Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, November 2, 2012

QUẢNG TRỊ, QUÊ HƯƠNG TÔI - Trần Hữu Thuần

Tác giả TRẦN HỮU THUẦN


Tôi là người Quảng Trị. Điều này chắc chắn còn hơn bài toán một cộng một thành hai vì bài toán đó có thể dùng phép vi phân hoặc ngụy biện để nói không phải thế, một cộng một có khi không thành hai mà là thành một, ví như ta với mình tuy hai mà một. Điều tôi là người Quảng Trị nhất định phải thế vì giấy Thế vì khai sinh của tôi ghi rõ tôi sinh năm 1941, nguyên quán An Do tây, Vĩnh Linh, Quảng Trị. Đã ghi rõ như thế thì bút sa gà chết, chẳng còn cách nào cựa quậy được. Mà sao bút sa, gà lại chết? Cây bút gì mà nặng đến nỗi sa xuống làm cho con gà phải chết? Nhất định con gà chết không phải do cây bút đè lên hoặc đâm trúng. Rứa thì tại răng nó chết?
Thôi, nó chết cách nào mặc kệ nó. Tôi chỉ biết tôi nhất định là người Quảng Trị không cách nào chối cãi được. Thế nhưng, nếu có ai cắc cớ hỏi vậy ông làm ơn cho biết chút ít về Quảng Trị quê cha đất tổ của ông thì tôi chỉ có nước ậm ự làm thinh. Tôi chẳng biết gì nhiều về nơi gọi là quê hương tôi, kể cả làng An Do tây, kể cả tỉnh Quảng Trị. Tôi còn giữ được trong trí làng quê An Do tây của tôi có con đường đất đỏ mà lúc bé tôi cho là rộng thênh thang chạy ngang qua nhà ông mệ ngoại tôi. Từ khi ba mạ tôi thành vợ thành chồng, cho đến khi sinh ra tôi và hai đứa em tôi, gia đình tôi chung sống với gia đình ông mệ ngoại cho đến khi ba mạ tôi ra riêng tậu vườn dựng nhà. Xin thưa rõ lúc đó tôi và các em tôi không gọi cha mẹ chúng tôi bằng ba mạ mà bằng cha mạ. Trong khi chung quanh phần lớn gọi cha mẹ là bọ mạ, chúng tôi gọi cha mạ là đã “cao” hơn một bậc rồi. Về sau, khi vào thành phố, tôi mới tự động đổi lại gọi bằng ba mạ cho “bằng ta bằng người” rồi các em tôi gọi theo tôi! Gọi là cha mạ hoặc ba mạ thực sự chẳng thay đổi gì trong kí ức tôi về quê nhà tôi. Con đường đất đỏ vẫn chạy ngang qua, vẫn tiếp tục gần gủi tôi vì nhà ba mạ tôi cách nhà ông mệ ngoại không xa, chỉ chừng vài trăm mét. Ấy là lúc này khôn lớn, tôi ước chừng như thế, chứ ngày còn thơ bé đó chẳng nơi nào có thể gọi là quá xa đến nỗi đi bộ không tới. Thời đó chẳng xe chẳng cộ, xe bò xe ngựa cũng không, cuốc bộ là phương tiện di chuyển duy nhất bằng đôi chân trần dẫm trên đất. Chẳng ai đi giày đi guốc. Quan viên hoặc cô bà nào đến ngày lễ ngày giỗ cần mang guốc mang giày—giày hạ—đều xách theo đến cổng nhà dự đám dự tiệc mới xỏ chân vào.
Con đường đất đỏ gần gủi như thế nhưng vì còn bé quá nên tôi chỉ còn nhớ được một đoạn ngắn vượt quá nhà ông mệ ngoại tôi vài căn nhà ở một đầu, đầu kia chạy ngang qua nhà ba mạ tôi tạo thành một ngã ba mà một nhánh chạy đến đâu tôi không biết. Nhánh đâm ngang chạy một đoạn ngắn rồi quẹo góc vuông trước nhà lầu ông xạ Thiện để tiếp tục chạy qua nhà thờ làng tôi. Quá nhà thờ, nó lại bị cắt ngang trỗ thành ngã ba, một đầu chạy ra chợ về hướng đông, đầu kia chạy qua xóm nhà về hướng tây rồi ra nghĩa trang, nơi về sau chôn cất ông ngoại tôi. Tôi mơ hồ nhớ sau khi vượt qua chợ và giếng làng, đầu chạy theo hướng đông cắt qua “đường quan” rồi tiếp tục chạy đến làng An Do đông, quê nội của mệ ngoại tôi. Còn đầu theo hướng tây sau khi qua nghĩa trang chạy đến tận đâu, tôi chẳng có chút ý niệm vì chưa hề đặt chân đến đó. Tôi nhớ được như thế vì đoạn từ nhà ba mạ tôi đến nhà thờ hầu như tuần lễ bảy ngày tôi đều đi lại, đoạn từ nhà thờ ra chợ vì lâu lâu ba tôi dẫn tôi ra tắm ở “chiếng” làng, đoạn xa hơn đi đến làng đông là vì năm đôi lần tôi theo mệ ngoại tôi về thăm quê nội của mệ.
Ngay ngã ba đầu tiên, xeo xéo nhà ba mạ tôi góc bên này góc bên kia là nhà mệ nội tôi. Mệ nội tôi sống với ông nội sau của tôi và người con trai tôi gọi bằng chú, em cùng mẹ khác cha với ba tôi. Chú lớn hơn tôi năm tuổi. Chú là con mệ nội tôi, dĩ nhiên rồi. Tôi là cháu đích tôn của mệ nội tôi, cũng dĩ nhiên rồi vì ba tôi là con trưởng của mệ tôi. Nhưng mệ nội tôi chỉ cưng chiều chú tôi, còn hình như không bao giờ để mắt đến tôi. Tuy vậy, không hiểu lí do tình cảm nào thúc đẩy, hàng ngày trước khi đến trường, tôi đều tạt qua nhà mệ, đứng lưng lẻo nhìn mệ chăm sóc chú tôi, cho chú tôi tiền để đi học ăn quà vặt. Tôi thường lấp ló ở nhà mệ có lẽ vì mơ ước tình mệ nội yêu thương để khoe với lũ trẻ cùng trang lứa như chúng vẫn luôn mồm khoe mệ nội của chúng với tôi. Tôi không nhớ đã có lần nào mệ để ý đến sự có mặt của tôi, càng không bao giờ cho tiền, ngoại trừ một lần duy nhất không hiểu nghĩ sao mệ đã cho tôi một “trự tiền” mua được một nắm cốm bắp. Quê tôi thời đó dùng tiền đồng của nhà Nguyễn, gọi là “trự” tiền gồm “trự ăn sáu, trự ăn tám” xâu thành từng xâu gọi là “quan tiền” như trong câu ca dao một quan là sáu trăm đồng. Cũng vì dùng loại tiền đồng như thế nên vào năm 1954 di cư vào Nam, nhiều người làng tôi đã thành trắng tay khi mấy “trự tiền” đem theo chẳng đổi ra được đồng tiền giấy nào, thứ mà các vùng khác đang dùng để mua bán trao đổi.
Ông nội tôi mất sớm; mệ nội tôi tái giá bỏ bê ba tôi từ lúc mới lên bảy tám tuổi gì đó. Hiển nhiên tôi không cách nào biết được vì chưa có mặt trong vũ trụ này, còn ba tôi thì chẳng bao giờ nhắc tới quãng thời gian đó. Không phải ba tôi muốn quên đi quá khứ không vui, nhưng đó là bản tính của ba tôi, không bao giờ nhắc lại chuyện xấu của người khác, nói chi đến chuyện về người đàn bà đã sinh ra ba tôi. Tôi chỉ biết loáng thoáng qua lời mạ tôi kể và qua người này người khác to nhỏ với nhau. Mạ tôi thực sự cũng không biết được gì nhiều vì trước hết ít tuổi hơn ba tôi sau nữa chẳng quan tâm đến “chuyện của người khác.” Ba tôi lúc đó chắc chắn vẫn còn là “người khác” chẳng liên quan gì đến mạ tôi.
Nói cho đúng, khi tôi đủ tuổi khôn lớn, có một chuyện riêng tư của mệ nội tôi mà ba tôi đã tiết lộ cho tôi. Ba tôi tiết lộ không phải để tôi mất lòng kính trọng mệ tôi mà duy nhất chỉ vì sợ ảnh hưởng luân lí cho tôi và anh em tôi về sau này. Đó là chuyện mệ tôi trước khi tái giá với ông nội sau đã có một người con gái không được mệ tôi nuôi dưỡng. Khi đủ khôn lớn tự lập, ba tôi đã đích thân tìm người em cùng mẹ khác cha đem về tự tay nuôi dưỡng dù lúc đó ba tôi chưa lập gia đình. Cho dẫu chẳng phải phiền hà gì trong việc nuôi nấng cô tôi, mệ nội tôi vẫn không tiếc lời la mắng chưởi bới ba và cô tôi có lẽ vì sợ tai tiếng xấu hổ. Ở thôn quê thời đó, chuyện vụng trộm như thế là một tội tày trời. Người phạm tội sẽ bị trừng phạt cả hai “mặt” đạo đời. “Mặt đạo” sẽ bắt người phạm tội “thú phạt” trong nhà thờ trước mặt cộng đoàn và bị “đền tội” công khai vì đó là “tội phạm tỏ tường” làm thành gương mù gương xấu. “Mặt đời” có thể bị “nọc” ra đánh đòn, và bị “phạt vạ” bằng tiền hoặc bằng “lễ vật” heo gà tùy theo nhà giàu nghèo Ba tôi không cho biết mệ tôi đã bị hoặc đã không bị án phạt của làng và của họ đạo. Nếu không, mệ tôi đã thoát khỏi bằng cách nào, có lẽ chính ba tôi cũng không biết vì còn quá nhỏ.
Bị  mắng chửi, cô tôi lúc đó mới chừng mười hai tuổi đã buồn rầu và một lần nữa trốn ba tôi ra đi, không biết có phải trở về với cha mẹ nuôi lúc trước hoặc trôi giạt đến phương trời nào. Ba tôi buồn lắm vì dù đã cố công vài lần sau đó vẫn không tìm ra cô tôi tại chỗ ở lúc trước. Có lẽ cô tôi đã lánh không cho ba tôi gặp mặt vì biết sẽ lại không yên nếu quay về sống với ba tôi. Phải chi ba tôi lúc đó đã “xuất chánh” có lẽ tình hình xoay chuyển đã khác đi. Tôi cũng buồn khi nghe câu chuyện về người cô tôi không bao giờ gặp mặt. Ba tôi nói rõ cô tôi đẹp gái lắm làm tôi tưởng tượng ra hình ảnh một cô gái mĩ miều thanh thoát yểu điệu dễ thương. Ba tôi dặn dò tôi:
“Tên cô là …, nếu về lại với cha mẹ nuôi thì ở Thuận An, Huế. Con và các em con sau này nếu có thương yêu đứa nào gốc gác ở vùng đó thì phải dè chừng hỏi tên tuổi của người mẹ để hi vọng các con không thành hôn với em con cô con cậu ruột trái đạo làm người.”
Vâng lời ba tôi, và để nhắc nhở chính mình cũng như các em tôi, tôi đã đề nghị lấy tên người cô chưa hề biết mặt đặt cho em gái út tôi khi mạ tôi sinh ra em không lâu sau khi ba tôi cho tôi biết câu chuyện đó. Ba tôi lập tức đồng ý đề nghị của tôi, vì đó là cách nhắc nhở anh em tôi hay nhất, nhờ đó cho đến lúc này gần trọn đời người tôi vẫn không thể nào quên được.
Đi học trong giai đoạn này là đi học vừa “chữ quốc ngữ” vừa giáo lí tại nhà thờ trong các lớp do các “mụ o” Mến Thánh Giá Di Loan dạy. Dòng Mến Thánh Giá là dòng nữ địa phương chỉ được các giáo xứ và giáo phận địa phương thừa nhận. Tên gọi chung là dòng Mến Thánh Giá nhưng địa phương tự trị, địa phương nào lập ra thì thêm tên địa phương đó vào để phân biệt, không dòng nào liên hệ với dòng nào. Vì thế, các dòng Mến Thánh Giá Di Loan, Phủ Cam, Kim Luông, Đồng Hới vân vân tuy cùng thuộc địa phận Huế, giờ gọi là giáo phận, nhưng không liên quan gì đến nhau. Tu phục đều là áo chùng đen, khác nhau ở hình thức miếng choàng trắng ở cổ, tấm tròn tấm vuông. Các địa phương gọi các nữ tu đó bằng các tên gọi khác nhau, hoặc “o” hoặc “cô” hoặc “dì,” không địa phương nào gọi bằng “xơ.” “Xơ” Việt hóa từ ngữ soeur tiếng Pháp, chỉ có nghĩa là chị, nhưng lại được dùng với hàm ý trân trọng đến nỗi có nữ tu tỏ vẻ phật lòng nếu không được gọi như thế. Ngoại trừ một dòng ở Đà Lạt mà các nữ tu đều được gọi là “mẹ” dù chẳng là “mẹ” thực sự bao giờ nếu tu trì đắc đạo, cách xưng hô  không biết do tập tục nào chỉ dành riêng để gọi các nữ tu thuộc các dòng từ nước ngoài đưa vào như dòng Phaolô, dòng Phanxicô…. Cũng một cách, các nam tu dòng Lasan được gọi là frère—không Việt hóa thành phe, trong khi các nam tu dòng địa phương như dòng Thánh Tâm, dòng Giuse và các nam tu trước khi trở thành linh mục chỉ được gọi bằng thầy. Frère cũng chỉ có là nghĩa anh, nhưng gọi các nam tu đó bằng anh thì lại không được phép. Sau năm 1975, các dòng vốn xưng “xơ” đều tự mình Việt hóa xưng hô thành “dì” thành “chị” thành “cô,” trong khi các dòng vốn xưng hô bằng “o, cô, dì” lại tự Pháp hóa thành “xơ.” Cũng là một chuyện ngược dòng.
Gọi các nữ tu bằng “o” là trước mặt. Sau lưng, người ta gọi các bà bằng “mụ o.” Người Quảng Trị như tôi, và nguyên vùng bắc Trung phần gọi các bà lớn tuổi và các nữ tu là “mụ” với đầy vẻ kính trọng, không như người cách gọi “mụ” đầy khinh miệt của người các miền Bắc miền Nam ví như khi gọi “mụ ăn mày.” Cách gọi “mụ” kính trọng này còn sót lại trong cụm từ “bà mụ” để chỉ người đàn bà đỡ đẻ và vị thần linh dân gian đã “nắn bắt, dạy dỗ” trẻ sơ sinh. “Mụ” là từ để gọi người đàn bà như cô dì, hoặc vợ của ông bác ông chú ông cậu của cha mẹ, hoặc các bà chẳng liên hệ máu mủ gì cả nhưng ngang vai vế với mệ nội mệ ngoại không hẵn chỉ về tuổi tác. Nhưng từ “mụ” cũng có khi được dùng để gọi cách ác ý ví như trong câu ca dao của người quê mình:

Một trăm ông chú không lo,
Chỉ lo cái miệng mụ o “giọn” mồm.

Hoặc khi có người trề môi bĩu miệng nói:
“Sá làm chi thứ mấy con mụ nớ. Ra chợ thì ăn hàng trôốc cúi cao hơn trôốc, về nhà thì ăn hiếp giôông mắng bọ chưởi mạ, túi ngày ai đụng tới là chưởi bới đập chắc chẳng nễ nang ai.”
Vì  thế các nữ tu cũng có khi bị người không đồng ý gọi là “mụ o giọn mồm.” Tội nghiệp, các bà các cô làm ơn làm phước thì có chứ có làm hại gì ai bao giờ đâu mà bị chê là nhọn mồm? Các nữ tu dạy chữ “quốc ngữ” cho lũ trẻ chúng tôi bằng cách viết vần trên một tấm vải treo lên tường, bên dưới có mấy câu thơ theo bài vần đó. Lũ trẻ chúng tôi ngồi bệt trên nền gạch, không phải gạch hoa mà là gạch đỏ xây tường, chỉ nhà thờ và nhà cha sở mới lát gạch hoa, ngân nga đọc theo cây que chỉ trong tay của chị nữ tu:

A à E Ê I
O Ô Ơ U Ư
Lời Chúa dạy phải giữ
Đừng kết bạn kẻ dữ.

Vì ngày nào cũng lê lết trên nền gạch, áo quần tay chân của chúng tôi lúc nào cũng hoe hoe đỏ. Không riêng lũ trẻ chúng tôi mà cả làng ai cũng áo quần hoe hoe đỏ. Thời buổi đó không có xà phòng, người ta giặt quần áo bằng nước tro ngâm để lắng hoặc dùng trái bồ hòn chẻ ra chà lên trên cho nổi bọt, không cách nào tẩy trắng được. Vải vóc hiếm hoi, người khấm khá may ra có vài bộ; người nghèo nhất y nhất huỡn. Vải hiếm, chẳng ai dám chà xát vò quần áo mạnh tay sợ mau mòn mau rách. Thế nên trong nhà ngoài ngõ làng trên xóm dưới quần áo của ai cũng đo đỏ nhờ nhờ, chẳng ai cười ai vì có ai khác ai đâu.
Cả  làng tôi áo quần người nào cũng hoe hoe đỏ vì làng An Do tây của tôi là vùng đất đỏ của núi phun lửa nằm giữa các vùng đất trắng chung quanh. Vì thế, làng tôi còn mang tên là làng Đất Đỏ. Tại sao chỉ làng tôi có đất đỏ? Chẳng lẽ ngọn núi lửa nào ngày xưa chỉ phun một dải đất làng tôi? Hoặc có làng nào khác chung quanh cũng đất đỏ mà tôi không biết đến vì còn bé quá lúc ở làng? Cho đến nay tôi vẫn chưa tìm thấy tài liệu nào trả lời cho thắc mắc của tôi. Chung quanh làng tôi, chẳng có núi non gì cả. Muốn thấy núi, phải lên vùng Liêm Công đông tây và Phú Mĩ. Phú Mĩ mới thực sự là quê nội của tôi. Ông nội tôi từ đó phiêu bạt đến nhập tịch làng An Do và lập gia đình với bà nội tôi. Về Phú Mĩ, tôi chẳng có một kí ức nào dù ba mạ tôi đã đôi lần dẫn tôi về đó lúc tôi còn để chỏm ngoài cái tên gọi mà ba tôi lúc sinh tiền ghép với tên An Do để thành bút hiệu An Phú khi ông làm thơ viết văn viết nhạc. Tôi mang một nỗi ân hận lớn trong lòng vì không còn giữ lại được bất cứ văn thơ nhạc nào của ba tôi kể cả một bài thánh ca bốn bè ba tôi viết về Đức Mẹ Lavang mà đến nay tôi dù cố nhớ để viết lại cũng chỉ nhớ được mỗi một câu đầu.
Học hết lớp các “o” và xưng tội “vỡ lòng” xong, ngày nay Giáo hội Công giáo gọi là xưng tội chịu lễ lần đầu, nghĩa là lần đầu tiên được nhận lấy bánh thánh và được xưng thú tội của mình ra trước Thiên Chúa mà linh mục là người được Đức Giêsu trao quyền ngồi đó nghe thay cho Người, tôi được ba mạ cho đi học lớp năm, tức lớp một ngày nay, tại trường thuộc làng An Do nam. Quê nội của mệ ngoại tôi là An Do đông, cậu họ tôi ở An Do bắc, tôi sinh ra lớn lên tại An Do tây, giờ đây đi học tại An Do nam. Thế là đủ cả đông tây nam bắc. Tôi “mở mang” kiến thức biết có đến bốn làng An Do, lòng thắc mắc tại sao lại thế. Cho đến nay tôi vẫn còn thắc mắc vì chưa tìm thấy tài liệu nào giải thích tại sao phân chia, và làng nào là làng có trước hết. Trong bốn An Do, hai làng đông và tây là “toàn tòng” nghĩa là tuyệt đại đa số dân làng theo Công giáo, có nhà thờ, có cha xứ, làng bắc thì pha, còn làng nam thì “toàn lương” nghĩa là chẳng ai theo Công giáo cả. Chẳng lẽ các làng được phân chia vì lí do tôn giáo? “Ngôi trường” đầu tiên của đời học sinh thực sự của tôi không đáng gọi tên là một ngôi trường vì chỉ là một túp lều tranh ngang chừng bốn lần, và dài chừng bảy tám lần một chòi giữ vịt. Nghĩa là một túp lều nhỏ và nghèo nàn không còn bút mực nào tả lại được. Bàn ghế học sinh là các thân cây tròn to bằng cổ tay nguyên vỏ sần sù, mắt chưa đẽo sạch, cột chặt với nhau trên những thanh ngang, và đặt trên các khúc cây tương tự cột chéo thành hình chữ X làm chân. Giấy hiếm hoi, mực tím viên pha nước đổ vào bất cứ loại chai nhỏ có thể dùng làm “bình mực,” nghĩa là miệng chai đủ rộng để chấm ngòi bút “lá tre” vào. Ngòi bút được gắn trên cán bút bán sẵn nếu nhà có tiền mua, hoặc cột vào một khúc cây hoặc khúc tre ngắn nhỏ chừng đầu đũa lớn. Cán bút bán sẵn có nút bằng kim loại bên trong chặn không cho ngòi rơi ra. Chai mực có sợi dây buộc ở miệng để xách theo. Không ai bảo đảm lũ trẻ chúng tôi viết bằng chai mực như thế mà không vấy bẩn. Vì thế, ngày nào như ngày nấy, tay chân mặt mũi quần áo, và cả tập vở của chúng tôi đều lấm lem mực. Tập vở cũng không đáng gọi tên như thế vì chỉ là một tập giấy khổ lớn mà ba mạ tôi dùng thước kẻ để kẻ hàng. Hàng kẻ không bảo đảm nằm ngay ngắn trên tấm giấy, nhất là khi do tay chúng tôi tự kẻ lấy. Hàng ngày, tay xách “mo” cơm mạ tôi gói sẵn với muối đậu muối mè, tay kia ôm tập giấy, ngón tay xỏ vào dây bình mực, tôi theo lũ trẻ làng tôi chừng năm bảy đứa rủ nhau lội bộ đến trường mà giờ đây tôi không thể đoán được là bao xa. Chúng tôi lội chân trần trên đường đất xuyên qua các xóm. Sáng lội bộ đến trường; trưa ăn cơm mo cau tại chỗ; chiều lội bộ về. Chúng tôi chẳng cách nào biết thế nào là đi về đúng giờ vì chẳng nhà nào có đồng hồ. Cả làng tôi hình như chỉ cha sở, gia đình ông xạ, và vài gia đình giàu có khác có loại đồng hồ “đứng” lên dây cót bằng cách kéo các dây xích tòng teng, điểm giờ bằng tiếng gáy của con cu đất, đến giờ thòi ra, gáy xong thụt vào. Một lần nhá nhem tối, trên đường đi học về, lũ trẻ chúng tôi chạy thục mạng hú hồn hú vía khi bất chợt nhìn thấy các đầu lâu khô máu cắm trên đầu ngọn tre chôn hai bên đường xóm. Tây bắn Việt Minh bêu đầu làm lệnh.
Trường chỉ có một thầy giáo, dạy ba lớp năm tư ba gọi là sơ học yếu lược. Tôi chẳng còn ấn tượng nào về ông thầy thân yêu đầu đời đã dẫn tôi vào thế giới văn chương chữ nghĩa đó. Giờ đây dù mơ ước thế nào tôi cũng không thể gặp lại thầy vì chắc chắn thầy đã vào thế giới sau thế giới này lâu lắm rồi chẳng biết từ lúc nào. Thưa thầy, ước gì con được gặp thầy một lần trong đời. Chúng con vô tình khi trẻ dại, khi lớn lên mới biết kính trọng và thương thầy thì thầy không còn trên thế gian này nữa. Không biết chúng con có sẽ may mắn gặp lại được thầy ở một nơi nào đó trong thế giới bên kia khi chúng con đi hết con đường thầy đã đi qua. Còn tội chúng con vô tình lúc trẻ dại, chúng con xin thầy tha tội. Quí anh chị nào đã từng học cùng thời với tôi lúc đó cũng như các lúc về sau, xin giúp tôi biết chút ít về thầy chúng mình, vị thầy quê mùa nhưng đáng kính đáng yêu đến biết chừng nào. Thưa thầy, con không hề gặp lại thầy, nhưng chữ nghĩa thầy dạy vẫn khắc đậm trong con:

Tan buổi học mẹ ngồi tựa cửa,
Mắt trông con đứa đứa về dần,
Xa xa con đã tới gần,
Các con về đủ quây quần bữa ăn.
Cơm dưa muối khó khăn mới có,
Của không ngon, nhà khó cũng ngon,
Khi vui câu chuyện thêm dòn,
Chồng chồng vợ  vợ con con một nhà.

Thầy ơi, bài học thuộc lòng thầy dạy lúc đó đi vào lòng con rồi ở lại đó không bao giờ phai mờ đi được nữa. Con không hề biết ai là tác giả bài học thuộc lòng đó là ai cho đến khi lớn lên mới biết bài thơ nôm na mà thanh thoát đó là của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Biết bao nhiêu bài học thuộc lòng đã đi qua đời học trò của con mà sao con chỉ nhớ bài thầy đã dạy con. Không, thưa thầy, con không dám dối thầy. Con con nhớ như in một bài nữa không phải do thầy đã dạy con, bài “Tôi đi học” của Thanh Tịnh: Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc…. Có phải vì bài thơ bài văn như thế quá thân thiết qua gần gũi, như vẽ ra cảnh thực quen thuộc của không riêng của gia đình con mà có lẽ của bất gia đình nào có hạnh phúc, phải không thưa thầy?
Tôi học trường làng đó hai lớp năm và tư. Lên lớp ba, ba tôi không còn ở quê nữa. Vì thế, khoảng năm 1948, 1949,  tôi theo ba tôi lên phủ Vĩnh Linh học lớp ba. Trường khang trang hơn, không còn là túp lều chăn vịt ở quê nữa, có đủ từ lớp năm đến lớp nhất. Hình ảnh duy nhất còn sót lại trong tôi là thầy giáo lớp ba của tôi. Thầy mập mạp, bệ vệ, nhưng ghiền thuốc phiện. Mạ và các em tôi còn ở quê nên cha con tôi phải ăn “cơm tháng” cùng với nhiều công chức và thầy giáo khác không sống với gia đình, kể cả thầy lớp ba của tôi. Hằng ngày tôi được phái đi mời thầy xuống ăn cơm. Thầy không ở gần nhà nấu cơm tháng mà trọ trong căn phòng do trường ngăn ra, cách nhà nấu cơm tháng một đỗi đường khá xa, trong khu đồn bót lính Tây. Trưa chiều, tôi đi chân đất cuốc bộ đến mời thầy. Mỗi lần nghe tiếng tôi đứng ngoài cửa nói vọng vào Con mời thầy đi dùng cơm, thầy liên vo vo ve ve viên thuốc phiện trét vào tẩu, châm đóm vào ngọn đèn dầu tù mù bên cạnh, kê đóm vào tẩu, rồi co quắp rít hơi thuốc phiện cuối cùng, nhả khói mờ mịt căn phòng. Nhả hết khói xong, thầy chậm rãi khoan thai đứng dậy mặc áo the, mang giày hạ, thò chân bước ra bên ngoài ngạch cửa phòng thầy. Một lần như mọi lần, không lần nào tôi không tò mò nhìn thầy co quắp rít thuốc, ngửi thấy mùi thuốc ngai ngái, rồi tự hỏi trong khói thuốc đó có gì là niềm vui sướng mà thầy phải co quắp trông thiểu não tội nghiệp đến thế. Sau đó, tôi nhìn lên mấy con thằn lằn, tức con thạch sùng, nằm không nhúc nhích trên các bức tường và trần phòng thầy. Có lần tôi tò mò hỏi, ba tôi cho biết chúng nằm yên bởi vì chúng đã ghiền khói thuốc phiện của thầy. Thầy bước ra, tôi nép qua một bên, chờ thầy đi trước mới lạch bạch theo sau. Tôi không nhớ có lần nào thầy đưa mắt nhìn tôi, đừng nói thầy cám ơn tôi, thằng bé lội bộ mưa như nắng đến báo thầy biết giờ cơm đã đến, trong lúc bụng tôi đang réo cồn cào. Thầy đi trước, tôi lẽo đẽo theo sau như thể thầy chẳng hề biết có tôi đang nối gót chân thầy. Có lẽ thầy cho rằng việc tôi mời thầy đi ăn cơm là một bổn phận của tôi, một vinh dự dành riêng cho tôi nữa là khác, nên chẳng có gì để thầy phải quan tâm đến. Cũng nên nói rõ tôi được đảm nhiệm vinh dự này vì tôi là đứa học trò duy nhất ăn cơm tháng. Khi mạ tôi rời quê lên phủ, cha con tôi chẳng còn phải ăn cơm tháng nữa, tôi cũng chẳng quan tâm biết ai sau tôi sẽ tiếp tục công việc đi mời thầy. Thêm vào đó, tôi chẳng nhớ đã học được những gì với thầy, và cũng chẳng nhớ thầy còn ở đó hay đã đi nơi khác khi gia đình tôi rời phủ Vĩnh Linh. Điều tôi còn nhớ trong thời gian ở Vĩnh Linh là những đêm Việt Minh tấn công đồn, không nghe súng bắn mà chỉ nghe reo hò la hét và tiếng trống tiếng kẻng thùng thùng leng keng rộn cả góc trời. Điều khác tôi còn nhớ là học được cách tính giờ trên đồng hồ, không phải nhờ thầy tôi dạy mà nhờ chú lính gác. Chú biết tôi là con ba tôi, còn tôi chẳng biết chú là ai. Chú đứng gác, tôi lân la đến làm quen và thấy chú mang đồng hồ đeo tay, của hiếm vào thời đó, nên hỏi và được chú dạy cho cách tính giờ tính phút. Chẳng biết tại tôi thông minh vốn sẵn tính trời hoặc nhờ chú có sư phạm nên tôi chỉ học một lần là áp dụng được ngay. Tôi không thể nhớ thầy tôi có lần nào đã dạy tôi coi đồng hồ như vậy.
Sau đó, gia đình tôi theo ba tôi vào Cam Lộ. Tôi không nhớ  đã đi học ở Cam Lộ vì hình như  ba tôi chỉ ở đó vài tháng rồi đổi xuống Đông Hà. Kí ức về Cam Lộ còn lại trong tôi là một đoạn suối nước trong veo mát lạnh đáy toàn là đá cuội nhỏ. Cam Lộ không đào được giếng nên phải lấy nước suối về dùng. Tôi cũng không nhớ tôi đã đi học ở Đông Hà. Kí ức tôi về Đông Hà là sức nóng cháy da thịt và khô khốc của luồng gió Nam Lào thổi đến mỗi mùa hè. Cho đến nay, sống gần hết cuộc đời đất thì gần mà trời thì xa, tôi chưa hề thấy nơi đâu có luồng gió nóng khô khốc kinh khủng như vậy. Sức nóng mùa hè ở Đông Hà làm chảy nhựa đường nổi bong bóng mà những đứa bé như tôi dậm chân xuống nghe nổ lóc bóc làm trò vui, không quan tâm gì đến sức nóng của nhựa đường đang nóng chảy. Hơi nóng lúc cao nhất làm mái tranh bốc hơi và bật cháy khi cọ xát vào nhau. Cháy nhà ở Đông Hà là một nỗi kinh hoàng. Thời đó chưa có xe chữa lửa, cũng chẳng có toán chuyên phòng cháy chữa cháy. Khi nhà cháy, người Đông Hà không cách nào biết ngọn lửa kế tiếp sẽ ụp xuống khu vực nào để đề phòng. Đang cháy cuối xóm, gió Lào bốc tàn vút lên đến tận mây. Tàn rơi xuống nhà nào xóm nào, nhà đó xóm đó sẽ tiếp tục làm mối cho thần lửa. Tàn lửa đốt cháy một vài căn ở đây, đốt cháy một vài căn ở kia, rồi quay trở lại chỗ cũ hoặc tan biến vào sông rạch đâu đó, chẳng ai biết đâu mà lần như một trò đùa tai quái. Cháy nhà trở thành một nỗi kinh hoàng đến nỗi chính quyền địa phương lúc đó ra lệnh cấm các gia đình nấu cơm trưa vào mùa hè. Nấu sáng lúc trời chưa nổi gió đủ để ăn trưa, trời dịu gió mới được phép nấu cơm chiều.
Những năm tiểu học, tôi theo ba tôi và gia đình đi nơi này nơi khác như thế nên không năm nào tôi có  đủ thì giờ để kết bạn. Thêm vào đó, gia đình tôi lúc nào cũng ở trong “cư xá” tại thị xã thị trấn cách biệt với bên ngoài. Vì thế, ngoài giờ chơi tại trường học, tôi không có bạn bè để tụ tập chơi các trò  thường chơi như đánh bi đánh khăng đánh đáo. Lại càng không có chuyện leo trèo bắt chim bắt bướm, hái trộm trái cây nhà người khác, hoặc câu cá bắn chim tát đìa tát ruộng. Vì thế khi lớn lên, tôi không có kỉ niệm về tuổi thơ, và  thường thèm thuồng khi nghe người khác kể chuyện cùng bạn bè “nối khố” phá làng phá xóm cách này cách khác. Thay vào đó, tôi “tập làm người lớn” nên có vẻ chững chạc trước tuổi, và say mê âm nhạc văn chương chịu ảnh hưởng của ba tôi. Ba tôi chơi đàn violon, đàn orgue, viết nhạc, làm thơ, viết văn. Tôi cũng bắt chước các thú tiêu khiển đó, mặc dù chẳng làm nên trò trống gì khi lớn lên.
Sau Đông Hà, ba tôi đổi vào Diên Sanh, Hải Lăng. Tại Diên Sanh, Hải Lăng, tôi học lớp nhì, lớp nhất, và được vinh danh khi tôi đậu bằng … Tiểu học năm 1951! Thời đó, thi tiểu học nghiêm chỉnh lắm. Học sinh các trường phủ huyện phải tập trung về trường tỉnh để thi. Học sinh thi bài viết môn luận, toán, và các môn khác. Tôi đặc biệt nhớ bài thi địa lí, vẽ hình bằng sơn nước và ghi tên các tỉnh miền Trung. Chẳng cần tỉ lệ tỉ liếc gì cả, thằng bé vẽ hình miền Trung cong cong, gạch đường ngang cong cong phân chia các tỉnh. Giờ đây nghĩ lại, tôi chắc hình vẽ kì quặc và lem luốc lắm, không cách nào tránh khỏi dây mực màu nhòe nhoẹt vì tôi vốn kém cõi trong chuyện vẽ hình. Nhưng, tên các tỉnh thì thằng bé thuộc nằm lòng, đến nay già rồi vẫn còn thuộc: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa (lúc đó chưa có tỉnh Phú Yên), Phan Rang, Phan Thiết. Tên các tỉnh miền Trung thời đó chỉ thế là hết, cho dẫu diện tích đất đai chẳng gì khác với ngày nay. Đậu thi viết mới được vào kì thi miệng, trang trọng gọi là thi vấn đáp. Tôi không nhớ rõ phải thi những gì trong kì thi miệng ngoại trừ có thêm môn nhạc. Thằng bé coi trời bằng vung, cất cao giọng hát bài “Khỏe vì nước” (Khỏe vì nước kiến thiết quốc gia, Đoàn thanh niên…) được thầy khen nức nở nào giọng tốt, nào hát đúng, nào hùng dũng. Thằng bé cười toe toét khoan khoái trong lòng vì lần đầu tiên được khen là hát hay! Thế nhưng vinh dự đó chỉ riêng thằng bé và thầy giáo biết (có lẽ có thêm vài đứa bé khác đang có mặt lúc đó trong phòng thi). Vinh dự “to lớn” hơn có được khi tôi đậu bằng tiểu học. Nguyên trường hơn sáu mươi học sinh lớp nhất, khóa một năm 1951 chỉ đậu bốn người, trong đó gia đình tôi chiếm hai chỗ, chú tôi, tức người em khác cha của ba tôi đã nói trên, và tôi. Tôi thực tình chẳng thấy gì là to lớn cho lắm nhưng ba mạ tôi thì hể hả thực sự. Cứ nhìn nụ cười tủm tỉm của ba tôi thì biết, vì ba tôi vốn nghiêm nghị ít khi cười lớn. Về sau tôi mới hiểu ba mạ tôi cảm thấy vinh dự là vì dư âm của bằng Primaire thời Pháp còn vang vọng lại. Thời Pháp, ai đậu Primaire là cả một hãnh diện cho gia đình, có nơi còn rước xách võng lọng, vì người đậu bằng đó đã có thể đi làm thầy thông thầy kí.
Hải Lăng đã để lại trong tôi vài dấu ấn ngoài “vinh quang” đậu bằng Tiểu học đó. Đó là nơi, vào cái Tết năm học lớp nhì, tôi đã vô tình uống li bia đầu tiên trong đời mà không biết, và say bí tỉ. Bia Pháp quen gọi là bia Bông hồng vì bên ngoài vẽ hình bông hồng. Không đá cũng chẳng ngâm lạnh. Ba tôi không uống rượu, nhưng tiếp khách Tết vẫn rót bia cho khách và cho cả ông. Khách về rồi, li ba tôi vẫn còn nguyên. Đi chơi Tết đâu đó ngoài chợ về khát nước, thấy li cối để sẵn trên bàn, thằng bé ngữa cổ nốc một hơi. Chẳng hiểu tại sao lúc đó tôi không thấy đắng. Chếnh choáng, thằng bé lên gác nằm ngủ thẳng cẳng. Chiều tối, không thấy tôi về ăn cơm, cả nhà tá hỏa đi tìm khắp các nhà quen biết. Chẳng ai đã thấy tôi. Cuối cùng, chẳng biết nghĩ sao, chú tôi lên gác đến chỗ ngủ của hai chú cháu và thấy tôi đang ngáy khò khò! Hải Lăng còn là nơi đã đãi tôi vài món ăn lạ và ngon. Nấm tràm đen bóng, đắng nghét, nấu canh rau lang, ăn quen sinh ghiền. Bánh canh bột gạo nấu cá tràu cá thát lát nêm ớt thật cay, trời mùa đông vừa ăn vừa suýt xoa, tháng đôi tháng không ăn thấy nhớ. Bánh canh này khác bánh canh quen thuộc của miền Nam. Bánh canh miền Nam làm bằng bột khoai mì trong veo. Tô bánh canh có giò heo. Bánh canh Hải Lăng làm bằng bột gạo. Nguời ta sú bột, nhồi thế nào cho bột dẽo, không phải ai cũng nhồi được mà phải có một nghệ thuật sao đó, vo thành cục tròn rồi dùng cái chai hoặc cái chày cán mỏng cỡ nửa bề dày chiếc đũa, thế nào đừng cho bột dính vào đồ dùng để cán, sau đó cắt bột cho rơi ngay vào nồi nước lèo đang sôi để bột kết dính thành sợi không tan rã ra, nghĩa là không thể cắt thành sợi như sợi mì rồi cho vào nồi luộc sau. Sợi bánh chín không trong nhưng dẽo là ăn được. Hải Lăng còn có cây nưa, thân như thân khoai môn, nhưng lá chia thành nhiều nhánh răng cưa. Củ cũng như củ môn ăn ngứa, nhưng mài thành bột lại có hương vị khác lạ. Thân nưa muối dưa chua, kho cá, ăn rồi khó quên trừ phi gặp cây ngứa quá chịu không nỗi.
Sau đó, tôi vào Huế học khi gia đình ba mạ tôi sống tại thị xã Quảng Trị. Hàng năm, tôi chỉ về nhà kì nghỉ tết và nghỉ hè. Vì thế, kí ức của tôi về thị xã Quảng Trị cũng chỉ loáng thoáng lỗ chỗ. Thị xã Quảng Trị với nhà sách Văn Hóa, tiệm chè Lục tào xá, cô gái lai Trung Hoa ở góc chợ, nhà thờ Thạch Hãn với mái mang phong cách phương đông, chùa Tỉnh hội Phật giáo trên đường xuống chợ Sãi. Sông Nhan Biều đoạn chảy từ cầu ga ngang qua thị xã với con đường bờ sông lộng gió mà chiều chiều tôi và đám con trai như tôi đạp xe đạp đi “nghễ” gái. Long Hưng với thổ âm nặng đặc biệt khó hiểu. La Vang với đài kỉ niệm Đức Mẹ hiện ra có những cây đa đắp bằng ximăng do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ tạc hình mà tôi tưởng tượng như là những cây nấm khổng lồ. Đó là tất cả những gì còn sót lại về thị xã Quảng Trị trong tôi, cho dẫu tôi đã học một năm đệ tứ tại trường Thánh Tâm. Không, nói cho đúng, tôi còn kỉ niệm một mối tình thơ ngây của tuổi mới lớn, với một cô gái Thạch Hãn, mối tình được vun xới bằng thư tình ngọt lịm. Tôi không nhớ tôi đã có lần nào đủ can đảm nắm tay nàng, nói chi đến hôn nàng. Từ ngày xa nhau, tôi không hề gặp lại nàng. Nghe đâu nàng cũng không may mắn trên tình trường. Tại sao hầu như tất cả các người con gái nào đã đi qua đời tôi đều không gặp may mắn sau khi chúng tôi xa nhau. Đó là số phận, hoặc đó là vì họ không tìm được tình yêu nào khác nồng nàn hơn tình tôi đã trao cho họ? Chẳng có gì chắc chắn, ngoại trừ một điều chắc chắn là tôi đã quá tự cao tự đại khi suy nghĩ như vậy.
Sau năm 1957, gia đình tôi rời Quảng Trị vào Hội An, Quảng Nam. Tôi tiếp tục học ở Huế. Lâu lâu, vào kì nghỉ hè nghỉ tết, tôi về thăm ngoại tôi ở An Đôn thượng, biết thêm những đồi sim ngọt lịm. Và yêu thêm một người con gái trong khu vực đồi sim đó. Một lần sau khi hai đứa hôn nhau dưới gốc chanh trong vườn nhà nàng, nàng dịu dàng bảo tôi khi tôi có chút sàm sỡ muốn tiến xa hơn:
“Anh ơi, chanh còn non quá, rán đợi ít nữa cho chanh đủ già nghe anh.”
Cô  gái mới mười sáu tuổi năm đó. Tôi vào Huế và quên bẵng đi tôi có một quả chanh đang chờ chín tới. Chúng tôi không gặp nhau lại, thậm chí đến nay cố gắng vẫn không còn nhớ được tên nàng. Sao tôi lại có thể vô tình đến thế?

* * *

Kí ức về  quê cha đất tổ của tôi lỗ chỗ như thế đó. Nhiều lúc tôi nghĩ tôi không có quê hương đích thực, và không có cả kỉ niệm tuổi thơ. Ngoại trừ thời gian khôn lớn học hành ở Huế, tuổi thơ tôi không ở một nơi nào lâu quá hai năm. Vì thế, tôi biết Huế nhiều hơn biết quê hương tôi.
Thế  nhưng, không ai có thể nói tôi không phải là  người Quảng Trị, và tôi tự hào tôi là người Quảng Trị. Giọng nói của tôi đã pha giọng Huế, và pha cả giọng chẳng phải Quảng Nam chẳng phải miền Nam. Dù pha chế thế nào, tôi vẫn còn lưu lại âm hưởng giọng Quảng Trị nằng nặng. Pha giọng Huế là chuyện phải đến, vì tôi lớn lên ở đó. Pha giọng Quảng giọng Nam thì không phải vì tôi muốn mà vì tôi nằm vào thế phải pha như thế. Đó là vào năm tôi xin được hiệu trưởng cho phụ trách lần đầu tiên lớp quốc văn đệ thất. Tôi muốn nhìn thấy nét mặt thơ ngây của các em đệ thất lúc bắt đầu bước chân vào tuổi “người lớn.” Dạy các lớp trên, tôi không cảm thấy các em có khó khăn gì với giọng Huế pha Quảng Trị của tôi. Vào lớp đệ thất đầu tiên, đọc bài chính tả đầu năm để biết sức học của các em. Tôi không thể nhớ đích xác bài văn cho học sinh viết năm đó tên gì của tác giả nào, chỉ nhớ nói về chuyện trẻ em đi học, trong đó có câu trên những con đường độc đạo xuyên sơn. Tôi không thể quên được câu văn đó vì do nó mà tôi phải thay đổi giọng nói. Học sinh của tôi người Quảng Nam, từ bé học trường địa phương nghe thầy cô giảng bài và người chung quanh trò chuyện bằng giọng Quảng Nam, và có lẽ chưa lần nào tiếp xúc với người nói giọng khác. Lớp lên đến hơn sáu chục em vừa nam vừa nữ, nghĩa là hơn một trăm hai mươi cặp mắt thơ ngây đang chằm chặp nhìn và nghe tôi đọc rồi cúi xuống cắm cúi viết. Đi qua đi lại giữa hai hàng bàn ghế, tôi đọc câu đó ba lần như khoa sư phạm dạy. Lần thứ nhất cho học sinh nghe, lần thứ hai cho học sinh nhớ và bắt đầu viết, rồi lát sau đọc lần thứ ba nhắc lại cho em lỡ quên. Đọc xong câu trên lần thứ hai, tôi đưa mắt nhìn quanh lớp. Không mấy em cắm cúi viết. Nhiều em cắn bút đưa đôi mắt nhung nai nhìn tôi như muốn nói điều gì nhưng sợ thầy nên không dám nói. Tôi phá lệ, đọc lại hai lần nữa. Vẫn chẳng thấy mấy em viết. Chẳng lẽ trình độ các em kém đến thế sao? Các em viết chính tả nhiều lần ở cấp tiểu học, sao giờ lại cắn bút? Suy nghĩ một thoáng, tôi giật mình nhận ra không phải lỗi các em mà lỗi tại tôi. Các em không nhận ra được giọng Huế pha Quảng Trị của tôi. Tôi vội chỉnh giọng, đọc lại câu trên nhái theo giọng Quảng Nam, trên những (ưng) co (o)n(g) đường (ường) độc “đợu” xuyên(g) sơn(g). Mắt các em sáng lên. Các em cắm cúi viết. Có em xì xầm, “Thầy đọc dễ hiểu quá!” Cứ thế, tôi bắt đầu “sửa” giọng Huế-Quảng Trị của tôi thành giọng pha quảng Nam để có thể tiếp tục giúp cho các em học sinh thân yêu của tôi hiểu tôi muốn thêm điều gì vào kiến thức của các em. Các em học sinh năm đó giờ đã thành ông bà nội ngoại, không biết có em nào biết chính vì các em mà tôi phải “pha” tiếng không. Tôi đã gạt bỏ ngoài tai câu tục ngữ quen thuộc chửi cha không bằng pha tiếng. Không cách nào tôi không phải pha tiếng nếu tôi muốn làm tròn trách nhiệm thầy giáo đem kiến thức lại cho các em đang tin tưởng vào tôi. Tôi truyền đạt thế nào được khi các em không hiểu tôi đang nói gì?
Dài dòng như thế để xin ai nếu lỡ quen biết tôi đừng trách tôi bội bạc với giọng nói quê  hương. Chẳng vì lí do trên, tôi đã nhất quyết giữ lại giọng nói Huế-Quảng Trị của tôi vì  tôi vốn là người … cứng đầu. Dù gì, tôi cũng xin tạ tội với quê hương vì …  đã phạm cái tội pha tiếng tày trời. Dù biết quá lam nham ít ỏi về quê hương, dù giọng nói không còn nguyên thủy Quảng Trị, tôi nhất quyết xác định tôi là người Quảng Trị. Tôi đang hẹn với lòng tôi phải tìm dịp trở về làng cũ để nhìn lại quá khứ đang ẩn kín trong thâm tâm tôi, cho dẫu tôi biết làng cũ An Do tây nơi chôn nhau và chôn giữ răng sữa của tôi giờ đến cái tên cũng không còn trên bản đồ, nói chi đến cảnh cũ người xưa.
Tôi là người Quảng Trị, và xin làm người Quảng Trị. Quê hương ơi, xin đừng chê bỏ con.
Kentwood, Michigan, Hoa Kì ngày 05 tháng 10 năm 2012
Trần Hữu Thuần
jbtranthuan@hotmail.com

READ MORE - QUẢNG TRỊ, QUÊ HƯƠNG TÔI - Trần Hữu Thuần

NHỚ NGÀY - thơ Độc Hành




Hôm nay ngày kỵ của cha tôi
Hoa quả trầm hương tỏa ngát trời
Lễ bạc lòng thành con kính tưởng
Về người quá cố ở xa xôi

Nhớ về ngày ấy cha còn sống
Dẫn con bắt dế ở ngoài đồng
Cha dạy con câu hò tiếng hát
Tập con bơi lội giữa dòng sông

Khi con lớn lên tuổi mười lăm
Ba dán cho con một chữ nhân
Cố gắng thuộc lòng thêm chữ lễ
Ngũ thường nhớ khắc mãi trong tâm

Năm tháng quê nghèo cha tần tảo
Lo con manh áo để ấm thân
Mỗi lần con chơi về trễ bữa
Ba chừa cho con cơm một phần

Đến một buổi chiều thu ảm đạm
Mây trời đen nghịt tiễn cha đi
Hôm nay ngày kỵ con xin nguyện
Cha dạy những lời con cố ghi

Cha ơi! Con biết nói gì đây?
Cha mất con nhớ kỷ lấy ngày!
Hai sáu hàng năm -  tháng sáu đến!
Hiếu đạo nước cơm lòng kính bày…


Độc Hành
dochanh75@gmail.com
READ MORE - NHỚ NGÀY - thơ Độc Hành

KHÚC BÊN ĐỒI – thơ Huy Uyên




Bỏ lại nỗi buồn trên đồi
nên chiều không về kịp
sương đêm ngủ màu trăng non .

Hôn môi em lần cuối
đâu rồi kỷ niệm
nửa đời mê đắm cuồng điên
người xưa ơi tội nghiệp
giữ hoài chi quá khứ bầm đen .

Không còn ai
chỉ mình ta cùng phố núi
nghiêng trời treo ngang tâm sự
chém vết thương sâu tim người .

(Nàng thản nhiên đứng nhìn
rõ ràng giấc mơ của quỉ).

Ta bỏ quên bản thảo đời quá sớm
rao bán linh hồn đi hoang
chùm tulip bỗng thở dài ngao ngán
hỏi người nuối tiếc điều gì ?

Ngọn đồi nào ơi em
chỉ cho ta ngực trần thiếu phụ
dịu dàng chôn
nửa đêm đi cứ ngỡ dáng em buồn .

Đâu đó phía ngã ba ngã tư
bên hồ chỉ còn lại gió
chỉ có gió thôi
và những tiếng thở dài ...

Huy Uyên
lesinh.lesinh@yahoo.com

READ MORE - KHÚC BÊN ĐỒI – thơ Huy Uyên

CHIM CHÀO MÀO - truyện ngắn Nguyễn Khắc Phước




Thấy bạn bè nuôi chim, tôi cũng kiếm cái lồng, mua một chú chào mào thả vào nuôi cho vui.  Tôi chọn chào mào vì ngày xưa ở quê bố tôi chỉ thích nuôi chào mào và chúng hót thật hay. Người ta có thể  bắt chim bằng cách nhái được tiếng của chúng, riêng tiếng chào mào thì không ai nhái được vì tiếng kêu của nó có nhiều cung bậc khác nhau, khi bỗng khi trầm, tiếng trong tiếng đục, và liếng thoắng một hơi dài, người ta gọi là giọng thổ đồng, nghe rất khoái lỗ tai. Đang buồn mấy nghe tiếng chào mào kêu cũng trở thành vui. Nhớ quê mà nghe được tiếng chào mào thì lòng cũng nhẹ nhỏm.

Thế nhưng con chào mào của tôi đã hơn một tuổi rồi vẫn không một tiếng hót. Bạn bè đến chơi có người nói chim anh ta chưa mọc hết lông đuôi đã biết kêu bảy, tám tiếng. Có người bày tôi thay đổi thực phẩm, thay lồng lớn hơn, đem  lồng treo ngoài vườn cho nó bắt chước tiếng đồng loại. Thế nhưng mọi biện pháp đều vô ích. Tôi định đem thả nó và mua con khác nhưng thằng con mười tuổi của tôi không chịu. Nó không cần tiếng hót vì nó chưa nghe chim chào mào hót bao giờ. Nó sợ thả ra thì chim đói mà chết. Tôi định bụng một bữa nào đó sẽ mua một con giống y con này và thả vào lồng khi con tôi đang ở trường.

Một bữa nọ tôi chở thằng con đến trường xong quay về nhà. Vừa mở cổng thì nghe trong vườn có tiếng chim chào mào hót. Tôi ngẫn người ra. Tiếng chim quá tuyệt vời, tôi chưa bao giờ nghe con chào mào hót hay thế, kể cả những con chào mào của bố tôi ngày xưa.  Nó hót một tràng có đến  ba mươi giây và rồi tiếp một tràng khác liền sau đó. Chắc là giọng thổ đồng đây rồi. Tiếng hót như một khúc biến tấu của một nhạc sĩ vĩ đại được diễn tấu bởi một nhạc công trứ danh: dồn đập, liếng thoắng, trầm bỗng , trong và dần cao vút lên. Tôi cảm thấy tâm hồn mình phơi phới, nhẹ tưng. Tôi lắng nghe và biết nó đang ở trên cây khế trước nhà. Anh này muốn đến tán  chim nhà tôi đây. Cứ ở đó mà hót, ta sẽ có cách bắt chú mầy. Không dưng mình lại có một con chim hót cực tuyệt.

Tôi lén ra phía sau nhà, nơi treo sẵn cái lồng sập. Lấy cái lồng sập xuống, tôi kiểm tra  lưới, cài lên rồi đưa ngón tay vào thử, xem lưới có sập không. Tốt! Quá nhạy! Tôi vào cửa sau rồi ra hiên định bụng lấy lồng chim chào mào xuống và thả con chào mào của tôi vào lồng sập để làm mồi. Thế nhưng, hởi ôi, cái cửa lồng mở toang, và con chào mào của tôi đã bay mất. Tôi nhớ hồi sáng vì vội đưa con đến trường cho kịp giờ học nên đã quên đóng cửa lồng. Tôi dậm chân muốn kêu trời nhưng lại thôi vì tiếng chim ngoài kia vẫn đang thánh thót.

Tôi rón rén nhẹ nhàng từ từ di chuyển đến gốc khế và nhìn lên. Hình như con chim thấy tôi nhưng nó không bay đi, chỉ nhảy lên một nhánh cao hơn. Nhìn kỹ, hình như nó là con chào mào bạc má có cườm quanh ức của tôi. Đúng rồi, nó là con chim của tôi đã sẩy lồng ra đây. Không thể có con nào giống nó như đúc vậy được. Tôi mừng quá, con chim tôi không những biết hót mà hót hay vào bậc nhất. Nhưng tại sao bấy lâu nay ở trong lồng nó không hót nhỉ? Một tiếng cũng không.

Nguyễn Khắc Phước
ngkhacphuoc@gmail.com
READ MORE - CHIM CHÀO MÀO - truyện ngắn Nguyễn Khắc Phước

Thursday, November 1, 2012

THƠ NGUYỄN VĂN QUANG

Hình bìa tập thơ GIÓ TRẦN GIAN của Nguyễn văn Quang, NXB Văn Học, 2012


DƯỚI CHÂN MÀY

Những rung cảm tột cùng ân ái
Đằng sau con mắt thăm thẳm cuộc tình
Ta kiếp ngựa hoang tung vó ngoài biên ải
Em đi qua như bóng ma vô hình

Người đàn bà trong tầm tay
Sao chừ lạnh như lát cắt
Người đàn bà hôm qua sáng ra quay mặt
Ai biết nỗi đau dưới chân mày?


CHIA TAY

Em bước qua hồn ta tháng ngày
Người hôm qua chừ nghe xa lạ
Chia tay là vĩnh biệt kiếp này
Xin một lần ân xá…

Em đi về bên ấy phương người
Chốn phồn hoa không lời sám hối
Sá gì những đêm chăn gối

Về phương ấy trăm năm thiên hạ
Nhà thơ bến tạm…
Không mái che lấy gì tiếp khách má đào


GIÓ TRẦN GIAN

Tình yêu đến với ta như đóa phù vân
Như hương gởi gió như tửu tìm sắc
Không tuổi tác không gia hạn thời gian
Sao quy luật trời đất lại tròn số?

Những mối tình giàu sang sao chóng tàn
Tiếc rằng nhan sắc đàn bà con gái
Đau em số phận, thiếu ta phúc phần
Tình ngay phận mỏng…
Làm sao tráo quẻ âm – dương?

Ta chừ như kẻ thấy hồn
Đêm trần gian ngày âm phủ
Chơi với quỷ thần ân ái tinh ma
Thức với trăng sao ngủ cùng Phật – Chúa

Em đi rồi chỉ còn trái tim xanh cỏ
Bốn mùa réo rắt ngọn gió
Ta đành làm gió ở trần gian
Để quanh năm ngự trái tim nàng.

Trời ơi! Ta đùa với ai sao âm - dương tuyệt tình
Xác thân này đau đớn kiếp nạn
Tình yêu qua lại bao bóng ma
Duyên nghiệp từ đây ới hỡi nhan sắc.


NGỰ VIÊN NGÀY XƯA

Rồi mật ngày lại trở về
Trên con đường lá vàng rơi trong gió
Dọc dòng sông vàng hoa hé mở
Nghe mùa thu lành lạnh những ngón tay…

Ngỡ ngàng đấy khu vườn ngày xưa cũ
Ta nghiễm nhiên làm chiếc lá phân vân
Trong lối có bước chân giờ lạ quá
Như cổ tích thiếu vắng một thiên thần

Ngự Viên hôm nay đã thành xóm
Còn đâu ký ức xa xăm
Trời trở gió quanh co đất gấm
Chuyến đò ngang mang nỗi nhớ thầm

Hương đã chết lạc một kẻ như không
Những nỗi buồn mang dáng hình của sóng
Ta gởi mùa thu tóc người lồng lộng
Quay nhìn về phía trăm năm…


NGUYỄN VĂN QUANG
Sinh ở Huế
Hội viên Hội Nhà văn TT Huế
Đã in: Vay mượn trần gian (thơ), 2005




READ MORE - THƠ NGUYỄN VĂN QUANG

NHỚ THÂN PHỤ - thơ Châu Thạch




Khuya thức giấc nghe ngoài kia trở gió
Trời đổi mùa như tuyết ở trong da
Khoác cánh mùng, lần bước đến phòng Ba
Sợ đêm lạnh người già chăn chiếu lệch.

Phòng vắng ngắt, giường trơ ra bạc thếch
Ôi nhớ ra, Ba đã mất lâu rồi
Con sững sờ, đêm trống quá đi thôi
Trời thổn thức ngoài kia mưa lắc rắc.

Đâu còn nữa tiếng Ba ho húc hắc
Tiếng Ba mơ khuấy giấc ngủ gia đình
Tiêng ngày xưa là tiếng ấm thân sinh
Con đâu biết! ngày nay con mới biết!

Con ngồi đợi tiếng ho từ thân thiết
Con lắng nghe tiếng mớ trắng trên giường
Không, vô tình, lặng ngắt, phẳng như gương!
Đêm rộng quá, chỉ nghe toàn hơi đá.

                                           Châu Thạch
truongvantran@hotmail.com

READ MORE - NHỚ THÂN PHỤ - thơ Châu Thạch

SỮA MẸ - thơ Nguyễn Thanh Bá



SỮA MẸ

Sữa mẹ nuôi con thuở chào đời
No đầy lòng trẻ - ngọt vành môi
Mỗi khi đòi bú oà lên khóc
Làm mẹ nhiều lần dỗ hết hơi

Sữa mẹ căng đầy con ngủ yên
Mẹ mừng con trẻ lớn dần lên
Đêm đêm dầm nước thâm giường chiếu
Quấn tã con khô - mẹ ướt mềm

Lúc lúa trổ đòng chưa giáp hạt
Cơm không còn đủ để tăng phần
Háu ăn - thiếu sữa con la khóc
Mất ngủ nhiều đêm mắt mẹ thâm.

Chừ lớn khôn rồi - rời vú mẹ
Cao lương mỹ vị đã từng qua
Vẫn không sánh được hương nồng mẹ
Bầu sữa nuôi con quá đậm đà.

                
BƯỚC  MẸ

Bước mẹ không hề rời xóm nhỏ
Loanh quanh nương bãi tới đồng sâu
Quần thâm áo vá ngày hai buổi
Chả thấy khi nào may mới đâu

Bước mẹ chập chờn nặng cõng con
Chưa bao lăm tuổi đã lưng còm
Vai chai gánh cả đời gian khổ
Chân cứng lui cui đạp đá mòn

Bước mẹ dìu con vào lớp học
Mong con thành đạt ở ngày sau
Dù rằng một chữ vần không biết
Dạy lễ cho con mẹ thuộc làu

Lúc trưởng thành con vững bước chân
Mẹ gầy không lê hết vòng sân
Nhìn theo bước mẹ sầu rưng rức
Mẹ đã vì con - khổ luỵ thân!

Từng bước mẹ dìu con vững đi
Giờ đây chẳng biết đáp ơn gì
Tình nào hơn được tình trong mẹ?
Mẹ hỡi ! trọn đời xin khắc ghi.

Nguyễn Thanh Bá
Tổ 21 ấp Xà Bang 2, xã Xà Bang,
H. Châu Đức, BR-Vũng Tàu
thanhbaxabang@yahoo.com.vn
READ MORE - SỮA MẸ - thơ Nguyễn Thanh Bá

CHUNG THỦY ! - truyện ngắn Trạch An-Trần Hữu Hội




           Chị Phụng nắn nắn bàn chân, nước mắt ngân ngấn ở hai khóe mắt! Hơn sáu tháng nay, cứ ngồi may chừng một giờ là bàn chân trái sưng vù lên, trước nay thì ít thôi, nhưng càng ngày càng to thêm ra và đau rần lên tới tận mông. Cơn đau cứ âm ĩ, nắn nắn liên tục hay có xoa bóp dầu thì đỡ… Nhưng bưng một cái gì hơi nặng thì chao ơi! như có ai bóp mạnh, vuốt lên xuống không ngừng trong các đường gân thớ thịt!

          Bác sĩ ở phòng khám xã nói là chị bị suy tĩnh mạch!

          Cho toa mua thuốc ngoài, ngày hai viên, một viên chín ngàn, vi chi mười tám ngàn một ngày…Thêm một khoản chi! Lại còn cấm không cho chị ngồi và bắt đêm ngủ phải kê chân lên cao. Cả hai đều khó thực hiện! Chị thì chỉ nằm nghiêng mới ngủ được, còn không ngồi may thì không làm sao kiếm  tiền nuôi thân, nuôi thằng con trai tám tuổi  và anh chồng tự nhiên trở chứng…!
                                                          *
          Đang yên đang lành, tám năm nay anh Tăng, ít nói ít phô nhưng chăm chỉ ăn làm… Hôm tết, nói là đi Sài Gòn thăm bạn bè ngày xưa một chuyến kẻo lâu không gặp.

           Anh về,  mang theo một cái điện thoại di động, cứ đêm đến là ra sân ngồi nói chuyện miệt mài với ai đó không biết ! Nhiều đêm gió lạnh, trời Đơn Dương lạnh mà cứ để cửa tận hai giờ sáng chờ anh ! Mấy luống bắp cãi, bắp su… coi như hoang phế!

          Hôm tháng sáu, anh lại vô Sài Gòn…không xin tiền xe. Chị Phụng thấy lạ bèn xem lai chín chỉ vàng tằn tiện lâu nay, trước ngày gặp anh, thì ôi thôi, mất đi đâu bốn chỉ! Hơn một tháng anh về cũng chẳng nói chẳng phô chi về chuyện đi đâu, làm gì và mấy chỉ vàng còn hay hết!

          Đêm đêm vẫn chiếc điện thoại khư khư chờ …

          Anh ôm mền, trải tấm chăn ở ngoài phòng ngủ, ngủ riêng!

          Một hôm chị lén nghe thử anh nói chuyên gì,với ai, nhưng tiếng được tiếng mất, gì mà đám cưới…đăng ký… hồ sơ... hình ảnh… Chín tháng nay như vậy, chị cũng quá ngao ngán nên bỏ cuộc không thèm nghe thêm làm chi cho mệt! Nhưng trong lòng thì cứ đau đau xót xót, nghĩ tới cái chuyện anh Tăng phụ tình, rắp tâm bỏ mẹ con chị!

          Lâu nay anh vốn ít nói nhưng vui vẻ. Giờ thì lầm lì, cộc cằn... đến dữ tợn!
                                           
                                                             *

          Hơn tám năm trước, cái xóm này xuất hiện một gã đàn ông. Ngày làm thuê cho bà con trong xóm, tối về ngủ nhờ bên nhà Bác Phương. Ít nói ít phô, làm thì chăm chỉ…Tuy có hơi đen nhưng cũng dể nhìn… Lâu lâu nhà chị có việc, cũng nhờ anh  ấy làm cho, công cán người ta sao chị vậy, chỉ khác là có thêm bữa lỡ. Khi mấy củ khoai, khi nhánh chuối…có khi dăm cái bánh cuốn nếu sáng đó chị lên phố giao hàng may.

           Ai cũng bảo chị trúng số!

          Từ ngày mẹ mất, chị không ưng ai mà cũng chẳng có ai để ưng ! Ngày ngồi miệt mài may, nhận hàng từ trên Đơn Dương, ăn tiền gia công, không đi đâu mà cũng không buồn tiếp xúc với ai.

          Tuổi thanh xuân của chị dành hết cho cha mẹ…Khi họ mất, thì chị cũng đã quen với cảnh cô độc đơn chiếc!

           Cái ngày mẹ chị đi viện, không biết là may hay rủi nữa ! Cái gã đàn ông ấy cõng mẹ chị từ trên nhà xuống bến xe, rồi theo về bệnh viện. Cũng chẳng có ai thân thích, chị như đỡ được một phần lúng túng! Mua tô cháo, khúc bánh mỳ …anh ta chạy giúp!

            Lành bệnh, mẹ chị thấy anh Tăng này cũng hiền, có lẽ cũng có nghĩ đến ngày mai  mình mất đi thì con gái thành côi cút, nên khuyên nhủ chị…

Mẹ nói hay, biết người ta ra sao mà ưng.

           Cha mẹ chị gốc người ngoài Trung, vào Đà Lạt làm ăn, sau 75, lại tìm về Đơn Dương mua một miếng đất , rồi tháng ngày qua đi  trong nghèo nàn,  cũng như bà con trong cái xóm nhỏ này!

            Hôm giỗ mẹ, bà con tuy nghèo nhưng có tình,  tới thắp nhang cho cha mẹ chị cũng đông đủ, có cả anh Tăng.

            Chiều  chị ra mộ về,  thấy anh Tăng còn lúi húi dọn mấy cái bàn!

            Còn mấy lít rượu, chị gom hết đưa cho anh:

           - Anh Tăng này, nhà không có ai uống rượu, anh đem về bên Bác Phương mà uống.

           - Tôi ngồi đây uống không được à Phụng?

           - Thì cũng đươc, nhưng mà…tối anh cũng phải về bên Bác Phương ?

           - Giờ chưa tối!

           Thôi thì cũng được, chị xuống làm cho anh dĩa đồ nhắm, cũng su xào với mấy lát thịt còn lại của bữa giỗ . Anh Tăng trầm ngâm nhìn xuống đồi, chị định dỡ nắp máy ngồi vào may …

           - Trong nhà có việc, nghĩ một ngày có chết đi đâu mà gấp gáp thế.

           Chị đậy nắp lại, hơi chút ngạc nhiên là hôm nay sao tay này chịu nói! Chiều , rồi tối xuống nhanh trên ngọn đồi.

           Anh Tăng vẫn ngồi nhâm  nhi … Nhiều lần chị muốn nói, muốn nhắc tay này về, nhưng lại thấy ngài ngại ! “Thôi thì hết dĩa mồi rồi nói !” Chị bật ngọn đèn điện… Đêm xuống nhanh, chị tới bên anh Tăng định nhắc, bất ngờ, Tăng nắm bàn tay chị.

            - Anh này, giật cả mình, thả ra mau…

            - Phụng , cho anh ngủ lại với Phụng… đi!

            - Anh muốn… chết à, cả xóm người ta biết thì…

            - Cho họ biết luôn cũng được, anh thương Phụng thiệt mà !

            Nói xong câu nói, tay anh đã choàng qua eo rồi đứng lên , kéo ghì chị vào sát rạt ! Bao lâu nay, chưa có bàn tay nào đụng chạm vào tấm thân đã hơi quá xuân thì của Phụng, chị thấy là lạ và người nóng lên, không biết phải làm gì!

           Người chị càng nóng hơn khi nhớ đến cái lần tình cờ thấy anh Tăng đứng tắm nơi giếng nước, đêm ấy chị cứ mường tượng tới cái  thân thể rám đen và khỏe mạnh ấy mà khó ngủ!

            Anh Tăng ôm mạnh hơn rồi bất ngờ đặt môi lên môi chị ! Mùi rượu làm chị khó chịu nên nghiêng đầu tránh, anh Tăng càng ôm chặt hơn, chị bắt đầu run nhè nhẹ… Anh dìu chị vào phòng, chị đi như trong cơn mộng du, lưng chị cảm thấy êm nhờ tấm nệm ấm…, người chị như hơ trên lửa, tim chị đập thình thịch …

           Một cảm giác buốt đau làm chị nắm chặt hai tay, nghiến răng … rồi buông dần … rối níu lấy bờ vai anh Tăng, chị lịm đi trong khoái cảm tột cùng chưa bao giờ nếm trải, theo tiếng thở dồn dập của anh Tăng …

           Đêm đó và nhiều đêm sau, rồi cuối cùng thì anh Tăng về ở hẳn với chị. Không cần lễ lạc, giấy tờ kết hôn… Thằng con trai ra đời!

                                                     *
          Anh Tăng ngồi chờ thằng bạn thân, trước đây cùng trung đội. Là lính nhảy dù, nhiều phen vào sinh ra tử làm họ thân nhau…Những ngày cuối của cuộc chiến, năm 75, Sơn, thằng bạn thân của Tăng bị một mãnh pháo vào bụng, máu lênh láng, Tăng băng cho bạn bằng miếng băng cá nhân trên món sắt, rồi ôm cây M.16 ngồi chờ.

           May quá, một chiếc dodger chạy qua, gởi được Sơn lên chiếc xe chật ních người… Tăng lững thững đi bộ tiếp, mà cũng không biết đi về đâu!

          Chuyến đi tìm bạn cũng chỉ là cầu may, mà may thật, Sơn vẫn ở trong căn nhà cũ của cha mẹ trước 75. Khác là nay có thêm một cô vợ và hai đứa con…

          Sơn chạy thẳng xe vô nhà vì nghe vợ báo tin: Có anh Tăng nào đó, bạn cũ của anh đang đợi.

        - ĐM mày! Chết đi đâu vậy hả?

       Một trận nhậu linh đình, toàn rượu tây.

       - Kiếm đâu ra cái của quý phái này vậy mày? Tăng hỏi.
          
       Con em tao nó mang về. Thằng chồng nó đang khỏe mạnh, ba năm trước  lăn ra đột quỵ! Bên ấy sống một thân một mình với đứa con 11 tuổi thật khó khăn, tội nó quá ! Uống đi mày …

        Cuộc rượu gần tàn, cả hai ngà say thì cô em của Sơn về cùng bé gái. Tăng  thấy quen quen vì hồi trước có lần về nhà Sơn, lúc ấy  cô em còn quá nhỏ. Tăng muốn kiếm chỗ nằm nhưng Sơn lại kéo cô em lại rồi giới thiệu với Tăng…

         Đêm sau, cũng lại nhậu đến gần sáng, có cả cô em cùng ngồi …

         Mồng mười tết, cô ấy quay về Mỹ. Tăng cũng lên xe trở lại xóm nghèo ở Đơn Dương với chị Phụng và thằng con …

          Ngồi trên xe, đầu Tăng lùng bùng chẳng nghĩ được chuyện gì ra chuyện gì…

          Sáu tháng sau, cô ấy lại về, được báo trước hai chục ngày. Anh Tăng mở cái hộp mà lâu nay anh không hề mở, trong cái tủ con…

          Chậc, rồi đây mình trả lại hết, còn nhiều gấp mấy lần, cho mẹ con nó!

          Cái salon chụp hình thật tài, chỉ với hơn chục kiểu ảnh hai người, đứng, quỳ, ngồi …theo cách bày vẽ của anh thợ…Vậy mà hôm  sau có cả bộ ảnh cưới thật sang trọng, có cả Linh mục làm phép và tiệc tùng linh đình! Cô dâu là em gái Sơn, chú rể là anh, Tăng.

          Anh lại về Đơn Dương, chờ đi phỏng vấn! Cô ấy bảo vậy!

          Lại cũng sáu tháng…

          Sáng nay chị Phụng đi Đơn Dương giao hàng may. Anh lật đật tìm cái hộp nhưng không còn ở chỗ cũ, may mà còn có túi tiền, không nhiều nhưng cũng đủ cho anh vô Sài gòn, có gì Sơn lo mà!

         Tần ngần một lát, anh lấy tờ giấy và ngòi viết chì, ngoắng mấy chữ: “Tui đi làm xa, lâu mới về, đừng tìm!”

                                                      *

         Hai người đi qua người bảo vệ một quãng, trước khi vào một căn phòng, cô ấy hỏi: “ Anh nhớ những gì em dặn rồi chứ ?” .  “Ừ, nhớ rồi …”

         Chiếc phòng rộng quá rộng, rộng và mát đến nổi lạnh lẽo làm Tăng rụt rè và hơi sợ ! Một  phụ nữ da đen trạc 40 tuổi với hàm răng trắng, nhoẽn miệng cười làm Tăng bớt lo lắng. Tiếng Việt nói bập bẹ nhưng cũng khá rỏ ràng :

         - Anh và chị quen nhau lâu chưa ?

         - Hơn hai lăm năm rồi, thưa bà.

         - Sao anh không chịu lập gia đình ?

         - Tôi không làm sao quên cô ấy được !

         - Anh không nghĩ là cô ấy lấy chồng và quên anh rồi sao?

         - Mặc, tôi vẫn chờ!

         Người  phụ nữ nhìn vào hồ sơ và mấy tấm ảnh, mỉm cười. Gương mặt xương xẩu, sạm đen của người đàn ông trước mặt như thuyết phục được người phụ nữ làm công việc phỏng vấn. Bất ngờ đứng dậy, bà đến nơi hàng ghế cô ấy đang ngồi, chìa bàn tay:

         - Chúc mừng bà, bà có một người đàn ông tốt, một người rất chung thủy!
                                                                
                          29  Tháng X, năm 2012
Trạch An - Trần Hữu Hội
 trachan555@yahoo.com.vn
                                                      

            
                                                    
READ MORE - CHUNG THỦY ! - truyện ngắn Trạch An-Trần Hữu Hội

TIẾNG RAO CHÈ HUẾ TRONG ĐÊM - thơ Nguyễn Hồng Trân


   


“Ai chè đậu ván, đậu xanh,
Hạt sen, bắp nếp ngọt lành thơm ngon”.
Tiếng rao trong trẻo véo von,
Không gian xứ Huế vẫn còn như xưa.
Mùi chè thơm phức đêm khuya,
Khát khao trong dạ, thêm vừa lòng nhau.
Luyến lưu tình nghĩa trước sau,
Bao nhiêu kỷ niệm thuở nào còn đây.
Vấn vương chè Huế tháng ngày,
Bâng khuâng, thổn thức nhớ ai trong lòng…
Tiếng rao văng vẳng bên song,
Như gợi nỗi nhớ, chờ mong đêm hè.
Gió đưa thơm phức mùi chè,
Lòng ta thấm đậm tình quê dạt dào.
Giờ đây vắng vẻ tiếng rao,
Tìm đâu mùi vị ngọt ngào chè đêm?...
                                

Ghi chú:

Ngày xưa gia đình tôi ở trong Kinh thành Huế, ba mẹ tôi rất thích ăn chè Huế ban đêm. Mỗi lần nghe tiếng rao chè Huế trong đêm là ba mẹ tôi đánh thức các con cùng dậy ăn chè cho vui.

Chè Huế có nhiều loại, ai thích ăn loại chè nào thì cứ xướng lên. Ba tôi thì thường thích ăn nhiều chè hạt sen, chè xanh đánh, còn mẹ tôi thích ăn chè đậu ván, chè trôi nước, tôi và các em tôi thì thích chè thập cẩm hoặc chè đậu đỏ hoặc chè nếp…

Phải nói rằng ở Huế món chè thật là phong phú và hương vị cũng rất hấp dẫn. Mỗi lần ăn chè cả nhà như thế rất vui và mọi người trong gia đình vừa ăn chầm chậm vừa chuyện trò một cách nhẹ nhàng, thi vị.
Bây giờ thì không còn những cảnh tượng đó nữa, nhưng trong tôi vẫn còn lưu lại những hình ảnh sum vầy gia đình trong đêm để thưởng thức các món chè của xứ Thần kinh Cố đô thật là thanh tao ý vị.

Tôi cứ nhớ mãi! Nhớ mãi nét mặt vui tươi của ba tôi; nét mặt hiền hậu của mẹ tôi; dáng vẻ nhí nhảnh, ngây thơ hớn hở của các em tôi trong những đêm chè Huế như vậy. Thật nhớ quá, nhớ quá thôi!!

Nguyễn Hồng Trân
(Cựu GV ĐHKH Huế)
nghongtran38@gmail.com
READ MORE - TIẾNG RAO CHÈ HUẾ TRONG ĐÊM - thơ Nguyễn Hồng Trân

Trương Nguyễn - QUÊ TÔI

Sông Ô Lâu. Ảnh NK Phước



Quê hương tôi biển xanh tre xanh
Mầu của lúa đồng Hải Xuân Hải Vĩnh
Cánh cò chao nghiêng dòng sông Vĩnh Định
Sóng dập dềnh biển Mỹ Thủy Thâm Khê

Tuổi tôi lớn trên những bờ đê
Từ Hội Yên Hải Dương Hải Quế
Ruộng Hải Thành phì nhiêu lắm “đỉa”
Bơi thong dong trên những đầm lầy

Sông Ô Lâu như một vòng tay
Tưới phù sa cho Hải Hòa Văn Quỹ
Người Hải Lăng một đời lam lũ
Mẹ cha tôi một nắng hai sương

Con đường êm Mỹ Chánh Hải Trường
Nơi một thời kinh hoàng đại lộ
Có khá nhiều người không nấm mộ
Những thịt xương thấm đất quê hương

Khi tôi về thăm lại con đường
Lung linh nắng lượn bay cánh bướm
Ký ức tuổi thơ hồn xanh thắm đượm
Sống trong tôi rạo rực nỗi niềm thương.


TRƯƠNG NGUYỄN
truonguyen49@gmail.com
READ MORE - Trương Nguyễn - QUÊ TÔI