Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, November 17, 2010

PHẠM HÒA VIỆT và LINH ĐÀN - THIẾU PHỤ và HIỀN PHỤ






PHẠM HÒA VIỆT - THIẾU PHỤ



Em thay đôi bông tai

Bỗng trở thành thiếu phụ

Giữa mùa thu lá đỗ

Hà Nội chiều đầy sương

Cuộc tình nào tơ vương

Cho ta lùi năm tháng

Cho biển trời lãng mạn

Cho nồng ấm môi hường

Lá thu rụng đầy đường

Mưa thu bay nhẹ hạt

Vườn cà phê không ướt

Tay em che trời mây

Không lạnh gió heo may

Mà lòng như ấm lại

Không xao lòng khắc khoải

Tình em đã phủ đầy...

Bỗng lạnh buốt chiều nay

Chiều mưa bay Hà Nội

Em thay đôi bông tai

Bước ta về lạc lối

Hải Vân còn bến đợi

Ta thẩn thờ chờ ai...



Phạm Hòa Việt





LINH ĐÀN - HIỀN PHỤ



(Họa nguyên vần thơ Phạm Hòa Việt)

Chiếc khăn quàng thấu tai

Em thấy mình hiền phụ

Lụt Cồn Tiên mưa đổ

Đông Hà ngợp hơi sương

Dòng sông Hiếu vấn vương

Trải dài bao ngày tháng

Chuyến đò ngang lún mạn

Áo xanh đỏ tím hường

Những đám ruộng ven đường

Lúa càng sây nặng hạt

Mồ hôi người đẫm ướt

Đem phơi từng nong mây

Lội qua đám cỏ may

Đôi chân như níu lại

Bước đi nhìn khoan khoái

Niềm vui thêm ngập đầy

Em sẽ về tối nay

Qua bên nhà thăm nội

Gió cứ rít bên tai

Đường bùn lên ngập lối

Phú Hậu chiều xưa đợi

Một mẫu người trong ai



Linh Đàn

READ MORE - PHẠM HÒA VIỆT và LINH ĐÀN - THIẾU PHỤ và HIỀN PHỤ

Tuesday, November 16, 2010

VÕ VĂN LUYẾN - CHẾ LAN VIÊN: " NGƯỜI BẮN PHÁO HOA TRÍ TUỆ" Ở THỂ TỨ TUYỆT

Nhà thơ Võ Văn Luyến ( đứng giữa) đang tham gia buổi Giao lưu nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Chế Lan Viên và Hội nghị Trù bị CLB Thơ Huyện Cam Lộ - 23/10/2010.


Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan. Quê Cam Lộ, Quảng Trị. Xuất hiện từ phong trào Thơ mới, Chế Lan Viên tự mình làm nên một cái đỉnh trong làng thơ Việt hiện đại, không lẫn với bất kì ai khác.

Nói đến Chế Lan Viên là nói đến thơ tứ tuyệt. Hình như cụm từ "tứ tuyệt Chế Lan Viên" trở thành một định ngữ khó thay đổi, bởi thơ ông đơm hoa kết trái ở thể tứ tuyệt. Không một ai cùng thời sánh bằng, trên cả hai mặt số lượng và chất lượng. "Cái lớn của một nhà thơ là khả năng tự mình trở thành đối tượng", câu nói của Johan Becher vận vào Chế Lan Viên rất đúng. Ông nổi tiếng bằng sự xuất hiện như một bất ngờ, đột biến trong cả ba giai đoạn. Từ buổi đầu có mặt "như một niềm kinh dị" (Hoài Thanh) đến giữa giai đoạn được đánh giá là một trong hai nhà thơ trữ tình chính trị (cùng với Tố Hữu) vào loại tiêu biểu nhất của nền văn học mới. Giai đọan thứ 3, giai đoạn cuối đời lại tụ kết "hóa nên trầm" trong thể tứ tuyệt.

Đấy là nhìn bao quát và chia cắt theo lối cơ học. Còn trong thực tế có trên bốn mươi năm đắm mình trong sáng tạo, ông ưu tiên đáng kể cho tứ tuyệt bằng tâm huyết và trí tuệ tài hoa của mình. Theo thống kê của PGS. TS Hồ Thế Hà, chỉ tính trong các tập: Ánh sáng và phù sa (36/69 bài), Đối thoại mới (45/68 bài) Hái theo mùa (44/76 bài), Hoa trên đá (32/86 bài) Ta gửi cho mình (17/39 bài)...Những con số biết nói trên chứng minh điều tâm đắc, kỳ duyên của nhà thơ họ Chế đối với thể tứ tuyệt.

Có lẽ từ trong trăn trở lột xác, tìm đường cho thơ tứ tuyệt, Chế Lan Viên đã mách bảo cái bí quyết làm nên thể thơ này. Theo ông, tứ tuyệt không chỉ là thơ 4 câu mà phải có cái "thế võ" của nó. Đấy chẳng phải gì khác ngoài cái tứ - một đặc điểm trường tồn của sáng tạo thơ. Có điều, "cái tứ trong tứ tuyệt phải nén chặt và bật ra tức thời như nguyên tắc sức bật của lò xo: Độ nén càng cao sức bật càng lớn, càng đẩy vấn đề trong thơ đi xa hơn" (Hoài Anh).

Lại nữa, có tứ nhưng phải có sự bồi đắp của tình cảm, không có chất men tình cảm không thơ được. Ở tứ tuyệt, chất men ấy thấm thật sâu vào trong suy nghĩ mới khởi động ra thơ. Sở dĩ chất trí tuệ trong tứ tuyệt của ông không khô khan nhờ ở cách của những chú "Ong triết học":


Những chú ong triết học

Không biết say hoa người

Làm nên mật đạo đức

Chả hút gì ở môi


(Ong triết học)


Tứ tuyệt Chế Lan Viên là một cái nhìn đa diện về thế giới và con người trong lối khắc phục hạn chế về hình thức nhỏ của thể loại bằng cách "mở rộng hiện thực bằng đề tài, sự chiếm lĩnh chiều sâu hiện thực bằng cách tăng tính triết lý khái quát ở chủ đề và sự thể hiện con người nhiều chiều". Nói khắc phục hạn chế hình thức là so với các thể thơ dài. Còn bản thân tứ tuyệt không thể không thay đổi, điều mà ông quan niệm "Nội dung phải đâu muôn đời vẫn thế. Thay hình thức của thuyền đi, sẽ hiểu bể thôi mà !", nhưng cũng nên thận trọng, vì "Tự do quá cũng giết chết thơ như gò bó" (Nghĩ về thơ).

Có người sẽ bảo: Nước một đại dương không thể đựng trong một cái chén. Quả thực, cái cách thức thơ muốn đạt đến là "đo" chứ không phải "đựng": "Cái tội của muôn đời thi sĩ. Đem hồn đo cho trời bể thêm sâu" (Đo). Vì lẽ đó, hình thức tứ tuyệt đã được hiện đại hóa rất nhiều. Cái tài của tác giả Điêu tàn là phá vỡ cấu trúc tứ tuyệt cổ điển để tái thiết nên tứ tuyệt mới nhưng không những không làm giảm giá trị mà còn tăng cường sức mạnh và sự đa dạng hình thức thể hiện: Từ tiết tấu, vần điệu (có khi bỏ vần) đến việc huy động tối đa các phương thức tu từ, tạo đà, tạo thế cho tứ tuyệt phát triển. Có thể nói, thế giới qua cái nhìn của Chế Lan Viên bỗng trở nên lung linh sinh động. Tả một vầng trăng đẹp trong tự nhiên, thiên nhiên không giàu trí tưởng tượng, sáng tạo nghệ thuật sẽ không gieo được ấn tượng mạnh như thế này:


Giữa hai cây, lại đôi mắt em nhìn

Anh đến suối, mặt em cười dưới suối

Lòng anh chạy cho lòng em theo đuổi

Đêm ái tình đâu cũng mặt trăng em

(Trăng)


Từ tứ tuyệt và bằng tứ tuyệt, bài học kinh nghiệm quý giá không riêng cho một ai quan tâm đến sáng tác và tiếp nhận được Chế Lan Viên tượng hình trong một cấu trúc thơ độc đáo:


Những lá thơm hái lúc về già

Hái những lá có hương tư tưởng

Khi cây đã hóa trầm trong ruột

Lá đủ rồi, phải đợi gì hoa

(Nội dung và hình thức)


Có người cho rằng, "nếu triết học và tôn giáo hỏi tồn tại là gì, thì thi ca cho ta một trải nghiệm về tồn tại". Với tứ tuyệt, đấy là sự trải nghiệm trong một khoảnh khắc của tồn tại, vì thế thơ tứ tuyệt thích hợp với giọng triết lý, cảm hứng triết lý. Khảo sát các tập thơ tiêu biểu của Chế Lan Viên, số lượng thơ tứ tuyệt chiếm tỉ lệ không nhỏ (xấp xỉ 50%). Đủ thấy, thơ tứ tuyệt luôn thường trực trong cảm hứng sáng tạo mãnh liệt của ông, " người bắn pháo hoa trí tuệ" ở thể này. Có thể nói không quá rằng, một mình Chế Lan Viên đã dựng nên một đài tháp riêng về thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại đậm phong cách tác giả. Ngẫm ra, hầu như ông khai thác và phát huy khá đầy đủ những đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ tứ tuyệt Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại.


VÕ VĂN LUYẾN




Nhà thơ Võ Văn Luyến (thứ ba từ trái sang) chụp chung với toàn thể hội viên CLB Thơ Cam Lộ
READ MORE - VÕ VĂN LUYẾN - CHẾ LAN VIÊN: " NGƯỜI BẮN PHÁO HOA TRÍ TUỆ" Ở THỂ TỨ TUYỆT

PHẠM HÒA VIỆT - THƠ VÀ ĐƯỜNG BAY NGHỆ THUẬT




Thơ là một bộ môn văn học - nghệ thuật hoàn hảo nhất bao gồm những khía cạnh thẩm mỹ: nhạc, họa, điêu khắc và ẩn chứa cả thời tính, sử tính…

Hiện hữu trên một bình diện ưu việt, ngôn ngữ thơ ẩn tàng một chiều cao, sâu, rộng, tác động thăm thẳm vào hồn người những tình cảm dạt dào, dẫn dắt trí tưởng tượng ta bay cao và kích thích hành động vươn tới của con người ở một mức độ tinh vi nào đó…

Thơ, nói theo một nghĩa nào đó, chưa hẳn là đời sống của tác giả nhưng bắt nguồn từ cuộc sống, mà cuộc sống lại chuyển động trong một vận hành toàn bộ vũ trụ thiên nhiên cũng như vũ trụ con người. Do đó, dù muốn ruồng bỏ hoặc khinh rẻ đời sống đi nữa thì thời tính và sử tính vẫn hiện hữu trong thơ, trong những đường bay nghệ thuật một cách khá trọn vẹn …

Trái với nghệ thuật tạo hình, trí tưởng tượng sáng tạo nên thơ khi hoạt động không cho thấy hẳn sự vật dưới hình dạng vẫn có ở bên ngoài - dù sự vật đó đã được nghệ thuật khoác thêm một lớp áo - mà chỉ cho ta thấy nhận thức bằng một trực giác và một nội cảm thuần túy. Nó phản ánh…, nhưng không phải vẽ lại lập khuôn , mà chủ quan của nhà thơ là yếu tố hệ trọng hơn cả trong hoạt động sáng tác của mình, dù ở những tác phẩm thể hiện mức phản ánh có tính chất cụ thể nhất.

Sự sắp đặt thành một bài thơ phần lớn bao gồm cả hành động được nhận thức và suy tính của tác giả với hình ảnh bên ngoài được nhà thơ cụ thể hoá. Goethe khẳng định : “Thơ nào chỉ biểu lộ được những thực trạng nội tâm mà không cụ thể hoá bằng những vật ngoại giới, hoặc nếu không cho thấy được những vật cụ thể qua tính chất nội hàm của ý tưởng thì cả hai trường hợp đều xuống mức thấp nhất để rơi ngay vào thực tế tầm thường” . Chính thế, nhà thơ chẳng những là con người của sự đẹp (Les hommes du beau) mà còn là con người của sự thật (les hommes du vrai) , sự thật có thể chưa từng ai khám phá ra , thậm chí là sự ngạc nhiên hay bất ngờ …

Nhưng đâu là mảnh đất của thơ, đâu là đường bay của thơ ?

Mảnh đất cho thơ cư ngụ không phải là những mộng mơ ảo tưởng siêu hình mà chính là cái thực tế thiêng liêng. Thơ chắp cánh bay cao từ trong đó . Thơ ở khắp mọi nơi trên cõi đời này nhất là trên mảnh đất ta đang sống. Thơ xuất hiện dần trên mỗi bước ta đi nếu trong mỗi bước đi đó nhà thơ có ý thức khám phá. Nhưng cái tài của người làm thơ ở chỗ không phải sao chép thực tế – thực tế chỉ khơi mào gợi ý – mà làm sao tạo được một toàn thể đẹp , sống động. Goethe nói một cách chí lý: “Muốn trở thành nhà thơ hay, họa sĩ giỏi phải có thiên tài, một sự không thể thiếu được”.

Chúng ta có thể khẳng định một điều: Làm nghệ thuật không thể bao giờ cũng có nghệ thuật ( art và antiart ); thơ không phải bao giờ cũng xuất hiện dạt dào trên từng mảnh đất nào đó. Chính sự chọn lọc và nguồn cảm hứng của nhà thơ là điều hệ trọng . Không phải nguồn cảm hứng ở đâu và lúc nào cũng như nhau mà tùy theo tác động và sự nhìn nhận vươn tới của cuộc sống trước mắt nhà thơ đối với nhà thơ. Với thời gian, tác động đó có thể là qúa khứ hoặc hiện tại nhưng phải là tác động có thực, rõ hơn, đó là sự gắn bó mật thiết giữa nhà thơ và cuộc sống. Cũng với thời gian, mức thể hiện và yêu cầu của một bài thơ từng lúc khác nhau. Cùng với một đề tài chiến tranh, trong chiến tranh “ ta nhìn kẻ thù rất rõ ” (*) với những sự “ mất mát”(*) thì tình yêu trong thơ chính là sự chất chứa hận thù; sau chiến tranh, khi “đất thôi chảy na-pan” (*)thì tình yêu trong thơ chính là những lo toan và xây dựng với những niềm vui mới “và công việc bộn bề”(*) . Không phải chiến tranh qua rồi , nhà thơ chỉ biết miên tưởng về qúa khứ, bằng lòng với hiện tại mà quên đi “kẻ địch lẫn trong ta mang cả dáng thiên thần” (*)

Giá trị đích thực của một bài thơ chính là đường bay của thơ rực cháy ngọn lửa lòng và trí tụê của tác giả trước hiện thực cuộc sống, không giới hạn bởi không gian, với nét độc đáo của mức thể hiện nghệ thuật trong tác phẩm. Không có gì mâu thuẫn giữa giới hạn và vô hạn của không gian. Nhịp sống mới trong xí nghiệp, trong nông trường, công trường... ở một địa phương có thể hòa trong nhịp sống mới trên đất nước, thì mức thể hiện riêng nầy trong một bài thơ cũng có thể là mức thể hiện chung toàn vẹn.

Đọc bài “Em ơi…Balan…” của Tố Hữu, trước hết ta liên tưởng đến xứ sở Balan với những bông tuyết trắng xóa bám đầy thân bạch dương, những đôi ủng đỏ của các chiến sĩ vệ quốc quân đang đi trên tuyết và trước mắt ta bỗng hiện ra cả những vùng trời quê hương yêu dấu. “Em ơi..Balan mùa tuyết tan…”, âm tỏa tràn, ta đang liên tưởng đến cảnh giao thoa giữa hai mùa . “Balan…tuyết tan…”gieo vần bằng trong cùng một câu đã tạo ra tiếng nhạc; nhạc của Chopin đầy tình cảm thắm đượm đang được cất lên. Trái tim chứa chan bao nỗi cảm xúc không thể vùi tan trong tuyết Pháp , không thể bị nát tan giữa bàn tay tàn bạo của phát xít Đức. Trái tim Chopin được đặt nguyên vẹn trong nhà thờ khi Balan được giải phóng. Trái tim huyền bí đang được các cô gái Balan nâng niu, đang sống lại từng điệu đàn khúc ca. Chopin đang đi khắp thế giới, phá mọi thành trì để góp tiếng nói nhân đạo với loài người.

Không phải cố ý đem những hình ảnh của quê hương Việt Nam ra so sánh, nhưng biết làm sao hơn ! Bài thơ đã khơi dậy trong ta một mạch sống, hiện ra trước mắt ta những sắc trời xuân, hạ, thu, đông, những anh giải phóng quân, những chẽn lúa vàng… Đó chính là sự xúc động liên tưởng, đó chính là nhịp cầu giao cảm; thời tính và sử tính rõ nét trong thơ.

Thơ – một chỉnh thể – bao giờ cũng thể hiện niềm khát vọng và không bao giờ thỏa mãn với chính sự hiện hữu của mình. Bởi hướng vọng đi lên là ý đồ cuối cùng của nhà thơ trong việc tạo ra tác phẩm mới.

Trong thư gửi cho E.A.Tsermuskina ngày 9-8-1912, Korôlencô có viết: “… ở đó lại sẽ bắt đầu một trạm đường mới. Cuộc sống chính là sự khát vọng thường xuyên, sự thành đạt và lại khát vọng mới”. Đó cũng là khát vọng của người làm thơ ?

Thơ. Thơ…, nó vẫn hiện hữu thường xuyên, hiện hữu trong đường bay nghệ thuật, tại sao ta lại khó kiếm tìm nó ?

Phải chăng , ở bình diện nào đó ta có thể thờ ơ, bắt gặp nó như sự thể hiện của một tính cách, của một ánh sáng, của một sự sắp xếp chữ nghĩa …; nhưng ở bình diện cao hơn, nó có thể vượt ra ngoài phạm vi đó để hòa đồng với cái toàn thể, đòi hỏi ở ta một công phu rèn luyện kiếm tìm ?

P.H.V.

READ MORE - PHẠM HÒA VIỆT - THƠ VÀ ĐƯỜNG BAY NGHỆ THUẬT

TỪ DẠ THẢO - CHÙM THƠ




THƠ NGÀY CUỐI ĐÔNG


Rồi như chiếc lá cuối đông
Thả đường bay trọn một vòng nhân sinh
Thưa rằng dạo ấy mùa xuân
Có con chim hót tưng bừng suối khe
Rễ ngầm đan những tái tê
Đất sâu thả hết bùa mê lên trời

Lá xanh hoa thắm tươi cười
Yêu thương là chín là mười phụ nhau
Thì xin cứ nõn nà lâu
Để cho dải yếm bắc cầu tìm sang

Mùa thu chớm độ hoa vàng
Ai đi như thể bóng hoàng hạc bay
Cầu dải yếm ngã mà đau
Đau từ buổi dưới đất sâu lên trời

Rồi như tàn hết cuộc chơi
Vòng quay chiếc lá giữa trời cuối đông.







LỜI CHIA TAY MÙA XUÂN


Anh gửi lại nụ hôn ngủ vùi trong cỏ
Em khuất xa rồi buổi ấy giêng hai
Chỉ còn lại thoáng tầm xuân muộn nở
Biếc thắt lòng câu hát dỗi hờn ai

Chia tay nhé mùa xuân không nói trước
Cuối con đường mùa hạ đứng trầm tư
Phượng đốt lửa trong mắt người day dứt
Ve giăng buồn giăng kín mảnh tình xưa

Chia tay nhé mùa xuân không hẹn ước
Ta - gã si tình xuôi ngược thời gian
Tóc chấm bạc mới hay mình đánh mất
Dấu thiên đường chỉ còn lại tro than

Bao nhiêu nắng cũng không vừa buốt giá
Mùa hạ ơi thương nhớ đến khôn cùng
Bao nhiêu gió để ta về hóa đá
Ngẩn ngơ nhìn hoa rụng tím triền sông...

Không quên được nhưng làm sao nỡ trách
Phút giao mùa òa nghẹn tiếng chia ly
Như ánh chớp ngang trời chưa kịp hỏi
Đã em về đưa tiễn bước xuân đi

Vời vợi thế làm sao anh giấu hết
Những vui buồn bất chợt hóa mồ côi
Dịu ngọt đấy bây giờ thành cay nghiệt
Hóa sắc trời mùa hạ cháy không nguôi...





ĐIỆP KHÚC THÁNG SÁU


Tháng sáu mang trên vai những cành phượng đỏ. Những con đường và những cơn mưa. Vòm trời xanh mắt em bỏ ngỏ. Cứ trống hoài một khoảng không anh. Tháng sáu xa vời tháng sáu mỏng manh. Chợt nhớ chợt quên điều mình chưa nói. Xin đừng trách chuyến tàu đi vội. Trái buồn se thắt từ lâu.

Tháng sáu vo tròn ném xuống hồ sâu. Ném vào lòng ta từng viên sỏi nhỏ. Con thuyền lá khô không nơi nương tựa. Em đừng lầm với mảnh trăng non. Tháng sáu chạnh lòng những vết môi hôn. Em thôi qua cầu gió thôi bay áo. Nhói xót lòng mình thời thơ dại. Trót để tình yêu thành ảo niệm trong đời.

Tháng sáu trầm tư tháng sáu chơi vơi. Cành phượng cháy lòng vòm xanh hút mắt. Dẫu thương nhớ em làm sao khóc được. Giọt nước mắt này cũng của xa xưa. Tháng sáu trời nắng tháng sáu trời mưa. Em giữ riêng em khoảng trời màu tím. Anh có trở về bước chân xin tìm đến.

Có một khoảng trời tháng sáu của riêng anh....



CHO EM VÀO HẠ

Hình như bên kia là mùa thu
Ngàn lá rụng mang theo lời tiễn biệt
Nơi ký ức hóa vầng trăng đẫm ướt
Con dế buồn rũ cỏ hát tình ca

Bên kia là năm tháng đi qua
Còn gặp lại cũng vô tình ánh mắt
Bông hồng ấy cuối chân trời tít tắp
Dẫu muộn phiện từng cánh mỏng manh rơi

Bên kia là còn lại mình tôi
Mùa hạ và em xa vời ảo ảnh
Hoa cúc cháy trong nỗi niềm đa cảm
Thuở yêu em trong trắng vô ngần

Bên kia là còn lại dòng sông
Cánh buồn anh nửa đời đi không hết
Em xa quá, mùa thu thì chẳng biết
Có người úp mặt khóc hoàng hôn

Lẽ nào em không nhớ, lẽ nào quên
Giọt nước mắt đã tan thành hoài niệm
Thành muối mặn thành vô tư sóng biển
Để vơi đầy cùng năm tháng vì nhau

Bên kia là còn lại nỗi đau
Khao khát ấy của một trời hoa phượng
Lẽ nào em, lẽ nào tôi hoang tưởng
Lá vàng thu tiếc nối giữa tay người

Bên kia là day dứt khôn nguôi
Đồng vọng mãi lời chia tay thầm lặng
Phải mùa hạ dâng hết mình cho nắng
Nên mùa thu chớm lạnh đã se long

Thì đừng buồn bốn phía mưa giăng
Bong bóng vỡ theo về nguồn cội
Ngắt cánh phù dung ngồi đếm tuổi
Thấy trong hư vô khuôn mặt của mình
.
Thì ta quay về tìm lại dòng sông
Tìm lại xác thân phiêu bồng một thuở
Để thấp thoáng em hiện về đâu đó
Mùa hạ ấy xa như có thật trong đời.


READ MORE - TỪ DẠ THẢO - CHÙM THƠ

Sunday, November 14, 2010

NGUYỄN BÁ VĂN - MỸ THUẬT VÀ ÂM NHẠC


NGUYỄN BÁ VĂN







TÍN NỮ KI-TÔ






PHỤC SINH



CÂY CỨU ĐỘ




SINH NHẬT HOA




HÀI NHI





HƯƠNG XƯA



CON TRÂU XANH




NGUYỆN CẦU BÌNH AN









READ MORE - NGUYỄN BÁ VĂN - MỸ THUẬT VÀ ÂM NHẠC

Saturday, November 13, 2010

LÊ BÁ LƯ - CHÙM THƠ



BẤT CHỢT



Dường như anh đang yêu em

Dường như chưa đã khát thèm

Dường như Nguyệt đã nhìn xem rõ ràng

Dường như em đang lang thang

Dường như anh đang sang ngang

Dường như tình ngập mênh mang đất trời

Dường như em ngoan tuyệt vời

Dường như anh đã ngỏ lời

Dường như môi, mắt, tóc thời mười lăm

Dường như Tình đã lặng câm

Dường như Mộng đã xa xăm

Dường như Chức Nữ nhớ thầm Ngưu Lang!






SANG MÙA



Nắng vào cửa sổ hôn lên má

Âu yếm người thơ đang mơ màng

Trời mấy bữa rày êm nhẹ quá

Hương hoa ngào ngạt, gió mênh mang

Trời đất sang mùa em biết không

Từng bầy én liệng tiễn mùa đông

Rừng cây thay lá xanh mơn mởn

Lác đác vườn hoa hé nụ hồng.






ĐỀN NHAU



Đền em một buổi chiều gần

Đơm hoa, kết nụ cũng ngần ấy thôi

Ngàn năm nước chảy hoa trôi

Một chiều êm ái, một trời hương hoa

Một chiều rồi nữa cách xa

Tình như cánh vạc bay qua núi đồi

Không gian mai mốt xa xôi

Mầu kỷ niệm vẫn trong tôi dịu dàng

Như thơ như nhạc mơ màng

Một chiều tình tự thiên đàng ngàn năm

Không gian là ánh trăng rằm

Thời gian là chén rượu nồng tân hôn

Một chiều thật đẹp, thật buồn

Sân trường đại học như vuông lụa là.


LBL

READ MORE - LÊ BÁ LƯ - CHÙM THƠ

Thursday, November 11, 2010

NGUYỄN ĐỨC TÙNG - MARY OLIVER: ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI

Mary Oliver

Rainer Maria Rilke: “Không có gì dễ bị đập vỡ hơn là sự xấu xa.”

Mùa hè này, tôi thường đọc lại Oliver. Nhớ một mùa hè khác trong ký ức, một mình đứng trong tiệm cà phê lướt vài trang sách, gặp bài thơ của bà. Đó là một mùa hè lạ lùng, tuyết rơi trắng xoá vào tháng Sáu, nhẹ hẫng trên tay, khi chúng tôi vừa kết thúc năm học ở đại học, nghỉ hè. Sau cuộc chia tay lạ lùng, sâu thẳm, khốc liệt, sau này nhìn lại không thấy bất cứ một nguyên nhân nào có thể giải thích được. Những ngày tháng tối đen hun hút, trượt đi dưới chân như băng vỡ.
Có lần nào trong đời bạn nhận ra mình mất tất cả, đứng trước một tương lai mù mịt không lối thoát? Có khi nào bạn giật mình vì đọc được một cái gì như bài thơ hay truyện ngắn, như tôi không?
Rồi một ngày kia bạn hiểu ra
Khởi đầu của triết học là hoài nghi. Trong đời sống, sự không bằng lòng, bất mãn với tình trạng hiện tại là bước khởi đầu cho cái mới. Sự đau khổ là điều kiện bắt buộc cho bạn trưởng thành, thất bại là những ngày chuẩn bị, lẫn lộn, phân vân, thậm chí cay đắng giận dữ trước những giá trị bị thách thức, là cánh cửa sắp được mở bật ra.
Nhưng bên này cánh cửa, sẽ có bao nhiêu người níu tay bạn lại?
Cũng khá nhiều.
Rồi một ngày kia bạn hiểu ra
Ta phải làm chi đời mình
Và bạn bắt đầu. Mặc cho thiên hạ
Không ngớt đưa lời khuyên bậy bạ
Ngay cả những bài thơ dịu dàng nhất của Oliver cũng thường được khởi động mạnh mẽ. Một khi bắt đầu, người đọc bị cuốn hút vào dòng ngôn ngữ của bà, như suối chảy đi giữa hai bờ, một bên là kỳ vọng của người đọc và một bên là sự bất ngờ của chính anh ta.
Một bài thơ hay có khả năng làm cho người đọc xúc động. Hiếm hơn, chúng làm bạn bất ngờ, giật mình. Mỗi khi đọc lại bài “The Journey” của Mary Oliver với đoạn mở đầu trên đây, lòng tôi đều dâng lên một nỗi niềm phức tạp.
Ta đợi em từ ba mươi năm
Uổng hoa phong nhụy hoài trăng rằm
Đó là mối tình của tôi, dài lâu, tan vỡ trong cơn bão tuyết mùa hè. Đó có thể là một lời trách yêu gửi đến cố nhân. Nhưng cũng có thể là câu hỏi mà Vũ Hoàng Chương dành cho chính mình hay cho cuộc đời, vượt ra ngoài tình yêu. Nhà thơ quay lại nhìn quá khứ, có lẽ cùng lúc nhìn lại cuộc đời của anh em bè bạn, của một thế hệ và mấy mươi năm đất nước nhiễu nhương, ly tán, lao đi trong huyễn mộng điên cuồng. Đó là một câu thơ hoài niệm, một câu thơ thế sự, một câu thơ tập thể được viết với tâm thức cộng đồng, mặc dù là thơ tình.
Trong khi đó, bài thơ của Oliver là một bài thơ cá nhân, một bài thơ thức tỉnh, một bài thơ tâm linh. Nhìn lại: một cuộc đời không được xem xét, đánh giá, là một cuộc đời phí hoài, không đáng sống.
Thơ tự do dùng ngôn ngữ gần với văn xuôi. Tuy nhiên sự khác nhau giữa văn xuôi và thơ là trong thơ không có một trật tự thứ hai. Trật tự của các chữ chính là hiện thân thực thể của một cấu trúc cao hơn. Ví dụ như là nhạc điệu. Nhạc điệu là một vấn đề riêng tư, cá nhân, như vân tay, như tiếng nói, là cái nền của bất kỳ sự đổi mới nào, nơi các nhà thơ từ bỏ các truyền thống. Những hình thức thật sự mới bao giờ cũng phản ánh nhận thức mới. Hơn thế nữa, nhịp điệu trong thơ của một nhà thơ chính là nhịp điệu của đời sống thật của anh ta, của hơi thở, của nhịp đập trái tim. Nó là phương cách duy nhất mà nhà thơ giữ gìn các sự vật, đời sống, các ý tưởng và cảm xúc, cố gắng bảo tồn chúng như hoá thạch trong thời gian.
Hành trình
Rồi một ngày kia bạn hiểu ra
Ta phải làm chi đời mình
Và bạn bắt đầu. Mặc cho thiên hạ
Không ngớt đưa lời khuyên bậy bạ
Mặc cả căn nhà
Bắt đầu rung chuyển
Cảm giác hiện dần cái nhéo ở cổ chân
Nhắc nhở: hãy giúp tôi trước đã đi nào!
Toàn những tiếng kêu gào.
Nhưng bạn không dừng lại.
Bạn biết mình cần phải làm gì
Mặc gió bão giật tung mọi thứ
Mặc cuộc đời hú gọi khắp nơi.
Đã muộn
đủ rồi, đêm tối hoang vu
Con đường nhỏ, đầy cành, đầy sỏi đá.
Từng chút từng chút một,
Bạn bỏ lại sau lưng những tiếng kêu nhí nhố
Rồi những ngôi sao dần dần sáng tỏ
Chiếu qua vầng mây đen
Một tiếng nói mới, vang lên
Mạnh mẽ, bạn từ từ nhận biết
Đó thật là tiếng nói của mình thôi
Nó trở thành người sánh đôi với bạn
Khi ngày càng sâu hơn, bạn dấn bước
vào thế giới này, quả quyết
làm một điều duy nhất
đó là kiên tâm cứu lấy
Một cuộc đời. Chỉ cuộc đời này của bạn mà thôi
The Journey
One day you finally knew
what you had to do, and began,
though the voices around you
kept shouting
their bad advice–
though the whole house
began to tremble
and you felt the old tug
at your ankles.
“Mend my life!”
each voice cried.
But you didn’t stop.
You knew what you had to do,
though the wind pried
with its stiff fingers
at the very foundations,
though their melancholy
was terrible.
It was already late
enough, and a wild night,
and the road full of fallen
branches and stones.
But little by little,
as you left their voices behind,
the stars began to burn
through the sheets of clouds,
and there was a new voice
which you slowly
recognized as your own,
that kept you company
as you strode deeper and deeper
into the world,
determined to do
the only thing you could do–
determined to save
the only life you could save.
Bản dịch ngắt câu, nhưng nguyên tác của bài thơ viết liên tục. Đó là sự cố ý của tác giả, làm cho bài thơ có nhịp mạnh.
Hình ảnh tiết kiệm, chi tiết cụ thể: căn nhà, cổ chân, tiếng kêu gào, những ngôi sao. Sự ngắt câu gẫy gọn:
It was already late
enough
Đủ rồi có thể là muộn đủ rồi, có thể là sai lầm đủ rồi, có thể là con đường mà chúng ta đi đã mòn rồi, mọi chuyện mà chúng ta đã làm như thế đã quá cũ rồi cho một sự khởi đầu khác.
Về mặt hình thức, một bài thơ, cũng như một truyện ngắn, thường có một bước ngoặt về sự kiện hay về nhận thức.
Tôi để ý rằng không có bước ngoặt, không có bài thơ nào có hy vọng thành công.
Những ngôi sao là hình ảnh đứng ở khúc quanh này: hình ảnh đẹp, nhưng dễ trở thành sáo vì được dùng nhiều. Mỗi lần bắt gặp các chữ như mặt trăng, trái tim, mái tóc, đôi mắt, bàn tay, bộ ngực, sex, tôi đều giật mình vì biết trước rằng thế nào tác giả của các hình ảnh đó cũng vấp và ngã. Trái với nhiều người tưởng, nhà thơ không thể vừa đi vừa nhắm mắt mơ màng.
The stars began to burn
Cháy đỏ lên, chứ không phải chỉ là chiếu sáng. Hình ảnh tự nhiên, đúng là cái mà ta bắt gặp khi đang đi trên đường trong đêm tối và các ngôi sao là thứ ánh sáng đầu tiên, báo hiệu, dẫn đường. Tuy nó vẫn còn có ý nghĩa biểu tượng (symbol) nhưng nhờ sự tự nhiên và lối nói trực tiếp mà nó tránh được cái bẫy của các ẩn dụ sáo rỗng. Đọc, ta tin là điều này có thể xảy ra.
Nhưng khoan đã, bạn nghĩ bạn là người như thế nào?
Là người thất bại từ đầu đến cuối, công danh lận đận, hôn nhân trắc trở, học thức thuở thiếu thời trở thành thứ thông minh lặt vặt, chạy chọt loanh quanh?
Hay bạn là người thành công, đi đúng đường, tiếng tăm lừng lẫy, làm ăn một vốn bốn lời, người ngoài nhìn vào ai cũng ao ước?
Nhưng có chắc thế không?
Cuộc sống hàng ngày
nhỏ nhen
tàn bạo
Rác rưởi gia đình
miếng cơm
manh áo
Lê Đạt viết những câu thơ này năm 1956, để nói về thời trước đó, nhưng có lẽ ông không ngờ rằng chúng cũng đúng cho thời đại của ông và sau ông.
Tôi biết rằng bạn đã từng biết đến ý tưởng này đâu đó, đã nghe ai nói hồi còn nhỏ. Đã đọc trong sách. Hay bạn chẳng đọc ở đâu cả và bạn tự mình nghiệm ra nó từng ngày từng ngày một, nhưng bạn chưa đi tới đó, chỉ gần tới mà thôi: sức bạn chỉ có hạn.
Niềm ao ước được sống một cuộc đời đầy ý nghĩa bị dập tắt ngay khi người ta lớn lên, sau một khúc quanh. Những giấc mơ thời trẻ tàn đi trong mưa gió của cảnh đời, một không khí làm việc tẻ nhạt nặng nề đầy rẫy sự vô lý không thể giải thích được làm bạn mụ mị cả người, về trí tuệ lẫn tâm hồn. Bạn mòn đi như chiếc áo sơ mi trong máy giặt đồ hiện đại ngày này qua ngày khác, những sợi chỉ hồng phai màu nhạt sắc, dần dà đến nỗi bạn không bao giờ để ý khi nào nó xảy ra.
Nhưng sự thay đổi cũng có thể không đến từ hoàn cảnh cá nhân mà từ sự đổ vỡ của một niềm tin hay một tư tưởng lớn lao hơn. Như trong câu thơ của Trần Đăng Khoa:
Bao thần tượng ta tôn thờ, cung kính
Mưa nắng bào mòn còn trơ lõi đất thôi
Một buổi chiều nào đó, giữa bộn bề công việc hay bận rộn tiệc tùng, thờ ơ bước ngang qua chồng sách cũ, bạn rút một cuốn sách cầm tay, mở ra và trong khi đứng chờ vợ bạn ngồi trước gương trang điểm xong, bạn cúi xuống đọc thử vài đoạn. Như tôi đã đọc trong quán cà phê một ngày hè tuyết rơi rực rỡ. Một trang sách đã lay động một điều gì lớn lao trong mình.
Mặc cả căn nhà
Bắt đầu rung chuyển
Cảm giác hiện dần cái nhéo ở cổ chân
Though the whole house
Began to tremble
And you felt the old tug
At your ankles
Mary Oliver sinh ra và lớn lên ở Maple Heights, Cleveland, Ohio, một môi trường mà thơ Oliver sau này sẽ ghi lại dấu ấn. Bà sinh ngày 10, tháng 9, 1935. Thuở nhỏ bà chịu ảnh hưởng của nhà thơ Mỹ Edna St Vincent Millay, nhà thơ nữ đầu tiên được giải Pulitzer, và đã từng sống một thời gian ngắn ở nhà của Millay. Bà xuất bản tập thơ đầu vào năm hai mươi tám tuổi, 1963, và sau đó viết rất đều tay, với sức làm việc phi thường. Từ những năm 1980, Oliver dạy ở trường đại học Case Western Reserve University. Thường viết về mùa màng, hoa cỏ, thú vật, cây cối, thơ bà tràn ngập một tình yêu bát ngát đối với con người, thiên nhiên, chứa đựng một nền tảng triết lý sâu sắc, nhân từ. Được trao Giải thưởng Pulitzer năm 1984 và nhiều giải thưởng khác, Oliver là một trong vài nhà thơ kiệt xuất hiếm hoi của Hoa Kỳ hiện còn sống vả còn sáng tác.
Oliver được xem là một nhà thơ của thiên nhiên và trong nhiều bài thơ nổi tiếng của bà, thiên nhiên vừa là đối tượng thực sự vừa là tiếng nói đồng tình, là hình ảnh gợi ý, là môi trường truyền đi thông điệp, nhưng lại có khả năng trở thành nơi cất giữ thông điệp. Bà sử dụng một kỹ thuật vần điệu ít gặp trong các nhà thơ làm thơ tự do.
Thử nghe Oliver nói về cái chết:
When death comes
like the hungry bear in autumn;
when death comes and takes all the bright coins from his purse
Khi cái chết đến bất thần
Như con gấu đói lượn gần mùa thu
Khi cái chết đến bất ngờ
Lộn trong túi áo đồng xu cuối cùng
Những âm comes, autumn, comes liền nhau gây cảm giác gầm gào hoang dã, thì thầm huyền bí. Cái chết không còn là cái chết trừu tượng, nó hóa thân vào con gấu đói đi lang thang tìm mồi trong mùa thu rừng phong vàng rực đá núi khe truông Bắc Mỹ, trong những đồng xu sáng chói cuối cùng mà cái chết dùng để mua đứt linh hồn người sống.
Thơ đi giữa hai đối cực: một bên an toàn và một bên nguy hiểm. Nó luôn luôn vận động tiến về cái chết. Thơ hay nằm ở biên giới của cái chết ngôn ngữ.
Tôi cũng nghĩ rằng, những bài thơ thành công mang trong nó một khoảng cách bắt buộc giữa ngôn ngữ và sự hiểu biết. Khoảng cách đó không bao giờ được lấp đầy, càng tiến từ ngôn ngữ về phía hiểu biết thì sự hiểu biết càng lùi xa, càng tiến từ sự hiểu biết về phía ngôn ngữ thì ngôn ngữ càng phôi pha, trôi dạt, đổi màu.
Vì không có vần điệu nhất định, thơ tự do cần ở người đọc hai điều. Sự đoán trước nhịp điệu của thơ, sự ngắt dòng xuống câu, sự ngừng ở giữa hai chữ trong một câu, thông qua kinh nghiệm đọc thơ của mỗi người. Tôi lấy làm tiếc rằng, do không chú ý, rất nhiều nhà thơ đã hạ câu chữ, dấu chấm, dấu phẩy không theo một quy luật riêng nào. Điều thứ hai là sự bất ngờ. Mối quan hệ giữa điều đã biết và điều không biết giữ sự thăng bằng cần thiết của các tác phẩm nghệ thuật nói chung. Nếu sự tiên đoán thỏa mãn một cách dễ dàng, chúng ta gặp một bài thơ tầm thường, nếu sự tiên đoán hoàn toàn bị lệch đi, người đọc sẽ không đọc nữa. Mặc dù đối với một số độc giả vào một lúc nào đó, một số bài thơ có thể quan trọng hơn về nội dung so với hình thức, và một số bài thơ khác có hình thức quan trọng hơn nội dung, nhưng nhìn chung không thể kết luận như thế đối với một bài thơ cụ thể trong mọi trường hợp.
Thơ của Oliver không có những biểu hiện xúc cảm. Ít khi tìm thấy trong thơ của bà sự đau đớn, sự tiếc thương, lời than khóc hay ca ngợi. Đó không phải là sự khô lạnh mà là sự tiết chế điềm đạm của một trái tim nồng nàn.
Tôi tin rằng để làm mới thơ Việt Nam, cần bắt đầu từ chỗ từ bỏ lối làm thơ và đọc thơ nặng về xúc cảm, hoặc ngược lại, nặng về thực nghiệm hời hợt, tung hứng bề ngoài. Phá phách trong văn chương là tuyệt đối cần thiết: chỉ có sự giả tạo của phá phách mới là sát thủ của nó mà thôi.
Người đọc sẽ bảo nhau:
Bạn cứ thoải mái nhìn thực đơn
Nhưng chẳng thứ gì bạn ăn được
You can look at the menu
But you just can’t eat
(Một ca khúc của Howard Jones)
Khi đọc một bài thơ, đó không phải chỉ là hoạt động thính thị, nó còn là một hoạt động văn hóa và tâm thức: cả ý thức lẫn tiềm thức, cả cái tôi và cái ta đều tham dự vào. Thơ là tấm gương soi mặt của một nền văn học, đúng hơn là, của một nền văn hóa.
Là một tài năng điệu nghệ, Oliver lại tránh dùng thủ pháp tu từ trong thơ. Tôi thấy phong cách của bà có phần nào giống Emily Dickinson. Oliver tỏ ra do dự ở phần kết thúc, Dickinson tỏ ra do dự ngay ở lúc mở đầu. Trong bài thơ này, tránh sử dụng các vần hiển lộ, thay thế vần bằng các phương pháp như: các vần lưng, vần phụ âm, các ý liền nhau, các câu liền nhau, nối vào thành một câu văn phạm, sử dụng rất nhiều chữ you kèm với các chữ though, through, làm cho bài thơ là một cấu trúc xoay quanh một vòng xoắn chính.
Bằng cách nào một bài thơ như bài thơ trên đây lại có quyền năng thay đổi?
Không ai biết chính xác. Có thể có nhiều cách. Người duy nhất có thể cho phép bài thơ phát động quyền năng của nó chính là người đọc, là bạn. Bạn là người giữ cánh cửa của tâm hồn mình. Bài thơ nói cho bạn biết rằng ngoài cuộc đời mà chúng ta đang sống đây còn có một cuộc đời khác nữa, ngoài những thành tựu mà bạn thấy, mà bạn đã đạt được, còn có những thành công khác mà bạn không bao giờ biết tới.
Mặt khác, bạn chưa bao giờ dám nghĩ rằng bạn là một người thất bại, rằng cảnh đời mà bạn đang chung sống là một cảnh đời xấu xa. Muốn như thế, bạn cần phải can đảm để nhận ra và vượt qua chúng. Bài thơ làm bạn thay đổi nhận thức đối với thế giới, và vì đó là một quá trình nhận thức có tính hình ảnh (figurative), nó cũng có khả năng làm thay đổi chính cảm xúc của chúng ta.
Kết thúc ân cần, nhưng quyết liệt:
làm một điều duy nhất
đó là kiên tâm cứu lấy
Một cuộc đời. Chỉ cuộc đời này của bạn mà thôi
Đọc những bài thơ như thế này người ta không thể tiếp tục sống như ngày hôm qua được nữa.
Muốn tìm lại chính mình. Muốn tiến về phía nguy hiểm. Muốn thoát ra khỏi sự mù mờ tăm tối, sống một cuộc đời trong sạch, đẹp đẽ, hạnh phúc hơn, nếu quả thật có một cuộc đời như thế.
Nguồn:
- Rainer Maria Rilke, The Wisdom of Rilke, English by Ulrich Baer, Modern Library, New York, USA
- Mary Oliver, Dream Work, Grove/Atlantic, USA
- Mary Oliver, New and Selected Poems, Volume Two, Beacon Press, USA
- Thơ Việt Nam thế kỷ XX, Thơ trữ tình, NXB Giáo Dục, Việt Nam
© 2009 Nguyễn Đức Tùng


ĐỌC THÊM:
MARY OLIVER: ONLINE POEMS
READ MORE - NGUYỄN ĐỨC TÙNG - MARY OLIVER: ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI

Wednesday, November 10, 2010

THÁI ĐÀO - MẶT ĐẤT NÀY RỚT LẠI MẤY MÙA TRĂNG



Mặt đất này rớt lại mấy mùa trăng
Mà dấu ấn ăn năn đời em in hằn sóng dữ.
Dòng sông kia sớm bỏ nguồn biền biệt
Ta bỏ nhau không tiếng tạ từ

Vết hằn tháng năm
hằn đau như tiếng khóc
Nỗi buồn xưa mẹ đã trao em
khi nhận phận người
nhận ngọn nguồn tội lỗi
Mặt đất này rớt lại mấy mùa trăng

Xiêu lạc phận đời
Mưa ướt tràn mái tóc
ướt tràn vai nhau đau xót những nụ hôn
Con sông chết như định phần số kiếp
mãi mãi muôn đời không chảy tới biển xanh
Mặt đất này có điều chi trắc trở
Mà bầu trời không xanh
Rừng xưa trụi gốc
Biển màu đen tối
Dòng sông kia ô nhiểm rác thải đen...
Và người xa người ta lạc nẻo tìm nhau

Có câu hát bâng quơ trong đêm về gỏ nhịp
vọng hết trăm năm
vọng giữa phố khoắt khuya
nghe vời vợi mùa thương xưa cũ.
Em căng mầm chồi xanh
nụ biếc thuở trăng rằm
Ta gào với đêm
khóc với trời cao vời vợi
Mặt đất này rớt lại mấy mùa trăng.

Chảy suốt đời nhau sông kia không ra tới biển
Yêu suốt đời nhau làm luỵ những mùa trăng
Tóc em dài ra
sợi màu bạc trắng
Ta như kẻ điên khùng đi hết trần gian
tìm ẩn số của những điều bội bạc
Gian nan đôi tay gầy
Vuốt ve những lỗi lầm làm chảy máu con tim
Mặt đất này rớt lại mấy mùa trăng.
READ MORE - THÁI ĐÀO - MẶT ĐẤT NÀY RỚT LẠI MẤY MÙA TRĂNG

Tuesday, November 9, 2010

LÊ QUANG THÁI - PHẢI CHĂNG QUỐC TỰ LINH MỤ CÒN CÓ TÊN GỌI "THIÊN MẪU"


Xưa nay, chùa Thiên Mụ có hai tên gọi chính thống theo sử sách: Thiên Mụ hoặc Linh Mụ. Năm Tự Đức thứ 15, 1862 vì kiêng kỵ chữ “Thiên” cho nên danh xưng Thiên Mụ (天姥) được cải đổi thành Linh Mụ ( 靈姥).
Biển đề tên chùa bằng gỗ quý có chạm trổ nghệ thuật, chiều dài khoảng 1,6m bề rộng 0,6m, được sơn son thếp vàng; nay tuy có bị hư hỏng phần khung và nhạt phai sắc màu vì thời gian trải qua 145 năm, được treo một cách trang nghiêm trên cửa chính của nghi môn.
Vào thời mở cửa, du khách nước ngoài viếng chùa, ai ai cũng thấy, rất nhiều người Âu Mỹ đọc được ba chữ Hán viết theo lối chân phương (靈姥寺) (Linh Mụ Tự). Thế mà, không hiểu vì sao, năm 1915, Công sứ A. Bonhomme lại khẳng định tên chùa là Thiên Mẫu. Tác giả ấy đã viết về Lịch sử, Miêu tả, Văn bia thành ba bài nghiên cứu dày công sức theo cách nhìn của học giả già dặn kinh nghiệm, khiến cho người đương thời có nhu cầu nghiên cứu chùa Huế, chùa Việt phải băn khoăn. Một dấu hỏi bay vút tận trời!
Bằng chứng còn lưu lại giấy trắng mực đen qua ba bài viết bằng tiếng Pháp có ghi chú trong bài với nhiều nét chữ Hán, được đăng tải trên tạp chí của Hội Đô Thành Hiếu Cổ (Butlletin des Amis du Vieux Hue, viết tắt là B.A.V.H) vào năm 1915 như y hệt:
1. LA PAGODE THIEN-MAU: HISTORIQUE.
2. LA PAGODE THIEN-MAU: DESCORIPTION.
3. LA PAGODE THIEN-MAU: LES STÈLES.
Cẩn thận hơn, tác giả A. Bonhomme lại chú thích tựa đề bằng dấu treo cao ở cuối mỗi bài viết rất công phu rằng bài viết đã thông qua Hội, tiêu biểu là trong biên bản phiên họp của Hội này, ngày 29 tháng 06 năm 1915 hoặc tháng 11 cùng năm ấy. Cụ thể hơn, điều này trùng hợp với biên bản của Hội Đô Thành Hiếu Cổ (được viết tắt bằng chữ Pháp là A.B.V.H) cùng ngày tháng đã dẫn. Xem bản dịch B.A.V.H năm 1916, trang 502, Nxb Thuận Hóa, năm 1997 thì được rõ thêm:
“Ông Bonhomme tiếp tục miêu tả chùa Thiên Mụ còn gọi là chùa Khổng Tử”





Thưa độc giả, chắc rằng người Việt Nam đọc và nghe như vậy, thì họ sẽ ngạc nhiên vì thấy là lạ: có chuyện lắc léo kiểu "con trâu néo sừng" ở đây chăng!
Không biết, học giả A. Bonhomme có nhầm lẫn do những người Âu đi trước đã quen gọi một cách “trắc nết” rằng “Tháp Phước Duyên là tháp Khổng Tử”. Người Việt dễ dàng cảm thông cho người ngoại đạo chỉ vì họ là ngoại kiều, họ là người Gaulois...
Một chi tiết tiêu biểu trong nhiều tình tiết cần làm sáng tỏ là trong bài viết thứ nhất về chùa Linh Mụ (tên gọi đương thời năm 1915) tác giả A. Bonhomme đã viết:
“… C’est un temple bouddhisme dont le nom véritable est “Temple Thiên-Mẫu” (Thiên Mẫu Tự (天姆寺), appelé aussi vulgairement Thiện Mộ on Thiên Mụ”.
Không rõ vì lí do nào, bản Việt dịch của ông Đặng Như Tùng lại bỏ nhóm từ “Thiên-Mẫu Tự” (天姆寺) khi chuyển ngữ từ tiếng Pháp ra quốc ngữ.
“… Đây là chùa của đạo Phật mà tên đúng của nó là “Thiên Mẫu Tự” hay gọi nôm na là Thiên Mộ, hay Thiên Mụ” .
Như vậy, cả người viết và người dịch đều khẳng định tên chùa Thiên Mụ vào năm 1915, là chùa “Thiên Mẫu”.
Phải chăng ba chữ Hán (天姥寺) Thiên Mụ Tự phải đọc cho đúng là Thiên Mẫu Tự? Và, các tên gọi “Thiên Mộ” hay “Thiên Mụ” là tên “gọi nôm na”. Ông Tây A. Bonhomme có nhầm lẫn không? Nếu nhầm thì kéo luôn người dịch sai lầm theo.



Chữ Mụ (姥) là chữ Hán, không phải chữ Nôm. Viết từ “Mụ” bằng chữ Nôm thì mượn y hệt từ “Mụ” của chữ Hán. Thiên Mụ là “Bà Mụ nhà Trời”. Rất nhiều người trẻ đã cho rằng, “trong hai chữ cấu tạo tên gọi của chùa Thiên Mụ” thì chữ “Thiên” là từ Hán Việt; chữ Mụ (姥) là từ Nôm thuần túy. Theo luật “Khử Tam Thế”, thì có nhiều từ Hán Việt tùy theo văn cảnh mà đọc sai chệch theo mức độ cho phép. Từ Mụ (姥) có cấu tạo từ một bên chữ “Nữ” (女), một bên chữ “Lão” (老), hợp hai từ này thành từ mới, viết (姥), đọc “Mụ”, hoặc “Mộ”. Xưa nay, các nhà Nho, không ai đọc chữ “Mụ” (姥)) là “Mẫu” bao giờ cả. Vì sao thế? Chữ “Mẫu” (姆)) là từ hội ý, một bên chữ (女), một bên chữ (母), có nghĩa là Mẹ. “Phụ Mẫu” (父母) có nghĩa là “Cha Mẹ”. Chữ Mẫu có nghĩa là “Người đàn bà lớn tuổi”.
Từ năm 1962-1975, tôi có may mắn tìm đến văn phòng Tổng Hội Cổ Học Việt Nam, đặt trụ sở tại Di Luân Đường (trong khuông viên trường Trung học Hàm Nghi cũ) hỏi thăm quý cụ túc Nho khoa bảng về hai từ “Mụ” (姥) và “Mẫu” (母) có nghĩa lý như thế nào? Quý cụ Phan Ngọc Hoàn, cử nhân Hán học, Tả lý Bộ hình và cụ Phạm Lương Hàn, Tú tài Hán học, Tri phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, quý cụ đều là Hội trưởng Tổng Hội Cổ học tiền nhiệm và kế nhiệm đều khẳng định chữ “Mụ” (姥) được đọc là “Mụ”, không thể nào đọc là “Mẫu” được. Các cụ lại dặn thêm rằng; “Chữ Hán tinh tế lắm, chữ nào nghĩa nấy, không thể nào đoán nghĩa, đoán chữ rồi trả lời “bâng quơ” được đâu; không nên đùa với “chữ nghĩa của Thánh Hiền”.
Nay, tôi may mắn được người bạn tốt tặng cho sách quý Từ Điển Ngũ Thể (五體字典) của hai tác giả Lạc Hằng Quang và Dư Cự Lục, do Nxb Thuận Hóa ấn hành quý 2, năm 2006. Tra đi, tra lại nghĩa lý của hai từ (姥) và (姆) “Mụ” và “Mẫu” thì thấy:







“Mụ” = (姥) (tr. 148). “Mẫu” = (姆) (tr. 121)
Chùa Thiên Mụ đã được sách Ô Châu Cận Lục của Trung tâm Khoa học Xã Hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, năm 1997 [có phần chữ Hán nguyên bản Ô Châu Cận Lục (烏州近綠)] đã dịch nguyên tác từ sách ấy, quyển 5, mục Đền Chùa-Danh Lam, tr. 78-79 như sau:
“Chùa Thiên Mụ: Chùa ở phía Nam xã Hà Khê thuộc huyện Kim Trà, nóc sát đỉnh núi, chân gối dòng sông; cách xa trần thế, gần sát bên trời. Khách có tản bộ lên chơi thì tự nhiên phát thiện tâm và tiêu tan niềm tục. Thật là cảnh trí nơi Tiên Phật”.
Sách này viết (天姥寺) (tr. 280), phần Hán văn (tr. 61b, 62a). Chú thích (1) của sách, tr. 79 ghi rõ về địa danh Hà Khê.
Nguyên văn chép xã Giang Đạm (江淡), được sửa lại là Hà Khê. Người sửa lại chỉ khiêm tốn viết chữ nhỏ treo bên dòng chữ lớn ở trang 62a, sách trang 281, chứng tỏ người xưa “dè dặt” trong việc nghiên cứu.
Từ chuyện tìm hiểu về tên gọi lệch đi của ngôi Quốc Tự lớn nhất ở Cố đô Huế, chúng ta thấy rằng “việc nghiên cứu địa danh, danh xưng liên quan đến văn hóa, một khi gặp phải điều gì “ngờ ngờ” thì nên tra cứu, tham vấn nhiều người mới sáng lẽ, sáng lòng. Đó là một thú vị trong việc tìm tòi, học hỏi. Vội vã tin sách, tin người thì dễ dàng “nhào lộn”, rồi “lộn ngược”, “lộn xuôi” mấy vòng không còn biết trời đất chi nữa.



Tăng Ni sinh ngày nay, ít người học chữ Pháp, khi có nhu cầu tra cứu, phải chạy vạy. Nếu vội vàng tin mà không đối chiếu, suy gẫm thì dễ dàng phạm phải sai lầm đáng tiếc. Chúng tôi quý trọng các học giả như ông A.Bonhomme, viết bài này không phải “sửa lưng ông”. Ông là nhà nghiên cứu có tầm cỡ đã để lại cho người đi sau nhiều tư liệu lịch sử, liên quan đến chùa Huế...

Thứ sáu, 11 Tháng 12, 2009
LQT
Nguồn: khuongviettu.com
READ MORE - LÊ QUANG THÁI - PHẢI CHĂNG QUỐC TỰ LINH MỤ CÒN CÓ TÊN GỌI "THIÊN MẪU"