Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, October 8, 2013

AN GIANG, KHI VỀ & KHI ĐI – thơ Huy Uyên

Ảnh từ trang sotaydulich.com


Về An-giang mà lòng ngơ ngẩn
phù-sa theo mùa nước nổi tràn đồng
cá tôm Mê-kông ngọt thơm năm tháng
Đồng-tháp xanh bờ,
em có còn đẹp như xưa không?

Miền Tây chờ mùa thu về theo con nước
mênh mông cho trái tim nao lòng
về Bảy-núi mà nghe chim hát
điên-điển vàng trời sắc bông.

Vĩnh-tế thuyền qua rộn ràng
Long-xuyên chợ đông ngày hội
sông Hậu dịu dàng quá đỗi
Búng-bình-thiên, Trà-sư
đợi em về theo sang.

Châu-đốc gởi tình về La-vung
gói cho em xâu nem xanh cùng hồng quít
nước ở đâu mà kín bưng đồng
(em chèo thuyền đi gặp anh không
hay bên ngoài trời tối mịt?)

Lấp-vò em đi đường làng xao xuyến
những mái nhà nép dưới tàng cây
bên sông ai tay vẩy tiễn
trên trời cao bay đi từng đám mây.

Đẫm vàng từng nhánh lúa bông
trong thôn vang tiếng người hò giả gạo
những con thuyền khua mái trên sông
qua Vàm-cống mà lòng rộn rã.

Long-xuyên mái tóc dài con gái
giữa trưa thêm hai má ửng hồng
đường thênh thang tình theo nắng mưa ra trải
anh về Sài-gòn rồi em còn nhớ anh không?

Mưa chiều giăng hàng cây bên đường
Thất-sơn mây ngủ cô-đơn đầu núi
màu-xanh-lam-mờ-hơi-sương
chim chiều bay đi đâu mà sao quá vội .

Xanh non ruộng đồng bên thốt-nốt
vươn cao như đón đợi ai về
những bông điên-điển chiều vàng nhạt
và những bầy trâu nhai cỏ trên đê.

Ơi An-giang đau-đáu một miền quê
đi sao mà lòng hoài thấy nhớ
để trọn đời theo kịp nắng mưa che
để Mê-kong trăm năm
những mùa nước (nổi) ngập đầy hoa nở .


Huy Uyên
READ MORE - AN GIANG, KHI VỀ & KHI ĐI – thơ Huy Uyên

Thơ Hoàng Đình Chiến - SUÔNG - LỤC BÁT HỨNG DỪA





SUÔNG

Trăng suông
lạnh lẽo lưng trời
Rượu suông
nhắm với nụ cười thêm say
Chiều suông
vàng gió heo may
Đêm suông
vô cảm lắt lay đợi người
Lời suông
mật ngọt tình đời
Canh suông
bảng lảng một thời bể dâu
Đời suông
khuyết nửa tinh cầu
Dáng suông hờ hững
bóng câu qua thềm.






LỤC BÁT HỨNG DỪA

Em ơi xòe váy rộng ra
Để anh thảy xuống chùm ba trái dừa
Thôi thôi như thế là vừa
Kẻo lão trưởng ấp cù cưa, hắn dòm.

(Cảm tác khi xem tranh Đông Hồ: "Hứng dừa” )

Hoàng Đình Chiến


READ MORE - Thơ Hoàng Đình Chiến - SUÔNG - LỤC BÁT HỨNG DỪA

THẢM CỎ - thơ Trương Nguyễn





Thảm cỏ tôi!
Giữa thảo nguyên đời bất tận
Nắng rát-mưa dầm
Bão lũ thường xuyên

Thảm cỏ tôi!
Mấy ngàn năm chinh chiến
Vó ngựa-gót giày đạn nổ bom rơi
Dẫm nát rối bời tận cùng gốc rễ

Thảm cỏ tôi!
ấp ôm biết bao nhiêu xương thịt
cha mẹ ông bà…
bậc tiền nhân anh kiệt
rã mục hanh hoai
nuôi mãi cây đời

Thảm cỏ tôi!
Qua rồi thuở điêu linh
Trải lên đây màu nắng thanh bình
Cỏ biêng biếc ngời xanh ngọc bích
Giấu bên trong…

                      Đôi chút tật nguyền.

Trương Nguyễn
READ MORE - THẢM CỎ - thơ Trương Nguyễn

Thanh Hương - CẢM NHẬN QUA BÀI THƠ "GỞI EM SƯƠNG CHIỀU BẢO LỘC" CỦA HOÀNG YÊN LYNH




Tôi gởi em cả khung trời Bảo Lộc
những con đường phố núi dốc quanh co
Tôi  gởi em chút tình sầu bạc tóc
Đến cuối đời vẫn chưa trọn tình thơ .

Tôi muốn gởi sương chiều mềm vai nhỏ
dáng ai nghiêng sương núi chập chùng bay
Ở nơi đó em có gì để nhớ
Con đường nào sương phủ kín đôi vai .

Ở nơi đó chắc chẳng sầu quan tái
Trời Cali nắng gió lắm không em
Em ra đi để tình tôi ở lại
Sương vẫn đầy theo những bước chân đêm .

Nơi xa lắm có khi nào gặp lại
nắng nhạt nhòa và một chút sương rơi
Dẫu là thế vẫn không là Bảo Lộc
Trời B'Lao thôi cũng đã xa rồi ...

Tôi gởi em chút tình người phố núi
Tiếc một điều sương chẳng gởi được em
Mai mốt rồi dấu chân em trở lại
Có tình tôi , sương trắng phủ vai mềm

Hoàng Yên Lynh


Một bài thơ hay không thể không có hai yếu tố: Cảnh và tình. Cảnh là ngoại cảnh (sự việc, hiện tượng diễn ra trong tự nhiên xã hội). Tình là tình người trước ngoại cảnh đó. Ở đây, bài thơ "Gởi em sương chiều Bảo Lộc" của Hoàng Yên Lynh có đủ cả hai yếu tố này.

Tôi quen anh năm 1995, cùng tham gia BCH Hội CMHS nơi có con tôi và con anh đang theo học. Gần gũi nhau, tôi thấy mình thua Linh nhiều. Anh là cựu SV trường Luật, biết làm thơ, có giọng hát hay, việc làm đâu ra đó, rõ ràng, mạch lạc, đạt kết quả. Một anh có bằng trung cấp quèn như tôi phải ngưỡng mộ. Đặc biệt, sự hiểu biết, kiến thức của anh rất sâu rộng. Ở đây, tôi chỉ dám nêu cảm nghĩ của tôi về thơ của anh. Bởi tôi yêu thơ, thích thơ, từng phổ nhạc cho nhiều thơ của các bạn tôi thành bài hát.

Trong "Gởi em sương chiều Bảo Lộc" tác giả gởi người bạn gái (có thể là người yêu) cả  "khung trời Bảo Lộc" . Khung trời đó có "con đường phố núi dốc quanh co, có "sương chiều",  có  "nắng nhạt nhòa"  và "một chút sương rơi ", có "chút tình người phố núi" ...  Đây là cảnh Bảo Lộc, đẹp và rất thơ. Thế còn cái tình? Tình người ở đây chính ở ngay những nét đẹp mà Hoàng Yên Lynh nói ngay trong cảnh đẹp Bảo Lộc. Yêu cảnh đẹp tha thiết, chứng tỏ người đó có tình, hơn nữa, tình của nhà thơ lại sâu đậm hơn. Những người không làm được thơ thấy cảnh đẹp, chỉ kêu được đẹp quá. Còn đẹp như thế nào thì chỉ có nhà thơ mới tả được. Như vậy, bài thơ chứa cả cảnh (ngoại cảnh) cả tình (tình người) trong đó.

Cần gì phải nói, em ở Cali ơi, anh yêu em lắm, nhớ em lắm mới là thể hiện được lòng mình. Mà chỉ cần thông qua cảnh "sương phủ kín đôi vai",  "sương trắng phủ vai mềm". Ta hiểu tác giả đã cùng đi với người con gái nào đó, nhiều lần dưới "sương chiều Bảo Lộc" để tâm tình để bàn bạc tương lai nhưng vì một nguyên nhân nào đó, hai người phải xa nhau, để người con trai (tác giả) "đến cuối đời vẫn chưa trọn tình thơ" nhưng cũng phải nói để em biết rằng trong tôi vẫn còn "chút tình sầu bạc tóc". Bạc tóc vì lo cơm ăn áo mặc hàng ngày, bạc thêm nữa vì em ở xa cuộc sống ra sao? Vì yêu thương mà anh có thêm phần lo cho em. Lo để buồn, buồn vì không giúp gì cho em được. Và vì thế, tôi nhớ thương em suốt đời, nỗi nhớ ấy tôi nhắc lại "trong khung trời Bảo Lộc, có phố, sương, có đôi vai mềm ... " Thế còn em? em đi, để tình tôi ở lại, chính là em để lại hình bóng em cho tôi, để lại  những bước chân đêm của em, đầy sương, đầy thương nhớ ... "

Mỗi nhà thơ, hoặc mỗi một người có một kỷ niệm để nhớ cả đời. Có người nhớ con thuyền, dòng sông, nhớ con suối, nhớ chợ Huyện ... Nơi đó có những mối tình. Anh Hoàng Yên Lynh có mối tình trong sương chiều Bảo Lộc. Sương nhiều thì đẹp, nhưng đi trong sương thì ... lạnh, hay đó mới là nét riêng của anh, nét riêng ấy bắt người đọc suy xét và để rồi, nếu chưa một lần lên Bảo Lộc, ta hãy lên để xem sương Bảo Lộc buổi chiều như thế nào?

Có người đã hỏi tôi thế nào là một bài thơ hay? Tôi nói: Đọc bài thơ ấy, tác giả nói hộ mình những suy nghĩ, nhắc hộ mình những kỷ niệm, chỉ cho mình những hướng đi, nhắc cho mình những tiếc nuối với những ước muốn mà mình đã có trong đời thể hiện ngay trước mắt mình trong bài thơ của người viết có thể người viết mình chưa hề gặp mặt nhưng họ đã nói hộ trái tim mình mà mình không nói được ra bằng lời Thơ.

Bài "Gởi em sương chiều Bảo Lộc" của Hoàng Yên Lynh, với tôi, là một bài thơ hay mà tôi đã đọc, và suy tư. Anh cũng nói hộ tôi, bởi tôi cũng có một mối tình đầu, nó diễn ra ở những đêm trăng bên bờ sông quê thơ mộng.Thế rồi người đó đã đi xa. Để mình tôi ở lại ...

THANH HƯƠNG
B'Lao

10.2013


Hoàng Yên Lynh gởi đăng.




READ MORE - Thanh Hương - CẢM NHẬN QUA BÀI THƠ "GỞI EM SƯƠNG CHIỀU BẢO LỘC" CỦA HOÀNG YÊN LYNH

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC





Than ôi, tướng Giáp qua đời!
Trào dâng thương tiếc bao người Việt Nam.
Từ ngày đất nước nguy nan,
Người lập quân đội, sẵn sàng đấu tranh.
Xây dựng lực lượng trưởng thành,
Đánh cho quân giặc tan tành khắp nơi.
Niềm tin chiến thắng sáng ngời,
Trận Điện Biên Phủ để  đời vinh quang.
Giặc Pháp thua nặng phải hàng,
Cái mộng xâm lược tiêu tan chẳng còn.
Quân dân đất Việt sắt son,
Quyết tâm chiến đấu bảo tồn Giang sơn.
Rồi đến giặc Mỹ mạnh hơn,
Dùng nhiều kế độc tưởng khôn lừa người.
Không ngờ cũng thế cả thôi,
Thất bại nhục nhã phải rời Việt Nam.
Ngọn cờ chính nghĩa sang trang,
Việt Nam thống nhất huy hoàng yên vui.


Nguyễn Hồng Trân
READ MORE - VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC

Monday, October 7, 2013

THÀNH PHỐ BIỂN MÙA THU - thơ Phan Minh Châu




Thành phố biển sắc Thu vừa mới gọi
Áo mùa Thu se sắt đến nao lòng
Chiếc lá rụng gieo nhánh sầu xuống tuổi
Tay em gầy hụt hẫng đến chơi vơi….
Thu một thuở nuôi tình em mới chớm
Biển trong xanh soi tóc tháng năm dài
Em cuối xuống biển đời em mộng mị
Để trăng hờn phai sắc nhuốm sương mai
Em xa mãi những lời yêu ma quái
Lời mật trong như cánh kiến hoa vàng
Em chết đứng bên nỗi đau quằn quại
Để tâm hồn năm tháng lửa không tan
Nay trở lai phố người mua ký ức
Biển vẫn xanh và xanh đến nao lòng
Sống lớp lớp vẫn đè trên lồng ngực
Áp nỗi buồn lên đáy mắt Thu Phong


       PHAN MINH CHÂU
READ MORE - THÀNH PHỐ BIỂN MÙA THU - thơ Phan Minh Châu

NGẨU CẢM - thơ Trương Nguyễn














(Dung Quất, ngày 27.8.07)

Không mong mưa!
Dù đồng tôi khô hạn
Sa mạc đời bỏng rát bàn chân
Ta đào bới mồ hôi lẫn vào trong cát
Giọt mật thơm ân huệ của ngày

Biển nơi đây
Mẹ đại dương tươi mát
Yên bình xanh ngát tận chân trời
Lũ em tôi da ngời màu nắng
Kiêu hãnh không gian những chiếc lưng trần

Bước liêu xiêu
Ngất say trong gió
Chân thấp cao đem khát vọng lên đường
San sẻ nhau chút tình cơm áo
Sống dạn dày hừng hực thùy dương

Có đôi khi!
Ngỡ là lính thú
Của một thời huyền thoại xa xưa
Ôm khẩu thần công đăm đăm phía biển
Đại bác ta nâng chỉ một trò đùa

Tái hiện bằng
Bê tông cốt sắt
Ngày đó hào hùng oanh liệt trời Nam
Máu cha ông một thời khuất tất
Lẫn vào trong huyền sử ngàn năm

Ta ngồi đây
Đau niềm đau suy gẫm
Những trang đời nghiệt ngã lật qua
Thơ bỗng nhòe mồ hôi thấm đẫm/
Hằn sâu thêm vào đáy tâm hồn.

Trương Nguyễn
READ MORE - NGẨU CẢM - thơ Trương Nguyễn

THẬT GIẢ - Trà Thanh Lam



Bán mua vàng bạc, đô la
Đổi trao “tự có’’ xót xa mẹ hiền
Chạy dự án, bán chức quyền …
Giáo sư, tiến sỹ, bỏ tiền ra mua
Hỏi trời, trời cũng chịu thua
Vẫn vênh ra giữa ban trưa, nói cười …
Còn bao nhiêu thứ trời ơi
Luận văn, bằng cấp chào mời gần xa         
Thương binh, chất độc, hồn ma
Cũng còn giả dối huống là văn thơ
Còn bao nhiêu thứ dật giờ 
Có tiền, nó cũng tới sờ được thôi.
Kiếp người  đen, trắng, đầy, vơi…
Hỡi ôi !
         thật giả,
                 giữa đời,
                            làm sao?

                                 7.10.2013  
                                 Trà Thanh Lam  
READ MORE - THẬT GIẢ - Trà Thanh Lam

Sunday, October 6, 2013

HOA HỌC TRÒ - Truyện ngắn Trần Hữu Thuần - Tiếp theo kỳ 4 và hết

ĐÃ ĐĂNG:
KỲ 1
KỲ 2
KỲ 3
KỲ 4


Lẹ  làng như một con sóc, Nguyệt rời khỏi hai đùi tôi, tuột xuống đất bò quanh sạp chụp lại các con dế đang chạy tứ tán tìm đường tẩu thoát. Lũ dế nhảy lung tung khắp mọi chỗ, con trong kẹt, con trên vách, con nằm dưới mái chòi lộn ngược. Nguyệt cười khanh khách, vừa chộp vừa la hét:

“Lũ tù trốn trại, bà bắt lại cho bằng hết.”

Chẳng mấy chốc, Nguyệt đã khéo léo bắt lại gần hết lũ dế trốn chạy, ngoại trừ những con đã thoát được ra bên ngoài. Sau đó, hai chúng tôi mê mẫn “luyện dế” quên cả thời gian đang trôi qua cho đến khi có tiến chị tôi réo về ăn cơm trưa.

Những lần khác, chúng tôi không ra nhà mình mà đi sâu về phía suối, rong chơi trong vùng thám hiểm của chúng tôi. Vùng thám hiểm nói cho đúng không chỉ dành riêng cho Nguyệt và tôi, nhưng chúng tôi có một chỗ riêng biệt không bạn bè cùng trang lứa nào biết đến, và chưa từng đưa ai đến đó. Đó là một khu nằm hơi sâu trong rừng cạnh một hang động có đoạn suối chạy vòng vèo bao quanh, nước trong veo nhìn thấy nhiều con cá lội trên đáy sỏi cát. Trước mặt, mở ra rừng sim tím, móc, muồng đen, và sót trắng bao la. Sim trái to như đầu ngón tay, ngọt lịm, cắn vào tứa nước mát rượi và làm tím rịm đôi môi. Sót luộc lên ăn bùi, người lớn đùa bảo chúng tôi đó là “cứt cọp.” Toàn cảnh như một bức tranh vẽ nằm lọt thỏm giữa ba phía cây rừng cao vút xanh ngắt, chừa một phía mở dần ra nhìn thấy chân trời. Từ trong một hang hóc nào gần bờ suối, một chú cóc lỏm tỏm nhảy đến mỗi khi Nguyệt và tôi bắt đầu nổi lửa nướng cá câu được chuẩn bị cho bữa “tiệc” gồm cá nướng với trái cây rừng. Chẳng biết do cách nào, Nguyệt đã “thuần hóa” được chú, và đó là trò vui của chúng tôi. Thấy chú đến, Nguyệt bẻ que dí vào đuôi, cóc ngóc đầu lên, dí vào đầu, cóc ngóc đuôi lên. Nhìn thấy có giương thô lố đôi mắt ngóc đầu rồi ngóc đuôi như con lật đật, hai chúng tôi cười rũ rượi. Nhớ lại chuyện Hoàng tử Cóc, tôi đùa bảo Nguyệt:

“Hoàng tử Cóc đó. Em hôn nó một cái, nó trở lại thành hoàng tử cưới em rồi đem về hoàng cung cho coi.”
Nguyệt thẹn đỏ bừng mặt, đấm tôi huỳnh huỵch, làm bộ  giận:

“Anh đó nghe. Bộ em xấu lắm răng phải đợi cóc đến cưới?”

Tôi cười:

“Mô phải cóc, hoàng tử đó chơ.”

Tuổi trẻ hồn nhiên không cho chúng tôi kịp nhận biết một ngày trôi qua là tuổi đời chúng tôi chồng chất thêm một ngày, và gia đình chúng tôi chồng chất thêm nhiều thay đổi. Anh thứ hai của tôi và một người con gái cùng làng yêu thương nhau nhưng không đến được với nhau vì gia đình cô ấy chê gia đình tôi quá nghèo, chê anh tôi lỡ thầy lỡ thợ. Thất tình thất chí, anh tôi bỏ An Đôn xuống Trí Bưu gặp ông Ba Thiên đang mộ phu vào làm việc cho đồn điền cao su ở Xuân Lộc, đồn điền có tên gọi là Sở Cao su SIPH, tức Société Indochinoise de la Plantation d’Hévéa. Anh tôi nhập vào đoàn và vì có chút chữ nghĩa và chút tiếng Pháp nên được phong làm surveillant. Không lâu sau đó, chị đầu của tôi lập gia đình theo chồng dọn lên Phước Môn. Anh tôi sau khi ổn định tại Xuân Lộc, quay về An Đôn đưa mạ và người chị thứ năm của tôi vào theo anh, để tôi lại cho người chị thứ tư, dặn dò chị tôi lo cho tôi tiếp tục học để vào chủng viện tu học làm linh mục. Anh bảo chị tôi và tôi khỏi lo lắng gì về tiền bạc vì khi gia đình chúng tôi rời quê nội Phúc Lộc lên An Đôn, cha tôi đã để ruộng rẫy hương hỏa mà cha tôi được hưởng lại cho thím tôi canh tác, không chia hoa lợi gì ngoài chuyện lo cho tôi ăn học sau này, nhất là khi tôi vào chủng viện.

Nguyệt và tôi tiếp tục quây quần bên nhau, cùng đi học, cùng về nhà, cùng nghịch ngợm ở “nhà mình,” cùng chơi đùa ở khu thám hiểm của chúng tôi. Tuần vài ba lần mua nắng nóng, chúng tôi cùng bạn bè ra sông tắm. Mạ Nguyệt không bao giờ cho Nguyệt ra sông mà không có tôi. Bà dặn đò tôi:

“Em nó nhỏ, đi một chắc không được. Có con coi chứng, mạ mới yên tâm cho nó đi”

Thực tình, tôi chẳng lớn tuổi hơn Nguyệt bao lăm nên cũng chưa hiểu thấu coi chừng là phải coi chừng như thế  nào. Thêm vào đó, chẳng hiểu do ai đặt ra thành lệ, con trai con gái dù đang ở tuổi cởi truồng tắm mưa như tôi và Nguyệt lại không được tắm chung với nhau cùng bến. Có lẽ lệ này đặt ra cho người lớn theo quan niệm nam nữ thọ thọ bất thân, chúng tôi chẳng suy nghĩ gì nhiều nên nghe vậy liền áp dụng vào tuổi chúng tôi. Vì thế, đến bờ sông, trai gái tự động tách ra hai bến cách nhau một khoảng xa không nghe rõ tiếng cười đùa của nhau và không nhìn thấy nhau. Do tách biệt nhau như thế, tôi chẳng cách nào theo sát để coi chừng Nguyệt được như lời mạ Nguyệt dặn dò. Có muốn chăng nữa, hai chúng tôi cũng không chịu đựng được bạn bè trêu chọc, cặp đôi cặp lứa. Vì thế, tôi chỉ trông chừng Nguyệt được bằng cách lâu lâu lặn một hơi qua bến con gái, chẳng dám ló người lên vì chúng tôi con trai đều tắm truồng. Tôi ngóc đầu lên gọi lớn:
“Nguyệt ơi, Nguyệt ơi.”

Từ  đâu đó, Nguyệt đáp lại:

“Em đây, em đây.”

Nghe tiếng Nguyệt tra lời, tôi yên tâm lặn một hơi quay về bến con trai. Hơn nữa, tôi còn yên tâm vì hai bến tắm đều quen thuộc, đứa nào cũng tường tận mực nước nông sâu chừng nào, tường tận chỗ nào có hố có xoáy dưới nền cát. Ngoài ra, bọn chúng tôi lúc nào cũng chừng đó đứa rủ nhau đi tắm, biết nhau rõ ràng gầy béo cao thấp, đứa nào lội giỏi đứa nào lội dỡ để canh chừng lẫn nhau. Dù chỉ “trôngchừng” mau lẹ như vậy, đám bạn Nguyệt vẫn lao nhao la lối cho rằng tôi ăn gian không giữ đúng lệ “phân chia giới tuyến.”

Một hôm, sau khi đã làm xong thủ tục “lặn” qua thăm chừng Nguyệt lần chót rồi yên chí mọi sự bình an như mọi lần, tôi quay lại bến con trai giỡn nước với bạn bè. Tắm xong, chúng tôi ùa nhau lên bờ mặc lại quần áo. Xỏ vội chiếc quần xà lỏn vào đôi chân đang ướt, tôi cầm áo chạy vụt qua bến con gái gọi Nguyệt đi về như vẫn làm mỗi lần tắm xong. Bỗng, tôi đứng khựng lại. Bọn con gái đã thay quần áo khô nhưng không tíu ta tíu tít cười đùa như mọi lần mà một số ôm nhau kêu khóc vây quanh một đống quần áo nằm trên mặt cát, số khác hướng ra sông kêu gào gọi tên Nguyệt. Hoảng hốt, tôi lao đến cuống quít hỏi:

“Chi rứa? Cái chi rứa?”

“Nguyệt.”

Một  đứa trong bọn chỉ tay xuống sông trả lời gọn lỏn. Hiểu ngay chuyện gì đang xẩy ra, không kịp nghĩ tại sao lũ con gái không báo động khi thấy Nguyệt gặp nguy hiểm, hoặc ít nữa khi lên bờ không thấy Nguyệt mà lại ôm nhau gào khóc, tôi phóng ào xuống nước ngụp lặn tìm Nguyệt. Hụp lặn dưới mắt nước, mắt mở to chăm chú tìm kiếm, tôi thỉnh thoảng ngoi đầu lên vừa thở vừa réo tên Nguyệt. Không tăm dạng. Tôi lại hụp xuống quờ quàng, hi vọng vớ được Nguyệt nằm đâu đó. Chẳng vớ được gì. Tôi lặn lên đầu trên ngược suống đầu dưới, lặn qua trái lặn sang phải, lặn ngang lặn dọc, lặn khắp vùng nước mà tôi biết rõ đám con gái thường tắm. Chẳng tìm thấy gì. Vùng vẫy trong nước lâu giờ, tôi kiệt sức hồi nào không biết. Đầu óc tôi đặc lại mê muội. Mắt tôi mờ dần. Tôi lã người chìm dần xuống nước, trí óc thầm bảo Nguyệt:

“Nguyệt ơi, lỗi tại anh đã không trông em như mạ dặn.”

Tôi ngất đi, chìm lỉm, cho đến khi trong cơn mê hoảng vớ được một bàn tay ai đó đang chìa ra kéo tôi lên. Vừa ngoi lên khỏi mặt nước hít ngụm khí đầu tiên, tôi không nghĩ gì đến thân tôi mà, nước mắt ràn rụa, vùng vẫy muốn lao lại xuống nước, miệng hét lên với người lớn đang xôn xao ở đó:

“Cứu Nguyệt! Cứu Nguyệt giùm con.”

Không ai trả lời tôi. Tôi ngất đi. Khi tỉnh lại, mở mắt thấy chị tôi đang lo lắng nhìn tôi, tôi mới biết đang nằm trên giường tại nhà tôi. Ai đó đã bế tôi về khi tôi rơi vào hôn mê. Tôi thều thào hỏi chị:

“Cứu được Nguyệt chưa chị?”

Chị  tôi không trả lời, chỉ lắc đầu nhìn tôi. Thì ra, người lớn đã cứu được tôi nhưng vẫn chưa tìm thấy xác Nguyệt. Tôi lại rơi vào cơn mê loạn, miệng không ngớt rên rỉ xin người ta cứu Nguyệt. Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, tôi lại òa lên khóc. Biết tôi đã tỉnh lại, mẹ Nguyệt bước đến cạnh giường tôi, giúi vào tay tôi bộ quần áo Nguyệt chưa kịp thay bỏ lại trên bờ sông, rồi gục xuống cạnh giường, gào không thành tiếng:

“Con ơi là con, Nguyệt ơi là Nguyệt.”

Mẹ  Nguyệt ngất lịm đi. Tôi hét lên một tiếng thất thanh rồi lại chìm vào cơn mê sảng. Không biết tôi ngất đi lần này trong bao lâu, chỉ tỉnh lại khi nghe tiếng xôn xao từ bên nhà mẹ Nguyệt vọng sang:

“Tìm được xác rồi.”

Liền  theo đó, tôi nghe tiếng mẹ Nguyệt khóc lớn và tiếng chân chạy rầm rập. Tôi nhỏm dậy định chạy theo ra bờ sông chỗ đang đặt xác Nguyệt nhưng chị tôi chạy vội đến giữ tôi lại. Chẳng giải thích lí do, chị đưa quần áo giục tôi thay đổi:

“Thay mau lên, mình đi liền.”

Tôi vừa xỏ chân tay vào quần áo vừa hỏi lại chị:

“Đi mô, ra chỗ Nguyệt?”

Chị  tôi lắc đầu quầy quậy:

“Không, đừng hỏi lôi thôi, về Phúc Lộc.

Tôi vừa mặc xong quần áo, chị tôi nắm tay tôi kéo vụt ra cửa chạy nhanh theo con hẽm đi ra đường cái. Hoảng hốt vớ bộ quần áo của Nguyệt mà mẹ Nguyệt giúi vào tay tôi ban nãy, tôi chạy vùn vụt theo chị. Hai chị em cắm đầu chạy như đang bị ma đuổi. Đến đường cái, nhìn thấy nhiều người lố nhố ở bến sông mà tôi đoán đang đứng quanh xác nguyệt, tôi chậm lại hỏi chị:

“Cho em ra nhìn Nguyệt một chút?”

Chị  tôi giúi tôi về phía trước, quắc mắt nhìn tôi, gắt giọng:

“Chạy mau lên. Gặp rắc rối liền chừ.”

Tôi ba chân bốn cẳng chạy theo chị, chẳng hiểu gặp rắc rối là gặp điều gì. Chẳng lẽ người ta bắt tôi liên lụy về cái chết của Nguyệt? Tôi thương Nguyệt bao nhiêu cũng chưa đủ, có đâu lại làm hại Nguyệt? Ai cũng biết tôi chẳng cách nào sát cánh canh chừng Nguyệt được vì con trai con gái phải tắm riêng nhau. Ngồi thụp xuống không chịu đi tiếp, tôi gào lên năn nỉ chị:

“Chị  ơi, cho em thăm Nguyệt một chút, nhìn mặt một chút rồi mình đi, nghe chị?”

  Chị tôi vừa thở hồng hộc vừa cương quyết lôi tôi đi như lôi theo một bị gạo. Hai người đàn ông đi ngang qua, nghe chị tôi nhờ liền xốc nách nhấc bỗng tôi lên chạy một đoạn đường dài, mặc tôi giẫy giụa kêu gào thảm thiết.

* * *

Tôi không được  nhìn mặt Nguyệt lần chót, không được dự đám tang Nguyệt, cũng chẳng biết mồ mả Nguyệt ở nơi đâu. Không một người thân nào trong gia đình tôi cho tôi biết. Chẳng ai cho tôi về lại An Đôn tìm thăm mồ mả Nguyệt. Dẫu vậy, tâm hồn tôi là mồ chôn Nguyệt, mồ chôn mối tình bé nhỏ thơ ngây của Nguyệt và tôi. Ngày tháng ở Phúc Lộc, tôi sống âm thầm với bộ quần áo của Nguyệt, kỉ vật duy nhất nhắc tôi nhớ đến Nguyệt. Ngày đêm bộ quần áo đó kè kè bên tôi, khi thức cũng như khi ngủ, nằm trong cặp tôi khi tôi đi đến trường. Nhưng rồi chẳng hiểu đã có một lúc nào đó tôi sơ hở, thím tôi ở Phúc Lộc đã thừa dịp lấy mất và hủy hoại kỉ vật duy nhất đó. Phải chăng gia đình tôi không muốn tôi mõi mòn với kỉ niệm của thời măng dại đầy hương thơm của Hoa Học trò? Mọi người, nhất là anh tôi, chẳng những muốn tôi quên Nguyệt mà quên cả cuộc sống thế tục để vào chủng viện học tập hi vọng trở thành linh mục. Nhưng, trần thế đã vấn vương tôi, hình bóng Nguyệt không lúc nào rời khỏi tâm trí tôi. Tuổi non dại qua đi, tôi lớn lên đi vào đời mang theo hình bóng Nguyệt không lúc nào rời, mang theo trong ngày tháng chinh chiến bôn ba xuôi ngược, mang theo cả trong cuộc sống gia đình. Kỉ niệm về Nguyệt đầy ắp trong tôi đến nỗi tôi không còn che đậy mãi được nữa, phải thú thật tâm tình thơ dại giữa tôi và Nguyệt với người vợ mà tôi nhất mực yêu thương. Nghe xong, vợ tôi chẳng những đã không cho là chuyện trẻ con vớ vẩn mà còn chia sớt nỗi đau đớn của lòng tôi. Tôi đã có một người tri kỉ ở tuổi thơ dại và một người tri âm trong phần còn lại của cuộc đời. Người tri kỉ đã bỏ tôi đi khi tuổi tôi chưa lớn, người tri âm rồi cũng bỏ tôi đi khi tuổi tôi đã xế chiều.

Giờ  đây tóc trên đầu đã bạc nhiều hơn đen, tôi vẫn không biết mồ mả Nguyệt ở nơi nào, còn hay mất sau bao nhiêu tháng ngày chinh chiến. Nhưng, bao lâu trên cõi đời này còn tồn tại loài hoa mà Nguyệt với tôi gọi là Hoa Học trò bất chấp người khác gọi tên là gì, hình bóng Nguyệt vẫn sống động trong tâm hồn tôi. Nhờ lòng thương xót của vị Thiên Chúa mà tôi đặt hết niềm tin, tôi chắc chắn sẽ gặp lại người tri kỉ và người tri âm của tôi. Đâu đó trên cõi cao xanh, chắc chắn cả hai đang mỉm cười chờ đón tôi trong ngày tái ngộ sum họp không bao giờ sự chết còn chia cách được nữa.

Người tri kỉ ơi, người tri âm ơi, anh đang chờ đợi mỏi mòn.

Trần Hữu Thuần




READ MORE - HOA HỌC TRÒ - Truyện ngắn Trần Hữu Thuần - Tiếp theo kỳ 4 và hết

Saturday, October 5, 2013

LỜI QUÊ - thơ Lê Đăng Mành

Gởi eng TRƯƠNG THÚC

Tranh vẽ bằng máy tính của Lê Đăng Mành


Đọc thơ Eng dạ cứ quay quắt
Lụt bạo quất chà quét rạ rời
Quảng Trị miềng- cực Eng ơi !
Nhớ lúc đói đèng nón tơi lên đàng…

Nghe troong nớ chừ sướng sung quá
Điều,cà phê hái thả tràn dà
Mụ tui nghe kể xuýt xoa
Răng khôông dây thép* ít quà “sầu riêng”

Vọng về Quê vấn vương troong rọt
Troong nớ tin Hot chia sẻ dùm !
Xóm côi thôn đưới ưng hung
Đội ơn đón dận riêng chung tình người !

Nhớ câu : méng khi đói bằng đọi…
“Nhiễu điều phủ giúp” người co ro
Mì tôm gạo muối gởi cho
Cặp sách trường lớp chăm lo út mờng

Dà cựa phên liếp ngả nghiêng
Hoa sen tôn lắng** đừng quên Bọ miềng…
Họ làng nguồn cội linh thiêng
Khai ân phò hộ quý eng muôn đời.


Lê Đăng Mành (Hải Lăng)
*bưu điện
** tôn lạnh


READ MORE - LỜI QUÊ - thơ Lê Đăng Mành

NGƯỜI VIẾT SỬ ĐÃ ĐI VÀO LỊCH SỬ - Trường Hải

(Kính dâng anh linh 
Đại tướng Võ Nguyên Giáp)



Lịch sử Việt Nam lưu tờ lịch đỏ,
Ngày ra đi của một bậc nhân tài!
Người thầy giáo dạy học trò lịch sử,
Thành tướng quân viết lịch sử oai hùng!

Quê hương nghèo lam lũ của miền trung,
Lệ Thủy-Quảng Bình sinh người trung hiếu!
Làm trí thức trong thời thuộc Pháp,
Truyền sử cha ông, viết sử đời mình!

Giá như cuộc đời chỉ có yên bình,
Người sẽ mãi là người thầy dạy sử.
Đất nước chiến tranh, buộc người cầm súng,
Trở thành người anh Cả của đoàn quân!

Hơn ba mươi năm đánh Pháp, Mỹ sen đầm,
Đại tướng nhân dân dõi từng trận đánh.
Từ não, từ tim, người truyền quân lệnh,
Tài dụng binh, bớt đổ máu dân binh!

Ngôi sao sáng hóa thân vào vũ trụ,
ánh hào quang để lại với nhân gian.
Người viết sử đã đi vào lịch sử,
Võ Nguyên Giáp  – người thuộc về nhân dân!

Đỉnh Sơn, 5/10/2013
Trường Hải Lê Văn Đông
READ MORE - NGƯỜI VIẾT SỬ ĐÃ ĐI VÀO LỊCH SỬ - Trường Hải

BỜ VAI - Truyện ngắn Hải Đăng




           Nhận được giấy mời của trại sáng tác, tôi khệ nệ xách hành lí ra đi từ giã dòng sông Hinh lấp lánh ánh bạc để đến với phố biển Nha Trang xinh đẹp khi trời vừa hửng sáng. Ánh nắng nhạt của buổi sớm chớm hè hòa cùng với những làn sương mỏng tạo nên bức mành mành đầy sức sống. Xa  xa từng đồi sắn bạc đầu xếp tiếp nhau dích dắc cao dần lên. Ẩn hiện dưới từng chân đồi bạt ngàn ấy là những ngôi nhà đang ngẩng đầu trong làn nắng mới. Dòng sông, bãi sắn, núi đồi, làn sương mỏng … đã tô điểm cho bức tranh quê lãng mạn.
             Chuyến ra đi lần này không như những lần khác. Tôi ra đi để gặt gái những đứa con tinh thần ở  trại sáng tác. Ra đi để rũ bỏ sau lưng những điều đã ám ảnh tôi ngần mấy năm trời. Ra đi để lãng quên quá khứ đau buồn và hiện tại nghiệt ngã. Điều đó có nghĩa là ra đi để quên anh - một con người mà tôi đã từng hiến dâng tất cả, một con người đã từng làm tôi sống dở, chết dở.Tôi tự nhủ: “Phải vứt bỏ những cái chết tiệt đã qua, những gì liên quan đến con người khốn nạn kia thì mình mới có thể tìm thấy niềm vui và hạnh phúc mới, bởi “Khi cánh cửa hạnh phúc đóng lại, cái khác sẽ mở ra. Nhưng chúng ta lại thường nhìn quá lâu vào cánh cửa đã đóng thì không thể nhìn thấy cánh cửa nào đang mở sẵn cho ta”. Đúng thật, hai năm rồi, từ ngày cánh cửa hạnh phúc bị đóng lại, tôi đã nhìn quá lâu vào cánh cửa ấy nên  vô tình lãng quên cánh cửa khác đang chờ sẵn mình.
          Sáu năm, từ ngày lấy anh, sinh con, tôi thực sự chạm mạnh vào hạnh phúc chưa? Hạnh phúc là gì? Với tôi, điều ấy thật xa vời. Có người bảo: “Để có được hạnh phúc đòi hỏi chúng ta phải có sự hy sinh, phải biết đấu tranh bởi hạnh phúc luôn náu mình trong vỏ bọc của cuộc sống”. Ba mươi hai tuổi, cái tuổi coi là đã sang “Triền dốc bên kia của cuộc đời”, tôi chạm vào đau khổ nhiều hơn là hạnh phúc, buồn nhiều hơn vui, nỗi buồn nối tiếp nỗi buồn. Hạnh phúc ư? Hy sinh ư? Đấu tranh ư? Hy sinh, tôi hy sinh quá nhiều. Đấu tranh, tôi đấu tranh không ít. Tôi là người con gái thị thành, mang vẻ đẹp sang trọng của thành phố. Khi gặp anh, người đàn ông mà tôi coi là lịch lãm, phong trần, nhẹ nhàng đến phát sợ, tôi chấp nhận từ bỏ tất cả. Gia đình, sự nghiệp, tương lai … đều bị tôi đẩy lùi phía sau. Anh có biết, đến với anh tôi chấp nhận từ bỏ cuộc sống tốt đẹp ở chốn đô thị phồn hoa, từ bỏ một tương lai xán lạn. Đến với anh, tôi từ bỏ sau lưng những mối tình đầy lãng mạn. Đến với anh, tôi phải chấp nhận là đứa con bất hiếu, dẫu biết rằng bất hiếu là tội không thể dung tha …
          Ngày tôi xách túi theo anh, mẹ tôi nghẹn trong tiếng nấc. Mặc cho mẹ già can ngăn tôi cũng chẳng bận lòng. Ngày tôi về nhà anh, anh có biết tôi buồn đến độ nào. Bỏ phố thị lên làng quê nghèo trong sự lạc lõng, không bạn, không bè, không người thân thích. Rồi khi làm vợ anh, tôi hy sinh rất nhiều. Ngoài việc cơ quan, tôi lao vào công việc của một người nội trợ thực thụ mặc dù trước đây tôi không biết nội trợ là gì. Có những lúc tôi vô cùng thèm bộ quần áo mới để đi chơi cùng đồng nghiệp trong những ngày lễ nhưng cũng đành bỏ mặc.Từ ngày lấy anh, son phấn tôi không màng đến.Tôi chấp nhận “Được chồng con thì trôi nhan sắc”. Rồi những cuộc chơi của cơ quan,tôi luôn khước từ. Tôi luôn nhủ mình là hãy hy sinh để cố gắng vun vén cho tổ ấm nhỏ của mình. Thử hỏi sự hy sinh của tôi đã được đền đáp xứng đáng chưa hay chỉ là ảo ảnh? Một người phụ nữ bị bỏ rơi, một thể xác tàn tạ, một tinh thần đầy vết sẹo … đó là sự bù đắp xứng đáng cho sự hy sinh của tôi ư? Nếu như trước đây, tôi luôn tự tin về nhan sắc của mình bao nhiêu thì bây giờ tôi tự ti, mặc cảm về nó bấy nhiêu. Anh có biết, từ hai năm nay tôi sợ chiếc gương soi đến độ nào. Một quai hàm méo mó, một vết sẹo dài cũng đủ làm tôi đau đớn đến điên dại.Vì ai gây nên nông nổi? Anh, chính anh. Nếu ngày trước, anh nghe tôi, anh không điều khiển xe trong hơi men thì thể xác tôi không ra nông nổi như thế?
          Nỗi đau thể xác chưa kịp lạnh, nỗi đau tinh thần lại nóng lên.
         Từ sau khi bị tai nạn, sắc đẹp tôi bị thu hồi, càng ngày tôi phát hiện anh càng khác. Anh không thèm nhìn tôi một cách trực diện, anh không vuốt ve, âu yếm và không dám trao cho tôi nụ hôn nồng ấm mà trước đây anh đã từng trao. Sinh nhật tôi, anh bỏ mặc. Không lời chúc, không bó hoa. Nhớ lại những ngày mới cưới nhau, đến sinh nhật, anh vất vả xuống tận thành phố, mua đóa hoa cẩm chướng để tặng tôi. Tôi cảm động đến rơi nước mắt. Rồi anh đi sớm về khuya trong hơi men, bữa cơm tối anh thường bỏ mặc, mặc dù trước đây anh luôn miệng: “Anh rất thích sum họp với gia đình bên bữa cơm chiều”. Rồi một hôm, tôi nghe người ta thơn thớt giữa chợ: “Sau tai nạn, sắc đẹp con Hiền xuống cấp, chồng theo bà giá, tội nghiệp ghê”. Tôi phớt lờ, chống chế: “Họ nới bậy, họ nhầm rồi” vì tôi luôn tin tưởng anh. Dần dần tôi phát hiện anh cáu gắt tôi một cách vô cớ. Anh hay khua nồi, đá chảo.Thậm tệ hơn, anh tát tôi, một cái tát mà có nằm mộng tôi cũng không ngờ tới, bởi cứ mỗi lần thấy anh hàng xóm đánh vợ, anh luôn miệng nói: “Không đánh phụ nữ dù chỉ là một cành hoa”.Vào lúc ấy, tôi cố gắng chịu đựng để bảo toàn hạnh phúc. Thế nhưng sự chịu đựng của tôi đặt không đúng chỗ. Càng ngày anh càng lạnh nhạt với tôi. Anh tăng dần số lần đi sớm về khuya. Có lần tôi phát hiện anh trở về nhà từ lúc lờ mờ đất với lời biện minh đầy giả dối: “Hôm nay xã có việc, anh trực ca ba”. Một tuần trực ca ba, một tháng trực ca ba … rồi anh ở luôn ở ca ba, tôi đợi anh, tôi chờ anh, mòn mỏi trong bóng đêm, lạnh lẽo trong căn phòng trống hươ trống hoắc, bên chiếc giường từng gọi là hạnh phúc … Cảm giác chờ đợi của đôi càng ngày càng mất dần và có những lúc tưởng chừng như anh không có mặt trong gia đình. Rồi một buổi tối, trở về trong hơi men, anh hơi gằn giọng: “Chúng ta giải thoát cho nhau đi. Tôi mệt mỏi lắm rồi. Tôi xin lỗi”. Dẫu biết rằng lời nói trong hơi men không biết thật hay dối nhưng nó như hàng triệu cây kim nhỏ đâm vào trái tim tôi.Tôi không trách anh vì tôi mong rằng đó là lời nói đùa. Rồi một hôm từ cơ quan về, anh yêu cầu tôi kí vào tờ “Đơn xin ly hôn”. Tôi không kí mà yêu cầu anh đưa ra lí do chia tay. Giọng anh lạnh tanh: “Không hợp nhau”. Tôi cố van nài anh trong nước mắt, nhưng anh vẫn giữ thái độ cương quyết. Anh đẫy mạnh cái tay tôi đang đặt trên vạt áo anh rồi mất hút trong bóng đêm, mặc cho tiếng gào thét, mặc cho con thơ đòi bố, mặc cho nước mắt tôi chảy thành dòng.
          Thế rồi một tháng, hai tháng, ba tháng … tôi không gặp anh. Sáu tháng sau, tôi gặp anh lần cuối cùng ở Tòa cùng với một người phụ nữ có thân hình đầy gợi cảm, làn da trắng nõn nà  … Nhìn cảnh ấy, tim tôi tê cứng, nước mắt tôi đọng thành cục. Tôi chợt hiểu ra: “Sự bắt đầu bao giờ cũng là kết thúc rồi”. Một kết thúc thật nghiệt ngã và đầy ngang trái. Một tờ đơn, một nhát dao chia đôi một mối tình, cắt đứt nghĩa vợ chồng từ bao mấy năm trời.
             Hai năm rồi, từ ngày anh ra đi, tôi tự khép kín cuộc sống của mình.Tôi không bạn, không bè, không tụ  tập. Tôi chây lì trước cảm xúc. Mỗi lần đến cơ quan, tôi tự thấy mình lẻ loi, lạc lõng. Để vơi buồn, tôi tìm đến với thú vui thường nhật. Những lúc rảnh rỗi, tôi thường trồng hoa. Loài hoa tôi trồng nhiều nhất đó là hoa xương rồng - loài hoa kiên cường, dũng mãnh, dẫu có thời tiết khắc nghiệt đến đâu thì nó vẫn sống tốt. Tôi tìm đến với cà phê, với văn chương, với nhạc. Sáng, một ly cà phê đặc quánh cùng với bản nhạc không lời. Dứt bản nhạc, tôi đến trường làm bạn cùng học sinh, rồi lại đón con.Tối, một ly cà phê cùng với chiếc laptop.Tôi lao vào con chữ, những trang viết chi chít đem lại cho tôi những niềm vui và sự thu nhập nho nhỏ. Người đồng nghiệp khuyên: “Mắt em yếu, viết nhiều sẽ ảnh hưởng”. Tôi cười méo mó: “Nếu em không viết thì em sẽ chết vì đau buồn. Em viết để tìm lại chính mình”. May mắn thay! Trời lấy đi của tôi cái này nhưng lại mang đến cho tôi cái khác. Hai năm rồi, từ ngày tôi cày trên con chữ, tôi cũng nhận khá nhiều món quà, nhận được nhiều lời chúc mà nó mang lại,
             Khép lại kí ức về anh, nước mắt tôi chảy dài trên gò má đầy xương xẩu và hốc hác.  Khép lại những kí ức về anh, tôi gẩng đầu hướng về phía trước. Bầu trời trong xanh, từng đám mây xốp nhẹ đang chầm chậm bước từng bước. Nắng ấm rải nhẹ cả một vùng trời. Nha Trang hiện ra trước mắt. Chiếc xe 24 chỗ ngồi đưa chúng tôi về với biển. Biển mùa này đẹp thật. Buổi sáng, mặt trời hồng hào chạm nhẹ vào những con sóng cũng hồng hào, lăn tăn. Xa xa từng con thuyền lênh đênh trên sóng nước mênh mông. Đoàn chúng tôi dừng chân bên một cái quán nhỏ xinh xắn, đầu đội chiếc nón bằng tranh đã nhuốm màu rêu phong để nghỉ ngơi trong chốc lát.
               Buổi chiều của ngày đầu tiên trên hố biển, chúng tôi được anh Vinh-dân bản địa-thành viên của Hội nhà văn tỉnh Khánh Hòa dạo quanh thành phố. Nha Trang đẹp và bình yên thật. Những con đường rộng thênh thang, biển xanh thẳm,trời xanh thẳm, chợ Đầm xoay tròn, tháp bà Ponagar huyền bí … như dang tay đón chào chúng tôi. Tối đến, chúng tôi quây quần bên nhau trong căn nhà của anh Vinh ở đường Trần Cao Vân thật vui vẻ và ấm áp. Ở đây, chúng tôi được anh chiêu đãi những đặc sản từ biển mang lại và được nghe anh giới thiệu từng ngõ ngách của thành phố xinh đẹp này. 
           Anh Vinh là người đàn ông phong trần, lịch lãm.Từ khi tôi gặp tai nạn, từ khi gia đình tôi rạn nứt, buồn bã, đau khổ, tôi tìm đến văn chương thế là tôi quen anh. Anh với tôi thường trao đổi văn chương trên blog.
          Anh là người dễ thông cảm và dễ sẻ chia. Những lúc tôi có chuyện buồn, bế tắc thì tôi lại tìm đến anh. Hay những lúc có chuyện vui tôi cũng thường sẻ chia với anh, lâu dần trở thành thân. Anh là người hẩm hiu trong chuyện đàn bà. Anh li hôn đã năm năm. Năm năm nay anh chưa tìm được người phụ nào thực sự hợp với mình. Anh thường bảo với tôi: “Tìm người bạn đời  không khó nhưng tìm người bạn đời đúng nghĩa thì không dễ chút nào”.
           Anh Vinh là người rất lãng mạng và giàu tình cảm. Từ  ngày là bạn văn chương với anh, không lúc nào anh quên tặng quà cho mẹ con tôi trong ngày lễ và ngày Tết cùng với lời chúc mừng thật sự ý nghĩa. Mỗi lần nhận quà anh, tôi thấy rất vui.
           Buổi sáng hôm sau, nỗi buồn chợt len lõi trong tôi. Mặc cho mọi người trong trại sáng tác nói cười vui vẻ bên những món đặc sản của biển, tôi dạo bộ trên bờ cát. Biển đẹp thật. Bình minh hiện nguyên hình trên sóng nước, hồng hào, đường bệ, phản chiếu xuống dòng nước tạo nên một bức tranh đầy nhựa sống.Tôi thả hồn theo những con sóng,nỗi buồn chợt mênh mang. Đúng lúc ấy, anh Vinh xuất hiện,giọng anh nhỏ nhẹ, trầm ấm:
           -Sao em không sum họp với các anh chị trong trại?
           -Em muốn hóng gió biển. Hóng gió biển vào buổi sáng tốt lắm anh à.
           -Vậy còn anh?
           -Anh cũng thích hóng gió biển bởi gió biển rất tốt cho sức khỏe.
          Vậy em cũng thích biển à?
           - Em thích những con sóng lăn tăn, thích những chiếc tàu xa xa.Tôi cười nhẹ nhàng.
              Mặt trời bắt đầu nhô lên cao khoảng nửa con sào, ánh nắng vàng chói quyện cùng vị mặn chát của gió biển, chạm vào khuôn mặt rát bỏng.Tôi và anh sãi từng bước dài trên bãi cát trở về sum họp cùng các anh chị trong tại sáng tác.
              Chiều hôm sau trên biển Nha Trang, tôi rảo bước chân nặng trĩu trên bãi cát chảy dài để ngắm biển. Buổi chiều ngày hè, biển đẹp thật. Mặt sóng, bãi cát, chiếc thuyền tất cả nhuộm một màu thật lãng mạn. Trước biển, tôi trầm mặc. Đúng lúc ấy, anh lại xuất hiện nhẹ nhàng như một làn gió biển.
              -Em nhớ nhà và nhớ con à?
              -Sao anh biết?
              -Linh cảm mách bảo anh biết được điều đó. Làm bạn em bao nhiêu năm sao anh lại không biết.Vả lại nỗi nhớ hiện rõ trên khuôn mặt em đấy. Anh cười ha ha.
              -Đúng, em buồn vì nhớ con nhưng ít thôi.
               -Vậy buồn vì lí do gì nhiều hơn?
            Tôi giả vờ đánh trống lảng:
               -Buồn vì những chiếc thuyền lênh đênh chưa tìm  được bến đổ. Tôi vừa nói vừa chỉ về hướng những chiếc thuyền.
               -Trời! Vậy mà anh cứ tưởng … Đúng là dân văn có khác.
               -Vậy còn anh là dân gì?
               -Ừ thì  … ừ thì … cũng như em thôi.
          Trước sóng nước mênh mông, anh chợt đọc những câu thơ tình rất hay của nữ thi sĩ Xuân Quỳnh:
                   Chỉ có thuyền mới hiểu
                      Biển mênh mông nhường nào
                      Chỉ có biển mới biết
                      Thuyền đi đâu, về đâu

                      Những ngày không gặp nhau
                      Biển bạc đầu thương nhớ
                      Những ngày không gặp nhau
                      Lòng thuyền đau rạn vỡ …

              -Bộ anh cũng thích bài thơ này à?
              -Không những thích mà rất thích là đằng khác. Một bài thơ tình thật lãng mạng và ý nghĩa. Nó phù hợp với anh trong lúc này. “Những ngày không gặp nhau/ Biển bạc đầu thương nhớ / Những ngày không gặp nhau / Lòng thuyền đau rạn vỡ”
            -Anh đọc những câu thơ chất chứa đầy tâm trạng của một người đang yêu, đang nhớ nhung …  Anh đang yêu ai à? Nói cho em biết với!
         Anh cười nhẹ nhàng:
             -Khó nói lắm. Bí mật.
             -Anh hứa là không bao giờ giấu em chuyện gì  mà? Sao bây giờ…
         Giọng anh trầm trầm:
             - Xa trong gang tấc, gần ngay trước mặt.
           Tôi chợt quay người nhìn sang hai trái để tìm xem người mà anh cho là gần ngay trước mặt, ngay lúc ấy anh choàng tay qua vai tôi. Bờ vai tôi và bờ vai anh nghiêng nghiêng, mái tóc tôi chảy dài hết cả sang anh. Tim tôi đập xốn xang. Ánh trăng mười nhăm tròn trịa đang lững thững nhô lên khỏi mặt biển lấp lánh. Xa xa từng vì sao nhấp nháy giũa bầu trời. Bản nhạc giao hưởng của những con sóng cất lên rì rào vỗ nhẹ dưới chân chúng tôi.
                                          Hải Đăng


*****
                                                                                   
       Trần Thị Hằng, 
Giáo viên trường THCS và THPT Sơn Giang, 
Sông Hinh, Phú Yên
                           SĐT:01658559298
phunghang1@yahoo.com.vn



READ MORE - BỜ VAI - Truyện ngắn Hải Đăng