Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, February 1, 2015

THƠ NÓI HOANG CỦA THÁI QUỐC MƯU - Châu Thạch




THƠ NÓI HOANG CỦA THÁI QUỐC MƯU 
Châu Thạch

Tự điển VN định nghĩa chữ “ngộ nghĩnh” là “lạ và khác thường”.Vậy tôi xin dùng chữ nầy để nói về một số bài thơ của nhà thơ Thái Quốc Mưu.

Tất nghiên chữ ngộ nghĩnh không dùng như nói một đưa bé ngộ nghĩnh mà ở đây là những bài thơ ngộ nghĩnh tức là những bài thơ có sự tinh tế và độc đáo riêng của nó. Độc đáo vì những bài thơ nầy có một chút lập dị, một chút ngông, một chút hài hước nhưng ý có chứa ẩn dụ cho đời suy nghiệm.




Trước hết hãy đọc bài thơ “Bãi Biển chiều buông”:

Bãi biển chiều buông sóng dập dồn
Cạn nguồn ta kết thử vần ôn
Từng bầy xuân nữ nằm phơi rốn
Mấy đám thanh niên đứng ngắm... ồn
Đồi núi cỏ cây chen chúc lá
Triền khe mạch suối luyến lưu hồn
Ông to, ông nhỏ, ông…dân giả
Nào kẻ chẳng mê thú vỗ... ồn.

Đọc hai câu thơ đầu ta tưởng nhà thơ Thái Quốc Mưu là người không biết làm thơ, vì bí thế không tìm ra từ ăn vận với chữ “dập dồn” ở câu thơ trên nên ghép đại chữ “vần ồn” vô nghĩa vào thơ. Thường thường đó là cách làm thơ “con cóc” của những người mù tịt về thơ. Thế nhưng đọc tiếp những vế thơ sau thì ta thấy chữ “vần ồn” mở ra một bầu trời rộn rịp, vui vẻ của bãi biển chiều buông. “Vần ồn” từ chỗ khô cứng trở thành cánh cửa linh hoạt cho ta bước qua một khung trời tươi vui, đã mắt.

Thế rồi hai câu thơ tiếp:

Từng bầy xuân nữ nằm phơi rốn
Mấy đám thanh niên đứng ngắm... ồn

Có thể nói rằng hai câu thơ nầy tác giả tả chân. Hình ảnh các cô gái thanh xuân nằm phơi nắng hiện ra gần như lỏa lồ trước mắt chúng ta. Hình ảnh mấy đám thanh niên với cái nhìn khả ố cũng hiện ra trước mắt chúng ta. “Ngắm... ồn” là ngắm gì? Ồn là tiếng động thì nghe bằng tai chứ làm sao ngắm bằng mắt được. Tất nhiên người đọc phải hiểu chữ “ngắm... ồn” theo nghĩa xấu hơn qua hình thức thêm chữ “L” trước chữ “ồn”. Câu thơ đến đây trở thành tục và hình ảnh đến đây trở thành dục. Tuy thế cái tục và cái dục trong thơ không làm cho chướng mắt chướng tai mà hiển hiện ra trong trí ta một bức tranh sống động với những hình ảnh, những âm thanh vui tai, vui mắt.

Hai câu luận của bài thơ như sau:

Đồi núi cỏ cây chen chúc lá
Triền khe mạch suối luyến lưu hồn

Hai câu thơ nầy tác giả tả phong cảnh trên bãi biển nhưng cố ý làm cho người đọc liên nghĩ đến những bộ phận trên cơ thể các cô xuân nữ đang nằm “phơi rốn” kia. Cách chơi chữ trong hai câu thơ trên làm cho hình ảnh như một bức tranh phóng tác và làm cho hình ảnh tục mà ta liên tưởng tới không trắng trợn.

Đến hai câu kết của bài thơ tác giả dùng cái cười chế diễu theo kiểu Hồ Xuân Hương xưa kia để gom hết người đời vào trong cái sở thích “làm ở chỗ kín” kia:

Ông to, ông nhỏ, ông... dân giả
Nào kẻ chẳng mê thú vỗ... ồn

Lại chơi chữ “vỗ... ồn” nữa. Chắc chắn người đọc nào cũng nghĩ rằng phải thêm một chữ “L” trước chữ “…ồn” là đúng ý.

Thật ra tác giả chơi chữ thật là khéo léo, không dùng cách nói ngược như nhiều người đã thường dùng từ xưa đến nay. Chữ “ngắm... ồn” trong câu thơ trên thật ra là “ngắm cồn”. Có thể hiểu ngầm “ngắm cồn” là ngắm các phần nhô lên trên thân thể các cô nằm phơi nắng, còn nghĩa trắng là ngắm các đồi cát trên bãi biển chiều buông. Chữ “vỗ... ồn” trong câu thơ dưới thật ra là “Vỗ bồn” có nghĩa là mọi người đều thích vỗ bồm bộp trên mặt nước khi tắm trên biển hay khi ngồi tắm trong bồn. Ngoài ra, “vỗ bồn” còn là điệu nhịp, một thú chơi tao nhã của giới của tao nhân mặc khách. Thầy Trang Tử từng “vỗ bồn vừa ca”.

Hai chữ “ngắm... ồn” và “vỗ... ồn” được tác giả giải thích cuối bài thơ sau khi để cho người đọc được cười tủm tỉm trong cái vui hiếu kỳ và cười vui vẻ khi hiểu ra các chữ đánh đố kia.

Bây giờ ta hãy đọc tiếp một bài thơ “ngộ nghĩnh” khác của Thái Quốc Mưu:

CỘI NGUỒN
Ta vốn sinh ra ở chốn nầy
Bởi dòng kinh, đất bị chia hai
Ven bờ chằng chéo dây leo phủ
Hạt giống gieo neo giữa luống cày
Mương rạch xẻ lằn như mắc cưởi
Ranh rìa đắp cạn chẳng kiêng ai
Soi bờ lỗ mội tuông ra rả
Hôm sớm cứ lo đóng cọc hoài.

Trong bài thơ “Cội Nguồn” tác giả tả nơi chốn mình sinh ra nhưng dòng thơ cũng khiến cho người đọc liên tưởng cái bộ phận mà mọi người đều chui ra từ đó.

Chữ “Cội Nguồn” mang hai ý nghĩa, một nghĩa trắng và một nghĩa đen. Nghĩa trắng chỉ gốc gác của người là một vùng đất hoang sơ, nghĩa đen chỉ “cái chỗ” nơi mà người sinh ra nó cũng rậm rạp như thế. Ta thấy dầu bài thơ nầy mang ý nào thì chốn “cội nguồn” rất phì nhiêu ấy cũng đem đến cho ta sự thanh tịnh, lắng đọng trong tâm hồn và một sự yêu mến trước hình ảnh dòng kinh, mương rạch kia. Khi hiểu theo nghĩa trắng của bài thơ thì “Cội Nguồn” là địa phương nơi tác giả sinh ra. Nhưng, khi hiểu theo nghĩa đen của bài thơ thì “Cội Nguồn’ là nơi mọi người từ l òng mẹ chui ra. Tác giả cố ý tả cái phong cảnh còn hoang sơ như từ thuở hồng hoang để ám chỉ cái chỗ mà loài người lọt ra, làm cho bài thơ không dung tục mà chan chứa hình ảnh gắn bó thân yêu nữa.

Bây giờ xin mời bước qua cái “Sân Tennis cũ” của tác giả:

SÂN TENNIS CŨ

Cái sân Ten-Nít đã bao đời
Sạt lún lung tung chỗ lõm, lồi
Mấy vạch phân chia ba bốn mảnh
Đường viền đứt đoạn mấy lằn vôi
Chung quanh cỏ mọc lan tràn khắp
Một vũng nước dâng mấp mé rồi
Cây vợt nằm lỳ trên góc xó
Banh lông hai quả chẳng còn hơi.

Cái sân Tennis cũ thì chẳng có gì đặc biệt nhưng tác giả đã lồng vào nghĩa đen của bài thơ làm cho bài thơ trở nên có ý nghĩa và làm cho cái sân Tennis thật trở nên sinh động. Sự loan lỗ của cái sân Tennis cũ là một sự phí phạm nơi dùng để vui chơi của con người. Những hình ảnh miêu tả cái sân làm ta liên tưởng đến cái của giống cái và cái của giống đực b ị b ỏ không thật là phí phạm.

Hai đồ vật phồn thực của giống cái và giống đực được tác giả đem phơi bày lộ thiên được mô tả đươi hình ảnh cái sân Tennis nên mất đi cái hình ảnh xấu khó nhìn. Cái sân Tennis là nơi con người chơi thể thao đã bị bỏ đi hư hao nhưng qua sự diễn tả khéo léo của tác giả, người đọc liên tưởng cái sân thành bộ phận của nữ và của nam bị “bỏ quên” không hoạt động lâu ngày và trở nên vô dụng.

Tác giả thái Quốc Mưu còn nhiều bài thơ như thế, những bài thơ mà tôi cho là “ngộ nghĩnh” vì nó luôn luôn mang hai hình ảnh và một ý nghĩa. Một hình ảnh thật là hình ảnh mô tả sự vật thật của nó. Một hình ảnh ảo được gợi lên từ hình ảnh thật khiến cho người đọc cười tươi vui vẻ thích thú! Cả hai hình ảnh đều hàm chứa một ý nghĩa trong lẽ sống ở đời. Đa số những bài thơ loại nầy tác giả không dùng từ ngữ nặng nề. không dùng hình ảnh thô tục trắng trợn nhưng vẫn đem đến cho người đọc nụ cười hóm hỉnh.

Tất nhiên các nhà thơ làm thơ theo kiểu “nói hoang” như thế ít nhiều gì cũng chịu ảnh hưởng của thơ Hồ xuân Hương. Tuy nhiên Thái Quốc Mưu không rập khuôn theo phong cách xưa cũ mà riêng ông tạo được cho mình một sắc thái mới.

Thơ “nói hoang” của Thái Quốc Mưu có hình ảnh không lộ liểu phản cảm, có nụ cười dí dỏm nhẹ nhàng, như cách nói đùa lý thú của các bậc túc nho uyên thâm thời xưa vậy.


                                                     Châu Thạch
READ MORE - THƠ NÓI HOANG CỦA THÁI QUỐC MƯU - Châu Thạch

HÀN SĨ NGHINH XUÂN PHÚ - Kha Tiệm Ly

Tiemly Kha
                    Tác giả Kha Tiệm Ly


HÀN SĨ NGHINH XUÂN PHÚ

Tiền viết mướn chỉ đủ mua gạo lẻ lưng nồi,
Nhà ở thuê kiếm đâu ra mai vàng trước ngõ!

Nghĩ thân ta,

Te  tua mái lá, mặc tình gió bấc mưa nam,
Quạnh quẽ bàn thờ tủi thân ông sơ bà cố!
Mua xôn giày dõm, lê mấy bước thì hả miệng hả mồm
Ráng sức xe cùi, đạp vài vòng cứ trật sênh trật chó!
Không hoa không quả, không nhang đèn, Trời Phật, Chư Thiên dù chẳng sân si,
Chẳng chuối chẳng chè, chẳng hương khói, Ông Địa Thần Tài đếch thèm gia hộ!
Tiền nhà tiền điện, chạy sút quần mệt bở hơi tai,
Nợ mẹ nợ con, há tét miệng chửi banh ngoài ngõ!


Thế nhưng,

Cơm lưng bụng, quân tử cần chi hải vị sơn hào,
Quần sờn mông, hảo hán chẳng màng chi tơ tằm vải bố!
Dẫu nghèo tiền nghèo bạc, mà ba miền tao nhân mặc khách dẫy đầy,
Lại giàu bạn giàu bè, cùng bốn biển, khí phách đệ huynh vô số!
Từ người cửa rộng nhà cao,
Đến kẻ đầu đường xó chợ!
Luôn xa lánh phường chém chú đâm cha,
Lại xót xa bọn trộm trâu trộm chó!
Lòng như nước trong leo lẻo, mặc bấy người đổi trắng thay đen,
Mặt tợ trăng sáng ngần ngần, dễ cho ai trét vôi trét lọ!

Ô hô!

Dù răn con khuyên cháu, chớ theo văn hóa bọn rợ Tàu.
Mà ngứa bút khua nghiên, lại xổ văn … gừng vài câu đối.

Đối rằng:

Trong nhà năm xe sách vở mối mọt lăm nhăm,
Ngàn dặm bốn hướng sông hồ anh em lố nhố.

Cho nên,

Đầy bè đầy bạn, lo chi chén tạc chén thù,
Không vợ không con, sợ gì tiếng chày tiếng cối !
Dăm lít rượu rừng rượu đế, sớm chiều mặc tình tỉnh tỉnh say say,
Ba bữa cơm nguội cơm ôi, sáng tối chẳng sợ no no đói đói.
Gạo rau phun thuốc, dại gì mà dộng cành hông,
Rượu đế pha cồn ai nói chẳng say tới bến?

Mắt nhìn hí hí, xem cuộc cờ, ung dung nâng chén uống râm ri, 
Lời thốt tràn tràn, luận anh kiệt, hào sảng vỗ bụng cười hô. hố.                                               
Đất cằn cây lớn, nơi hàn môn xuất hào kiệt  tàng tàng,
Chùa rách Phật vàng, trong áo vá tỏa phong nghi lồ lộ.

Xét mình:

Dù chữ Dũng nào dám sánh Tăng Sâm,
Còn chữ Hiếu vẫn thua xa Tử Lộ.
Đức mỏng, đâu dám đo cùng bậc thánh, bậc hiền.
Tài hèn, chẳng đủ bàn chuyện kim, chuyện cổ!

Chẳng qua:

“Phú quý do thiên”
Quan trường tại số.
Cam La má tròn phinh phính đã đạt công khanh
Bá Lý tóc trắng phơ phơ mới ngồi trướng hổ!
Trên cao chót vót mà dòng suối rộng được mấy tầm?
Dưới thấp lè tè nhưng biển khơi sâu hơn nghìn bộ!
Nơi quyền môn có khi thừa kẻ vô lại tham tàn.
Chốn thảo lư lại chẳng thiếu bậc tài hoa đức độ!
Chớ gặp khi thất thời mà dấm dứ dấm da,
Đừng cậy lúc thượng phong mà xí xa xí xố!

Chỉ tiếc cho:

Núi cao nghìn trượng mà chẳng còn đá cứng gươm mài,
Trời rộng thênh thênh lại chẳng dung đại bằng cánh vỗ!
Chua xót lắm! Bụng kinh luân  mà giống túi đựng cháo đựng cơm,
Cay cú thay! Vai thao lược lại thành giá máng quần máng áo! *
Thả cần sông Vị. mà vắng người Văn, Vũ; chỉ hoài công chờ vận đợi thời,
Đốt lửa non Lương, lại bặt tăm Tiều, Tống; đành phí sức đốn cây cưa gỗ!
Cái lợi cái danh, từ xưa kèo cựa một mớ ba đồng,
Cái đức, cái tài, ngày nay xa cạ một đồng ba mớ!
Nghênh ngang ngọn bút, mà hùng tâm chưa vọt thấu chín tầng,
Sang sảng lời thơ mà khẩu khí còn nằm im mấy độ !

Tâm đắc quá:

“Bần tiện bất năng di
Uy vũ bất năng khuất”

Thì sá chi câu:

“Tiểu nhơn đắc thế tợ điểu phi thiên,
Quân tử thất thời như ngư vô thủy”

Hôm nay,

Ngà ngà men rượu, hứng chí viết dăm chữ lăng nhăng,
Thân thiết bạn hiền, vui miệng nói vài câu nhí nhố.
Chúc mọi người an lạc bốn hướng đông tây,
Hưởng mùa xuân hạnh phúc nhất nhì kim cổ!

                                                Kha Tiệm Ly
READ MORE - HÀN SĨ NGHINH XUÂN PHÚ - Kha Tiệm Ly

Saturday, January 31, 2015

GỞI XUÂN - Nhật Quang


     Tác giả Nhật Quang



GỞI XUÂN

Cho tôi vay nóng vần thơ
Gởi về quê mẹ, ước mơ bao ngày
Hồn quê tha thiết đong đầy
Bừng trong nắng ấm, xum vầy yêu thương

Cho tôi mượn chút hơi sương
Để nghe gót nhẹ trên đường cỏ êm
Long lanh Xuân thắm bên thềm
Lối về quê cũ, ru mềm cỏ hoa

Cho tôi mượn khúc du ca
Thả theo hương gió bay xa cuối trời
Hương Xuân gieo ánh nắng ngời
Ươm vàng nương lúa, nuôi đời ấm no

Cho tôi mượn lại câu hò...
Thả trên sông nước, con đò đêm trôi
Người xa còn ấm bờ môi 
Ru tình Xuân đến lả lơi nắng hồng

Cho tôi mượn chút hương đồng
Gởi Xuân man mác, duyên nồng thắm xinh
Người trao nhau khúc ân tình
Để Xuân mãi mãi thanh bình nở hoa.

                                   Nhật Quang

READ MORE - GỞI XUÂN - Nhật Quang

Friday, January 30, 2015

MÙA XUÂN Ở TRÊN CAO - truyện ngắn Mang Viên Long


Tác giả Mang Viên Long.
Ảnh từ luanhoan.net.


MÙA XUÂN Ở TRÊN CAO

MANG VIÊN LONG


Cứ một ký lô cọng lá dừa được vuốt sạch, Hiên mua lại với giá năm ngàn đồng.Mỗi ký cọng lá dừa, Hiên bó được ba cây chổi. Mỗi cây chổi đem ra chợ bán được năm ngàn loại tốt, và bốn ngàn loại thường. Hằng ngày vợ cồng Hiên ngồi suốt từ sáng sớm đến tối mịt, mỗi người bó được từ 15 đến 20 cây chổi!

Hiên thường nhận làm chổi lá dừa-còn Mân-chồng nàng, nhận làm chổi đót; vì chổi lá dừa dễ làm,nhẹ nhàng, và cũng “ dễ ăn” hơn. Đót mua vào 350 ngàn đồng một ký, nếu được chọn vuốt chải ngay ngắn sạch sẽ trước, thì mỗi ngày Mân bó được 20 cây. Giá bán có 3 loại: Loại đặc biệt bán giá 22 ngàn đồng, loại tốt giá 20 ngàn, loại thường giá 17 ngàn dồng một cây. Hiên đã có lần tính thử, cứ một ký đót sẽ kiếm được một trăm ngàn đồng tiền công lãi. Mân dã có lúc làm quên trưa, một ngày bó được 20 cây! Trong hai chục cây chổi ấy-anh phải chia cho lão Năm- Bụng và dì Sáu hết hai chục ngàn đồng cho mỗi người một ngày tiền công còng lưng vuốt dót, làm sạch-sắp xếp ngay ngắn cho anh. Ngày đầu gọi lão Năm -Bụng và dì Sáu đến giúp- Mân nói với vợ: “ Mình chia sẻ cơm cháo cho Bác Năm, dì Sáu nghe em? Mình kiếm được miếng cơm, thì hai người cũng có bát cháo mà! Còn con Nghĩa, thằng Tình-mình nên để cho con nó có thời gian mà học…Đời tụi mình đã lỡ vậy-không lẽ để con cả đời cắm đầu xuống mấy cọng đót, cọng lá dừa ? Nhìn thấy tụi nó cắm cúi vào bó đót suốt ngày, anh không yên tâm được em à!”.

Hiên ngước nhìn chồng với tia nhìn yếu ớt, chậm-vì nỗi buồn lo trĩu nặng và nhiều đêm thức khuya bên bó chổi trong ánh đền điện tròn đỏ quạch:

- Em cũng đã nghĩ vậy mà! Hiên thở dài-tháng Chạp này công việc nhiều, chổi bán được-chúng không thể kham nỗi đâu?

- Ăn uống thì quanh quẩn chí có mắm, với rau, thức khuya dậy sớm vậy, anh ngại Tết chúng đau thì thêm khổ!-Mân tiếp tục buột dây nhựa quanh bó chổi đang làm dang dở…

Lão Năm -Bụng sống một mình nơi góc phía sau hiên đình làng từ ngày vợ lão mất vì bệnh xơ gan! Lão đã phải bán đi thửa vườn và căn nhà tranh còn lại để trả tiền nợ đã vay lo chửa chạy thuốc men cho vợ từ nhiều tháng trước. Trả nợ xong, còn một ít dể làm vốn kiếm ăn thì đứa con trai duy nhất lưu lạc ở Saigon nghe tin đã trở về gầm gừ hạch sách lão rồi lấy hết khoản tiền còn lại mới chịu ra đi! Lão Năm buồn. Ngã bệnh-và chiếc bụng của lào ngày một lớn lên. Hàng xóm thường gợi tên thứ Năm của lão kèm theo chữ “ Bụng” để phân biệt với lão Năm- Kèn trong ban tang lễ của đình.Cả hai đều sống chui đụt hai bên ngôi đình làng như đôi bạn chí cốt-như hai đám rong bèo tình cờ bị trôi dạt vào chân cầu …

Tình cảnh của dì Sáu cũng thật cay đắng: Trước, nhà dì cũng thuộc loại khá giả trong thôn. Ruộng đôi ba mẫu. Vườn cây ăn trái vài hecta. Vợ chồng dì sớm chiều trà thuốc thong dong một thời. Sau năm 75-ruộng thì giao nộp cho hợp tác xã,còn vườn cũng được “ hiến” để xây cất nhà kho . Gia đình dì Sáu được cấp cho một khoảnh đất ở cuối thôn. sau lưng ngôi trường tiểu học. Ông Sáu xin vào làm cai trường , còn dì Sáu thì hằng ngày với mẹt bánh kẹo cốc ổi ngồi trước cổng trường, kiếm từng dồng bạc lẻ của đám học sinh nghèo khó!

Hai cậu con trai của dì Sáu đần dà cũng đều tốt nghiệp đại học-nhưng cả hai đều ở lại Saigon kiếm việc làm, tìm người yêu , mua đất cất nhà- không đứa nào chịu về quê để gần gũi sớm hôm với vợ chồng dì cả! Sau ngày Ông Sáu mất vì cơn đột quỵ khi vẫn còn cầm trên tay cái dùi đang dánh trống tan trường-Cậu con trai trưởng về đem dì Sáu vào Saigon sống chung. Ai cũng vui mừng cho dì từ đây có cuộc sống an nhàn, hạnh phúc bên dâu con, cháu nội ở Saigon. Nhưng chỉ vì cái “ tật” nhỏ của dì để là cái cớ cho người con dâu hất hủi dì ra mặt- Dì Sáu có “ tật” ghiền thuốc lá từ ngày còn ông Sáu bên cạnh. Mỗi lần muốn hút thuốc, Ông Sáu đều nhờ vợ mồi lửa rồi đưa cho mình. Dì làm việc châm thuốc cho chồng một cách thích thú, âu yếm.Còn ông Sáu thì hả hê nói hút thuốc vậy mới ngon. Vài năm sau-khi sinh thằng con đầu, dì đã ghiền thuốc rồi! Ông Sáu mất-dì càng hút thuốc nhiều hơn.Có lần dì đã nói với Hiên: “ Dì biết đàn bà hút thuốc là hư hỏng,nhưng sao mỗi lần ngồi không, nhớ dượng mày-dì lại nhớ điếu thuốc ? “ Dì cười hồn nhiên: “ Đêm đêm dì ngồi với điếu thuốc như thấy có ông ấy bên cạnh vậy, cháu á! “. Chính vì cái “ tật” không rứt bỏ dược ấy mà người con dâu đã nặng lời với dì nhiều lần, để rồi dì phải lầm lũi trở về, sống cô độc trong căn nhà rách trước dột sau: “ Bà có đủ thói hư tật xấu vậy-không thể sống chung với tôi được đâu!”. Người con trai nghe lời vợ nói sang sảng ngay trước mặt mình-cũng chỉ im lặng. Dì đã khóc: “ Mẹ biết mẹ không còn xứng đáng với con-con cho mẹ về quê để gần gũi với bà con làng xóm được ngày nào hay ngày ấy, con ạ! “. Không sống được trong nhà của người con trưởng, dì khó có thể về ở chung với người con trai thứ vì người con dâu đã có lần nói thẳng với dì ngay ngày đầu mới chân ướt chân ráo vào Saigon: “ Mẹ liệu ở chơi vài hôm rồi về-ở đây sinh hoạt đắc đỏ, mà tụi con còn phải lo cho con ăn học chi phí nhiều nữa, không gánh nỗi thêm ai được nữa! “. Dì ngồi nghe mà nước mắt cứ rưng rưng- lòng điếng lặng; cảm thấy toàn thân như mềm nhũn đi- tan rã ra . Sau phút bàng hoàng như tia điện cực mạnh quét qua người-dì chỉ cười thầm-nghĩ, đất Saigon nhà cửa rộng rải sang trọng vậy mà cũng không có một chỗ nhỏ nào cho mẹ mình?.Những thứ tiện nghi trang hoàng sang trọng đẹp đẽ kia đã choáng hết chỗ rồi? Chỉ với mẹt bánh keo, cốc ổi ngày nào cọng với chút tiền bồi dưỡng cho một lao công hạng bét-vợ chồng dì đã “ cõng” nỗi hai đứa con qua bao tháng năm cơ mà?

Hiên loay hoay xếp lại nắm tiền nhàu nhò đang cầm trên tay-thoáng nở nụ cười mơ hồ trên gương mặt đờ đẫn vì mất ngủ.Hôm nay là phiên 18-còn 2 phiên chợ nữa là hết năm rồi! Hai phiên 23 và 28 là tiền lời ròng mà vẫn còn gần một trăm cây chổi nữa…Những phiên giáp Tết-Hiên vừa đặt gánh chổi xuống lề đường phố chợ là người mua xúm lại –Hiên tất bật chào mời không kịp thở. Có người mua chổi cho cả năm vì kiêng đầu năm không mua được. Có người vừa về nhà mới-cũng mua.đến chục cây mỗi loại. Hiên cắm cúi với đống chổi nắm tiền trong tay mặc cho khu chợ náo nhiệt với đủ thứ âm thanh rộn ràng của xe cộ, của mấy chiếc máy phóng thanh quảng cáo áo quần modern khuyến mãi-bánh kẹo, bột giặt, kem dánh răng - của mấy chiếc loa xách tay keo dính chuột , bột chùi đồng,bấm lỗ tai…Hiên dường như luôn mãi mê với những toan tính trong đầu mặc cho cái nắng đổ xuống mỗi lúc một gay gắt làm nóng bừng khuôn mặt , mặc cho mồ hôi chảy ròng ròng xuống đôi má xanh xao không kip lau, mặc cho mọi người nhộn nhịp se sua áo quần lướt qua lượn lại phía trước, và cũng măc cho mùa xuân đang réo gọi đâu đó quanh mình. Hiên chỉ cảm thấy đói cồn cào trong ruột. Nàng ngước nhìn quanh một lượt như để tìm cái gì có thể mua ăn được, nhưng chỉ thấy toàn là người đông nghịt, chen chúc-nàng cảm thấy ngầy ngật- hơi chóng mặt, và cơn buồn nôn bắt đầu dấy lên-nhẹ nhàng . Đêm qua, Hiên đã gắng thức làm cho đến khi nghe tiếng gà gáy lần đầu sau nhà mới thu xếp công việc chui vào giường nằm. Mân trở giấc ôm hôn nàng thật lâu làm nàng không chợp mắt được. Một phần chân trái của Mân đã bị mất sau trận Dakto năm nào thường xuôi Hiên thao thức mỗi lần được Mân âu yếm, đòi hỏi! Một phần chân anh đã bị mất đi lâu rồi-có lẽ dã tan thành cát bui ở bìa rùng hốc núi nào rồi nhưng nỗi buồn tủi cứ vẫn còn đêo đẳng suốt dời anh. Sau 75- nhiều người đã nhìn ngó vào khúc chân còn lại của anh như nhìn vào điều gì đáng ghê tởm. Nhiều lần gia đình Mân dã bị từ chối không cho nhận phần cứu trợ cấp cho gia đình nghèo vì không nằm trong diện “ chính sách” để đền ơn dáp nghĩa . Hiên vì thế càng thương yêu cho nỗi bất hạnh của Mân như thương yêu cho chính bản thân côi cút cô độc hẫm hiu của mình. Nhớ năm nào- Mân tình cờ gặp Hiên tất tả dìu dắt hai đúa em chạy ngược lên phố tránh bom dạn khi hiệp định Paris đang chuẩn bị ký kết. Sau đó không lâu, anh tìm lại căn nhà của người bác mà Mân đã giúp đưa chi em Hiên đến tạm trú để xin được hỏi nàng làm vợ. Cha mẹ Hiên đã ở lại quê mong giữ chặc hai bồ lúa vừa mới gặt phơi khô chưa kịp ăn một hạt , đã không còn nữa cùng với ngôi nhà cháy rụi! . Người bác đã hoan hỉ đứng ra tổ chức lễ cưới cho Hiên nhanh chóng ngoài dự đoán của Mân. Ông bảo : “ Chiến tranh mà cháu!Sống với nhau sớm được ngày nào thì mừng ngày đó! Thời của tụi bay sao mà khổ hung dữ vây? Bác miễn hết mọi lễ lộc ,chỉ cần cháu yêu thương đùm bọc chị em con Hiên thật lòng là quý rồi!”. Gần hai năm sau-tháng giêng năm 75, Mân bị thương ở Dakto. Và anh đã được trở về cùng Hiên trên cặp nạn gỗ…

Sáng nay Hiên ra đi sớm khi Mân và hai con chưa thức dậy- chưa có chút gì bỏ vào chiếc bụng trống từ sau bữa cơm chiều vội vã. Hiên buột mấy cây chổi còn lại thành bó lớn-đặt tam lên lề đường-chệnh choạng bước vào phía trong cổng chợ kiếm một cái gì để ăn…

Hiên cầm hai càng xe kéo phía trước-Tình và Nghĩa phụ đẩy từ phía sau. Chiếc xe cải tiến mua lại của HTX đã phế bỏ, Mân ra sức sửa sang mấy hôm- cũng đã giúp cho mẹ con Hiên nhiều chuyện như sáng nay. Chiếu hôm qua , được nghỉ học-ngồi lân la nghe mẹ vừa bó những cây chổi cuối cùng cho phiên chợ cuối năm-vừa nhắc kể chuyện Tết-hai anh em Tình đều nao nức xin mẹ được đi coi chợ phiên Tết 28….

-Mẹ đã hứa đến phiên chợ cuối năm cho hai đứa con dược đi theo mà, mẹ?-Tình thỏ thẻ -mắt nhìn dò xét vào khuôn mặt ưu tư im lìm của Hiên.

-Đúng rôi- Nghĩa reo lên, Mẹ cho tụi con phụ đẩy xe nhé?

Tình giật nhẹ bàn tay Hiên-“ Sáng nay con nghe ba nói sẽ chở chổi lên chợ bằng xe cải tiến vì mẹ không gánh chổi một mình được hết mà?”.

Hiên dừng tay-nhìn thật chậm vào đôi mắt của Tình rồi đến Nghĩa-nàng như nhìn thấy trong đôi mắt thơ ngây của chúng mùa xuân vẫn còn trong trẻo, nguyên vẹn. Tuổi thơ của chúng thật hồn nhiên nhung cũng thật lặng lẽ .Hiên ước mong nỗi khổ không đến quá sớm với chúng như bao lũ nhỏ đang lang thang trên các néo phố chợ mà nàng vẫn thường gặp. Hiên mừng thầm- khẽ cười: “Phiên cuối năm, phải dùng xe-nhưng hai con theo mẹ làm gì cho mêt? Mẹ kéo một mình cũng được mà? Mệt khúc nào, mẹ nghỉ khúc đó- Hai đứa ở nhà chơi, phụ ba quét dọn, tưới hoa-có khỏe hơn không? “

- Còn đến ba ngày tha hồ dọn dẹp mà, mẹ?-Tình cố nàn nỉ.

-Anh Tình noi đúng đó mẹ-Nghĩa lại kéo tay Hiên, nhà mình có gì đâu mà để quét dọn?

Thật tình là ngôi nhà tranh vách đất nền lát gạch thẻ của vợ chồng Hiên không có gì để quét don cả! Nó trống trải với mấy thứ vật dụng cần thiết cú càng nằm im lìm từ thuở nào-như cuộc đời trống trải đơn độc không mấy đổi thay của họ bấy lâu..Chạy lo cho miếng ăn, manh áo,bút mực, thuốc thang cho gia đình qua ngày đã là khó rồi-lấy gì mà sắm sửa?. Hiên nhìn thấy sự nghèo khó của mình đã phần nào không che dấu được đôi mắt thơ trẻ của con-nàng vui vẻ: “Được rồi! Nhưng phải dậy sớm nghe chưa? Phải ăn no vào thì mới đẩy xe được-nếu không hai đứa còn làm nặng thêm xe của mẹ nữa thì bỏ phiên chợ…”

Buổi sáng. Gà gáy canh tư…

Chiếc xe của mẹ con Hiên đã qua được khỏi con đường hẽm lầy lội tăm tối, rẽ qua con đường bê tông rộng dẫn lên quốc lộ .Con đường sáng lờ mờ. Chiếc xe lọc cọc lọc cọc gõ đều trong buổi sớm còn ẩm đục hơi sương gây gây lạnh. Người đi chợ gồng gánh, thồ chở, thấp thoáng trong cõi im lặng của đất trời cuối Chạp như những bóng ma chập chờn nhẫn nại trên đường . Không có một tiếng nói nhỏ nào trong cái vắng lặng buồn tênh của buối sớm mai miền thôn dã. Ai ai cũng chật kín nỗi lo, toan tính trong chiếc đầu đã mụ mẫm cả tháng nay rồi! Tết gần kề mà mưa gió vẫn chưa nguôi. Hai cơn bão lũ dữ dằn nối tiếp 9 và 10 đã quét sạch cả sự nghiệp gầy dựng cả đời của nhiều gia đình mà mới chỉ ngóc đầu lên là đã thấy Tết đến!Người mất đi vừa tròn một trăm ngày chưa nguôi buồn thương thì xuân lại về! Trên đường, chỉ có tiếng gió. Gió khua động hàng tre hai bên đường nghe rõ từng chặp, lào xào-như lời thì thầm của làng xóm còn đang mê ngủ trong nỗi bàng hoàng bão lũ vừa đi qua.Tình càm thấy hơi nóng râm rang trong người , mồ hôi cũng bắt đầu thấm ướt hai bên gò má.Tình cắm cúi dang hai tay đẩy mạnh xe để phụ cho em-nghĩ,phía trước mẹ chắc cũng đã thấm mệt lắm rồi! Chợ còn bao xa?-Tình muốn cất tiếng hỏi mẹ-nhưng sợ chiếc xe sẽ nặng thêm, chậm mất buổi chợ phiên cuối cùng.

Tiếng Nghĩa bỗng vọng lên bất chợt:

- Mẹ ơi! Có phải phiên này mẹ mua áo quần mới cho con không?

- Ừ!

- Mua cho con đôi giép nữa nhé? Giép cũ của con bị đứt quai lâu rồi!

- À…

- Anh Tình có được mua đồ Tết không, mẹ?

- Có!

- Mẹ mua bánh kẹo như nhà con Minh nữa chớ, mẹ?

- Ừ!

- Mẹ có mua gì cho ba không?

- Có!

- Mẹ mua gì?

- Để mẹ bán được hết xe chổi này rồi sẽ tính, con à!

- Nếu mẹ bán không hết thì sao?

- Gắng ngồi đến chiều, thế nào cũng hết mà con !

- Mẹ có mua gì cho mẹ không?

- Không!

- Sao mẹ không mua đôi giép? Đôi giép mẹ đứt quai lâu rồi mà?

- Mẹ cột lai….

Nghĩa im lặng. Nó cắm cúi gắng sức đẩy- nghe hơi thở mình nặng nề, thoi thóp trong lồng ngực. Chiếc xe đã trườn lên mặt quốc lộ lọc cọc lọc cọc tiến vào khu chợ tràn ngập ánh diện. Nghĩa ngước nhìn lên bầu trời thấy đã ửng chút nắng- từng đám mây xám vần vũ còn sà thấp bay lơ lửng trên đầu…

Nó chợt càm thấy mùa Xuân hình như còn ở khuất trên ấy-rất xa-trên cao…



Quê nhà, những ngày vào xuân…
MANG VIÊN LONG


Nguồn: http://newvietart.com/
READ MORE - MÙA XUÂN Ở TRÊN CAO - truyện ngắn Mang Viên Long

Thơ Huy Uyên: THƯ QUÊ CHƯA GỞI ÚT / ĐẦU XUÂN & SINH NHẬT Ở HUẾ

Tác giả Huy Uyên



Thư quê chưa gởi Út

Bao năm rồi Út qua xứ lạ
bỏ quê nghèo, mái khói chiều hôm
bỏ thuyền, bỏ sông tháng ngày tôm cá
chim uyên trên cành
lẻ bạn kêu buồn.

Sáng chiều tôi ngơ ngẫn đường cái-quan
đợi Út về mà xe không ngừng lại
trong quán rượu nghèo gió lùa mây giăng
biền biệt trôi đầu ghềnh cuối bãi.

Xóm vắng chờ ai đây ơi Út
kỷ-niệm xưa chôn chặt vào lòng
về nhặt cành hoa mua tím rớt
ngờ như người rót mật trong tim.

Út chôn chặt đời ai rồi đi mãi
bên đó xứ người giờ tuyết lạnh sương rơi
quê cũ dấu trong mắt ai buồn tê tái
hoài mãi một đời nhung nhớ trong tôi.

Sông sâu có cạn mấy tình đò
nhà ai xưa bên bồi bên lỡ
Út không thấy lòng xao xuyến lắm sao?
chôn tất cả ngàn đời cho ai thương nhớ.

Đêm nay tin về quá buồn ơi Út
em thả tim về cùng đất xứ người
thôi đâu mà nói lời còn mất
mấy mươi năm chờ đợi
chiều cuối năm sót lại mình tôi .

Thư viết cho em
chưa kịp gởi Út ơi !

                            Huy Uyên
                 (chiều 10 tháng chạp )

      
Đầu xuân & sinh nhật ở Huế

Sinh nhật ở Huế thật buồn
hương môi hôn em lần cuối
sương trôi tóc trắng mối tình
thôi còn chi dặm dài dung ruổi

Em nghiêng bóng sông Hương cùng Huế
dữ dội thác chia hai ngã rẽ ba Tuần
em bên bờ nào để tôi thương nhớ
hay đã trôi theo dòng nước vờ tuôn.

Mùa xuân và sinh nhật ở Huế
tuổi tôi cũng trôi theo con nước bạc tình
da diết trong ai mây cùng gió
quán rượu hắt hiu bên thành lặng im
Phu-văn-lâu bơ vơ nhìn mưa đổ .

Dại lòng Phú-cam ngó về Nguyễn-trường-tộ
đoạn rạch chiều ngã màu xanh rêu
Diễm ơi xưa lắm rồi em còn nhớ
mang qua sông xao xuyến tình đầu.

Đò đưa ai bến cũ trôi đâu
lên xóm ga xưa trắng màu tang chế
nửa đêm ứa nghẹn tiếng còi tàu
ai bỏ đi
mà sinh-nhật tôi buồn thế .

Thôi chìm sâu bao lần kỷ-niệm
những lần em cầm nón che trăng
về đóng cửa không còn ai đưa tiễn
nến cháy hồng em có nhớ tôi không?

Thôi sinh nhật tôi
chao nghiêng tình đằm thắm mùa xuân
phút đầu hình như là phút cuối
tắt đi rồi những tiếng chuông ngân
ai chậm bước bên bờ thành nội.

Tóc mai em ngắn dài tưởng tiếc
con đường xưa mới đó xa rồi
sông dưới kia trôi một mình tội nghiệp
mùa xuân em thoáng những giọng cười.

Phố cũ giờ em có ghé thăm
dấu xưa đã phai rồi từ độ ấy
em xưa như chiếc lá xa cành
mây đã bay về ngủ sầu cuối phố.

"Lá rơi cho đám cưới về" em hát nhỏ
thiếu nữ mơ, em chân sáo chạy quanh
tà áo bay đầy trời và gió
hồng môi em lúng liếng mắt đen xanh.

Mai sinh nhật tôi
em áo hồng đám cưới
em cười tươi hoa đỏ thắm và
tung tăng cùng trăng đầy lối
sớm mai soi gương có nhớ một người xa?

Lá trên cao che từng giọt nắng
đâu đây nghẹn thoáng lời biệt ly
ngờ như em trần truồng dưới mưa đứng tắm
dạ có nao lòng ngẫn ngơ chi?

Ngoài kia lá vàng, nắng rất vàng
Rhododemen chen sắc hồng lilac
nhà người giờ cửa sổ soi nghiêng
liểu bên hồ có rưng lòng câu hát.

Sinh nhật một người hỏi em về kịp
quê cũ bao năm ai bỏ
giọng-buồn-thanh-thúy phiêu-hốt thềm mưa
chiêm bao giấc mơ chốn cũ.

Giờ còn lại em đứng khóc
giữa đêm xuân
ai đi hẹn được ngày về
mới đó tóc người tiêu muối bạc
sầu hoen mi, tôi một ngày xuân mưa.


                                          Huy Uyên


READ MORE - Thơ Huy Uyên: THƯ QUÊ CHƯA GỞI ÚT / ĐẦU XUÂN & SINH NHẬT Ở HUẾ

MUÔN DẶM TÌNH QUÊ 9 - thơ Trúc Thanh Tâm





MUÔN DẶM TÌNH QUÊ 9 - thơ Trúc Thanh Tâm

25. TRĂNG THẤT SƠN

Đêm nầy thao thức lắng nghe
Mưa từ An Phú, mưa về Núi Sam
Theo kinh Vĩnh Tế mơ màng
Ta treo trăng sáng bạt ngàn Thất Sơn !

26. NHỚ BÌNH DƯƠNG

Nhớ hoài con gái Bình Dương
Tặng ta nỗi nhớ, niềm thương mượt mà
Lái Thiêu để lại lòng ta
Bao la rớt lại bóng tà huy phai !

27. MƯA BÌNH PHƯỚC

Sương rừng vàng lệ, mắt cay
Bạn ta mắc võng Đồng Xoài, Lộc Ninh
Gái Xtiêng ơi, có chung tình
Thức đêm Bình Phước ru mình theo mưa !

TRÚC THANH TÂM
( Châu Đốc )


From:  tructhanhtaam@yahoo.com
READ MORE - MUÔN DẶM TÌNH QUÊ 9 - thơ Trúc Thanh Tâm

Thursday, January 29, 2015

MÙA XUÂN PHỐ MỚI VÀ EM! - thơ Phan Kỷ Sửu

  

Tác giả Phan Kỷ Sửu


MÙA XUÂN PHỐ MỚI VÀ EM!

Lâu lắm rồi anh mới về Ninh Thạnh
Cái làng cũ buồn hiu biến mất tự bao giờ
Đường Điện Biên thênh thang từng bước ngẫn ngơ
Phố nối phố có bao giờ trẻ vậy!
Em vẫn hồn nhiên như thời con gái
Áo mây bay cứ chạm mãi câu thơ
Trạm Y tế chiều nghiêng bóng nắng tự bao giờ
Em chớp mắt bên thềm chờ ai đấy?
Có đôi lúc anh tình cờ ghé lại
Cứ gặp trên má hồng còn lấm tấm mồ hôi
Nhưng cái vị mặn kia không thể xóa nụ cười...
Em là thế, lúc nào em cũng thế!
Những vất vả thường ngày em cứ nghĩ
Có gì đâu bởi  sống đẹp là hơn
Là biết đau cái đau, biết hiểu những vui, buồn
Của người khác để tận tình chia sẻ
Để mang đến từng cụ già,em bé
Từng anh bạn Tà Mun, từng cô bạn Khmer..
Những niềm tin và ý nghĩa tràn trề
Của cả cuộc đời đầy yêu thương.gắn bó
Và hạnh phúc riêng em không thể nhỏ
Đã lên mầm từ đây, từ khu phố thân tình
Đến cả Phường quê em, gương mặt mới lung linh
Vang tiếng hát vành khuyên, nằng bình mình rạng rỡ
Ơi! Ninh Thạnh ở trong từng hơi thở
Như anh trong em, mình mãi mãi bên nhau
Từng ngày, từng ngày... không thể xa đâu
Cái màu áo trắng trong em đã chọn
Và mùa xuân, nụ mai vàng mơn mởn
Hãy là mai, hãy rộ nở đầy bông!
Hãy là mai, cho Tết cứ bên lòng..!

                                         Xuân Ất Mùi-2015

                                           PHAN KỶ SỬU
READ MORE - MÙA XUÂN PHỐ MỚI VÀ EM! - thơ Phan Kỷ Sửu