Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, July 12, 2010

NGUYỄN NGỌC HƯNG -Một lần ru ngoại


MỘT LẦN RU NGOẠI

Thơ : Nguyễn Ngọc Hưng
Lời bình: Võ Thị Như Mai

Hôm nay là ngày đầu tiên tôi được nghỉ giữa kỳ. Kỳ nghỉ hai tuần này tôi sẽ chỉ quanh quẩn trong nhà, ngoài sân, ra sau vườn cho cá ăn, tưới nước, dọn dẹp nhà cửa, tìm vài công thức nấu ăn và thực hiện vài món ngon cho gia đình, dẫn con đi chơi và đọc sách, hẹn chồng đi ăn trưa và nhất định cả nhà sẽ cùng đi xem bộ phim Toy Story 3 vào một buổi chiều mưa gió nào đó (trời mưa và lạnh mà ngồi trong rạp chiếu phim màn ảnh rộng cũng là một cái thú).

Sáng nay lướt net, bất chợt đọc được một bài thơ lục bát rất nhẹ nhàng và đầy những hình ảnh thân thương của tâm hồn con người và quê hương Việt Nam , “Một lần ru ngoại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng, lòng tôi không khỏi bồi hồi. Tình cờ đây cũng là bài thơ đạt giải tư trong cuộc thi sáng tác thơ lục bát “Ngàn Năm Thương Nhớ” vừa được trao giải cách đây mấy ngày.

“Một lần ru ngoại” là một bài thơ khá dài với 28 câu liền mạch từ đầu đến cuối không phân khổ, có nhịp điệu 2/2 êm đềm và trữ tình. Toàn bài có một dấu lặng (…), không có dấu chấm, dấu phẩy nhưng mỗi dòng là một câu với ý tứ sâu sắc và hoàn chỉnh tạo nên nhịp tâm tưởng liền mạch rất đặc trưng. Ngày xưa tôi thường ít thích đọc thơ lục bát cũng như ít thích nghe những bài tango vì có lẽ do nhịp điệu đều đặn chăng? Hay do thời điểm tôi lớn lên, các thi nhân hiện đại đã bắt đầu viết nhiều thể thơ tự do, phóng khoáng, tân kỳ về cả nội dung, hình thức và kỹ thuật? Tôi cũng không biết nữa. Sau này khi bắt đầu sống xa nhà, tôi yêu lục bát hơn và kể từ khi xa quê, mỗi khi đọc những câu thơ lục bát giản dị, nền nã, tôi lại càng thấm thía nỗi lòng của một người xa xứ được thì thầm ngâm nga câu thơ của những tác giả sống trong lòng quê hương, chuyên chở tâm tình và tư tưởng của mình qua các bài thơ lục bát.

Bài thơ của tác giả tạo cho tôi một ấn tượng khá mạnh do từng từ, từng ý thơ dường như nói hộ lòng tôi vậy. Kỷ niệm đua nhau kéo về. Hàng cau ngoại trồng thân dài thẳng tắp trong một khu vườn đầy hoa trái, niềm vui lao động cần mẫn quanh năm bươn chải cũng đồng hành với thời gian làm hao gầy đi sức lực con người, đồng hành với các nếp nhăn, với “lưng còng”, và với nụ cười móm mém đầy trìu mến. Nhớ lắm ngoại tôi hiền từ nhưng thẳng tính và minh mẫn, nhớ lắm ngoại tôi cơ cực dặm trường suốt một đời, vất vả một mình nuôi các con. Tôi không có cái may mắn được gần ngoại như những người em họ của mình, nhưng mỗi lần gặp ngoại tôi đều cảm thấy ngoại rất gần gũi, dễ chịu và thân thương để rồi sau những cuộc gặp ngắn ngủi, trở về nhà lòng quay quắt nhớ.

“Lâu lâu nhớ ngoại con về
Ba bên gió thổi bốn bề nắng vương
Mắt nhìn me dốp ổi ương
Nhìn cau mọc thẳng mà thương lưng còng”

Hình ảnh ngoại của tôi cũng y như “ngoại” trong bài thơ của Nguyễn Ngọc Hưng. Theo như lời kể của mẹ, thì ngoại tôi đã lận đận từ thuở nảo thuở nao, cũng “lắng trong gạn ngoài”, “chạy từng hạt muối củ khoai”, cũng tất tả hết ra Trung rồi lại vào Nam tìm kế sinh nhai, hết lo cho từng người con rồi đến xoay vần bên đàn cháu. Ông ngoại bị bệnh mất sớm, ngoại tần tảo nuôi mẹ và dì, rồi ông ngoại hai xuất hiện trong đời ngoại chẳng được bao lâu, ngoại chưa kịp vui với niềm vui của một người vợ, có thêm ba cậu con trai năm một nối tiếp nhau ra đời, thì ông ngoại hai qua đời. Rồi mẹ và dì được một người bà con nhận nuôi, ngoại trở vào nam lập nghiệp cùng ba cậu con trai những năm dài sau đó.

“Từ ông như nước xuôi dòng
Một mình ngoại phải lắng trong gạn ngoài
Chạy từng hạt muối củ khoai
Xuống đông ngăn bão lên đoài cản giông
Hết lo con gái ế chồng
Lại đàn cháu dại lông bông suốt ngày
Mỏi mòn như chiếc cối xay
Ngoại quay theo những vòng quay cuộc đời”

Các cậu lần lượt lớn lên, lấy vợ, sinh con. cậu Cả giỏi nhất nhà, một tay gây dựng sản nghiệp, cuộc sống bắt đầu dễ chịu hơn cho đến một chiều mẹ nhận điện thoại của ngoại, tiếng được tiếng mất, rằng cậu lớn đã qua đời do bị lật xe bò. Cậu Út thì hơi lãng đãng, lâu lâu ngoại và vợ con của cậu phải đăng báo hoặc lặn lội đến một xứ xa ngái nào đó để tìm cậu về, để rồi trong một lần kiếm tìm như thế, nước mắt những người đàn bà lại xối xả tuôn khi họ tìm thấy xác cậu Út bên đường do tai nạn giao thông. Ngoại lặng lẽ hơn bên hai nàng dâu hiền và bầy cháu, vẫn trồng trọt, chăn nuôi, vẫn hiền từ, vất vả và lưng không còn thẳng, những bước đi vì thế mà kém phần nhanh nhẹn. Cậu Ba ở cạnh mẹ tôi, thỉnh thoảng gia đình tôi và gia đình cậu Ba rủ nhau về thăm ngoại, các mợ và các em.

“Rộng dài tấm áo thương yêu
Dù khi tơi tả giữ điều thơm tho
Quẩn quanh đồng vạc bãi cò
Mà “xương thịt” ngoại gởi cho trăm miền
Vì yêu tổ quốc mẹ hiền
Tuổi xanh các cậu hồn nhiên góp bồi”

Nhớ lần đầu tiên gặp ngoại, tôi sà vào lòng bà với cảm giác như đang ở bên một người mẹ thứ hai. Mẹ tôi giống bà lắm, từ nụ cười hiền lành đến đôi mắt ấm áp, từ giọng nói miền Trung ngọt ngào đến vóc dáng thâm thấp, tròn tròn. Những năm dạy ở Châu Đức, thỉnh thoảng tôi rủ vài đồng nghiệp chạy xe qua thăm ngoại, lần nào trước khi về lại trường, ngoại cũng cột vào xe tôi không bịch tôm khô thì cũng quả mướp, không bịch mận thì cũng quả mít.

“Còn không sợi tóc câu chuồn
Quả na cấp củm ngoại luồn tay con
Chùm mận chín trái xoài non
Để dành ai nữa héo hon sớm chiều”

Ngoại tôi có cả thảy bảy chị em, lúc tôi còn học cấp hai, chỉ anh và chị đầu ngoại đã qua đời ở tuổi trên tám mươi, năm người còn lại thỉnh thoảng được con cháu tạo điều kiện để rồi tứ phương quay về một nơi. Chị em ai cũng gần tám mươi nắm tay nhau, ôm nhau mừng mừng tủi tủi, cười vang cả nhà mà nước mắt của niềm vui cứ chảy giọt giọt trên má.

Ngoại rất tự hào về người em Út của mình. Mà cũng phải, ông là một Phật Tử chuẩn mực, điềm đạm, huynh trưởng cấp Dũng kiêm nhiệm trưởng ban hướng dẫn trung ương GĐPT VN từ nhiều năm trước đến nay. Còn người em kế của ngoại, mụ Thảo, cũng được ngoại nhắc đến luôn, ngoại luôn xuýt xoa về mối tình thiên niên kỷ giữa mụ Thảo và người đàn ông của mình. Từ thuở mới kết hôn cho đến giờ phút này, sáng sáng họ luôn nắm tay đi dạo bờ sông, lúc nào cũng đầu gối tay ấp, luôn nhìn nhau bằng ánh mắt trìu mến, xưng “anh anh em em” ngọt xớt, và luôn bên nhau như hình với bóng. Còn mụ Dung quả thật tôi không còn nhớ, hình như cũng đã mất cách đây vài năm.

Ngày tôi mới kết hôn, trên đường từ Sài Gòn về Đà Lạt, ông Châu và vợ chồng tôi quyết định ghé sang thăm ngoại. Ngoại vui vì gặp em trai Út, vui vì gặp tôi và cháu rể tóc nâu đang ngồi yên ắng một góc khuất và quan sát. Ngoại ghé vào tai tôi thì thầm: “Răng hắn ít ỏi rứa con hè, tau tưởng hắn ít ra cũng xì lô xì la dăm câu ba sợi để tau nghe tiếng Tây hắn ra răng”. Tôi cười ôm ngoại vào lòng, cảm nhận trong vòng tay tôi, ngoại gầy đi nhiều, nhịp tim ngoại hoà vào nhịp tim tôi, đập rộn ràng. Tự dưng tôi thấy buồn, giá mà có thể được một mình ở bên ngoại lâu hơn. Những ngày cuối cùng ngoại lên ở với cậu Ba ở Đà Lạt, gần nhà tôi, như thể muốn bù đắp nỗi đau chia xa từ bấy lâu nay. Để rồi sau này tôi nhận ra, lần cuối cùng tôi được gặp ngoại đó là chuyến ghé thăm ngắn ngủi kia, cái lần ngoại dúi vào tay ông xã tôi bịch chả ram dòn tan vừa mới chiên xong còn nóng hổi.

“Con về nhặt lá trầu rơi
Vàng lên nỗi nhớ bao lời hát ru
Rưng rưng từ phía xa mù
Như thầm vọng lại tiếng tu hú buồn”

Quay trở lại với toàn bài thơ của Nguyễn Ngọc Hưng, không biết những độc giả khác thì sao chứ với tôi, có cảm giác như tác giả lấy tâm tư của tôi mà dệt nên vần điệu của bài thơ vậy. Phải chăng ngoại trong thơ anh là đại diện cho hình ảnh chung của những người phụ nữ Việt Nam thân thương đậm tính cách, tâm linh, phẩm chất trong sáng và cao đẹp vô cùng. Ta tìm thấy trong bài thơ của anh vẻ đẹp giản dị, mộc mạc và lam lũ của con người gắn bó tình nghĩa với làng quê, làm nên giá trị đặc sắc và giàu truyền thống văn hoá qua những vần thơ lục bát nhẹ nhàng mà mênh mông, thuần túy mà bình dị. Bài thơ là sự kết hợp khá tài hoa giữa nét duyên dáng của vần lục bát truyền thống với vẻ trữ tình của ý và lời thơ, là sự giao hoà giữa nghệ thuật văn hoá làng thôn với tiết tấu âm nhạc toát ra từ cảnh vật, đời sống dân dã của một tâm hồn có cảm xúc trong sáng và giác quan tinh tế.

Xin được cảm ơn tác giả về một bài thơ hay và xúc động. Xin cho con được mượn lời thơ dịu dàng này như một dấu lặng để được ru ngoại vào giấc ngủ ngàn thu, và, bỗng dưng con nhớ ngoại lắm. Rồi con sẽ dạy cho con trai mình tình yêu thương nguồn cội, con sẽ trở về thăm mẹ con nhiều hơn ngoại ạ, để con trai con còn được nhiều lần sà vào lòng bà ngoại của nó, để được hít hà hơi ấm đầy yêu thương của bà ngoại và thốt lên rằng “cháu thương bà lắm cơ”.

“Ạ ời… ngoại ngủ đi thôi
Vườn cau nở trắng hoa rồi gió ru!”

VTNM 6/7/2010



MỘT LẦN RU NGOẠI
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hưng

Lâu lâu nhớ ngoại con về
Ba bên gió thổi bốn bề nắng vương
Mắt nhìn me dốp ổi ương
Nhìn cau mọc thẳng mà thương lưng còng
Từ ông như nước xuôi dòng
Một mình ngoại phải lắng trong gạn ngoài
Chạy từng hạt muối củ khoai
Xuống đông ngăn bão lên đoài cản giông
Hết lo con gái ế chồng
Lại đàn cháu dại lông bông suốt ngày
Mỏi mòn như chiếc cối xay
Ngoại quay theo những vòng quay cuộc đời
Con về nhặt lá trầu rơi
Vàng lên nỗi nhớ bao lời hát ru
Rưng rưng từ phía xa mù
Như thầm vọng lại tiếng tu hú buồn
Còn không sợi tóc câu chuồn
Quả na cấp củm ngoại luồn tay con
Chùm mận chín trái xoài non
Để dành ai nữa héo hon sớm chiều
Rộng dài tấm áo thương yêu
Dù khi tơi tả giữ điều thơm tho
Quẩn quanh đồng vạc bãi cò
Mà “xương thịt” ngoại gởi cho trăm miền
Vì yêu tổ quốc mẹ hiền
Tuổi xanh các cậu hồn nhiên góp bồi
Ạ ời… ngoại ngủ đi thôi
Vườn cau nở trắng hoa rồi gió ru!
.
READ MORE - NGUYỄN NGỌC HƯNG -Một lần ru ngoại

Thursday, July 8, 2010

Người Quảng Trị ăn...ớt - PHẠM XUÂN HÙNG




Cũng liều cắn ớt nhai gừng
Chua cay mặn chát ta đừng quên nhau
(Ca dao)



Folklore hiện đại kể rằng ở một đô thị lớn nhất nhì trong nước xảy ra vụ tai nạn giao thông khủng khiếp. Người bị tai nạn không có giấy tờ tùy thân nên không xác định được danh tính. Do vậy trước khi khâm liệm, chôn cất người ta mời pháp y giám định để hòng tìm ra manh mối. Bác sĩ pháp y sau khi mổ và xem xét nội tạng đã khẳng định như đinh đóng cột rằng người bị nạn quê ở Quảng Trị bởi biên bản ghi rõ: Ruột của nạn nhân chỉ toàn là ớt.

Chuyện khác nữa kể rằng: Một chị quê ở Quảng Trị đưa con nhỏ ra theo học một ngành gì đó ở thủ đô. Trường mẫu giáo đạt chuẩn quốc gia nhưng các cô giáo chẳng làm sao dỗ được đứa bé ăn uống mặc dù cháu đang ở độ tuổi ăn dặm, bú dặm. Đến khi hỏi phụ huynh thì chị quê Quảng Trị điềm nhiên bảo: Nhờ các cô khi pha sữa hoặc khuấy bột cho nhiều nhiều ớt vào cháu mới ăn…

Đó là hai trong số rất nhiều những câu chuyện dân gian hài hước mà nội dung đều nói rằng người Quảng Trị ăn cay, cay đến mức… khủng khiếp. Tại sao lại ăn cay, ăn cay có nghĩa là ăn nhiều ớt, vậy thì liệu có hình thành một tính cách ớt của người Quảng Trị không? Tôi nghĩ đây cũng là một vấn đề thú vị.

Thứ nhất là đức tính chịu khó. Theo tôi, tập ăn cay buổi đầu phải chịu khó, trẻ em muốn ăn cùng thức ăn người lớn chẳng dễ dàng, cũng phải năm lần bảy lượt toát mồ hôi, long óc mới nuốt được miếng ớt. Lâu dần tính chịu khó ngấm vô người trở thành phản ứng tự nhiên lúc nào không hay. Dĩ nhiên đã chịu khó thì sẽ tìm cách vượt khó, vượt khổ. Người Quảng Trị theo tôi có tính cách này.

Thứ hai là sống đơn giản, đạm bạc. Khi xưa nhà tôi nghèo, cả làng cũng vậy, nghèo lắm. Bữa ăn chẳng có gì ngoài mớ cá nhỏ bắt ở khe, trái khế trong vườn, đọt môn sau giếng. Nhưng bữa ăn nào cũng thấy ngon nhờ có ớt. Ớt như thứ dopinh kích thích người ta ăn xong bữa. Lâu dần thành nếp sống đơn giản, đạm bạc.

Thứ ba là giỏi nín nhịn và hay nổi nóng. Nghe có vẻ đối lập nhưng biện chứng. Ăn cay phải chịu khó, trên chịu khó là nín nhịn nhưng nhiều khi cay quá phải hít hà, phải nổi nóng. Từ nhỏ đã vậy lớn lên khắc thành tính cách.

Nhân loại từ khi có lửa, đã biết tìm cách chế biến, nấu nướng thức ăn. Ăn không chỉ để no mà còn để đưa dưỡng chất cần thiết vào cơ thể nên cùng với nguyên vật liệu chính người ta phải nêm nếm vào đó nhiều thứ. Hẳn nhiên, đầu tiên là muối. Cơ thể mà thiếu muối thì bải hoải, da dẻ bủng beo rồi phù thủng mà chết. Sau đó, người ta nhận ra rằng ăn không chỉ để no mà còn phải ăn ngon. Thế là sau muối người ta phải thêm vào thức ăn nhiều thứ tạo vị thơm, ngọt, chua, cay như đường, dấm, ớt, hồ tiêu…

Nghĩa là khi con người biết ăn ngon thì gia vị bắt đầu lên ngôi. Nhưng ớt có từ bao giờ và nguồn gốc từ đâu? Theo tài liệu mới nhất của một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế, trong đó có nhà khảo cổ học Scott Raymond của Canada sau khi phân tích hóa thạch tinh bột trên những mảnh đá dùng để đâm hạt ớt cổ nhất từ trước đến nay đã đi đến kết luận rằng các hạt ớt cổ nhất có niên đại đến…6.000 năm.

Và căn cứ vào địa điểm thu mẫu vật hóa thạch cùng những nghiên cứu liên quan, các nhà khoa học cho rằng, khác với điều người ta nhầm tưởng xưa nay là tổ tiển của các nền văn minh lớn ở vùng cao như người Inca, người Aztec là những người đầu tiên trồng ớt, bằng chứng cho thấy ngược lại, cây ớt trồng có nguồn gốc từ miền nhiệt đới và vùng thấp thuộc châu Mỹ La tinh.

Tôi cũng thành thật nói rằng không phải vì tôi là người Quảng Trị mà cho rằng tính cách ớt thuộc về người Quảng Trị. Mà thôi, chuyện cũng dông dài, xin được trải lòng với bạn đọc sau. Nhưng trước hết, xin được thưa rằng, cả nước ăn ớt, cả miền Trung ăn ớt chứ không riêng người Quảng Trị. Nhưng rõ ràng, người miền Trung ăn cay nhiều nhất và nổi tiếng ăn cay hơn cả. Người miền Trung cũng là cách nói chung chung chứ tình thực, theo tôi, hay ăn ớt nhất cũng chỉ có người Quảng Trị, người Huế và người Quảng Nam, nhưng cách ăn thì mỗi nơi mỗi khác.

Người xứ Quảng hay dùng loại ớt xanh, thơm nhưng ít cay. Người Quảng cũng không ăn ớt tràn lan, chỉ một vài món đặc sản như mỳ Quảng kèm theo trái ớt xanh, ớt xanh vài miếng thả vào nước chấm dùng cho món bánh tráng cuốn thịt heo... Người Huế thì ăn ớt không chỉ là gia vị mà còn là chất liệu để trang trí mang tính mỹ cảm. Vì là chất liệu trang trí nên cái sự ăn nặng về thị giác.

Tô bún bò Huế bên cạnh màu trắng nà nõn của sợi bún, lớp màu mỡ màng của nước dùng, những cọng hành, rau thơm xanh non còn phải có những lát ớt màu đỏ điểm xuyết. Hay như bánh bột lọc sau khi luộc xong người ta phi hành xóc đều cho lá hành thấm dầu bám vào từng chiếc bánh. Khi bày bánh ra dĩa, màu bánh trắng trong nhìn rõ nhân tôm màu đỏ, lá hành dính xung quanh thì nhất thiết phải có ớt xanh xắt lát rải lên làm mặt.

Nhìn cứ như tranh. Đại loại kiểu ăn của người Huế với nền văn hóa ẩm thực bậc cao là thế. Còn người Quảng Trị ăn ớt thì khác với người xứ Quảng và đất thần kinh. Người Quảng Trị cũng dùng ớt làm chất liệu bày biện món ăn nhưng không nặng về trình bày, ăn ớt thì nhất quyết phải lấy sự cay làm trọng!

Vâng, đã quan trọng cái sự cay thì ớt phải…cay. Muốn có ớt cay thì phải tìm giống ớt cay để trồng. Người nhà quê không như thành thị, đất đai trồng hái thì khỏi phải lo, về quan hệ thì xóm trên có một người đỏ mắt cả xóm dưới đều hay. Nên chi nhà nào có giống ớt ngon, thơm, cay bao giờ cũng chọn vài trái để già héo trên cây, đặng làm giống, đặng đem cho hàng xóm. Cây ớt và giống ớt cay vì thế mà được nhân bản khắp nơi, từ làng này sang làng khác.

Về khoa học, tôi nhớ đọc đâu đó tài liệu cho rằng người ta đã lập bảng chia độ cay của từng loại ớt, độ cay cũng tính như độ cồn trong bia rượu, độ đạm trong nước mắm. Nghĩa là độ càng cao thì ớt càng cay. Tôi cũng không rõ các giống ớt cay của Quảng Trị thì bao nhiêu độ nhưng quả thật là có nhiều loại ớt đạt đến độ cay…khủng khiếp.

Xét độ cay từ thấp lên cao thì nhóm cuối bảng có ớt sừng (giống ớt xanh), ớt sáp, ớt chìa vôi, ớt kiểng… Loại này thường chỉ dùng để bày biện hoặc gia giảm vào các món ăn cho trẻ để tập chúng ăn cay. Cay hơn một chút là giống ớt đỏ, ớt chỉ thiên. Nhóm này thường trực trong các món ăn và được trồng phổ biến ở vùng quê.

Thuộc hàng “top” thì phải kể đến hai loại đó là ớt mọi và ớt de. Ớt mọi là ớt được đồng bào dân tộc vùng cao trồng sau đó di thực về vùng xuôi, loại ớt này cay đáo để, trái nhỏ bằng đầu đũa nhưng chỉ nửa trái cũng đủ làm bát nước mắm cay xè. Ớt de còn độc đáo hơn, trái chỉ lớn hơn hạt lúa một chút, nhưng cay thì tàn khốc.

Người không quen ăn cay thấy trái nhỏ tưởng bở ăn liền một miếng thì sau đó nhịn đói luôn vì mồm miệng bỏng rát. Giống ớt trồng qua mấy vụ thì thường thoái hóa, ít cay hơn. Để kiếm hạt giống người ta phải nhờ vào chim, nhất là loài vẹt. Những loài chim ăn ớt thường rất khôn, chỉ chọn loại ớt cay và những trái ớt chín đạt đến độ cay nhất. Nhờ vậy, người ta tìm phân của những con chim ăn ớt sau đó về rửa, đãi sạch lấy hạt giống về trồng. Cũng nói thêm, loại ớt này ngày xưa được bộ đội Trường Sơn gọi là ớt đại đội vì cho rằng chỉ cần một trái là đủ cho một đại đội dùng bữa (nghĩa là người ta không cần cắn, mỗi người chỉ quẹt trái ớt ngang lưỡi thì đủ cay cho cả bữa ăn!).

Người Quảng Trị ăn ớt cay nhưng không chỉ ăn ớt sống theo kiểu nhai ngang mà còn chế biến nhiều loại thức ăn. Cay thường đi với mặn. Món kết hợp cay mặn đó là muối trắng giã với ớt, nước mắm xắt ớt thật nhiều và ruốc hấp trộn với ớt giã nhỏ. Cả ba loại trên vừa dễ chế biến, vừa hợp với gia cảnh thanh bần, ăn uống không cầu kỳ chỉ cần đưa cơm là được. Sang hơn một chút, trong các bữa ăn chính quy là cá kho ớt, thịt xào ớt. Cá kho ớt thì lượng ớt bỏ vào có khi bằng lượng cá.

Những loại cá kho ngon như cá biển (thu, ngừ, nục…) khi nấu người ta để nguyên hoặc bẻ đôi từng trái ớt thả vào. Kho càng lâu, vị thơm cay thấm vào cá, nước cá kho sánh lại quyện từng hạt ớt, nước này dùng để ăn cơm nóng hoặc bún thì quên cả trời đất. Đặc biệt trong các bữa ăn người ta rất quan tâm đến bát nước chấm.

Nước chấm dùng cho rau luộc, thịt luộc đều phải giã ớt tỏi thật nhiều, khi chấm da ớt và hạt ớt dính theo gắp rau, lát thịt mới gọi là đáo khẩu. Nhưng có lẽ trong các món ăn thì món mắm ớt mới thực sự độc nhất vô nhị. Ớt tươi sau thu hoạch đem rửa sạch phơi heo héo rồi xếp thành lớp trong vại giống như muối cà, giữa hai lớp ớt là một lớp muối mỏng.

Đậy kín lại cất vào xó bếp vài tháng sau đem ra là đã có món mắm ớt. Lúc này vị muối hút nước trong quả ớt tạo thành thứ tương ớt cay xé và mặn mòi. Còn quả ớt sau khi rút nước teo lại đưa lên răng cắn nghe giòn tan, rất đã.

Nói chung, mùa nào thức nấy, nhưng với người Quảng Trị các bữa ăn quanh năm đều phải có ớt. Mùa thu hoạch ớt đại trà hoặc nhà nào có trồng vài cây ớt chỉ thiên ra quả quanh năm thì đến bữa trên mâm chí ít cũng phải có nắm ớt không dưới mươi quả. Mùa đông trời lạnh, cây cối nghỉ ngơi đã có hũ mắm ớt để dành. Không có ớt tươi hay mắm ớt người ta dùng ớt khô nguyên trái hoặc ớt bột cho vào thức ăn. Người lớn ăn cay, trẻ em cũng ăn cay, đứa nào chưa ăn được thì cũng phải ăn cho quen dần không thôi nhịn đói.

Ăn ớt nhiều nên người Quảng Trị chỉ nhìn trái ớt dù là ớt xanh cũng biết ớt non hay ớt già, cay hay không cay. Ớt xanh non có màu xanh trong, ớt xanh già có màu xanh thẫm hơn, cuống ớt rụng bao xòe ra. Ớt non ngửi bên ngoài có mùi hăng của quả non, ớt già thì vị cay như chui ra khỏi vỏ xộc vào mũi.

Nói chuyện ớt đã nhiều bây giờ thì xin nói về tính cách ớt của người Quảng Trị. Tôi xin thử nêu mấy điểm trong tính cách của người Quảng Trị liên quan đến ớt.

Thứ nhất là đức tính chịu khó. Theo tôi, tập ăn cay buổi đầu phải chịu khó, trẻ em muốn ăn cùng thức ăn người lớn chẳng dễ dàng, cũng phải năm lần bảy lượt toát mồ hôi, long óc mới nuốt được miếng ớt. Lâu dần tính chịu khó ngấm vô người trở thành phản ứng tự nhiên lúc nào không hay. Dĩ nhiên đã chịu khó thì sẽ tìm cách vượt khó, vượt khổ. Người Quảng Trị theo tôi có tính cách này.

Thứ hai là sống đơn giản, đạm bạc. Khi xưa nhà tôi nghèo, cả làng cũng vậy, nghèo lắm. Bữa ăn chẳng có gì ngoài mớ cá nhỏ bắt ở khe, trái khế trong vườn, đọt môn sau giếng. Nhưng bữa ăn nào cũng thấy ngon nhờ có ớt. Ớt như thứ dopinh kích thích người ta ăn xong bữa. Lâu dần thành nếp sống đơn giản, đạm bạc.

Thứ ba là giỏi nín nhịn và hay nổi nóng. Nghe có vẻ đối lập nhưng biện chứng. Ăn cay phải chịu khó, trên chịu khó là nín nhịn nhưng nhiều khi cay quá phải hít hà, phải nổi nóng. Từ nhỏ đã vậy lớn lên khắc thành tính cách.

Thứ nữa, nhiều lắm, cả xấu lẫn tốt, chẳng hạn: thủy chung với bạn bè nhưng lại hay cà khịa, miệng nói tay làm nhưng hay nói trạng, chịu khó học hành, học giỏi nhưng cũng hay khoe chữ, cao ngạo… Tất cả nếu phân tích thấu đáo hẳn ít nhiều cũng liên quan đến ớt.

Viết đến đây nghĩ cũng hòm hòm về chuyện người Quảng Trị với ớt. Định nói thêm một câu kết luận rằng người Quảng Trị có tính cách…ớt, nhưng thôi. Nói dài, nói dai là nói dại. Với lại, kết luận như thế chắc có người xứ khác không đồng tình, bảo rằng tôi nói lấy được, nói trạng.

Biết làm sao được, cái nói lấy được, nói trạng của tôi cũng bởi tôi là người Quảng Trị. Một người Quảng Trị ăn ớt.

Phạm Xuân Hùng
READ MORE - Người Quảng Trị ăn...ớt - PHẠM XUÂN HÙNG

Sunday, June 6, 2010

VÕ QUÊ - HOÀNG HỮU TƯ: NGƯỜI ĐẤT QUẢNG THÀNH DANH







Nhiếp ảnh  gia HOÀNG HỮU TƯ



Hoàng Hữu Tư, sinh ngày 24.11.1942 tại An Đôn, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Thời niên thiếu ông học trường kháng chiến Phục Khê, Triệu Sơn. Từ năm 16 tuổi đã tham gia hoạt động bí mật, rải truyền đơn chống địch. Năm 1955, từ quê nhà Quảng Trị, ông vượt tuyến ra miền Bắc học trường cấp 2 Quảng Xương rồi cấp 3 Lam Sơn, Thanh Hóa cho đến năm 1963 thì theo học trung cấp chuyên nghiệp công nghiệp. Ra trường năm 1966, Hoàng Hữu Tư được về công tác ở lâm trường Phong Dụ và lại được cơ quan cử đi học Đại học Lâm nghiệp khoa công nghiệp rừng ở Đông Triều, Quảng Ninh. Từ năm 1968, Hoàng Hữu Tư đã bước đầu tiếp cận với bộ môn nhiếp ảnh. Nghiệp vụ lâm trường cùng những sinh hoạt phong trào đã tạo điều kiện cho ông có dip cầm máy ảnh.

Trong một năm đi bộ đội từ 1972 đến 1973 ở Trung đoàn 119 đóng tại Ý Yên, Hà Nam, Hoàng Hữu Tư càng cảm nhận thêm về tình yêu quê hương, làng mạc, ruộng đồng trong thời kỳ chiến chống Mỹ. Với ông, những năm tháng trên đất Bắc đã để lại trong ông những dấu án khó quên. Khi lên sống ở khu Đại học Mỏ, Địa chất tại Bắc Thái, Hoàng Hữu Tư đã có dịp học hỏi thêm với bạn bè về nghệ thuật nhiếp ảnh, trong đó có một người cán bộ công tác ở Việt Nam thông tấn xã đã tận tinh giúp ông tham khảo các tư liệu về nghề ảnh, xem được nhiều bức ảnh thời sự có giá trị nghệ thuật từ chiến trường miền Nam gửi ra. Khi biết mình có thể thành thạo về loại hình nhiếp ảnh, Hoàng Hữu Tư bắt đầu hành nghề chụp ảnh để mưu sinh sau khi xuất ngũ cho đến năm 1979 thì vào định cư tại Huế.

Với Hoàng Hữu Tư, nếu Quảng Trị là nơi chôn nhau cắt rốn với một thời niên thiếu nhiều kỷ niệm kháng chiến không quên, thì cố đô Huế là mảnh đất giúp ông ưom mầm và trưởng thành trên lĩnh vực nghệ thuật nhiếp ảnh. Trong thời gian làm công tác chụp ảnh dịch vụ ở Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, Hoàng Hữu Tư đã cùng các đồng nghiệp Đặng Việt Hùng, Huỳnh Mẫn, Phạm Văn Tý, Lê Đình Liên, Phạm Bá Thịnh... chơi ảnh nghệ thuật. Thiên nhiên, cảnh quan, cuộc sống, con người Huế chính là những môi trường thuận lợi cho Hoàng Hữu Tư tác nghiệp. Ông thích chụp ảnh các chuyên đề về di tích văn hóa, kiến trúc, thiếu nữ, tuổi học đường... Vốn năng động, linh hoạt, lạc quan và luôn có niềm say mê sáng tạo nghệ thuật nên ông đã được nhiều người mẫu nhiệt thành, công tâm cộng tác trong những chuyến đi thực tế sáng tác ngắn hoặc dài ngày.

Là một hội viên Hội Mỹ thuật Thừa Thiên Huế, Hoàng Hữu Tư thường tích cực tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng, tập thể. Ông đã cố gắng thể hiện mình trong việc gửi ảnh nghệ thuật dự các cuộc triển lãm ở Huế, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Lạt... ớ khu vực, trung ương. Tác phẩm của Hoàng Hữu Tư cũng đã xuất hiện trên tập san Áo Trắng, Mực Tím, tạp chí Sông Hương, báo Sài Gòn Giải Phóng, báo Thừa Thiên Huế, Phụ Nữ Việt Nam...

Từ những cống hiến công sức, nỗ lực sáng tác nhiếp ảnh nghệ thuật, trong những năm qua, Hoàng Hữu Tư đã gặt hái những thành quả đáng trân trọng. Ông đã được Bộ Văn hóa Thông tin tặng Huy chương Vì Sự nghiệp Văn hóa Thông Tin vào năm ông nghỉ hưu (2004); Một số tác phẩm của ông đã đạt giải thưởng mà tiêu biểu là các bức ảnh nghệ thuật Sao đêm Phu Văn Lâu, giải Nhì cuộc thi ảnh nghệ thuật do tạp chí Sông Hương tổ chức (1999), tác phẩm Sao đêm Phu Văn Lâu còn được giải Ba của UBTQLHCHVHNT Việt Nam (1999); Đất nước trọn niềm vui giải Nhì của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam (2000); Đường vào di sản giải Ba cuộc thi ảnh nghệ thuật toàn quốc nhân dịp Festival Huế 2004; Mừng ngày độc lập, giải Nhì của tạp chí Ánh Sáng Đẹp thuộc Hội Nhiếp Ảnh TP. Hồ Chí Minh (2005)...

Hiện nay, tuy tuổi đã tương đối cao, nhưng Hoàng Hữu Tư vẫn còn hăng say, xông xáo trong những cuộc hành trình sáng tác cùng anh chị em đồng nghiệp. Ông cũng đã rất tâm huyết góp phần đào tạo cho hai người con trai tiếp truyền nghề ảnh. Hy vọng sau một thời gian mưu sinh bằng dịch vụ chụp ảnh, họ cũng sẽ theo gương thân sinh đến với sân chơi nghệ thuật, tạo nên diện mạo một gia đình chụp ảnh truyền thống giữa vùng đất cố đô. Hoàng Hữu Tư cho biết: " Phong trào chơi ảnh nghệ thuật cần phải nhân rộng trong đời sống xã hội. Với tôi, những tác phẩm ảnh nghệ thuật là những thông điệp gửi tới tương lai vì chúng đã ghi nhận được những khoảnh khắc đáng quý về sự đổi mới, đi lên của đất nước. Gần đây, nhờ có những cuộc giao lưu với giới nghệ sĩ nhiếp ảnh của nhiều vùng miền, xứ sở khác nhau mà tôi đã học hỏi được nhiều điều đáng quý về nghề; giúp tôi có cách nhìn khác hơn, mới hơn về những đổi thay của đất nước, trong đó có Quảng Trị quê hương yêu dấu của tôi. Dù đã lớn tuổi nhưng tôi vẫn còn phải cố gắng học tập, trau dồi trong nghệ thuật. Ảnh nghệ thuật là một thế giới muôn hồng nghìn tía. Muốn tiếp cận vẽ đẹp đó tôi cần phải vượt qua những thử thách, gian khổ của nghề.."


VÕ QUÊ

READ MORE - VÕ QUÊ - HOÀNG HỮU TƯ: NGƯỜI ĐẤT QUẢNG THÀNH DANH

Saturday, June 5, 2010

LẦU HOÀNG HẠC - Linh Đàn dịch



HOÀNG HẠC LÂU DỊ BẢN
Dĩ thừa hoàng hạc tích nhân hưu
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
Hoàng hạc nhất phi vô tái tái
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Giang thượng Yên Ba sầu mộ vũ
Bất tri hà xứ bất tri thu

Thôi Hạo (trích trong Thượng Thi Tập Ngâm)


Bài dịch:
LẦU HOÀNG HẠC
Lầu không Hoàng Hạc hãy còn đây
Cưỡi hạc người xưa khuất chốn nầy
Một thoáng hạc vàng xa mãi mãi
Ngàn năm mây trắng vẫn bay bay
Hán Dương thuở thuở cây dòng lặng
Anh Vũ mang mang bãi cỏ dày
Khói sóng sông hôm mưa não nuột
Quê người thu đến vẫn không hay

Linh Đàn dịch
READ MORE - LẦU HOÀNG HẠC - Linh Đàn dịch

Thursday, May 27, 2010

KHÔNG ANH - chùm thơ Trương Thị Hằng Nga




Trương Thị Hằng Nga
Giáo viên tiếng Anh

Trường tiểu học Hải Dương, Hải Lăng, Quảng Trị


KHÔNG ANH

Không anh gió cũng dỗi hờn
Nhìn đâu cũng thấy một vườn tương tư.
Không anh trời đất lắc lư
Cứ như vũ trụ chao từ câu kinh.
Không anh căn phòng lặng thinh
Đất trời cáu tính giật mình giăng mây.
Bởi yêu làm dạ rứt ray
Vì say mới gặp một ngày bão giông.
Bây chừ em hết ngó trông
Không mong. Không ngóng. Không hòng duyên tơ.
Tối ngày mê mẩn làm thơ
Cứ coi như nợ giấc mơ thiên đàng.
Không anh khuyết cả trăng rằm
Đến con chim vẹt ngậm tăm chẳng rằng.
Mặt trời ủ rũ ngủ đông
Ngôi sao le lói tầng không lu mờ.
Không anh lỗi hẹn vần thơ
Câu từ như nhện giăng tơ thẫn thờ.
Không anh mây chợt lững lờ
Mưa như chàng ngốc ngu ngơ trước đời.
Trái ngang, gian dối người ơi
Thuyền duyên lỡ chuyến đò xuôi mất rồi .
Đành gạt nước mắt mà thôi
Chòng chành con sóng lướt trôi kiếp người.
Không anh, dùng dằng cuộc chơi
Chẳng vui mà vẫn nụ cười méo môi.
Không anh, chỉ mình em thôi
Tội cho một kiếp... mồ côi tình sầu.



NẾU MỘT MAI ...

Một mai em bước theo chồng
Bỏ anh ở lại trống không ngỡ ngàng
Giả từ em phải sang ngang
Mình anh đơn lẻ nhỡ nhàng tình xưa.
Em về nước mắt như mưa
Khóc cho tình lỡ người xưa đợi chờ
Nhớ chàng em gởi vào thơ
Theo chồng em để giấc mơ lỡ làng.
Từ mai ngày mới sang trang
Em về bên ấy làm nàng dâu ngoan
Mười hai bến nước đa đoan
Bên người em có còn xoan tuổi đời?


AI?

Đêm nay em không ngủ
Thử hình dung ngày mai
Khi thiếu vắng anh rồi
Ai người em tâm sự?
Giữa bao la vũ trụ
Biết gởi tình nơi đâu?
Cuối bộn bề bể dâu
Giọt sầu em ngấn lệ.
Ai người nghe em kể
Chuyện gần và chuyện xa?
Ai dỗ hạt mưa sa
Bằng câu đùa hóm hỉnh?
Ai lo em lỉnh kỉnh
Bao vấp váp đời thường?
Ai người để em thương
Gởi nỗi niềm nhung nhớ?
Ai nghe từng nhịp thở
Trong giá lạnh cô đơn?
Ai gieo em giận hờn
Để dùng dằng giận dỗi ?
Ai ghét yêu vô lối
Cứ đỗ tội ông trời?
Để lòng ai lệ rơi
Ướt nhoà bao nuối tiếc?
Ai nói câu giã biệt
Sau thao thiết lời trao?
Tựa cái nắng hanh hao
Chợt hồn em cháy khát.
Ai làm em tan nát
Cỏi lòng và trái tim? 

                                Trương Thị Hằng Nga
READ MORE - KHÔNG ANH - chùm thơ Trương Thị Hằng Nga

Sunday, May 23, 2010

Mai Văn Hoan - VÕ QUÊ VÀ THƠ LÁI

Nhà thơ Võ Quê


Những năm gần đây, ở Huế lưu truyền một số bài “thơ lái” khá độc đáo của Võ Quê. Những bài thơ này vừa có tính thời sự, vừa hóm hỉnh ở nghệ thuật con chữ.Vật giá leo thang gạo lỏng nồi/ Nỗi lòng xa xót bạn nghèo ơi/ Ngồi eo sèo với bao gian khó/ Gió khan đắng họng tái tê đời. Cái độc đáo của bài thơ này là tác giả sử dụng kiểu lái bắc cầu, xoáy trôn ốc.

Võ Quê không phải là người đầu tiên làm thơ lái. Ngay từ thời Trung đại, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã nổi tiếng với một số câu thơ lái hết sức quái kiệt, đáo để, như : “Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo” hay “Trái gió cho nên phải lộn lèo”... Ở Huế, thời Pháp thuộc có cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi cũng là một cây “lái thơ” khá nổi tiếng.
Trong dân gian vẫn lưu truyền một số câu thơ lái hết sức dí dỏm và sâu sắc của cụ. Chẳng hạn như: “Cầu đạo nên chi phải cạo đầu”, “Nhắn bạn lên non đừng bắn nhạn”, “Công khó chờ nhau biết có không”, “Trông đời chỉ thấy cảnh trời đông”...
Và đặc biệt là câu: “ Thầy tu mô Phật cũng thù Tây”. Sau khi cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi mất (1966), thơ lái tưởng như “đứt mạch”. Thời Bình Trị Thiên một số nhà thơ như Xuân Hoàng, Văn Lợi... chỉ nói lái trêu đùa nhau cho vui màthôi.

Tôi còn nhớ một vài câu, đại loại như : “Đi Cửa Lò bị cò lừa, bác Hà Sâm suýt hầm sa” ; “Đi phong trào được trao phòng” ; “Ăn cháo lòng, chống gió Lào”; LTM có bài thơ Những mùa trăng mong chờ khá nổi tiếng, các anh lái thành Những mùa trăng mơ chồng ; bài Trăng mùa đông của tôi gửi báo nào cũng không thấy in, các anh đổi thành Trông mùa đăng...

Theo nhà thơ Võ Quê cho biết thì mãi đến năm 1999 anh mới làm thơ lái. Đó là năm mà tỉnh Thừa Thiên Huế bị một trận lụt thế kỷ. Thấy chị em làm nghề ca Huế trên sông Hương phải ngưng hoạt động trong một thời gian khá dài để chống chọi và khắc phục hậu quả của trận lụt thế kỷ ấy, nhà thơ bèn làm một bài thơ lái để đùa vui:

Trời lụt ca nhi cũng trụt lời
Trời đong mưa lũ xuống trong đời
Vái lạy lụt tan lành váy lại
Đời cho du khách dạo đò chơi.
Cái tài của tác giả là sử dụng cách nói lái rất tự nhiên và rất phù hợp với hoàn cảnh, tâm trạng của các ca sĩ lúc đó. Nghe Võ Quê đọc, chị em không nhịn được cười. Bài thơ lái ấy của Võ Quê không cánh mà bay. Chỉ mấy hôm sau, trong các quán cóc, quán cà phê vỉa hè người ta đọc chuyền nhau: Trời lụt ca nhi cũng trụt lời...
Thành công bất ngờ ấy đã khích lệ tác giả, làm thức dậy tiềm năng sáng tác thơ lái của anh. Võ Quê lần lượt “xuất bản bằng miệng” một loạt bài thơ lái cũng dí dỏm, sâu sắc chẳng thua gì tiền nhân Thảo Am Nguyễn Khoa Vi.

So với một số thành phố khác trên cả nước thì Huế vẫn còn nghèo. Người Huế tự trào “Huế thơ, Huế mộng, Huế tòng bọng hai đầu”. Nghèo nhất vẫn là dân vạn đò, những người đạp xích lô, xe thồ... Có người “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi”. Hơn ai hết, Võ Quê hết sức thông cảm với hoàn cảnh đói nghèo của họ, nhất là khi đồng tiền làm ra thì khó mà vật giá cứ ngày một “leo thang”:

Vật giá leo thang gạo lỏng nồi
Nỗi lòng xa xót bạn nghèo ơi
Ngồi eo sèo với bao gian khó
Gió khan đắng họng tái tê đời

Cái độc đáo của bài thơ này là tác giả sử dụng kiểu lái bắc cầu, xoáy trôn ốc: hai chữ cuối câu đầu lái với hai chữ đầu câu hai, hai chữ cuối câu hai lái với hai chữ đầu câu ba, hai chữ cuối câu ba lái với hai chữ đầu câu bốn. (khác với kiểu lái trong từng câu mà cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi vẫn làm). Kiểu lái bắc cầu xoáy trôn ốc này cực khó, phải là bậc “cao thủ” mới làm được.

Đây là nỗi lòng của dân chúng khi giá xăng dầu tăng vọt:

Dầu xăng tăng giá dạ giăng sầu
Đầu tiên trăn trở bạc tiền đâu
Giật gấu vá vai theo vật giá
Thâu đêm nhức nhối nghĩ thêm đau

Không chỉ cảm thông với những người dân lao động nghèo khổ, Võ Quê còn sử dụng thơ lái để chống tiêu cực. Anh biến thơ lái thành một thứ vũ khí hết sức sắc bén đánh vào bọn tham nhũng:

Lần vô danh lợi hại dân lành
Tranh thùng, tranh thủ mới trung thành!
Đầy tớ vét tiền bao tờ đấy
Giành nhau tham nhũng chúng giàu nhanh

Ở bài thơ trên, ngoài những cặp lái: tranh thùng - trung thành, đầy tớ - tờ đấy, giành nhau - giàu nhanh, tác giả còn sử dụng một loạt các phụ âm t, tr, th ở câu thứ hai và thứ ba tạo nên âm điệu rất đặc biệt.
Những thủ đoạn: tranh thùng (tranh phiếu), tranh thủ (nịnh bợ)... của bọn tham nhũng được tác giả lột trần không chút e dè, ngần ngại. Bọn chúng là một lũ thoái hoá, biến chất:

Biến chất điếm đàng đi chiếm đất
Cánh đồng xoang bởi Kuán Đồng Xanh
Hối mại chức quyền gieo mối hại
Lanh mưu thoái hóa thật lưu manh!

Hầu hết thơ lái xưa nay đều sử dụng hình thức lái đôi (cặp hai chữ), ở bài thơ trên Võ Quê đã mạnh dạn thử nghiệm hình thức lái ba (cặp ba chữ): “cánh đồng xoang” - “Kuán Đồng Xanh”.
Kiểu lái ba này cũng cực khó. Nếu tôi không nhầm thì nữ sĩ Hồ Xuân Hương chỉ sử dụng một lần duy nhất kiểu lái cặp ba này trong bài thơ Quán Sứ: Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo.
Thơ lái Võ Quê không chỉ sâu sắc, thâm thuý mà còn rất hóm hỉnh. Đây là bài thơ lái anh làm để trêu những cặp trai gái lỡ “ăn cơm trước kẻng”:

Bầu trỏ hèn chi phải bỏ trầu
Bầu to nên mới tậu bò trâu
Quệt má vì yêu nên quá mệt
Bầu lên hạnh phúc được bền lâu

“Bầu trỏ” là mới có thai nên phải làm đám hỏi (bỏ trầu). “Bầu to” là cái thai ngày một lớn nên phải làm đám cưới (tậu bò trâu). Lỡ “quệt má”- nghĩa là lỡ làm cái chuyện ấy nên phải lo đám hỏi, đám cưới thì “quá mệt” là phải. Nhưng cái thai càng lớn thì hạnh phúc càng “bền lâu”. Đằng sau tiếng cười nhẹ nhàng là quan niệm rất nhân văn về tình yêu và hạnh phúc của tác giả.

Võ Quê còn làm thơ lái đùa các bợm rượu:

Một chai mai chột, coi chừng!
Nhị chai nhai chị tưng tưng ngà ngà
Ba chai là bai nghe cha!
Bốn chai cẩn thận kẻo mà bái chôn
Ngũ chai ngai chủ hùng hồn
Sáu chai sai cháu bếp cồn luộc tôm!

Bài thơ này là một thể nghiệm nữa của Võ Quê. Hồ Xuân Hương, Thảo Am Nguyễn Khoa Vi chỉ làm thơ lái theo thể đường luật và hầu hết là thất ngôn tứ tuyệt. Võ Quê mạnh dạn chuyển thơ lái sang thể lục bát. Bài thơ trên có tới 12 câu, câu nào cũng có cặp lái đôi.

Quy luật lái khá linh hoạt. Câu một, câu hai, câu năm, câu sáu là những cặp lái đôi liền nhau. Câu ba, vế thứ hai được tách ra nằm xen giữa chữ “là” và “nghe”: ba chai - bai cha. Câu thứ tư, tác giả đột ngột chuyển sang lái cách (hai chữ đầu lái với hai chữ cuối). Ở câu kết lẽ ra không được dùng vần “ôm” ở chữ thứ tám vì nó vần thông với chữ thứ sáu, nhưng vần “ôn” và “ôm” đặt cạnh nhau nghe rất ngộ nghĩnh.

Bởi thế mà tác giả đã mạnh dạn phá lệ. Ngồi trong chiếu rượu mà đọc bài thơ lái này không ai có thể nhịn được cười. Những lời nhắc nhở các bợm rượu thật dí dỏm mà cũng thật chí tình, chí lý.
Cuối năm ngoái, đầu năm nay, chị Tiểu Kiều (vợ nhà thơ) không may lâm bệnh hiểm nghèo, các cháu đang công tác xa, một mình nhà thơ vừa chăm sóc vợ vừa làm công việc nội trợ. Cứ ngỡ anh không còn tâm trí, thời gian để “lái thơ” nữa.

Vắng thơ lái Võ Quê, dân quán cóc, quán cà phê vỉa hè cảm thấy thiêu thiếu một cái gì. Không biết ai đó đã than rằng: Chưa về nhắm rượu làng Chuồn / Chưa nghe thơ lái sao buồn Võ Quê (làng Chuồn nổi tiếng rượu ngon là quê của anh). Có lẽ hiểu được tâm trạng chờ đợi của người hâm mộ, Võ Quê lại tiếp tục Tự trào bằng thơ lái:

Cuối năm cắm cúi chăm nuôi vợ
Đầu năm mong vợ hết nằm đau
Số phận an bài ai bàn nữa!
Câu thơ Xuân đó có buồn đâu…

Và:

Vợ chồng là phải vọng chờ
Dạo một vòng chợ nên thơ vợ chồng
Trong khó khăn, vất vả anh vẫn vui đùa, tếu táo:
Cuộc đời thành một trò chơi
Khổ đau hạnh phúc là trời cho ta

Thơ lái cũng là một “trò chơi” mà “trời” đã ban cho Võ Quê. Bởi vì không phải bất cứ ai cũng làm được thơ lái vừa thông minh vừa hóm hỉnh vừa thâm trầm như anh.


Huế, tháng 4 - 2010

Mai Văn Hoan
Nguồn: http://www.tienphong.vn/
READ MORE - Mai Văn Hoan - VÕ QUÊ VÀ THƠ LÁI

Wednesday, May 19, 2010

THI HÀO NGUYỄN TRẢI - Linh Đàn





Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, người làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc (nay thuộc Thường Tín – Hà Tây), Ông sinh ra và lớn lên ở Thăng Long, đậu Thái Học Sinh khoa Canh Thìn (1400), làm quan thời Nhà Hồ. Năm 1407, Trung Hoa thôn tính nhà Hồ và đặt nền móng độ hộ nước ta, thân sinh ông là cụ bảng nhãn Nguyễn Phi Khanh lúc bấy giờ đang làm quan cho Nhà Hồ, bi bắt giải về Tàu, ông theo cha đến tận ải Nam Quan, thân phụ ông thấy thế mới khuyên rằng: Con hãy trở về rửa hận cho cha, rửa nhục cho nước, còn hơn theo cha khóc lóc có ích gì , Nguyễn Trãi đành gạt lệ trở về.


Nhớ lời cha dặn, năm Canh Tý 1420 ông giúp Bình Định Vương Lê Lợi, mười năm kháng chiến chống quân Minh, viết Bình Ngô Đai Cáo (bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 của nước ta sau bài thơ Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt) Lê Lợi cùng Ông đã làm thêm một thiên quốc sử hào hùng cho Tổ quốc, chói lọi ngàn thu.
Năm Quý Sửu 1433 sau khi Lê Lợi mất, ông bị bọn quyền thần ghen ghét, nên ông xin về ở ẩn ở quê ngoại Côn Sơn – Chí Linh (ông là cháu ngoại của Trần Nguyên Đán, quốc công nhà Trần)


Năm 1434 vua Lê Thái Tông vời ông trở lại giúp nước, được ít lâu ông lại xin về.


Tháng Bảy năm Nhâm Tuất 1442 vua Thái Tông đi duyệt binh ở Chí Linh, ghé lại Côn Sơn thăm ông, tại đây, vua được gặp Nguyễn Thị Lộ, người con gái đã cùng Nguyễn Trãi có một chuyện tình thật thơ, thấy Thị Lộ – người thiếp của Nguyễn Trãi có nhan sắc lẫn tài ba nên vua bắt theo hầu. Không ngờ đi đến Gia Định (thuộc huyện Gia Bình - Bắc Ninh) nhà vua đột ngột qua đời, triều đình gán cho ông tội giết vua với bản án tru di tam tộc, đây là bản án Lệ Chi viên (vườn vải) đã làm xao xuyến hàng vạn con tim của người đời sau với một trang bi tình hận đầy nước mắt và nỗi oan khuất kinh hoàng.


Năm 1464 vua Lê Thánh Tông giải nỗi oan khiên cho Nguyễn Trãi, bằng cách cho truy phục lại tước vị và cho tìm lại con cháu.


Nguyễn Trãi là một nhà chính trị lỗi lạc, một nhà quân sự tài ba, và cũng là một đại văn hào của nước ta. Tác phẩm của Ông để lại, phần thơ chữ Hán gồm có: Giao tự đại lễ, Thạch Khánh Đồ, Dư Địa chí, Ngọc Đường Di Cảo, Trung Quân Tứ Mệnh tập, Ức Trai Di tập, Về chữ Nôm có: Gia Huấn ca, Ức Trai thi tập và một số bài thơ xướng họa với Nguyễn Thị Lộ.


Bài thơ Tự Sự dưới đây là một bài thơ ý tình sâu sắc, lời lẽ thanh thoát, nhẹ nhàng nói lên được tâm trạng cô độc của một nhà chí sĩ yêu nước, không biết tìm đâu ra người cùng chí hướng để giữ vững con thuyền dân tộc trước cơn gió dập sóng dồi.


TỰ SỰ
Chiếc thuyền lơ lững bên sông
Biết đem tâm sự ngỏ cùng ai hay !
Chắc chi thiên hạ đời nay
Mà đem non nước làm rầy chiêm bao
Đã buồn vì trận mưa rào
Lại đau vì nỗi ào ào gió đông
Hoa trôi bèo dạt giữa dòng *
Chiếc thuyền lơ lững bên sông một mình
Ức Trai


*Có nhiều người đọc; - Mây trôi nước chảy xuôi dòng
- Nói chi những chuyện đau lòng


Bài thơ chữ Hán
LOẠN HẬU ĐÁO CÔN SƠN CẢM TÁC

Nhất biệt gia sơn thập tải niên
Quy lai tùng cúc bán tiêu nhiên
Lâm tuyền hữu ước na kham phụ
Trần thổ đê đầu chỉ tự liên
Hương lý tài qua như mộng đáo
Can qua vị tức hạnh thân tuyền
Hà thời kết ốc vân phong hạ
Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên


Nguyễn Trãi
(Ức Trai thi tập)




SAU LY LOẠN VỀ LẠI CÔN SƠN CẢM TÁC
Một chuyến mười năm biệt cố hương
Cúc tùng nay thấy nửa sầu vương
Suối rừng ước nguyện đâu hờ hững
Cát bụi dập dồn mãi tiếc thương
Làng xóm nhìn qua như ngủ dậy
Lửa binh gẫm lại vẫn coi thường
Bao giờ nhà dựng sườn mây núi
Nước suối đun trà – đá gối sương
Linh Đàn
(dịch)






(Tài liệu tham khảo Việt Nam Văn Học - TT học liệu bộ QGGD Saigon – 1968)
Bài viết được trích đăng trên tạp chí THẾ GIỚI THƠ ĐƯỜNG LUẬT
CLB UNESCO THƠ ĐƯỜNG VIỆT NAM chi nhánh TPHCM
READ MORE - THI HÀO NGUYỄN TRẢI - Linh Đàn

Saturday, May 15, 2010

HỌA SĨ LÊ BÁ ĐẢNG







































































































Lê Bá Đảng sinh ngày 26 tháng 7 năm 1921 tại làng Bích La Đông, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sang Pháp năm 1939, đã tham gia vào những đội quân chống phát xít của nước Pháp, bị Đức quốc xã bắt làm tù binh. Học tại Học viện Nghệ thuật Toulouse và trở thành một hoạ sĩ nổi tiếng ở châu Âu. Triển lãm đầu tiên ra mắt tại Paris năm 1950. Năm 1989 nhận giải thưởng "Nghệ sĩ có tài năng lớn và tư tưởng nhân đạo" của Việt Quốc tế Saint-Louis của Mỹ; Năm 1992 được Trung tâm tiểu sử quốc tế thuộc Đại học Tổng hợp Cambridge của Anh đưa vào danh mục những người có tên tuổi của thế giới; năm 1994 được Nhà nước Pháp tặng "Huân chương Văn hóa nghệ thuật Pháp". Được giới nghệ thuật đánh giá là bậc thầy của hai thế giới Đông - Tây.

Năm 2005, Hoạ sĩ được nhận huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước và nhận danh hiệu Vinh danh nước Việt do báo điện tử Vietnam Net phối hợp với UBMTTQ Việt Nam trao tặng.

Năm 2006, hoạ sĩ cùng với UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế xây dựng Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá Đảng tại 15 Lê Lợi, Thành phố Huế.

Nguồn: vi.wikipedia.org
Sóng từ trường
Không gian Lê Bá Ðảng

Tác giả: Thụy Khuê

Ý niệm về không gian không mới. Ý muốn biểu dương không gian, cũng không lạ. Nhưng ý thức được tính cách tương đối của sự vật trong vũ trụ, trong không gian, thì hình như chỉ Trang Chu mới thật sự đặt vấn đề. Nào chim bằng, cá côn, nào ao trời, gió lốc... Trang Chu "tạo hình" cho ta thấy cái vô cùng của tạo vật và cái lẽ tương đối ở đời.
Hội họa Tây phương, giàu kỹ thuật, nhiều tiến bộ. Nhưng thiên về biểu dương hiện thực, vẽ những gì thấy được, nắm bắt được, những "hiện thực cụ thể" (kể cả khi phá thể như lập thể, trừu tượng), dường như hội họa Tây phương chưa thật tình thám hiểm thế giới siêu hình, tâm linh, vần vũ về lẽ sống, chết, lý tương đối ở đời.

Hội họa phương Ðông nghiêng về Ðạo, về triết lý sống, nhưng lại chưa tìm ra những phương pháp tân kỳ để diễn tả một cách đa nguyên, đa dạng.
Hiếm hoi là những nghệ sĩ nhuần nhuyễn kỹ thuật phương Tây và triết lý phương Ðông, để có thể tạo một con đường nghệ thuật phức âm, đa nghĩa, rọi ánh sáng và chiếu nhiều góc độ vào những trăn trở của con người về cõi sống, cõi chết, cõi biết, cõi không, về hư vô và cực lạc, về cái Ðạo của con người, ở chỗ Tâm và Vật không còn giới hạn phân chia.
Một vài họa sĩ gốc Á Ðông, thấm nhuần cái học phương Tây, dường như đã tìm được con đường tiến đến sự hòa đồng Tâm-Vật, Âm-Dương, Hữu Hạn-Vô Hạn. Lê Bá Ðảng là một.


*

Trong hành trình sáng tác, ông đã đi từ con mèo, con ngựa, con trâu đến... con người, và ở mỗi "con", ông đều cố gắng đào sâu đến nguồn ngọn, cỗi rễ của chúng. Ông biết rõ tâm can của chúng đến độ có thể chế tạo những "đầu-trâu-tâm-phật", "hình người-dạ thú", "khẩu phật-tâm xà"... Qua hơn nửa thế kỷ sống với nghệ thuật tạo hình, ông đã thuộc lòng cái thế giới "nhân vật cầm thú" mà ông tạo ra, ông cũng lại quá quen với khoảng không gian tầm thường của cái học hàn lâm, với lối nhìn "viễn cận" chưa hề thay đổi từ hơn 20 thế kỷ. Lê Bá Ðảng muốn tìm kiếm, muốn thám hiểm cõi sống chết của con người, ngoài hội họa.
Không gian Lê Bá Ðảng là sự phản kháng những không gian ba chiều đã bước vào tuổi hoàng hôn, là sự chống lại quan niệm lỗi thời của hội họa trường ốc, biểu dương lối nhìn một chiều: Vẽ những gì thấy trước mắt. Nghệ nhân có thể hồi khứ, ngoái lại dĩ vãng, nhưng vẫn phải moi ký ức ra khỏi óc, để nó lên bàn, trước mặt, mà vẽ.
Hội họa lập thể mở rộng hơn: Ðối tượng vẽ, không im lìm, không "chết", nó có quyền chuyển động. Hội họa lập thể mở thêm chiều thứ tư: Chiều chuyển động cho tác phẩm.
Hội họa trừu tượng phá thể để ngòi bút tự do phân tích đối tượng, xé nát đối tượng, tiêu tùng hình thái. Mỗi nghệ sĩ tạo một lối vẽ, lối nhìn riêng về đối tượng; và người xem cũng có quyền có cái nhìn riêng về họa phẩm, theo ý mình, độc lập với nghệ sĩ.
Hội họa trừu tượng phá bung những định kiến, những hàng rào ngăn cách, để con người tự do thưởng ngoạn, tự do tưởng tượng và nghệ sĩ tự do sáng tác. Mối tương quan cố định về "đối tượng bức tranh" và sự cảm nhận của người xem không còn nữa. Hội họa trừu tượng lấy tự do làm đối tượng, và chính ở chỗ "tự do" ấy, con người mới thấy cái "giới hạn" của chính mình.
Lê Bá Ðảng muốn thoát ra khỏi tất cả những ràng buộc về quy luật của nghệ thuật cổ điển, và cả cái "tự do giới hạn" của hội họa trừu tượng, để mở ra một cõi ta của riêng ông. Ông sáng tạo Không Gian Lê Bá Ðảng.


*

Không Gian Lê Bá Ðảng là gì?
- Về mặt kỹ thuật, đó là sự gặp gỡ giữa nhiều ngành nghệ thuật: Kiến trúc, điêu khắc, hội họa... Lê Bá Ðảng không chỉ vẽ, ông tạo hình.

- Về mặt nội dung, đó là mối tương quan giữa người, vật và vũ trụ. Nhân sinh quan của Lê Bá Ðảng có gì trùng hợp, gặp gỡ cái lẽ tương đối của Trang Chu: Cái nhỏ có lý của cái nhỏ, cái lớn có lý của cái lớn, phải cũng là lẽ vô cùng và trái cũng là lẽ vô cùng: Cứ lấy ánh sáng soi thì sẽ thấy cái tương đối ấy bật nẩy ra, và ông thể hiện cái lẽ tương đối ấy trong Không Gian Lê Bá Ðảng. Cái nhìn của ông không còn là cái nhìn một chiều, hướng về trước mặt, mà nó biến đổi không ngừng.

Ở những mô hình Không gian thực tiễn, ông nhìn từ không trung, bằng con mắt loài chim, hay nhìn từ mặt trăng xuống đất. Tôi gọi đó là viễn cận "vạn lý". Với cái nhìn này, Không Gian Lê Bá Ðảng thể hiện những nứt nẻ trên trái đất, những đỉnh cao, vực sâu, trong lòng đất, lòng biển; những đại dương mênh mông, những hỏa diệm sơn bừng cháy, đến cả những con kiến li ti là sinh mệnh và định mệnh của con người. Trong không gian thực tiễn, với viễn cận "vạn lý", Lê Bá Ðảng có thể gồm thâu vũ trụ địa chất và thế giới nhân sinh trong một chiều kích không quá một thước dài, hai thước rộng.

Ở Không gian ảo tưởng, ông tạo không khí siêu hình, giữa cõi sống và cõi chết. Ông "vẽ" cái hoang vu của hư vô, ông "vẽ" cái không và cái có. Từ kỹ thuật, chất liệu, cách sắp xếp đến mỗi hình thức trong không gian Lê Bá Ðảng dường như muốn cấu tạo nên một thế giới, một vũ trụ ngoài màu sắc. Màu sắc chỉ là cái cớ để lưu lại với hội họa. Ông hay dùng sắc nâu, sắc xám, toàn trắng, toàn đen, màu đất nung, chấm phá những điểm son như những mốc, để tư tưởng, trí nhớ và tâm linh có thể trụ lại giữa khoảng vô thỉ, vô chung.
Ðứng trước những tác phẩm này, người xem cảm thấy hoang mang, lạc loài, như mình là chứng nhân cái hữu hạn của cuộc đời đang giao lưu cùng cái vô hạn của vòng tử sinh, luân hồi, truyền kiếp.

Trong loại không gian thứ ba, Không gian lịch sử-địa tầng, người xem mường tượng thấy ý niệm thời gian liên kết với không gian: Con đường xuyên suốt quá khứ-tương lai, giao thoa với viễn cận xuyên địa, từ cung trăng xuống địa cầu, xuyên xuống những lớp địa từng, địa đạo. Tác giả cho ta cảm tưởng ông muốn hình ảnh hóa cả một thời kỳ lịch sử của dân tộc, xuyên qua những thửa ruộng khô, những cánh đồng cháy, những bãi cát dài, những ngôi cổ mộ, những lớp địa tầng, vào trung tâm trái đất. Ở một cái khung lơ lửng, mơ hồ, rêu phong kia, dường như thấp thoáng có hồn Trọng Thủy đang tìm dấu Mỵ Nương qua vết lông ngỗng xác xơ, tan tác... Ở một khoảng tối này, có phải Diêm Vương đang hành hình lũ tội đồ? Ở một không gian u ám trên kia, Hằng Nga đang cô đơn, giá buốt trên cung Quảng?...

Mỗi lần xem Không Gian Lê Bá Ðảng là một lần khám phá. Tác phẩm của ông có nét hãnh tiến về tương lai, kèm nỗi khổ đau, trầm luân trong hiện tại và nỗi u hoài, nhớ về quá vãng.

Nghệ thuật của ông thoát hài, đập vỡ cổ kính để tạo ra không gian phi thời gian, gồm thâu quá khứ, vị lai, địa tầng, địa chất, cõi này, cõi khác trong khoảnh khắc một cái nhìn. Nó độc đáo, nhưng cô đơn. Ông cô đơn trên con đường sáng tạo của mình; nhưng chính sự cô đơn đó là đốm lửa soi đường cho Không Gian Lê Bá Ðảng.

Yên Cơ, 1-1-1997

Nguồn: thuvien.maivo.com

Mời các bạn bấm vào đường link để

ĐỌC THÊM
Trang web của Hs Lê Bá Đảng
READ MORE - HỌA SĨ LÊ BÁ ĐẢNG

Wednesday, April 21, 2010

GS-TS HỒ NGỌC ĐẠI

Giáo sư Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại


- Ông sinh ngày 3-4-1936 tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
- Hồi trẻ ông học nghề sư phạm tại Nam Ninh, Trung Quốc.
- Năm 1968, ông sang Nga học ngành Tâm lý học và năm 1976 hoàn thành luận văn Tiến sĩ về Những vấn đề tâm lý trong giảng dạy Toán học hiện đại cho học sinh cấp 1.
- Năm 1978, ông thành lập và là giám đốc Trung tâm Công nghệ Giáo dục (CGĐ) để tiến hành thực nghiệm công nghệ giáo dục, công nghệ phát triển con người (cả về lý thuyết lẫn thực tiễn).
- Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại là một nhà khoa học giáo dục, một nhà tổ chức thực tiễn hoạt động giáo dục, một nhà giáo tràn đầy nhiệt huyết, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục, trước hết là giáo dục tuổi thơ và một nền công nghệ hóa giáo dục; một người "chịu thua tất cả chỉ để được công nghệ giáo dục". Tấm lòng của người thầy và trí tuệ của nhà khoa học được thể hiện trong từng bài viết. (NXB Lao Động).


Quan điểm sáng tác

- Những bài viết của Hồ Ngọc Đại cho ta thấy cả chiều sâu và bề rộng của trí tuệ và tâm hồn một người cầm bút.
- Chiều sâu: Cả đời Hồ Ngọc Đại nhất quán một nỗi băn khoăn Giáo Dục. Cần có một nền Giáo dục mới. Một nền Giáo dục buộc phải mới tận nguyên lý của nó. Một nền Giáo dục tất yếu phải trở thành sự Cứu Nguy cho dân tộc, nơi trẻ em là những Anh hùng Thời đại. Và một nền Giáo Dục không bị thần bí hóa bằng lời hô hào "sáng tạo" suông. Mà là một nền Giáo dục công ghệ hóa, có thể triển khai theo cái mẫu được các nhà khoa học tạo ra bằng thực nghiệm, như một Hồ Ngọc Đại cùng các cộng sự đã làm ra, kể từ năm học 1978-1979.
- Bề rộng: Bạn đọc sẽ thấy cả một gam rộng lớn những điều Hồ Ngọc Đại quan tâm. Không phải sự quan tâm tiện đâu nói đấy, cái gì cũng can dự. Mà đây là một con mắt sắc sảo dõi theo những băn khoăn của người đời để rồi chủ động dùng trí tuệ và tấm lòng của mình cùng giọng văn dễ đọc mà tìm cách thuyết phục sao cho mọi người cùng sáng lòng và đều có thể sống hạnh phúc. Vì thế mà, chẳng hạn như trước nỗi buồn Liên Xô tan rã, Hồ Ngọc Đại có bài viết về vấn đề đó. Rồi anh cũng có những kiến giải về "Tự do", về "Dân chủ", về "Hôn nhân", về "Gia đình", về... nhiều mặt chộn rộn chuyện đương thời.


Các sách chuyên đề đã xuất bản
- Những vấn đề tâm lý học trong việc giảng dạy Toán học hiện đại ở các lớp cấp I (Luận án tiến sĩ tâm lý học, tiếng Nga, Matxcơva, 1976)
- Bài học là gì? (1985)
- Giải pháp giáo dục, NXB Giáo dục, 1991
- Đổi mới giáo dục, Trung tâm Công nghệ Giáo dục, 1995
- Tâm lý học dạy học, NXB Đại học Quốc gia, 2000
- Hồ Ngọc Đại Bài báo, NXB Lao Động, 2000
- Cái và cách, NXB Đại học sư phạm, 2003
- Chuyện ấy, NXB Lao Động, 2009

Nguồn: chungta.com


Nhân loại hạnh phúc vì có nhà văn
An ninh thế giới cuối tháng
Thứ bảy, 04/07/2009



"Về bản chất nhà văn thời nào cũng thế thôi. Thời nào cũng thế, lúc nào cũng thế, chế độ nào cũng thế, bản chất của họ là cao cả. Không có nhà văn của tầng lớp này, tầng lớp khác đâu. Đã là nhà văn thì đó là hình tượng đẹp của nhân loại. Nhà văn là một thành tựu, một kết tinh, một biểu tượng của nhân loại", Giáo sư Hồ Ngọc Đại chia sẻ.
- Thưa giáo sư Hồ Ngọc Đại, nhân cách con người và nhân cách của một nhà văn có gì khác biệt?
- Về bản chất thì không khác nhau. Nhà văn là một con người trên khía cạnh nào đó họ rất nhạy cảm. Nhà văn là con người nhạy cảm nhất trong những người nhạy cảm. Họ nhạy cảm tức là những cái biểu cảm nhận được về bản chất là có thực nhưng mà theo cách nhìn nhận của họ thì có thể chỗ này phóng lên, chỗ kia thu lại nhưng rồi cuối cùng tất cả những sự thật ấy đều qua nhà văn và trở thành tác phẩm, chứ nó không từ hiện thực thực tế mà nó đến tác phẩm.


- Sự nhạy cảm của nhà văn là cảm nhận được những cái không bình thường. Từ những cái mà theo con mắt nhà văn không bình thường thì sẽ thành tác phẩm. Độc đáo của nhà văn là ở chỗ đó. Tức là về bản chất nhà văn rất thành thật. Bản chất của nhà văn dù có như thế nào đi chăng nữa, nếu là nhà văn thì là lương thiện.

-Văn là người. Đọc văn sẽ nhận ra người, tác phẩm biểu hiện nhân cách lớn? Xã hội đang đặt ra vấn đề nhân cách của nhà văn hiện nay?
- Nhà văn phải có tác phẩm. Nhà văn mà không có tác phẩm thì không là gì cả, không thành nhà văn được. Tác phẩm là gì, là những gì tinh túy nhất của nhà văn. Nhà văn là một con người thuần túy, thuần túy nhất về tinh thần, quan tâm nhất tới những vấn đề thuộc về tinh thần. Ví dụ như đạo đức là tinh thần, tất cả những đau khổ, vui sướng của con người đều là tinh thần, và tuyệt đối trung thành với tinh thần ấy.

- Bản chất của nhà văn là vậy. Cũng như cái anh nói dối biết rất rõ sự thật và lời nói là thống nhất nên anh ta mới nói dối. Cũng như cái anh đạo đức giả là anh ta biết rõ nhất về đạo đức. Nhà văn cũng biết đích thực điều mà anh ta hướng tới, sự cao đẹp mà anh ta thể hiện.

- Vậy bản chất nhân cách của nhà văn là gì?
- Đã là nhà văn là cao cả. Có thể có những nhà văn hèn hạ, viết ra những tác phẩm yếu kém. Những kẻ như vậy không thể đáng gọi là nhà văn. Đó là buôn chữ thôi. Tôi xin nhấn mạnh lại đã là nhà văn là cao cả. Những kẻ làm hàng giả mượn chữ để mua chữ và bán chữ để đổi chác, những kẻ đó không phải là nhà văn. Nhưng những kẻ đó là ngoại lệ, là ít ỏi, cá biệt và không đáng gọi là nhà văn.

- Nhưng không thể đánh lừa được đôi mắt tinh tế và nhạy cảm của độc giả?
- Trong cuộc đời tôi thấy rằng, anh có thể đánh lừa được một người, một trăm người, một triệu người nhưng anh không thể đánh lừa được cuộc đời.

- Vậy nhân cách của nhà văn chính là trung thành với sự thật?
- Trung thành với cuộc sống thực ấy. Cuộc sống thực này nó như thế nào thì anh phải trung thành với nó. Tức là anh trung thực với cuộc sống thực ấy, chứ không phải trung thành với một ai cụ thể cả. Bất cứ một ai thì cũng phải lấy cuộc sống thực ấy làm căn cứ.
Nếu anh trung thành với một người nào đó mà không phải cuộc sống thực thì có khi anh sẽ gián tiếp xuyên tạc sự thực. Cho nên nhà văn phải vượt qua tất cả mọi quản ngại để anh đến với cuộc sống thực. Cuộc sống thực ấy là cuộc sống của toàn dân, của cả một thời đại, một dân tộc, một lớp người.

Cuộc sống bao giờ cũng thật, nếu không thật không tồn tại được. Muốn giả thì cũng phải có cái thật trước đã mới giả được. Nhân cách của nhà văn đầu tiên và cuối cùng phải gắn với cuộc sống thực.

- Tài năng và nhân cách có mâu thuẫn nhau không? Hay nó là hai phạm trù có thể tách bạch?
- Cũng không đáng kể, cũng có thể tách bạch ra được, tương đối được. Có những người họ không biết một chữ nào cả, nhưng nhân cách rất đáng kính trọng; họ không nói được một câu nên lời nào cả, nhưng cuộc sống của họ rất tốt đẹp, cao quý.

Và ngược lại có những người biết rất nhiều chữ nhưng nhân cách lại rất đáng khinh. Tôi nhắc lại đó là những người giả, đội lốt, vì bản chất của nhà văn là cao cả. Tất nhiên muốn có tác phẩm lớn là phải có tài năng, nhưng có một tài năng chưa chắc đã có một nhân cách lớn.

- Nhân cách nhà văn xưa và nay có gì khác nhau không?
- Về bản chất nhà văn thời nào cũng thế thôi. Thời nào cũng thế, lúc nào cũng thế, chế độ nào cũng thế, bản chất của họ là cao cả. Không có nhà văn của tầng lớp này, tầng lớp khác đâu. Đã là nhà văn thì đó là hình tượng đẹp của nhân loại. Nhà văn là một thành tựu, một kết tinh, một biểu tượng của nhân loại.

Còn những cái hèn hạ thì không chấp, ở đâu cũng có, ngành nào cũng có, lĩnh vực nào cũng có. Riêng về nhà văn thì phải giữ được cái thiêng liêng của nhà văn, đó là niềm hạnh phúc của nhân loại, nhân loại hạnh phúc vì có nhà văn.

- Xin cảm ơn giáo sư!
READ MORE - GS-TS HỒ NGỌC ĐẠI

Wednesday, April 14, 2010

VÕ THỊ NHƯ MAI- Chùm thơ về gia đình của VÕ VĂN HOA



CHÙM THƠ
VỀ TÌNH CẢM GIA ĐÌNH
CỦA VÕ VĂN HOA

Võ Thị Như Mai,
Tây Úc


Một buổi sáng đẹp trời đi lạc vào vườn thơ của Võ Văn Hoa, tha thẩn một hồi đến quên cả lối ra, rồi tự bảo, nhẩn nha thêm tí nữa, thêm tí nữa, cho đến khi chạng vạng, mới giật mình quay về với thực tại. Khu vườn mênh mông đó đưa tôi qua nhiều tầng cảm xúc khác nhau, dẫn tôi đến những địa danh khác nhau trên cả nước và gặp được rất nhiều người, từ những em bé mới chào đời, đến các cô thôn nữ miệng cười chúm chím, các O, các mệ, các ôn, các chú, các nhà nho, nhà giáo, thầy thuốc và những người làm các ngành nghề khác nhau trên mọi miền tổ quốc. Tôi tìm lại mình qua những vùng đất ngày xưa tôi đã dừng chân ở một miền quê hương Quảng Trị nắng, gió, mưa, bão, lụt lội. Tôi thấy tôi đi qua làng An Thơ, nơi có con sông Ô Lâu, tôi thường đi theo chị đi đò từ sông Mỹ Chánh về ở lại chơi đến chiều lại lên. Tôi thấy tôi dạo chơi qua các đình làng, xem các bé con đánh bi dưới cây ngô đồng. Tôi thấy tôi qua Bến Đá, Cam Lộ, Khe Sanh, Diên Sanh, Hải Thành không theo một trật tự không gian hay thời gian nào cả. Ký ức bềnh bồng, mênh mông khiến tôi trở nên mộng mị, và có một khao khát mãnh liệt muốn trở về lại trên mảnh đất ấy, để hoà mình vào thiên nhiên, nói chuyện với những người dân bình dị, sống ở đó một thời gian chứ không phải chỉ dạo qua như một người khách du lịch. Tôi chưa từng biết ai viết nhiều, viết hay, cặn kẽ và bao quát về nhiều địa danh be bé trên mảnh đất Quảng Trị này như thế, có chăng là khi bạn tập hợp lại các bài viết của các tác giả khác nhau, may ra bạn có một cái nhìn tổng thể.
Đã có quá nhiều người viết về thơ của Võ Văn Hoa, có quá nhiều người họa thơ anh, ca ngợi vẻ đẹp trong thơ anh và phân tích thế giới thơ bao la của anh. Đặc biệt, thạc sĩ Bùi Như Hải đã có hai bài viết rất cặn kẽ, thấu đáo và ngùn ngụt cảm xúc về rất nhiều phương diện trong thơ Võ Văn Hoa qua hai bài “Ở Một Chân Trời Yêu Thương” và “Thế Giới Thơ Võ Văn Hoa”. Mọi người viết về anh với một lòng ngưỡng mộ và kính trọng sâu sắc, một Tri Âm Các bề thế, một nhà thơ giàu lòng nhân ái, một nhà quản lý giáo dục được mọi người xung quanh ngấm ngầm yêu thương, qúy mến và nể trọng. Với tôi, thơ Võ Văn Hoa có thể được ví như một cô gái nhu mì, hiền lành và duyên dáng. Cái đẹp trong cô không làm các chàng trai phải lòng ngay cái nhìn đầu tiên, nhưng một khi đã tiếp xúc, khó ai có thể quên cô được, bởi vì cô không những dễ thương, trẻ trung, đằm thắm mà còn rất sắc sảo, thông minh và hài hước.
Với thời gian hạn hẹp và với cảm nhận của một độc giả yêu thơ, hôm nay tôi xin giới thiệu với mọi người một phần thế giới thơ dịu dàng, sâu lắng dành cho gia đình của Võ Văn Hoa. Cùng cảm nhận với tôi nhé. Tôi cố ý không phân tích từng đoạn vì tôi có quan niệm rằng đôi khi “phân tích là hũy hoại tính thống nhất”

1.
Vào một ngày hội Làng, nhà thơ nghĩ đến người mẹ dấu yêu của mình. Tác giả mượn Làng Văn để nói về mẹ. Mẹ cũng như các dì, các cô gái làng Văn nói chung, rất đẹp và nền nã. Đó là những cô gái đứng đắn, thùy mị, khiến bao chàng trai ngẩn ngơ, trong đó đặc biệt có một người, yêu đến “cháy lòng”. Qủa là một cái nhìn thật mỹ miều.
CON GÁI LÀNG VĂN
Mẹ ngày xưa chắc đẹp lắm
Con gái làng Văn đi lấy chồng
Có kẻ phong trần ngơ ngẩn tiếc
Từ đây vắng bóng một bông hồng.

Con lại về thăm quê ngoại ta
Hội làng vừa mới được mở ra
Các dì – con thấy đều xinh cả
Tuổi trẻ tình yêu đẹp mọi nhà

Con gái làng Văn bạn biết không ?
Đoan trang tính cách, má môi hồng …
Ruộng lúa, biền ngô … xanh tiếng hát
Ấm lòng bè bạn những chiều đông !

Hội làng khép lại… hẹn mùa trăng
Giã bạn bây giờ biết nói năng…
Con lại soi mình về thuở …bố
Cháy lòng bên mẹ cội làng Văn

2.
Người bố trong anh là một người thầy mẫu mực, đáng kính từ từng cử chỉ, từng lời khuyên răn. Nhờ bố, các con đã nên người, đã sống thực xứng đáng. Nhờ bố, con học được bài học làm người, giữ nếp đạo lý gia phong, giữ cái tâm trong sạch.
Bố – người thầy đầu tiên của con
Truyền dạy cho con những Minh tâm Bửu giám …
Lên chút nữa , qua truông dài rú rậm
Bố dắt con mỗi sớm đến trường
Thời gian khó, nhà đong từng bữa gạo
Nếp gia phong từ mũi chỉ đường kim
Bố răn dạy học văn, học lễ
Để mai sau con mãi kiếm tìm
Con đã lớn : Lập ngôn, lập chí
Bố vui sao những đứa con mình
Củng cố đời con, đời bố hy sinh
Con thấy bố – người “trồng người” hạnh phúc
Giờ sang tuổi tám mươi tai lãng, mắt mờ
Tâm vẫn sáng, nếp nhà xưa vẫn giữ
Ngày đi xa, con càng thêm hiểu bố
Bố mãi là người thầy trong trái tim con

3.
Một người rất quan trọng làm nên một Võ Văn Hoa toàn diện, đó là người bạn đời của anh, người luôn thấp thoáng trong rất nhiều câu thơ rải rác khắp nơi của Võ Văn Hoa, tôi tìm thấy bóng dáng chị trong bài thơ anh post gần đây:
ĐÊM NÓI GÌ CÙNG TA
Tiễn em về phố xóm
Ánh đèn mãi lung linh
Để rồi đêm huyễn hoặc
Chất sâu nặng ân tình
Tố Nga con đã ngủ
Vương ông mãi thức hoài
Chú Thạch Sùng di trú
Chắt lưỡi hoài không thôi
....................
4.
Nhắc đến Võ Văn Hoa thì mọi người không thể không nhắc đến người em trai cũng không kém phần tài hoa của anh, thạc sĩ, giảng viên CĐSP Quảng Trị, nhà thơ Võ Văn Luyến, người cho rằng “Tôi gieo chữ trên cánh đồng hạn hán, con chữ khô cong thành dấu hỏi quay về”. Hai anh em cùng nhau ngồi đàm đạo, khề khà về những ngày tháng cũ, cùng nói chuyện thơ văn, tất cả được khắc hoạ rất chi tiết qua bài “Lai Rai Cùng Chú Em Võ Văn Luyến”
LAI RAI CÙNG CHÚ EM VÕ VĂN LUYẾN
Ly này
Nhớ về tuổi thơ
Anh em ta trong mái ấm gia đình
Nghèo khó thương yêu!
*
Ly này
Nhớ ngày đến trường
Mẹ thổi cơm sớm
Cha đưa các con qua truông Cu Hoan hằng năm trời
Mong con học cái chữ làm người!
*
Ly này
Nhớ con sông chảy qua làng Thi Ông
Những chiều hè anh em tập bơi, tập lặn
Sông đi vào thi ca!
*
Ly này
Nhớ những năm chiến tranh
Đỗ Đại học, em xếp bút nghiên
Đất nước bình yên
Trở về giảng đường yêu mến
*
Ly này
Tạ ơn tổ tiên, ông bà, mẹ cha…
Đã hun đúc, sinh thành chúng ta
Phù hộ độ trì cháu con thành đạt!
*
Ly này
Mừng thế hệ sau bước tiếp
Kế thừa truyền thống cha ông
Thắp ước mơ hồng…
*
Và ly này
Ngưỡng vọng bà con bạn bè
Động viên và chia sẻ
Con đường xanh tiếng ve…

5.
Với con gái Võ Hoàng Phương, Võ Hoàng Yến, và cậu con trai giống ba như giọt nước, nhà thơ thể hiện tình yêu thương qua những trang thơ thật cảm động.
THƠ TẶNG CON GÁI VÕ HOÀNG YẾN
Ra trường về Gio Linh
Con làm bên “Chia sẻ”
Có bao điều mới mẻ
Tiếng Anh bao ngọt ngào!
*
Quê nhà những ước ao
Lại về nơi cố quận
Thế giới trong “Tầm nhìn…”
Niềm tin vào thông tấn
*
Rồi đến một ngày kia
Mùa xanh cây trĩu quả
Đường hoa thơm cỏ lạ
Sóng vui vỗ quanh đời!
*
THƠ TẶNG CON GÁI VÕ HOÀNG PHƯƠNG
Học hành lập nghiệp xong
Thiên chức người phụ nữ
Ngày con đi lấy chồng
Thơm hương mùi hoa sữa
*
Kê tính đã một năm
Ba mừng sắp lên ngoại
Quê chồng không xa ngái
Nên được gặp con luôn
*
Ba tâm tình việc lớn
Nhỏ nhẻ mẹ bảo ban
Trong đời thường bận rộn
Yêu thương con dâng tràn !
*
GỬI CON TRAI
Ba theo dõi bản tin thời tiết
Hà Nội mấy hôm đã trở mùa
Con trai ba chưa quen cái rét
Ở tầng 3 nhớ tránh gió lùa !
*
Đi học phải quàng khăn kín cổ
Năm đầu tiên rồi sẽ thích nghi
Mọi thách thức chỉ là trước mắt
Tự vượt lên mình nuôi chí nam nhi
*
Hà Nội ngoài trái tim cả nước
Trong ba còn một trái tim…

6.
Niềm vui cuộc sống gia đình chỉnh chu của nhà thơ còn được bồi đắp bằng tiếng cười trẻ thơ của cháu ngoại trong hai bài thơ “Yêu Thương Dành Cho Cháu Win” và “Cháu Tôi”
YÊU THƯƠNG DÀNH CHO CHÁU WIN
Hoãn chuyến tham quan Hà Nội*
Đưa con “vượt cạn” khuya này
Chuẩn bị lên làm ông ngoại
Bên ngoài mưa gió bay bay…
14h 35 cháu khóc!
Nội ngoại vang tiếng cười
Mai ngày cháu khôn lớn
Yêu thương dành cho đời!
*
CHÁU TÔI
*Cho Nhật Minh ngoại tôn
Ngoại đi công tác Hải Hoà
Cháu về quê nội, ngoại nhoà lệ thương!
Thấm thoắt đã mấy tháng trường
Ấm êm tay mẹ, ngọt đường bà ru
Canh chầy từ …gió mùa thu
Ngủ ngoan cháu nhé, chim gù ngoài kia
Ngoại đi rồi ngoại sẽ về
Tối nay vắng cháu bốn bề lắng yên
Nhớ cháu tiếng khóc ngoan hiền
Căn phòng lửa ấm xanh miền dấu yêu
Giờ còn khoảng trống bao nhiêu
Rộng thênh nỗi nhớ…
bao điều …cháu con!
Đêm nay ngoại ngủ không tròn…
*
Võ Văn Hoa đi đứng ra thơ, thở ra thơ, nói ra thơ và gủi gắm tình cảm của mình qua thơ. Bất cứ phút giây nào, đi đâu, gặp ai, nghe gì, đọc gì, cảm gì và nghĩ gì anh cũng trải dài trên trang giấy thành những vần thơ sóng sánh, bình dị, trong trẻo và êm dịu. Gửi đến anh những lời chúc tốt lành nhất của một người yêu thơ anh nhân kỷ niệm sinh nhật nhà thơ 15/4/2010.
VTNM
14/4/2010


READ MORE - VÕ THỊ NHƯ MAI- Chùm thơ về gia đình của VÕ VĂN HOA