
                   Như phượng múa rồng bay


Bức tranh cận cảnh: cũng đám đông vây quanh ông Đồ, mặt tươi vui, chú tâm theo dõi nét bút (lông) của ông trên giấy đỏ. Thân hình và mặt mọi người đều rõ nét

                    Nhưng mỗi năm mỗi vắng
                    Người thuê viết nay đâu?
                    Giấy đỏ buồn không thắm
                    Mực đọng trong nghiên sầu


Bức tranh nhìn hơi xa: ông Đồ ngồi trên chiếu, bên cạnh là xấp giấy màu đỏ (nhạt hơn màu giấy ở bức tranh 2), bút lông và lọ mực chỉ còn một ít mực đọng ở cuối lọ. Chỉ có 1, 2 người thờ ơ đứng xem, không ai thuê viết.

                      Ông đồ vẫn ngồi đấy
                      Qua đường không ai hay
                      Lá vàng rơi trên giấy
                      Ngoài trời mưa bụi bay


Bức tranh nhìn gần hơn một tý: ông Đồ vẫn ngồi trên chiếu dưới mưa phùn lất phất, bên cạnh lờ mờ xấp giấy đỏ, bó bút lông và lọ mực. Người đi đường qua lại không ai đến gần chiếc chiếu của ông Đồ. Cảnh thật tiêu điều.

                       Năm nay đào lại nở
                       Không thấy ông đồ xưa
                       Những người muôn năm cũ
                       Hồn ở đâu bây giờ?

Bức tranh cận cảnh: người đi chơi xuân qua lại tấp nập trên đường; khoảnh đất ngày xưa ông Đồ thường ngồi, nay bỏ trống; một người không rõ mặt (tác giả) đứng cách mươi bước, mắt đăm chiêu nhìn khoảnh đất trống. Thật ra, nếu vẽ đúng ý của đoạn kết thì phải có thêm dấu chấm hỏi ngay trên khoảnh đất trống ấy.

Sau đây là vài khuyết điểm nho nhỏ trong bài thơ Ông Đồ mà người viết bài này muốn đưa ra để bàn luận:

Cách gieo vần: phải nhìn nhận tác giả rất cố gắng và rất khéo trong việc chọn chữ và gieo vần để giảm bớt vị ngọt của thơ ca. Trong 10 đôi chữ vần với nhau chỉ có 3 đôi là chính vận (đâu sầu, đấy giấy, hay bay), 7 đôi còn lại là thông vận. Tuy vậy vị ngọt, mặc dầu chưa đến độ nhàm chán, đối với người đọc khó tính, đã hơi “đậm đà”. Tại sao ông không bỏ hẳn vần 1/3, chỉ giữ vần 2/4 như Ta Về của Tô Thùy Yên chẳng hạn? Hỏi tức là đã trả lời. Lúc ấy cách gieo vần của Thơ Mới (ảnh hưởng Pháp) là như thế. Một nhà thơ cự phách như Tô Thùy Yên mà đến gần 50 năm sau (1985), trong Ta Về mới áp dụng phép gieo vần ấy, thì làm sao có thể trách Vũ Đình Liên được. Ông đã chọn thể thơ mà ở thời của ông được coi là mới nhất, phóng khoáng nhất. Nhưng dẫu sao cái vị ngọt hơi “đậm đà” đã tan vào bài thơ của ông, và ông, chứ không  ai khác, phải nhận trách nhiệm (một cách oan ức!) về khuyết điểm nho nhỏ đó.

Theo tôi, 2 câu đóng góp ít nhất và giảm giá trị nghệ thuật của bài thơ nhiều nhất, là 2 câu cuối:

               Những người muôn năm cũ
               Hồn ở đâu bây giờ?

Nhận định này rất khác với những bài bình Ông Đồ trên sách báo và internet ở trong nước; nó cũng khác với nhận định của vài nhà phê bình văn học ở hải ngoại. Sau đây là lý do khiến tôi đưa ra nhận định ấy.
        
Khi đọc xong câu 18:
                           
               Không thấy ông Đồ xưa

con tẩy của ván xì phé đã được lật lên, ẩn dụ đã được giải mã, không cần phải giải thích thêm nữa. Bằng khả năng liên tưởng của mình người đọc đã có thể nhận ra chủ ý của tác giả: nền Nho học đang lụi tàn. Cái câu hỏi “Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ?” là không cần thiết, là thừa. Nếu nói tác giả dùng cái câu hỏi “hỏi để mà hỏi vậy thôi” với mục đích là, qua cái giọng “bàng hoàng, thảng thốt” trong câu hỏi ấy, truyền cho người đọc cảm giác  tiếc nuối cái nền Nho học kia, thì cũng không hợp tình lắm. “Bàng hoàng, thảng thốt” dùng cho trường hợp của Tú Xương trong Sông Lấp thì đúng, bởi ông Tú cũng chính là ông Đồ, là máu, là thịt của nền Nho học; mất (hình ảnh) ông Đồ, đối với ông, cũng đau đớn như mất một phần thân thể, một phần tâm hồn của mình. Còn như Vũ Đình Liên, theo tôi, chỉ bâng khuâng tiếc nuối khi thấy mất đi một nét đẹp văn hóa của dân tộc, bởi ông – một người theo tân học – đối với ông Đồ, đối với nền Nho học, chỉ là kẻ bàng quan, là người ngoài cuộc; câu hỏi với cái giọng tha thiết ấy có vẻ hơi “lạc điệu”. Hơn thế nữa, nó làm bức tranh thứ 5 vẫn cồm cộm chữ nghĩa; ngôn ngữ chưa hoàn toàn tan biến, chưa thực sự hóa thân vào trong tranh.

Có lần cô cháu dâu người miền nam nấu đãi ông bác chồng mới ở Mỹ về thăm, một nồi chè xôi nước. Con nhỏ nấu ngon thiệt; tôi ăn một lúc hết 4 viên mà vẫn còn thòm thèm. Nhưng đến viên thứ năm thì kẽ răng tôi bị một miếng gì đó dính vào. Thì ra nó nấu chè bằng đường chén làm từ mía; người làm đường không để ý nên sót lại chút bã mía trong chén đường. Dù vậy, chè xôi nước hôm đó vẫn là bữa ăn rất ngon tôi còn nhớ đến ngày hôm nay.

Vâng! Hai câu kết của bài thơ chính là miếng bã mía trong nồi chè xôi nước. Người đọc có cảm giác hơi tiêng tiếc. Chỉ một chút xíu nữa thôi là những bức tranh thơ có thể hoà nhập trọn vẹn vào tâm hồn người đọc, bài thơ có thể gọi là toàn bích.

Tóm lại, nhờ sự nhạy bén của tác giả (và một chút may mắn) bài thơ Ông Đồ đã tránh được hai khuyết điểm lớn của thể thơ trường thiên: hội chứng nhàm chán vần và tứ thơ phân tán. Thêm vào đó, nó lại có thể thủ đắc một lúc 3 “tuyệt chiêu” của thơ ca là ẩn dụ tài tình, bày tỏ, không biện giải (show, not tell), và thi trung hữu họa. Tôi xin mạnh dạn gọi nó là một tuyệt tác. Nó không phải chỉ nổi bật khi so sánh với những bài thơ cùng thời, không phải chỉ nhận được những lời ngợi khen từ những nhà phê bình văn học sử dụng  cái thước đo giá trị thơ ca của bối cảnh văn học những năm 1930s, 1940s. Ngay lúc tôi viết bài này (2013), sau gần 80 năm lăn lóc trên thi đàn, nó vẫn sống trong lòng người yêu thơ. Những nhà phê bình văn học, dù khó tính, “bới lông tìm vết” bằng những chuẩn mực giá trị của thời đại mới đi nữa, vẫn phải công nhận Ông Đồ là bài thơ rất hay. Ông Đồ không chỉ là hiện tượng, là cái mốc của một thời điểm lịch sử như Tình Già của Phan Khôi, như mấy bài thơ của TTKh, mà bằng giá trị nghệ thuật nội tại, bằng cái đẹp chân chất thơ ca, đã biểu lộ một sức sống mãnh liệt, sẽ còn ngất ngưởng trên thi đàn, làm xao xuyến hàng triệu trái tim những người yêu thơ …nhiều chục năm nữa. Tôi rất tự tin khi đưa ra lời tiên đoán này. Đúng hay sai? Chỉ thời gian mới có thể trả lời.

                                                                      PĐN


READ MORE - ÔNG ĐỒ: NHỮNG BỨC TRANH THƠ - Phạm Đức Nhì

LỜI RU MUỘN MÀNG - thơ Tuyền Linh


Tác giả Tuyền Linh

Lời ru muộn màng

Anh vay em một chút tình
Vá vào hồn mộng rách mềm bấy lâu
Đường kim mối chỉ luồn khâu
Nhẹ tay em nhé để sầu nằm yên!

Bốn mươi năm chẳng thể quên
Từng ngày giông bão, từng đêm lệ thầm
Oằn vai gánh cuộc trăm năm
Tháng ngày dầu dãi tím bầm nợ duyên

Chút tình vay mượn của em
Anh làm vốn liếng thay duyên phận mình
Mượn luôn em mớ chân tình
Ướp vào tâm não để dành mai sau

Đã qua một cuộc bể dâu
Thu vàng lá đổ chìm sâu giấc tình
Trăm năm nghĩ lại… giật mình!
May mà vay được chút tình ca dao

Vốn lời anh sẽ gởi trao
Trong trang cổ tích đượm màu thiên thu
Sảy sàng sạch trọi phù du
Trả em một chút lời ru muộn màng

Tuyền Linh
2015


READ MORE - LỜI RU MUỘN MÀNG - thơ Tuyền Linh

Wednesday, April 22, 2015

SÓNG TÌNH - Thơ Đức Hạnh





        SÓNG TÌNH 

        Ngày đêm biển cát bên nhau          
        Sóng hôn cát trắng tình đầu lung linh
        Biển tình rộn rã bình minh
        Sóng yêu bờ cát in hình em tôi
        Những đêm sóng biển sánh đôi
        Hôn nhàu cả mặt trên đồi cát trăng
        
        Chị Hằng cũng xuống làm quen
        Chú Cuội liền hỏi: đem đèn đi đâu ?
        Chị rằng: khoác áo cô dâu
        Chú rể là sóng yêu nhau cơ mà !
        Khác nào tình của đôi ta
        Mong rằng mãi sáng nở hoa sóng tình...                              

                                                 Đức Hạnh

READ MORE - SÓNG TÌNH - Thơ Đức Hạnh

EM ĐI QUA - thơ Châu Thạch











Châu Thạch

EM ĐI QUA
                              

Em đi qua lầu cao dương mắt ngó
Huống chi người sao chẳng rụng tim
Ta đứng đó trăm năm hồn mở ngõ
Đợi em vào nhảy những bước chân chim.

Em đi qua lá vàng bay theo gót
Hồn ta bay xào xạc dưới chân em
Em tinh quái nghiêng đầu mắt liếc
Hồn ta chìm theo chiếc lá nằm im.

Em đi qua và thời gian ngừng lại
Giờ linh thiêng ta thờ phượng trong lòng
Những khối tình lý tưởng ta hằng mong
Cũng tan hết chiều nay thành sợi khói.

Giờ tiền định em đi qua một phút!
Để trần gian khô héo bỗng đầy thương
Để hồn ta khoái lạc nghĩa vô thường
Em có phải… hồ ly! Em có phải?


                                             CT



READ MORE - EM ĐI QUA - thơ Châu Thạch

Tuesday, April 21, 2015

ĐÔI NHẪN CƯỚI - thơ Hồng Tâm




ĐÔI NHẪN CƯỚI

Xưa chúng mình từng sánh bước bên nhau
Trong lễ cưới ngập tràn men hạnh phúc
Bao khách mời cụng ly chúc
Chúc đôi mình hạnh phúc trăm năm

Nhân chứng tình yêu đôi nhẫn cưới Uyên ương
Nó kết tinh bằng mối tình thật đẹp
Sao qua bao tháng năm tìm hiểu
Thưởng đôi ta bằng tiệc cưới rộn ràng

Nhưng chuyện chúng mình giờ bước sang trang
Giấc mơ trong em giờ sụp đổ
Trái tim thơ ngây của em vụn vỡ
Cằn cỗi héo hon bao năm tháng xa người

Đôi nhẫn cưới giờ nằm tại một nơi
Lặng yên trong hộp nữ trang màu đỏ
Nó chờ ai đợi ai dòm ngó
Mà người vô tâm đi biền biệt không về

Em biết người chẳng nhớ câu thề
Hẹn cùng em ghép tròn câu duyên nợ
Mới hay nửa của mình say nắng lạ
Như bướm ong lạc lối quên về

Biết làm sao đây? Em viết trọn bài thơ
Cứ đuổi mãi bóng hình trên cát
Em vẫn nhớ anh dù trái tim tan nát
Vẫn yêu anh dù biết dối lừa

    Hồng Tâm
    (Lý Thị Minh Tâm - Bến Cầu - Tây Ninh )
     Email:lyminhly456@gmail.com
READ MORE - ĐÔI NHẪN CƯỚI - thơ Hồng Tâm

CÁM XÚC XUÂN - thơ Lưu Thế Quyền



Cảm Xúc Xuân

Gió đông còn sót lại
Vương nỗi buồn hôm qua
Xuân rộn ràng mở hé
Xua đi khói mây tà.

Xuân mang dòng sông biếc
Trời ngây một dáng lành
Chênh chao dòng mơ ước
Viết về mùa mãi xanh.

Bao giờ em trong anh
Mùa xuân là vĩnh viễn.


Lưu Thế Quyền
Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc
ĐC: Khu doanh nghiệp Thanh Lãng - Bình Xuyên - Vĩnh Phúc
luuthequyen@yahoo.com.vn
READ MORE - CÁM XÚC XUÂN - thơ Lưu Thế Quyền

CHO ĐI - chùm lục bát của cây bút trẻ Hoàng Lê



Tác giả Hoàng Lê


CHO ĐI

Cho đi quá khứ đau buồn
Để ta đón nhận mạch nguồn tương lai
Cho đi bóng tối u hoài
Dang tay vui với nắng mai tươi hồng
Cho đi sương khói mênh mông
Bình minh rực rỡ cánh đồng ngàn hoa
Cho đi chạng vạng chiều tà
Vầng trăng cổ tích, sao sa rạng ngời
Cho đi đen xám mây trôi
Cầu vồng hay ánh Mặt Trời sáng tươi
Cho đi, cho một chút thôi
Và ta nhận lại nụ cười trái tim


KIẾM TÌM

Đi tìm hạnh phúc cho em
Mặt Trời đi ngủ nhá nhem khó nhìn
Bình minh, đợi sẵn anh tìm
Giọt sương mí mắt, tiếng chim - giật mình…


NỤ CƯỜI CỦA EM

Em vô tư nở nụ cười
Tháng ngày buốt giá qua rồi với tôi
Cần chi em biết, kệ thôi
Trái tim hoang lạnh, Mặt Trời phá băng.


VÔ DUYÊN

Nắng vô duyên thế, nắng ơi
Sau khi mưa khóc, nắng cười được ngay
Gió vô duyên thế, gió này
Mây đen lầm lũi, gió bay chẳng màng
Thu vô duyên thế, thu vàng
Thu đi mặc kệ, bẽ bàng lá rơi
Đêm vô duyên thế, đêm trời
Bóng đen bủa lưới, ngày trôi – đêm nhìn
Em vô duyên thế, anh tìm
Một vòng cút bắt, em nhìn về ai?


HOÀNG LÊ 
(Lê Văn Cường)
Sinh: 24/9/1984,
Địa chỉ: số 6, ngõ 29, tổ 28, phường Minh Tân,
thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
ĐT: 0293.890.487 – DĐ : 01216.364.119
Email: lvcuong.c3ca@yenbai.edu.vn 
Nghề nghiệp: GV Lịch sử THPT

READ MORE - CHO ĐI - chùm lục bát của cây bút trẻ Hoàng Lê

Monday, April 20, 2015

SẮP HẾT THÁNG TƯ SAO EM? - thơ Mặc Phương Tử




Mặc Phương Tử

SẮP HẾT THÁNG TƯ SAO EM?

Phải không em nhỉ, tháng tư sắp hết
Sao ta nghe đời mới thoáng đâu đây!
Ký ức hôm nào, gầy guộc dưới trời mây,
Chiều hạ trắng, chưa phai màu dâu bể.

Phải không em, tháng tư sắp hết
Bên thềm xưa, chưa nhạt dấu rêu xưa!
Sương khói còn vương bên bờ áo lụy
Nên ta còn phiêu bạt đến bây giờ!

Có phải không em, sắp hết tháng tư
Quay quắt lòng ta chớm mùa lựu đỏ
Khi cánh én giã biệt trời sương gió,
Khuất non ngàn, chiều xuống vết tàn dư.

Thuở ấy gió về kéo nắng qua sông
Gió và nắng ngập chiều hương quê mẹ.
Đời rát mặt, ta rát nỗi niềm thật khẽ,
Đàn xưa nhịp loạn phím tơ chùng.

Có những cung đường hoang vu hồn cát bụi
Có những dòng thơ sủng ướt bến điêu tàn.
Nhưng hoa cỏ vẫn còn thơm tình sông núi
Ta gối lòng đêm lên giấc mộng quan san.

Tháng tư bây giờ,
Hay thuở ấy… tháng tư?
Lời mộng vỡ
Hay mộng còn dang dỡ…!
Cây trẩy lá cho sắc mùa rực rỡ
Đời trẩy mầm thêm nghĩa sống của con người.

Nước mây hội ngộ niềm vui
Cho trang tình sử ngọt lời quê hương,
Cho nghìn thu bạt khói sương
Cánh chim Hồng-Lạc về phương trời hồng.

Tháng tư sắp hết rồi, phải không em?
Nhớ thuở lòng ta còn phơi phới gió
Khi ngoài kia mới chớm mùa hoa lựu đỏ
Hắt hiu lòng vườn cũ tiếng ru đêm.

Đời ta nay dẫu bóng xế chiều nghiêng
Nhưng lòng ta phải đâu hoàng hôn định ước
Dấu rêu cũ còn xanh bên thềm mùa xuân truớc,
Phía bình minh hương trời đất trăm miền.

Sắp hết tháng tư sao em!
Nỗi lòng cát bụi lên đêm tạ từ
Bây giờ sắp hết tháng tư
Nghe lời vàng đá mùa dư âm về.

                   Louisiana, New Orleans, tháng 4, 2015.

                                            MPT
READ MORE - SẮP HẾT THÁNG TƯ SAO EM? - thơ Mặc Phương Tử

NHẬT MỘ HƯƠNG QUAN - thơ Chu Vương Miện




chu vương miện

nhật mộ hương quan


lẩm nhẩm hoài nhật mộ hương quan
yên ba giang thượng Cửu Long Giang
hạc bay có biết nơi nao đến?
tội nghiệp cho ta khẩy khúc đàn
bốn phiá có lau che khuất đất
Hồ cầm một khúc giã Chiêu Quân

thú cũng không mà chim cũng không
có vài cái vú mấy cái chân
hai cánh dang ra dài quá cỡ
ngủ đầu thòng xuống dưới đôi chân

cũng là con ốc chạy trên cát
nhưng mà ruột lại là nhện tôm
vỏ bọc một đường ruột một nẻo
hóa ra con ốc chỉ mượn hồn

đời đẩy ta sát ngay miệng vực
rồi không đẩy nữa tự nhiên ngưng
ta mở mắt ra nhìn xuống lũng
nơi đây toàn một lũng hoa vàng

chuyện thực và mơ vẫn giống nhau
giòng sông thôi đủ vĩ và đầu
chỉ tiếc bây giờ không ai ngó
nên chi giòng nước chẩy đục ngầu


                               chuvươngmiện
READ MORE - NHẬT MỘ HƯƠNG QUAN - thơ Chu Vương Miện

NHỊP ĐỜI BUỒN VUI - Nguyễn Đặng Mừng




Nguyễn Đặng Mừng 

NHỊP ĐỜI BUỒN VUI
  - 

  Cách đây mươi năm tôi đi học khiêu vũ. Thời đó dân miền Trung vào Sài Gòn lập nghiệp mà đi học nhảy là chuyện lạ. Bạn bè, nhất là  các bà thường  xì xào dị nghị, xem như hư hỏng tới nới rồi. Vậy là tôi dấu bạn bè đi học khiêu vũ một mình. Tưởng dễ, ngờ đâu phải khổ luyện gần một năm mới dám vào vũ trường, câu lạc bộ khiêu vũ .  Khác với lúc học có hàng có lối, tiến lùi phải trái đồng đều, vào vũ trường mỗi cặp nhảy mỗi kiểu, dìu không vững là dẫm đạp lên chân người ta như chơi. Những ngày đầu tôi không dám mời ai, chỉ ngồi một mình ở góc khuất nhìn thiên hạ nhảy. Rồi cũng quen dần, vài tháng sau tôi  đã có nhiều bạn nhảy.  Với quy luật nam thiếu nữ thừa, kép nào cũng đi với đào ruột, tôi độc thân, nghiễm nhiên trở thành của hiếm của quý cô quý bà.

Vậy là một ngày một cữ, sáng chiều hoặc tối ở các câu lạc bộ khiêu vũ tôi luôn có mặt. Gọi là câu lạc bộ nhưng cách trang trí, từ đèn màu đến âm nhạc không khác gì vũ trường là mấy, chỉ không có cave.  Có lần được mời đi vũ trường, mấy em cave nhảy lộn tùng phèo, họ ôm nhiều hơn là nhảy. Với người mê khiêu vũ tốt nhất là đến các câu lạc bộ, ở đó có nhiều bạn nhảy giỏi và cùng đam mê như mình.

Như thường lệ, tôi ngồi quan sát xem cô, bà nào  giỏi mới mời, nhảy với người mới học chán lắm,  chỉ trông mau hết bản nhạc. Một hôm, nhạc trỗi bài rumba,  thay vì tôi phải đi mời bạn nhảy thì có một em lại gần đưa tay: “Mời anh”. Đó là một cô mình dây, mặc đầm dài quý phái. Tôi vịn tay cô em đứng lên điệu nghệ. Với kinh nghiệm mấy tháng dìu đào, tôi nhẹ nhàng đi bước căn bản rồi nâng cao từ từ. Đào thường bối rối những bước đầu, khi đã quen rồi hãy “ phăng”,  từ đơn giản đến phức tạp. Muốn lấy lòng đào hãy nhẹ nhàng, có dự lệnh động lệnh hẳn hoi như cơ bản thao diễn trong quân đội vậy. Muốn đưa về hướng nào phải có dấu hiệu bằng tay trước một chút…Đào thường thích những kép có bàn tay điều khiển chuẩn mực, đôi chân chỉ cần bước đúng là được.  Tự nhiên tôi nhớ câu: “Lấy chồng thì phải theo chồng, chồng đi đường rắn đường rồng phải theo”, quan trọng là “chồng”  phải vẽ đường cho tử tế, thật thà, điệu đàng.

Nhạc rumba nhẹ nhàng lãng mạn đủ chúng tôi tâm sự. Tôi nói nhỏ vào tai nàng, “anh đi vậy được không, em học tới lớp mấy rồi”. Nàng  bảo: “Anh cứ tự nhiên, tôi sẽ cố gắng”. Đúng một tua nhạc tôi không rời nàng. Từ cha cha cha, đến tango nàng nhảy không chê vào đâu được. Đôi mắt nàng không có tuổi, tôi không biết tên nàng,  thầm gọi là em  Mắt Nai, tên tôi tự đặt tự biết. Mắt Nai buồn vợi khi rumba, sôi nỗi nhí nhảnh, lúng liếng khi cha cha cha, bebop, nghiêm trang quý phái khi  khi boston, valse, lắc đầu dứt khoát khi tango… Chưa bao giờ tôi phấn khích với khiêu vũ như thế này. Xong bản tango cuối cùng tôi chào nàng lịch sự điệu nghệ  như kiểu chia tay một buổi dạ hội ở châu Âu, nàng cũng đáp lại lịch sự  không kém.

Mắt Nai  đi ba buổi đều đặn trong tuần, thứ hai, tư và sáu. Có điều tôi thắc mắc là không biết nàng đi bằng lối nào. Có hôm, tôi đi sớm để canh nhưng vẫn không gặp nàng, thế mà nhạc vừa trỗi  pasodoble là Mắt Nai  xuất hiện ngay: đầm dài, giày cao gót, mời tôi. Một hôm, tôi phát hiện nàng từ sau quầy đi ra. Có người bảo: Những quý bà dấu các quý ông,  thường giả vờ mặc đồ bộ đi chợ, đến vũ trường, áo quần, giày  đã được gửi sẵn ở đó. Biết vậy tôi không thắc mắc nữa.

Ba tháng đẹp trời, tôi như được bay bổng với những vũ điệu cổ điển. Từ sôi nổi bốc lửa như cha cha cha, bebop, Samba, lãng mạn tình cảm như boston, rumba đến những vòng xoay choáng ngợp của valse, góc cạnh dứt khoát của tango… Đêm ngủ cứ trông trời mau sáng, chạy một vòng giao công việc cho các cộng sự xong, chín giờ là đến câu lạc bộ. Từ khi gặp Mắt Nai tôi ít nhảy với ai, bỏ luôn những buổi nàng không đến.

Sáng thứ hai như thường lệ tôi đến câu lạc bộ, chọn đúng chỗ tôi thường ngồi đợi nàng. Chờ đến gần hết buổi vẫn không thấy nàng đâu. Tôi ra về đêm đó không ngủ được. Đến thứ tư rồi thứ sáu nàng cũng bặt tăm. Thời đó chưa có điện thoại di động, tôi băn khoăn không biết cách nào gặp được nàng. Một hôm ngồi buồn nhìn thiên hạ nhảy, uống tới chai bia thứ năm, trong tiếng nhạc lúc dặt dìu lúc sôi nổi, loáng thoáng những bóng người ôm cuốn nhau tình tứ, nhiệt thành, tôi nhớ nàng da diết. Xong buổi khiêu vũ người ta về hết, tôi vẫn ngồi. Nàng lại xuất hiện, bảo: “Anh vẫn đi nhảy thường xuyên đấy chứ”. Như bắt được vàng, tôi cầm chặt tay nàng, run run nói: “Sao cả tuần nay cô không tới đây?”  Nàng nhẹ nhàng, “Thôi mình kiếm quán cà phê, tôi có chuyện cần nói với cậu”. Sao nàng gọi mình bằng cậu, tôi hoang mang đi theo nàng.

Nàng chạy trước, tôi rà xe theo. Nàng tấp vào một quán cà phê yên tĩnh, dựng xe, mời tôi vào. Buổi trưa vắng khách, yên ắng như giữa hai bản nhạc, sắp bùng nổ một giai điệu. Lần đầu tôi nhìn nàng dưới ánh sáng thật: Nàng gọi tôi bằng cậu là đúng, nàng khoảng bốn mươi tuổi, hơn tôi năm tuổi, chỉ có đôi mắt là Nai. Nàng mang tang màu đen nhỏ ở ngực áo sơ mi trắng, cương nghị và buồn buồn,  nhìn tôi: “Cậu này, cậu nhảy còn kém lắm, nhưng có hồn. Văn , Thơ, Nhạc cũng cần có hồn, không phải biết nhiều hay biết ít. Chồng tôi vừa mất, anh ấy là nhà thơ, một nhà thơ không bắt kịp  nhịp điệu, hơi thở tình đời thật và giả. Cậu hiểu chứ, cậu em. Chồng tôi rất ghét khiêu vũ”. Tôi nhìn chị, ngơ ngác không hiểu gì. Chị nghiêm mặt: “Hãy sống chân thật, đừng dối trá, cậu em ! Nhảy cũng thế… Đời cũng thế, uống bia ôm còn tệ gấp trăm lần… nhảy đầm. Ông nào cũng ngại khiêu vũ, còn nhậu với gái thì…” Chị hớp một ngụm nước, thở dài: “Cậu em này, con chim con cá  khi yêu nhau nó cũng nhảy, cậu thấy không. Người Gialai, ÊĐê cũng biết nhảy, cậu thấy không. Chỉ có người Kinh, người Kinh Việt Nam là… chưa bao giờ được nhảy… vô tư. Nhảy cũng như thơ”. Chị buồn, nhìn tôi, bắt và chia tay. “Tạm biệt cậu, tôi nghỉ nhảy một thời gian như đã hứa với chính mình, chào cậu”.

Hơn mười lăm năm tôi không có dịp khiêu vũ, một phần do công chuyện, phần khác là không tìm được ai hơn NÀNG. Bao nhiêu bận bịu của đời, cơm áo và tình cảm, cả lời dị nghị nữa, tôi đành quên niềm vui khiêu vũ.

Mấy năm lại đây, đọc báo thấy có  Khiêu Vũ Dưỡng Sinh. Vui quá mà cũng buồn quá. Vợ ơi, ta, chúng ta đã đánh mất cả một khoảng đời rồi, đã đến tuổi cần khiêu vũ dưỡng sinh rồi.

Vợ tôi giờ mê khiêu vũ hơn chồng, dù ngày xưa tôi năn nỉ cũng không chịu đi nhảy, sợ người ta đồn trưởng giả học làm sang.

Nhảy phòng lạnh chán, một hôm vợ  bảo: “Công viên nhảy vui hơn”. Thế là vợ nói chồng nghe, cùng nhau đến công viên.

Một  nữ vũ sư, mình dây, đầm dài, sôi nỗi nhí nhảnh, cầm micro hát và nhảy: “Mắt nai ơi xin đừng đi nhé em…”. (*)  Nhìn tấm lưng mềm như… thơ, tôi biết là ai rồi. “Dù cho ngày tháng qua đi, qua những phong ba, tôi vẫn còn ngồi mãi nơi này…”

Tôi nói với vợ, mệt quá rồi, em ơi, trễ quá rồi. Về đi.

* Mắt nai cha cha cha, NS Sĩ Luân.

                                                                                                                                                                                 NĐM
                           
                                                                                   
Đã đăng trên Báo Nhịp Cầu Đầu Tư.    


Trích từ
NHỊP ĐỜI BUỒN VUI,
Tập tản văn của Nguyễn Đặng Mừng,
NXB Hội Nhà Văn, 2011.

Tác giả gởi tặng.                                      
READ MORE - NHỊP ĐỜI BUỒN VUI - Nguyễn Đặng Mừng

NGHIÊNG - thơ Trường Hải - Lê Văn Đông




NGHIÊNG
                                       
Trái Đất nghiêng                                       
Né mắt nhìn vũ trụ                                       
Nghiêng che bớt ánh Mặt trời                                       
Nắng đỡ gắt gao vắt kiệt muôn loài.                                   
Sông núi nghiêng                                          
Dồn nước về với biển
Để mặt đất không khô khát bao giờ. 
Mặt trăng nghiêng      
Tỏ tình biển cả           
Thủy triều dâng ngập bờ đêm.           
Con người nghiêng về nhau   
Đời rộn khúc tình ca. 
Vành nón lá em nghiêng                                         
Giấu đôi mắt bồ câu   
Đôi má lúm đồng tiền
Cái duyên bao người khao khát.        
Trong đêm tiếng đàn bầu khoan nhặt 
Không gian nghiêng phía quê nhà.    
Đình chùa nghiêng cây bóng đa         
Cho bao tình nhân hò hẹn.     
Chén rượu khi mùa Xuân đến
Nghiêng say lễ hội đợi chờ.   
Đất trời dâng trào nhựa sống 
Thi nhân nghiêng cả hồn thơ.
                           
Đỉnh Sơn , 4/3/2015                                                           

Trường Hải Lê Văn Đông
READ MORE - NGHIÊNG - thơ Trường Hải - Lê Văn Đông