Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, January 21, 2013

THƠ VĂN THẦY CÔ GIÁO HUYỆN HẢI LĂNG, Q. TRỊ - Châu Lệ Chi - Lê Thị Hải Yến - Trần Thị Xuân


Trích từ tập san HOA ĐẦU MÙA số 15 của phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Hải Lăng, Quảng Trị.










CHÚT NẮNG CUỐI HẠ
Châu lệ Chi
(GV Trường THCS Thị trấn Hải Lăng) 

Giữa phố xá đông vui
Bỗng thèm một khoảng lặng
Hàng cây không bóng nắng
Che góc trời bình yên

Giữa bộn bề niềm riêng
Có bàn tay giang rộng
Niềm vui chung bay bỗng
Chắp cánh lòng nhẹ tênh

Giữa ồn ào náo nhiệt
Ánh mắt nhìn tha thiết
Người dưng thành quen biết
Nối tình thân bao la

Giữa nhịp sống hối hả
Ngày buồn trôi qua mau
Niềm vui ơi chậm lại
Nụ cười vương trên môi…

Chia tay lòng bồi hồi
Biết bao điều chưa nói
Chiều ơi xin đừng vội
Gửi chút nắng theo về…

C.L.C
Sài Gòn, tháng 8/2012



NÓI VỚI CON
Lê Thị Hải Yến
(GV Trường THCS Hải An)


Cha mẹ cho con hình hài sự sống
Bà cho con lời răn dạy ơn sâu
Dẫu tháng năm mưa nắng có dãi dầu
Ông cầm bút uốn cho tròn nét chữ
Thêm chút nữa ơn thầy cô khuyên nhủ
Đạo làm người có trong những vần thơ
Thời gian trôi lặng lẽ có ai ngờ
Dần khôn lớn theo nghĩa thầy, tình bạn.
“Uống nước nhớ nguồn” - nghĩa tình chẳng cạn
Tạc dạ ghi lòng chớ để nhạt phai.
Một ngày mai kia trên bước đường dài
Nhớ con nhé đạo làm người mẹ kể.

L.T.H.Y



TRONG CƠN MƯA CHIỀU
Trần Thị Xuân
(GV Trường THCS Thị trấn Hải Lăng)


Cơn mưa chiều đổ bất ngờ
Đường về trống vắng nấp nhờ bóng cây
Tình cờ gặp em ở đây
Cũng đang nhờ nấp bóng cây… lỡ đường

Ôi  đôi mắt đẹp dễ thương
Mải mê theo sợi mưa vương tím trời
Gốc cây hẹp, nấp hai người
Sao chẳng ai nói một lời vu vơ

Trời cứ xối xả đổ mưa
Tôi che người kẻo gió lùa ướt em
Đôi mắt lạ, đôi mắt quen
Đôi mắt thầm nói cảm ơn nghìn lời

Cơn mưa tạnh đã lâu rồi
Gốc cây vẫn có… hai người tránh mưa
Mây  bay về phía núi xa
Mặt em chín ửng chiều tà ngẩn ngơ

Tuyệt vời thay sự tình cờ
Chiểu mai  trời có… bất ngờ  đổ mưa ?

T.T.X

Địa chỉ liên lạc: 
Võ Văn Hoa
Phó trưởng phòng GD - ĐT huyện Hải Lăng
Email: vovanhoahl@yahoo.com
ĐT: 0914127685
READ MORE - THƠ VĂN THẦY CÔ GIÁO HUYỆN HẢI LĂNG, Q. TRỊ - Châu Lệ Chi - Lê Thị Hải Yến - Trần Thị Xuân

DÒNG SÔNG DĨ VÃNG - thơ Nguyễn Hồng Trân



            

Dòng sông dĩ vãng vẫn trôi dài
Kỷ niệm buồn vui cứ vãng lai
Sáu khắc ngày sang còn hiện rõ
Năm canh đêm đến lại phơi bày
Trong xanh dòng nước êm đềm chảy
Trắng đục mây trời lác đác bay
Nỗi nhớ triền miên lòng bịn rịn
Người xưa ẩn hiện cuốn hồn say!...

Nguyễn Hồng Trân
nghongtran38@gmail.com
READ MORE - DÒNG SÔNG DĨ VÃNG - thơ Nguyễn Hồng Trân

NHỚ - thơ mời họa của Thương Yến Tử



Em ạ! hôm nay bớt lạnh rồi
Nắng tan trên tóc đọng lên môi
Anh nghe kỷ niệm reo trong lá
Anh thấy hoàng mai nở dưới đồi
Gió chướng lùa mây trôi lãng đãng
Chuông chùa thức mộng vọng xa xôi
Ai gieo hương tóc chiều đông hết
Mà nhớ người xưa tận cuối trời.

                             THƯƠNG YẾN TỬ
thuongyentu131@yahoo.com.vn
READ MORE - NHỚ - thơ mời họa của Thương Yến Tử

NHẸ NHƯ ... SƯƠNG! - Hòa Vân đọc thơ Nguyễn Ngọc Hưng



NHẸ NHÀNG ĐẾN Ở RỒI ĐI

Khi sinh khóc để nhân cười
Lúc rời cõi tạm không rơi lệ buồn
Mỉm cười trước phút tay buông
Là xin cuối bể đầu nguồn hãy vui

Bao nhiêu cay đắng ngọt bùi
Rồi tan theo nắm đất vùi xác thân
Mãn đời không để dấu chân
Sống phù vân - thác phù vân. Khác gì?

Nhẹ nhàng đến ở rồi đi
Không tranh chấp chẳng so bì với ai
Đẹp gì hơn giọt sương mai
Hà chi cơn gió thở dài gió ơi!

Nguyễn Ngọc Hưng


NHẸ NHƯ… SƯƠNG!

Qua nhiều bạn văn nghệ ở Quảng Ngãi, tôi được biết Nguyễn Ngọc Hưng (N.N.H.) từ lâu bị bệnh nằm một chỗ, mọi sinh hoạt kể cả cá nhân cũng cần người giúp đỡ. Thế nhưng ở bên trong anh còn y nguyên một “Tâm hồn cao thượng”, một “Trái tim tha thiết”, một “Tấm lòng nhân hậu” với mình, với mọi người, với đời, đây chính là động lực tiềm ẩn để sáng tác... Bởi vậy đến nay N.N.H. đã viết và in trên 10 tập thơ; nhiều báo, tạp chí trong nước luôn chọn đăng bài của anh - đây là nghĩa cử yêu mến và để anh có điều kiện sống tốt hơn nhưng trước tiên và là lý do quyết định đăng bài vì  thơ anh hay!
          Hình như với N.N.H. cuộc đời nầy nhẹ tênh nên trong thơ anh không một chút ưu phiền lẫn vào. (Đây là trường hợp đặc biệt đáng trân trọng, bởi lẽ trong khó khăn thường tình sẽ “chịu không thấu” dẫn đến “bế tắc”...) Bài thơ “Nhẹ nhàng đến ở rồi đi” của N.N.H.  là một bài thơ như thế. Với 3 khổ viết theo thể lục bát, bài thơ đề cập đến nhân sinh quan: cuộc đời - con người - lạc quan và an nhiên.
Câu thơ mở đầu “Khi sinh khóc để nhân cười/ Lúc rời cõi tạm không rơi lệ buồn” đi thẳng vào sự “sinh” – “tử” mà mỗi số phận con người nào cũng qua, hai cảm nhận khác nhau khi sinh và lúc tử đều ở ngoài tầm tay, sinh - vui, tử - buồn ở “cõi tạm” nầy. Cái chính ở đây N.N.H. vì mọi người để đến và đi...để rồi “xin” “vui”“cuối bể đầu nguồn”: “Mỉm cười trước phút tay buông/ Là xin cuối bể đầu nguồn hãy vui”, ý thức chẳng “khác gì” “phù vân” cho nên sống và thác hề gì – miễn là sống sao cho đáng sống, thác thế nào đáng thác mới là chuyện cuộc đời lắm cay đắng ngọt bùi nầy. Nếu tâm thế không vững, trong khổ thơ nầy người khác trong trường hợp của N.N.H. sẽ bày tỏ nỗi niềm - bi lụy, đàng nầy khác hẳn anh an nhiên – thiền định…
Câu thơ “Mãn đời không để dấu chân” có một sức gợi cảm sâu sắc, “dấu chân” ở đây là hình-ảnh-còn-lại-của-cuộc-đời-một-con-người, ở N.N.H. mang một biểu cảm hết sức chân thật tận lòng, vì bao năm qua anh làm sao đi đâu mà “để dấu chân” ở lại! Đọc câu thơ “tĩnh” mà “xao động” lòng ta quá đỗi!
Kết thúc bài thơ N.N.H viết: Nhẹ nhàng đến ở rồi đi/ Không tranh chấp chẳng so bì với ai” toát lên bao yêu thương cuộc đời. Muốn được như thế con người phải không chấp, không tham, sân, si... Và hình tượng “giọt sương mai” mà N.N.H. bắt gặp “đẹp gì hơn”: “Đẹp gì hơn giọt sương mai/ Hà chi cơn gió thở dài gió ơi!”. Câu thơ đầy cảm xúc thẩm mỹ!
Đọc xong bài thơ tôi tin (và chắc nhiều người cũng đồng cảm, tin như vậy) N.N.H. đã tìm thấy “nguồn” – “vui” mai sau còn để lại cho đời những “giọt sương mai”.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong bài hát Như một lời chia tay (1981) đã bộc bạch: “Những hẹn hò từ nay khép lại/ Thân nhẹ nhàng như mây.../ Đóa hoa vàng mỏng manh cuối trời/ Như một lời chia tay”. Nhạc sĩ tài danh họ Trịnh “Nhẹ nhàng như mây...” và là “Đóa hoa vàng mỏng manh” để lại..., còn N.N.H. thì “nhẹ nhàng” như “giọt sương mai” để lại... 
Có gì nhân văn hơn!
Hòa Văn






ĐỊA CHỈ LIÊN LẠC:

NGUYỄN NGỌC HƯNG
Đội 10, thị trấn Chợ Chùa
huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi
ĐT: 055.3861.312
Email: nguyenngochung204@gmail.com


READ MORE - NHẸ NHƯ ... SƯƠNG! - Hòa Vân đọc thơ Nguyễn Ngọc Hưng

RẮN TÂM SỰ - phú của Kha Tiệm Ly



Rồng lui chân theo cựu Đông Quân,
Rắn ngỏng cổ mừng tân niên kỉ.
Nhân ngày tư ngày tết, rắn em bày tỏ đôi lời,
Mong năm mới năm mung, mọi người được ban đại hỉ.

Nghĩ phận em,

Thân dài vai… nhỏ, ngàn đời không đứng được… hai chân!
Họ gần họ xa, thể tạng chỉ đổ đồng mấy kí!
Ở hang sâu hốc tối, bụi rậm tàn cây, mơ gì cửa rộng nhà cao,
Ăn bữa đói bữa no, ểnh ương cóc nhái, dám đâu sơn hào hải vị.
Chẳng truyền bệnh sán như anh Chó anh Heo,
Không ăn vụn cơm như anh Mèo anh Tí.
Biết thân hèn vóc mọn, em loay huay mãi tìm chốn vườn rậm rừng sâu
Mà cạn lý hết tình, người hung hãn cứ dồn vào đường cùng thế bí.
Trong mười hai con giáp, riêng rắn em thường bị lắm tiếng tai.
Dưới cặp mắt người đời, cả họ hàng  luôn bị coi xúi quảy.

Lại thoang thoảng bị móng vuốt diều hâu,
Cũng đều đều gặp con thần ve xị:
Mỏ dài vuốt nhọn, cắp lên non, cho con cháu chén  no nê,
Dao bén thớt dày, thảy vào bếp, đủ một bàn say bí tỉ!

Cho rằng,

Lũ chúng em luôn mang nọc độc giết người,
Mà bọn họ cố quên những lời chí lí:
Rắn giết người, tự cổ đếm được bao nhiêu?
Người giết người, đến nay xem ra hàng tỉ!

Lại chẳng nhớ:

“Xà tửu vô ưu,
Đông y hữu lý”.
Chẳng những nọc độc thuộc hàng quý dược của y sư,
Mà cả xương da cũng dạng ngãi phương trong điều trị.
An tì, bổ thận; chánh tông Gò Đen ngâm cùng thục địa, táo nhơn….
Tăng lực cường dương, rặc ri Bàu Đá hãm hổ mang với đương qui, cao kỉ…
Ngửi một hơi cũng đủ sảng khoái tinh thần,
Hớp một ngụm lại càng nâng cao sĩ khí!
Chiều về các cụ nhâm nhi,
Tối đến mấy bà yêu quý!
Hay cho câu “ông uống bà khen”
Thú cho chữ “ nhỏ nghe lớn chỉ! ”
Cao nọc rắn, trị thần kinh tọa, thoái khớp đại tài,
Rượu mãng xà, chữa gai cột sống, thống phong hết ý!
“Bách xà diệu dược”, công năng nổi tiếng ngập Trời Nam
“Ngũ độc gia truyền” chất lượng vượt qua bờ Âu Mỹ.
Mua nếu đúng căn nguyên thì chớ ngại tốn tiền,
Dùng chẳng rõ cội nguồn phải coi chừng lép ví!

Có hết đâu!

Xào lăn bầm nhuyễn, cuốn bánh tráng lá thơm,
Chặt khúc hầm nhừ, ngấm xả gừng ngũ vị.
Mặc cho nào bê thui, bê tái… món ngon sa số hàng hà.
Sánh sao với rắn nướng, rắn nhồi…đặc sản độc chiêu vô nhị?

Tuy nhiên,

Nếu đi đường chẳng nên lạng lách lung tung,
Thì uống rượu cũng đừng nhềnh nhàng bí tỉ!
Dù mồi “bắt”, có nhiều món để đầy mâm,
Nhưng dược tửu, cũng vài li cho có vị.
Quên ăn ham uống, sẽ tan nát tâm can,
Nhậu rượu bỏ mồi, ắt tổn hao chân khí.
Dùng vừa độ, hồn lâng lâng như lạc cõi thần tiên,
Nốc quá đà, trí mê muội sẽ theo loài ngạ quỉ!
“Chừa đường về”, để còn biết ngõ trước, ngõ sau,
Chớ “tăng hai”, mà lọt xuống bờ dưa, bờ bí!

Như nói trên,

Chẳng phải thân em phận rắn cắn người,
Mà là dược liệu thần y điều trị:
Cho quí ông sinh lực vô song,
Cho quí bà dung nhan tuyệt mĩ.
Nhậu rượu, mồi gà mồi cá, chỉ loại bá vơ.
“Đưa cay”, với rắn với trăn, mới là “mậu kị”!
So với rồng, với cọp, hình tướng nầy dù hơi kém oai phong,
Đọ cùng chuột, cùng heo, hương sắc đây chẳng lấy gì xấu xí.

Vậy cớ sao?

Dù em có cao chay xa bay,
Mà người cũng truy cùng đuổi bí.
Thế giới “thả” để bảo vệ môi trường,
Quí anh “giết” thì còn chi đạo lí?

Nay đây,

Nhân ngày xuân mới, hoa lá dâng hương sắc rộn ràng,
Mượn chén rượu đầy, rắn em tỏ đôi lời thủ thỉ:
Rắn có ích, không hề tội nhỏ tội to,
Rắn có công, chẳng có điều kiêng điều kị.
Năm nay rắn sẽ hóa rồng,
Mọi sự công thành như ý!
Bách phúc mãn đường.
Cung hỉ! Cung hỉ!


KHA TIỆM LY
Tên thật: Thái Quốc Tế
Địa chỉ:  99/5 Đinh Bộ Lĩnh, Phường 2, TP Mỹ Tho, Tiền Giang
Đ/ thoại: 0987- 701- 952
Email: khatiemly@gmail.com




READ MORE - RẮN TÂM SỰ - phú của Kha Tiệm Ly

Saturday, January 19, 2013

Lê Đăng Mành - HẠNH MÔI TRƯỜNG

Thư pháp trên máy tính của Lê Đăng Mành



Quả đất rùng mình cảm động
Nhạc trời mưa hoa ngàn sao
Hào quang chiếu tỏa hư không
Tụng ca đức PHẬT THÀNH ĐẠO

Tứ đế bài pháp diệu kỳ
Khai triển trí tuệ từ bi
Hồng trần: Bậc Thế Gian Giải
Như Lai thấu lẽ huyền vi

Bình đẳng Đức Phật ngôn thuyết
Tâm mình chúng sanh tự biết
Tri kiến chạm bóng chân như
Bát nhã ngôn từ siêu việt

Thương xót muôn loại chúng sanh
Không quên cành cây ngọn cỏ
Tọa cụ Ngài nhặt cỏ khô
Nhổ tươi sợ đau lá cành

Thông điệp bảo vệ môi sinh
Muôn loài trong nhau! không khác
Đừng làm xước nhói hành tinh
Ta người có cùng tánh giác.

Cùng nhau nhìn lại đất mình
Xin đừng xới vét tài nguyên
Phá, đốt săn lùa muông thú
Để mầm tươi với thiên nhiên

Địa cầu vùn vụt lông nhông
Nhiệt độ ngày hâm nóng bỏng
Vùng miền: bão, lũ tuyết băng...
Loài người cợt đùa sự sống.

Rồi đây khoác áo mùa đông
Muôn loài bần bật tê cóng
Triền miên thiên tai dịch họa
Chòng chành giữa cõi long đong

Đạo vàng nhuần biếc trăng sao
Môi trường hạnh quả nhiệm mầu!
Gốc bồ đề Ngài chứng Đạo
Muôn ngàn năm với xưa sau

Phât Thành Đạo Đất giao thừa
Muôn Sắc hoa cõng dâng mùa xuân tươi
Đầu năm ngắt một nụ cười !
Thắp vào Tâm Thiện mà nuôi môi trường.

Lê Đăng Mành
ledangmanh@gmail.com

READ MORE - Lê Đăng Mành - HẠNH MÔI TRƯỜNG

TÌM LẠI CHÍNH MÌNH (Bài văn vần & thiền ngôn) - Tuệ Tiền (Lê Bá Bôn) sưu tầm


(Lời giới thiệu của người sưu tầm:

Từ xưa đến giờ, qua bao thời bình và thời chiến, qua bao thăng trầm thế sự, đạo vị của Thiền thường có mặt trong văn chương (nói rộng là trong văn hoá). Theo nhà nghiên cứu Đỗ Trân Duy (một giáo hữu Kitô giáo), đến thế kỉ XVIII Thiền có mặt hầu như khắp thế giới, đa thù đa dạng, nhưng đều có điểm chung là hướng thiện hướng thượng tâm linh… Nhiều người viết có dùng chất thiền; lắm lần người đọc gặp phải chất thiền…

Tôi có duyên quen biết Thiền từ nhiều năm nay, có sưu tầm và tâm đắc một số thiền ngôn (tạm dùng từ này). Xin được giới thiệu đến quý độc giả 10 chùm thiền ngôn dùng cho sự  đánh thức khát vọng giác ngộ, dùng cho sự ấn chứng chứng ngộ (khởi từ sơ ngộ) - nói theo cảm nhận chủ quan của tôi… (Tôi có gạch chân những chỗ mà mình có cảm hứng lớn, mong được thông cảm).

Và cũng xin được bắt đầu với một bài văn vần của tôi).
*****

Tìm lại chính mình
(Bài văn vần & thiền ngôn)

(“Khuôn mặt thật muôn đời” của sự
sống chúng ta là gì? Làm sao để ngộ?)

Đừng khẳng định “tôi”
Là thân xác này
(Xác thân tan rã
Luân hồi còn đây)

Đừng khẳng định “tôi”:
Cảm giác, nghĩ suy…
(Huyễn tướng duyên hợp
Càng chấp càng si)

Sống tức “tôi là …”
Vậy Chân Ngã đâu?
“Giác tâm vô trụ
Tịch Chiếu nhiệm mầu…”

Lời xưa thánh triết
Minh sư trao truyền
Thành tâm tự ngộ
Xa dần đảo điên. (*)

(*)“Tự tri-tỉnh thức-vô ngã” là đạo lí của vũ trụ,
là mẫu số chung của ý nghĩa cuộc sống, là Thiền;
mang năng lượng tích cực có lợi cho toàn vũ trụ,
cho sự thăng hoa trí tuệ-tâm linh chung của tất cả.
(Đường Về Minh Triết; Văn Nghệ, 2007)

Tuệ Thiền (Lê Bá Bôn)

************************************

Kính dâng quý độc giả 10 chùm thiền ngôn sưu tầm (ở sách) 

Chùm 1:

* Chỗ không có niệm tưởng dấy khởi, rỗng thênh và vô sở trụ, đó là Định. Khi không niệm tưởng, rỗng thênh và vô sở trụ được nhận biết thì đó là Tuệ. Ở đâu việc (vi diệu) này xuất hiện thì ta bảo rằng Định này tự thể hiện và chính là Thể của Bát-nhã, không khác với Tuệ mà chính là Tuệ; lại nữa Tuệ này, tự thể hiện và chính là dụng của Định, không khác với Định mà chính là Định.   (…) Ta nói về Định, nhưng đối với Thể của nó thì không có gì phải sở đắc. Khi thấy được cái Thể bất khả đắc này, luôn luôn tịch lặng tròn đầy bất biến, nhưng vẫn diệu dụng bất tư nghì, thì đó là Tuệ. Chỗ này Định Tuệ đồng đẳng. (Thiền sư Thần Hội) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki; Thuần Bạch biên dịch).

* Ánh sáng chiếu soi đó là Tuệ, chẳng phải động và bất biến là Định. Bồ-tát dùng pháp Định Tuệ đồng thể đó được Vô thượng giác. Cho nên nói “Định Tuệ đồng thể tức là giải thoát”. Nói tự tại khỏi nhiễm ô có nghĩa là không còn phàm tình chứ không phải hết thánh tình. (Thiền sư Huệ Hải) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki; Thuần Bạch biên dịch).

* Ngộ là một hình thái của tri giác, một thứ tri giác nội tại, phát hiện trong phần sâu thẳm nhất của ý thức. Đó là ý nghĩa của đặc tính tự tri; tức là sự thực tối hậu. Cho nên người ta thường bảo rằng Thiền giống như uống nước, nóng hay lạnh tự người uống biết lấy. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Thiền Luận - quyển trung, luận I; D.T.Suzuki; dịch giả: Tuệ Sỹ).

* Đừng nghĩ đến thiện, đừng nghĩ đến ác, mà ngay bây giờ hãy nhìn xem bản lai diện mục của ngươi, trước khi nhà ngươi sinh ra là gì? (Lục tổ Huệ Năng) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki; Thuần Bạch biên dịch).

* Tự tri là thấy mình, nhìn thấy tâm trí mình từ giây phút này đến giây phút  khác trong lăng kính của tương giao tương hệ của mình đối với tài sản, đối với những sự việc, đối với con người, đối với những ý tưởng… (…) Đây là việc chính yếu: khi mà tôi chưa hiểu được mình, tôi không thể có được căn bản để suy tư, và tất cả sự tìm kiếm của tôi chỉ là vô vọng hão huyền. (…) Chính sự kiện ý thức trực tiếp về hiện thể (cái đang là) là chân lí rồi. (…) Đừng phân tích tâm thức để tâm trí tĩnh lặng. (Thiền sư Jiddu Krishnamurti) – (Tự Do Đầu Tiên Và Cuối Cùng; J.Krishnamurti; dịch giả: Phạm Công Thiện).

Chùm 2:

* Từ trước cho đến thời Lục Tổ, khái niệm về Phật tánh hiện hữu nơi tất cả chúng sinh, tự thể hoàn toàn thanh tịnh và bất nhiễm, rất thịnh hành. Bổn phận sự của người tu là làm hiển lộ Tự tánh, tức Phật tánh nơi mình, vốn xưa nay thanh tịnh. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki;  dịch giả:Thuần Bạch).

* “Nguyên” (“nguồn”) là chơn tánh bản giác của tất cả chúng sinh, cũng gọi là Phật tánh, cũng gọi là tâm địa. Ngộ đó gọi là huệ, tu đó gọi là định; định huệ chung gọi là thiền-na. Tánh này là cội nguồn của thiền cho nên gọi là thiền nguyên (nguồn thiền), cũng gọi là “lí hạnh thiền-na”.
  (…) Chơn tánh này không riêng nguồn của thiền môn, cũng là nguồn của muôn pháp, cho nên gọi là pháp tánh; cũng là nguồn mê ngộ của chúng sinh, cho nên gọi là Như Lai tàng, tàng thức; cũng là nguồn muôn đức của chư Phật, nên gọi là Phật tánh; cũng là nguồn muôn hạnh của Bồ-tát, nên gọi là tâm địa. (Thiền sư Tông Mật) – (Nguồn Thiền; Tông Mật; dịch giả: Thích Thanh Từ).

* Lục Tổ đã giảng rõ cho chúng ta hiểu về Tánh theo cái nhìn của ngài. Tánh là sinh lực ngự trị toàn thể sinh mệnh chúng ta, là nguyên lí của sự sống vật chất lẫn tinh thần. Không chỉ có thân mà cả tâm, trong ý nghĩa cao tột nhất, đang sống vì sự có mặt của Tánh. (…).
  Tự tánh nói một cách khác là tự tri, không phải chỉ là hiện hữu suông mà còn biết. Chúng ta có thể nói như thế vì tự tri tức đang là, tri tức hữu và hữu tức tri. Đây là ý nghĩa câu nói của Lục Tổ: “Nơi bản tánh riêng có trí Bát-nhã và vì thế có tự tri (tự dụng trí huệ). Bản tánh thường quán chiếu và không dùng ngôn ngữ để diễn tả được”. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki;  dịch giả:Thuần Bạch).

* Chỉ có một câu mà thiền gia nên ra sức công phu và tìm thấy giải đáp chung quyết là: “Bản lai diện mục của ta là gì?”(Thiền sư Đại Ứng).  “Khi các ngài được dạy cho đặt nghi tình  vào cái nghĩa của niệm Phật, hãy cứ tự nhiên mà chú tâm ngay trên chỗ “ai” niệm Phật”. (Thiền sư Bản Thiện) - (Thiền Luận - quyển trung, luận I; D.T.Suzuki; dịch giả: Tuệ Sỹ).

* Những điều kiện tất yếu cho việc làm trỗi dậy ước vọng giác ngộ có thể được tóm tắt như vầy: 1. hành vi đạo đức, 2. thân cận chư Phật và các thiện tri thức, và 3. tâm thanh tịnh, chân thật và từ bi. Khi làm tròn ba điều kiện này, Bồ-đề tâm (Bodhicitta) được coi là đã ngóc đầu dậy và sẵn sàng để tăng tiến.

  (…) (Theo kinh Hoa Nghiêm) “Bồ-đề tâm như đại dương vì chứa tất cả các hạt ngọc công đức. Bồ-đề tâm như núi Tu-di (Sumeru) bình đẳng đứng cao trên tất cả mọi vật. Bồ-đề tâm như núi Thiết-vi (Cakravada) vì bảo trì hết thảy thế gian. Bồ-đề tâm như núi Tuyết (Himàlaya) vì sản xuất tất cả các cây thuốc trí tuệ. Bồ-đề tâm như núi Hương (Gandhamàdana) vì xuất sinh tất cả các thứ hương công đức. Bồ-đề tâm như hư không vì trải rộng vô biên phước đức”. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Thiền Luận - quyển hạ, luận IV; D.T.Suzuki; dịch giả: Tuệ Sỹ).

Chùm 3:

* Nếu giác ngộ đã làm cho toàn thể vũ trụ rung chuyển sáu cách khác nhau như kinh chép, thì vô minh khi chưa bị hàng phục ắt vẫn có đủ thần lực ấy, dầu rằng vì bản chất và hiệu lực, thần lực ấy diễn ngược lại hẳn với giác ngộ. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Thiền Luận - quyển thượng, luận III; D.T.Suzuki; dịch giả: Trúc Thiên). (Nếu nghi ngờ điều này và cần biết quan điểm của một số nhà khoa học đương đại, có thể đọc phần viết thêm về Thiền ở: Đường Về Minh Triết – Thuvientutam.vn).

* Nếu ngài thấy rằng ý thức của mình được chia sẻ bởi tất cả con người khác sống trên trái đất này, lúc đó toàn bộ cách sống của ngài sẽ đổi khác. (…) Muốn chuyển hoá thế giới, chuyển hoá sự khốn khổ, chiến tranh, nạn thất nghiệp, nạn đói, sự phân chia giai cấp và tất cả sự hỗn loạn khắp nơi thì chúng ta phải chuyển hoá chính bản thân mình. (Thiền sư Jiddu Krishnamurti) – (Tự Do Đầu Tiên Và Cuối Cùng; J.Krishnamurti; dịch giả: Phạm Công Thiện).

* Nhìn vào bên trong, chúng ta biết có cái tâm chân thật ở trong. Tâm này thấy sự rong ruổi của ý thức, thấy được vọng niệm  khi dấy khi lặng. Nếu không có tâm ấy, chúng ta làm sao biết được khi có vọng khi không vọng, lúc có ý thức lúc không ý thức. Cái biết được vọng, quyết định cái đó không phải vọng. Vọng thì khi sinh khi diệt, cái thấy rõ sự sinh diệt của vọng quả là không phải sinh diệt. Vọng dấy lên do vin theo bóng dáng trần cảnh nên có tướng mạo, thuộc về nhân duyên. Cái biết vọng, chưa từng dấy lên, chưa từng theo trần cảnh, nên không liên hệ đến nhân duyên. (…) Nhận ra cái đó là thấy tâm chân thật ở trong. (Thiền sư Thích Thanh Từ) – (Thiền Tông VN Cuối Thế Kỉ 20; Thích Thanh Từ).

* Nếu được bạn lành vạch bày liền đốn ngộ cái “biết” không - lặng. Cái “biết” không có niệm, không hình tướng thì đâu có gì là ngã tướng nhân tướng. (Thiền sư Tông Mật) ) – (Nguồn Thiền; Tông Mật; dịch giả: Thích Thanh Từ).

* Mục tiêu của việc tu thiền là nhận ra tự tánh (tức Phật tánh) và giải thoát khỏi mê lầm phiền não. Làm thế nào để nhận ra được? Có thể được, vì tự tánh là tự tri. (…) Bảo rằng quá trình giác ngộ là đốn nghĩa là có một cú nhảy vọt (…). Cú nhảy vọt về mặt luận lí là tiến trình lí luận thông thường khựng lại một cách đột ngột (…). Tiến trình này gián đoạn đột ngột, và đồng thời bất khả tư nghì; đó là kiến tánh. (…) Vì là vô tâm vô niệm nên cái thấy mới thực là thấy. (…) Lí vô ngã không đúc kết từ suy luận duy lí mà là một sự kiện thực tế. (…) Các lí luận gia cần nhớ rằng tôn giáo là sự kiện thực nghiệm (…). (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki;  dịch giả: Thuần Bạch).

Chùm 4:

* Ngài Pháp Hải bạch rằng: “Hoà Thượng để lại giáo pháp gì khiến cho những người mê đời sau được thấy Phật tánh?” Tổ bảo: “Các ông lắng nghe, những người mê đời sau nếu biết chúng sinh tức là Phật tánh, nếu chẳng biết chúng sinh muôn kiếp tìm Phật cũng khó gặp. Nay tôi dạy các ông: biết tự tâm chúng sinh, thấy tự tâm Phật tánh. Muốn cầu thấy Phật, chỉ biết chúng sinh; chỉ vì chúng sinh mê Phật, chẳng phải Phật mê chúng sinh. Tự tánh nếu ngộ chúng sinh là Phật, tự tánh nếu mê Phật là chúng sinh; tự tánh bình đẳng chúng sinh là Phật, tự tánh tà hiểm Phật là chúng sinh. (…)”. (Pháp Bảo Đàn Kinh; dịch giả: Thích Thanh Từ).

* Toàn bộ giáo lí Phật giáo, hay cả toàn thể đạo học Đông phương, nói về tri kiến tuyệt đối, tri kiến chỉ đạt được trong thế giới vô niệm, trong đó sự thống nhất toàn thể mọi nhị nguyên đối lập là sự chứng thực sinh động. (Giáo sư vật lí Fritjof Capra) – (Đạo Của Vật Lí; F. Capra; dịch giả: Nguyễn Tường Bách).

* Bản ngã - một ảo tưởng - là kết quả của bộ não bị quy định, bị chương trình hoá. (Giáo sư tiến sĩ vật lí David Bohm).

* (Thầy Đa-ram nói) Năng lượng linh hồn là năng lượng ở ngoài electron và ngoài proton. Nhưng tâm năng mạnh mẽ vô cùng, nó có khả năng tác động lên lực hấp dẫn. Năng lượng của nhiều tâm có một sức mạnh lớn lao. Có tâm năng tích cực và tâm năng tiêu cực, chúng gắn liền với nhau.(…) Tâm năng tiêu cực (xấu ác) có thể thu hút các đối tượng phá phách của vũ trụ, tác động lên thiên nhiên. Bởi vậy, cùng với xung đột và chiến tranh, khá thường xuyên xảy ra động đất, rơi thiên thạch… (Nhà bác học-giáo sư tiến sĩ y học E-rơ-nơ Mun-đa-sep) – (Chúng Ta Thoát Thai Từ Đâu; E. Mun-đa-sep; dịch giả: Hoàng Giang).

* Gọi là Thượng Đế hay chân lí đều như nhau; chân lí là giải thoát tâm trí khỏi mọi gánh nặng của trí nhớ (tâm lí). (Thiền sư J. Krishnamurti).

* Nhược ngộ tịch vi lạc / Thử sinh nhàn hữu dư. (Nếu ngộ tịch là lạc / Đời này nhàn có dư). (Thiền thi sĩ Vương Duy).

Chùm 5:

* Này thiện tri thức, nếu trong các ông hàng hữu học, mỗi lần niệm khởi trong tâm, hãy hồi quang phản chiếu (tận nguồn tâm). Khi niệm diệt trong tâm, sự phản quán tâm cũng tự diệt, đó là vô niệm. Vô niệm hoàn toàn thoát ngoài các duyên ngoại cảnh, bởi vì nếu còn có cảnh duyên nào thì không thể là vô niệm được. (…) Nếu khởi chánh chân Bát-nhã quán chiếu thì trong khoảng một sát-na vọng niệm đều diệt. Nếu biết tự tánh, một phen ngộ tức đến quả vị Phật. (…). Nếu để cho tâm chẳng nghĩ gì hết, đó là diệt niệm, tức bị pháp trói buộc, gọi là thấy một bên. (Lục tổ Huệ Năng) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki; dịch giả: Thuần Bạch).

* Dĩ nhiên chúng ta phải sử dụng các ngôn từ khi một điều gì đó được truyền đạt từ người này sang người khác, nhưng các ngôn từ chỉ là sự nêu trỏ suông chứ không phải là chính sự thực. Như kinh bảo, chúng ta phải dùng đến ngọn đèn ngôn từ để đi vào trong cái chân lí nội tại của kinh nghiệm vượt khỏi ngôn từ và tư tưởng. Nhưng quả thực là hoàn toàn khờ dại khi tưởng ra rằng ngọn đèn ấy là mọi sự. (Thiền sư D.T.Suzuki) – (Nghiên Cứu Kinh Lăng Già; D.T.Suzuki; dịch giả: Thích Chơn Thiện, Trần Tuấn Mẫn). (Tác phẩm này được thầy Trần Tuấn Mẫn (dịch giả) sửa bản in. Đây là một việc làm vô cùng quan trọng đối với những kinh sách có giá trị cho sự tu học và ấn chứng. Ngày nay có nhiều tác phẩm Phật học bị sai lệch nội dung nghiêm trọng sau khi in ấn! Mong sao điều này được quý vị tác giả và dịch giả quan tâm. –TT LBB).

* Theo Lục Tổ, Bát-nhã là tên đặt cho Tự tánh hoặc Vô niệm, khi Tự tánh tự nhận biết mình, hoặc đúng hơn là hành vi tự nhận biết chính mình. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki;  dịch giả: Thuần Bạch).

* Thoại (lời nói) từ tâm khởi, tâm là đầu (ở trước) của thoại. Niệm từ tâm khởi, tâm là đầu của niệm. Vạn duyên đều từ tâm khởi, tâm là đầu của vạn duyên. Sự thật, “thoại đầu” tức là “niệm đầu”; trước niệm chính là tâm. Nói thẳng, trước khi một niệm chưa sinh là thoại đầu. Do đây, chúng ta biết khán thoại đầu tức là quán tâm. Khán “trước khi cha mẹ chưa sinh, mặt thật xưa nay là gì?” là quán tâm. (Thiền sư Hư Vân) – (Thiền Đốn Ngộ; dịch giả: Thích Thanh Từ).

* Người trí xem năm uẩn là những cấu trúc của tưởng. (…) Ba cõi không gì khác hơn là sự phân biệt. (…) Khi một sự chuyển hoá (chuyển y) xảy ra thì có một trạng thái vô tưởng vốn là cảnh giới của người trí. (…) Khi người ta nhận biết rằng không có gì ngoài những thứ được thấy từ chính cái Tâm thì sự phân biệt về hữu và phi hữu đứt đoạn. (Kinh Lăng Già; bản tiếng Anh của D.T.Suzuki; dịch giả: Thích Chơn Thiện, Trần Tuấn Mẫn).

* Tà đến phiền não sinh / Chánh đến phiền não dứt;
  Tà chánh đều không dùng / Thanh tịnh mới hoàn toàn.
 (Pháp Bảo Đàn Kinh; dịch giả: Thích Thanh Từ).

Chùm 6:

* Mười phương thế giới thu vào một điểm hiện tiền; quá khứ, hiện tại, vị lai tụ trong một niệm đương thời. Dù ở giữa hàng chư thiên cũng không có niềm vui nào so được với đây; ở loài người lại càng hiếm lắm. Sự tiến bộ như thế trong đời sống tâm linh có thể thâu đạt được chỉ trong vài bữa, nếu hành giả dốc lòng tu tập. (Thiền sư Bạch Ẩn) - (Thiền Luận - quyển trung; D.T.Suzuki; dịch giả: Tuệ Sỹ). 

* Người học kinh, xem giáo lí, mỗi câu mỗi câu đều phải uyển chuyển xoay về nơi mình để làm sáng tỏ tánh giác. (Thiền sư Bá Trượng) - (Trung Hoa Chư Thiền Đức Hành Trạng;  dịch giả: Thích Thanh Từ).

* Tối kị nhằm trong ngôn cú tạo kế sống. Vì sao? Vì bánh in đâu có nước. Người ta phần nhiều rơi vào ý thức. Cần phải nhắm về trước khi ngữ cú chưa sinh để hội lấy, mới được đại dụng hiện tiền tự nhiên thấy được. (Bích Nham Lục; dịch giả: Thích Thanh Từ).

* Không (trong Bát-nhã) là thành quả của trực giác tâm linh, chứ không phải là hậu quả của suy luận. (Thiền sư D.T.Suzuki) – (Thiền & Bát-Nhã; D.T.Suzuki; dịch giả: Tuệ Sỹ).

* Khi đức Phật dạy về Khổ thánh đế, Ngài nói đến năm uẩn; Ngài muốn cho chúng ta biết và thấy năm uẩn. Thế giới loài người của chúng ta là sự hiện hữu của năm uẩn, và trừ phi chúng ta biết và thấy được năm uẩn này, bằng không chúng ta không thể hiểu rõ lời dạy của đức Phật. (…) Khi hành giả phát triển được định tâm mạnh mẽ, hành giả sẽ thấy rằng đối tượng được phản chiếu trong ý môn như trong một tấm gương. (Thiền sư Pa-auk Sayadaw) – (Biết Và Thấy; P. Sayadaw; dịch giả: Pháp Thông).

* Được gia trợ bởi năng lực của chư Phật, chư Bồ-tát Ma-ha-tát đang ở cấp độ thứ nhất của mình (sơ địa) sẽ đạt đến Bồ-tát Tam-ma-địa gọi là Ánh sáng đại thừa (phát quang địa), thuộc về chư Bồ-tát Ma-ha-tát. (Kinh Lăng Già; bản tiếng Anh của D.T.Suzuki; dịch giả: Thích Chơn Thiện, Trần Tuấn Mẫn).

Chùm 7:

* Tất cả nhân loại không quý gì bằng sinh mệnh, sinh mệnh được coi trọng nhất trên trần gian này. Bởi vì tất cả của cải sự nghiệp, danh vọng tài sắc… đều để tô điểm cho sinh mệnh. Mất sinh mệnh, tất cả cái ấy trở thành vô nghĩa. Song sinh mệnh con người thời nay, nếu kéo dài lắm chỉ trong vòng bảy tám mươi năm. Cái đau khổ nhất của con người là khi nghe mình sắp mất sinh mệnh. (…) Thực là mối đau khổ truyền kiếp không ai thoát được. Nếu có một phương pháp nào khiến con người thoát được cái chết thì trên nhân gian này còn gì quý bằng! Ở đây chúng tôi xin giới thiệu quý vị phương thuốc hi hữu duy nhất trên đời, nếu quý vị uống nó vào thì “bất tử”, chính là tánh giác của quý vị đấy. Người giác ngộ tánh giác là nhận ra được cái “bất tử”. Vì thế tánh giác này được Phật dụ là hòn ngọc như ý. Được hòn ngọc này rồi, con người dứt sạch mọi đau khổ; mọi mong cầu đều toại nguyện. (Thiền sư Thích Thanh Từ) – (Thiền Tông VN Cuối Thế Kỉ 20; Thích Thanh Từ).

* Lục Tổ nói lên câu đầu tiên liên quan đến sự chứng nghiệm của Tổ là “xưa nay không một vật” và sau đó là “kiến tánh”, cái tự tánh vì là “không một vật” nên là “Không”. Vì thế “thấy tánh” là “thấy Không” như Thần Hội nói. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki;  dịch giả:Thuần Bạch). 

* Trước Big Bang thời gian chưa trôi: mỗi giây tương ứng với vĩnh cửu. Chúng ta ước đoán thế vì vật lí lượng tử xuyên qua ảo ảnh thời gian, tách khỏi đồng hồ nguyên tử để đi sâu hơn vào nhà máy Tự nhiên. Rung động dừng lại tại mức độ sâu nhất. Đáy của vũ trụ giống như bộ não chết. Tuy nhiên biểu hiện của cái chết là ảo giác, vì biên giới nơi mọi hoạt động chấm dứt đánh dấu sự bắt đầu một vùng mới, gọi là thực tại ảo – nơi vật chất và năng lượng tồn tại dưới dạng tiềm năng thuân tuý. Cơ sở của thực tại ảo rất phức tạp nhưng nói một cách đơn giản nhất, vùng phi vật chất phải tồn tại để sinh ra vũ trụ vật chất. Vùng này trống rỗng nhưng không hề hư vô. (…) Sáng tạo nhảy vọt từ trống rỗng lên đầy tràn, cũng như vĩnh cửu nhảy vọt từ phi thời gian sang đầy tràn thời gian.

  Nếu vĩnh hằng đang cùng với ta bây giờ, làm cơ sở cho toàn bộ tồn tại vật chất, nó phải làm cơ sở cho tôi và bạn. (Tiến sĩ y học Deepak Chopra) - (Sự Sống Sau Cái Chết; Deepak Chopra;  dịch giả: Trần Quang Hưng).

* Trong Truyền Đăng có chép rằng: “Thượng thư Ôn Tháo hỏi ngài Khuê Phong: Người ngộ lí, một phen tuổi thọ hết, gá nương chỗ nào? Khuê Phong đáp: Tất cả chúng sinh đều có đầy đủ linh minh tánh giác, cùng với chư Phật không khác. Nếu hay ngộ tánh này tức là pháp thân, vốn tự vô sinh có gì nương gá? Cái linh minh chẳng muội, rõ ràng thường biết, không chỗ đến cũng không chỗ đi. Chỉ lấy không - tịch làm tự thể, chớ nhận sắc thân. Lấy linh tri làm tự tâm, chớ nhận vọng niệm. Vọng niệm nếu dấy lên đều không theo nó, đến lúc mạng chung, khi ấy nghiệp tự nhiên không thể cột. Tuy có thân trung ấm mà chỗ đến tự do. Cõi người cõi trời tuỳ ý gửi nương. Đây tức là chơn tâm trước và chỗ đến của thân sau vậy”. (Thiền sư Phổ Chiếu) – (Chơn Tâm Trực Thuyết; Phổ Chiếu; dịch giả: Thích Đắc Pháp).

* Vì nhục thể rữa nát khi chết, linh hồn rời đi nhập vào giới siêu hình tương ứng với sự tồn tại của nó ở bình diện vật chất, vào tần số tương ứng với cuộc sống cũ của nó nhất. (…) Quá trình biến đổi sau cái chết không phải là sự di chuyển đến một nơi chốn khác hay thời gian khác; nó chỉ là sự thay đổi về chất sự chú tâm của chúng ta. Bạn chỉ có thể nhìn thấy những gì có rung động tương ứng với bạn. (Tiến sĩ y học Deepak Chopra) - (Sự Sống Sau Cái Chết; D. Chopra;  dịch giả: Trần Quang Hưng).

* Giác ngộ không phải là một công việc riêng tư chẳng can dự gì đến khối lớn cộng đồng; điểm tựa của nó được đặt ngay trong lòng vũ trụ. (…) Cái được gọi là “thiện căn” chỉ có giá chừng nào nó làm lợi ích cho tất cả thế gian. Nếu không thể phụng sự cho toàn thể môi trường gồm những thân thuộc mà mình đứng trong đó – nghĩa là, nếu cái nhìn tâm linh của mình mà không trải ra đến bờ cõi xa xôi nhất thì “thiện đức”của y không phải là “thiện đức” thứ thiệt, và chẳng có cái lối chứa nhóm nào như vậy mà lại có thể làm trỗi dậy ước vọng giác ngộ (tức Bồ-đề tâm). (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Thiền Luận - quyển hạ, luận IV; D.T.Suzuki; dịch giả: Tuệ Sỹ).

* Nền vật lí này bây giờ đã thấy rằng vũ trụ là một mạng lưới chằng chịt vật chất và tâm linh liên quan mật thiết với nhau, mà mỗi phần tử chỉ được định nghĩa trong mối tương quan với toàn thể. (Giáo sư vật lí Fritjof Capra) – (Đạo Của Vật Lí; F. Capra; dịch giả: Nguyễn Tường Bách).

 Chùm 8:

* Bảo rằng “Duy tâm” là do bởi tâm, cũng là được sinh ra từ tâm; khi thông hiểu được các tướng trạng đặc thù trong tất cả những biến đổi có thể có được thì chúng không gì khác hơn là chính cái Tâm. (Phần Tổng kệ của kinh Lăng Già) – (Nghiên Cứu Kinh Lăng Già; D.T.Suzuki; dịch giả: Thích Chơn Thiện, Trần Tuấn Mẫn).

* Trường ý thức là cơ sở của mọi hiện tượng trong Tự nhiên, bởi vì khe hở tồn tại giữa mọi electron, mọi ý nghĩ, mọi khoảnh khắc thời gian. Khe hở là điểm khống chế, sự tĩnh lặng ở tâm của sáng tạo, nơi vũ trụ liên kết mọi sự kiện. (…) Chúng ta cần nhớ nguồn gốc chung của mình. Tinh thần con người suy thoái khi chúng ta hạn chế mình trong một kiếp người và giam trong một thể xác. (Tiến sĩ y học Deepak Chopra) - (Sự Sống Sau Cái Chết; D. Chopra;  dịch giả: Trần Quang Hưng).

* Tôi tuyệt đối tin rằng sự sống vật thể trên trái đất đã được tạo ra bằng cách hồn cô đặc dần. Mọi học lí cho rằng, sự sống trên trái đất xuất hiện do những phân tử phức tạp tự phát sinh và cô đọng thành những cơ thể sống, không vững vàng, xét cả trên quan niệm tôn giáo lẫn quan điểm vật lí học và hoá học hiện đại. (Nhà bác học-giáo sư tiến sĩ y học E-rơ-nơ Mun-đa-sep) – (Chúng Ta Thoát Thai Từ Đâu; E. Mun-đa-sep; dịch giả: Hoàng Giang).

* Sự ô nhiễm tâm linh không phát xuất từ đâu khác cả mà chính là ở trong mạt-na (ý), căn gốc của tri thức và của ý chí. (Thiền sư D.T.Suzuki) – (Nghiên Cứu Kinh Lăng Già; D.T.Suzuki; dịch giả: Thích Chơn Thiện, Trần Tuấn Mẫn).

* Giác ngộ phải gồm cả ý chí lẫn tri thức. Đó là một hành vi trực giác phát sinh từ ý chí. Ý chí muốn tự biết nó là gì, y như thực, ngoài tất cả các điều kiện chi phối sự hiểu biết. (…) Khi nói đến chứng đạo hoặc giác ngộ, tự nhiên ta dễ liên tưởng đến khía cạnh nhận thức và quên mất động lực phi thường của ý chí tác động ở bên sau, mà cũng chính là động lực cấu tạo nên cốt cách của một cá nhân. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Thiền Luận - quyển thượng, luận III; D.T.Suzuki; dịch giả: Trúc Thiên).

* Giác là vậy, một trạng thái tuyệt đối của tâm dứt bặt hết phân biệt - vọng tưởng hoặc biến kế chấp. Để thể nghiệm trạng thái kiến chiếu muôn vật “trong một niệm” ấy phải có một khí lực dũng mãnh. (…) Và vì lẽ “nhất niệm” mới có giác nên cần nỗ lực vượt qua cái thế đối đãi ấy của ý thức kinh nghiệm chấp dính vào cái nhiều thay vì cái một của sự vật. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Thiền Luận - quyển thượng, luận III; D.T.Suzuki; dịch giả: Trúc Thiên).

Chùm 9:

* Xin đừng hỏi: “Làm cách nào để thấy?” Ngay lúc ngài hỏi làm thế nào, có người sẽ sẵn sàng giúp ngài, rồi ngài trở thành nô lệ của người đó. Nhưng nếu ngài tự thấy rằng suy nghĩ và thời gian (tâm lí) thực sự là gốc rễ của sợ hãi, không cần phải đắn đo hay quyết đoán ngài cũng vẫn hành động. Ví như gặp con bọ cạp nguy hiểm, con rắn độc – khi nhìn thấy chúng ngài sẽ hành động tức thì. (…) Vậy thì mỗi người chúng ta có thể cảm thấy được trách nhiệm mà chúng ta đã tạo ra cái xã hội chúng ta đang sống không? Cái xã hội quái gở, vô đạo đức ngoài tưởng tượng! (…) Vậy có cần nên hết sức tỉnh thức, nhận biết được mỗi suy nghĩ? Chúng ta có thể là vậy không? (…) Tư tưởng, suy nghĩ có thể nào mang lại trật tự không, trong khi chính cái tư tưởng bị giới hạn này là nguồn gốc của hỗn loạn? (…) Có thể nào trí não chỉ dùng đến suy nghĩ khi cần thôi? Những lúc cần sống với suy nghĩ là khi lái xe, khi ăn, khi viết thư, khi làm điều này điều nọ trong thực tế. Mọi thứ này là hoạt động của cái suy nghĩ giới hạn – nghĩa là khi cần thì suy nghĩ có thể hoạt động. Nhưng ngoài những chuyện đó ra, sao nó lại ba hoa suốt cả ngày vậy? (Thiền sư Jiddu Krishnamurti) – (Lời Cuối Bình Yên; J. Krishnamurti; biên dịch: Mộc Nhiên).

* Những cấu trúc mà nhà khoa học quan sát được trong thiên nhiên thực ra liên hệ rất chặt chẽ với cấu trúc của tâm ý họ; với khái niệm, tư tưởng và hệ giá trị của họ. Do đó, kết quả khoa học mà họ thu được và sự ứng dụng kĩ thuật mà họ tìm hiểu sẽ rất tuỳ thuộc vào khuôn khổ tâm thức của họ. (…)  Thế nên, nhà khoa học phải chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình, không những chỉ về tri thức, mà cả về mặt đạo lí.  (Giáo sư vật lí Fritjof Capra) – (Đạo Của Vật Lí; F. Capra; dịch giả: Nguyễn Tường Bách).

* Pháp môn vô niệm thuộc về hàng thánh nhân, nhưng nếu phàm phu tự tu tập theo đó, họ không còn là phàm phu nữa. (…) Ai quán vô niệm, kẻ ấy tức thì tăng trưởng phước đức nhiều như cát sông Hằng. (…) Ai quán vô niệm, kẻ ấy ôm trọn vạn vật trong lòng mình. (…) “Vô” có nghĩa là vô nhị tướng, “niệm” là niệm Chân như. (Thiền sư Thần Hội) - (Vô Niệm (Pháp Bảo Đàn Kinh); D.T.Suzuki;  dịch giả:Thuần Bạch). 
* Tột trước cùng sau trở về niệm hiện tiền. (Kinh Lăng Già Tâm Ấn; dịch giả: Thích Thanh Từ).

* Các nhà khoa học cũng đang quay lại và hướng sự tập trung vào việc tìm hiểu cách thức suy nghĩ và trạng thái của chúng ta thực sự ảnh hưởng đến lực từ trường bên trong và xung quanh chúng ta. (Tiến sĩ sinh học Karen Nesbitt Shanor) – (Trí Tuệ Nổi Trội; K.N.Shanor; dịch giả: Vũ Thị Hồng Việt).

* Các nghiên cứu tại trường Đại học Stanford đã chỉ ra rằng thông qua suy nghĩ, chúng ta có thể gây ảnh hưởng tới huyết áp và nhịp tim của một người ở cách xa chúng ta. Còn các nhà khoa học tại trường Đại học Princeton đã chứng minh được quá trình trao đổi thông tin giữa hai người ở cách xa nhau hàng nghìn dặm. (Tiến sĩ sinh học Karen Nesbitt Shanor) – (Trí Tuệ Nổi Trội; K.N.Shanor; dịch giả: Vũ Thị Hồng Việt).

Chùm 10:

* Khái niệm quan trọng nhất trong hệ thống các thức là Tập khí. Tập khí là gì? Về mặt tâm lí, như đã được nêu trước đây, tập khí là kí ức, vì đấy là cái gì để lại sau khi một hành động được thực hiện, thuộc tâm lí hay vật lí, và được nó giữ lại, được chứa đựng trong A-lại-da như một thứ năng lực tiềm tàng sẵn sàng được trở thành hành động. Cái kí ức hay tập khí này, hay sự quen xông ướp, không nhất thiết thuộc cá biệt, không những chỉ giữ trong nó cái kí ức cá biệt mà còn giữ tất cả những gì mà các chúng sinh hữu tình đã kinh nghiệm. Khi kinh bảo rằng A-lại-da có tất cả những gì đã diễn tiến từ thời vô thỉ được chất chứa một cách hệ thống như một loại hạt giống, thì điều này không trỏ vào những kinh nghiệm đặc thù cá nhân mà trỏ vào những gì tổng quát, vượt khỏi cái đặc thù, theo một cách nào đó, tạo thành cái nền mà dựa vào đó mọi hoạt động tâm lí cá nhân được phản ánh. Do đó, A-lại-da vốn là thanh tịnh, nó là trú xứ của Như Lai tính, ở đó không có sự ô nhiễm của cái tri thức và tình cảm đặc thù hoá nào có thể đến được; sự thanh tịnh, về mặt luận lí, có nghĩa là tính phổ quát, và các ô nhiễm (lậu hoặc) hay tội lỗi có nghĩa là sự cá biệt, từ đó những chấp trước và các hình thức khác nhau được phát sinh. Tóm lại, thế giới khởi sự từ tập khí và chính tập khí vì vẫn có tính chất phổ quát trong A-lại-da nên không có gì xấu, và khi chúng ta được gỡ khỏi cái ảnh hưởng của sự phân biệt sai lầm thì toàn bộ hệ thống thức được đặt thành chung quanh A-lại-da, lấy lại A-lại-da làm trung tâm, sẽ kinh nghiệm một sự đột biến (paràvritti) mà thành sự nhận thức thực sự. Đây là điểm chủ chốt trong giáo lí của Lăng-già.

  Sự đột biến này đánh dấu cái đỉnh điểm của tâm lí học thực hành của Lăng-già, vì chính nhờ sự kiện này mà có thể có được sự thể hội về tự chứng Thánh trí cảnh giới, và sự thể hội này là chủ đề trung tâm của bộ kinh. (…). (Thiền sư D.T. Suzuki) – (Nghiên Cứu Kinh Lăng Già; D.T. Suzuki; dịch giả: Thích Chơn Thiện, Trần Tuấn Mẫn).

* Người cổ xưa cho rằng, vật chất sinh ra từ khoảng không. Nhà vật lí thiên tài Nga Ghên-na-đi Si-pốp, người đã lập được phương trình (A. Anh-xtanh đã không lập được) mô tả vật lí chân không, tức Tịnh vô tuyệt đối hoặc Tuyệt đối, cũng cho như vậy. (…).

   Tuyệt Đối đó không đơn thuần là tịnh vô; đó là Khoảng Không có Cái gì đó. Trước mắt, khoa học chưa biết Cái gì đó. Theo G. Si-pốp, nguyên tử và phản nguyên tử phát sinh từ Tuyệt đối. Chúng sinh ra, đụng độ nhau và huỷ diệt nhau. Nhưng có một lần, cách đây nhiều tỉ năm, vào một thời điểm các nguyên tử và phản nguyên tử sau khi tạo thành trong không gian, đã tản đi. Vật chất phát sinh từ Tuyệt đối là như vậy.

   Các trường xoắn và phản xoắn (xoắn theo cách khác) siêu tần số cùng phát sinh từ Tuyệt đối, chúng cùng huỷ diệt lẫn nhau và hỗ trợ Tuyệt đối. Nhưng cũng có thể xuất hiện thời điểm, khi các trường xoắn huỷ diệt nhau tản đi. Thế giới tế vi phát sinh từ Tuyệt đối là như vậy.

   Theo giả thuyết của G. Sipốp: giữa các trường xoắn của thế giới tế vi và ý thức có mối liên hệ trực tiếp, bởi các trường xoắn là những chất chứa đu-sa và đu-khơ.

   (…) Dần dà trong quá trình tiến hoá trong thế giới tế vi xuất hiện đu-khơ – là khối năng lượng tâm thần kết đông dưới dạng các trường xoắn có thể bảo toàn vĩnh cửu trong mình một khối lượng thông tin to lớn. Nhiều đu-khơ tạo thành giữa chúng những mối liên hệ thông tin và tạo ra Không gian thông tin toàn thể, tức Cõi kia (…). 

   (…) Mọi ngưòi đều biết rõ khái niệm karma (nghiệp), tức là các “vết tích” của các tiền kiếp để lại trong đu-khơ. Giai đoạn trần thế ở thế giới vật thể, đu-khơ có thể hoàn thiện mà cũng có thể thoái hoá. (…). (Nhà bác học-giáo sư tiến sĩ y học E-rơ-nơ Mun-đa-sep) – (Chúng Ta Thoát Thai Từ Đâu; E. Mun-đa-sep; dịch giả: Hoàng Giang).

* (…) Đại thừa đứng vững trên hai chân, Trí tuệ và Từ bi, cái ý niệm siêu việt và tình yêu trùm khắp đối với tất cả các loại chúng sinh, hữu tình cũng như vô tình. Trí tuệ nhìn thấy vào cái nhất tính của các sự vật và từ bi thể hội cái tự tính của chúng. Vị Bồ-tát khóc cùng với các chúng sinh đau khổ và đồng thời hiểu rằng có một vị không bao giờ khóc, ở bên trên mọi đớn đau, sầu khổ và ô nhiễm. (…) Và sự cân bằng này được nhìn thấy trong Pranidhàna hay bổn nguyện của vị Bồ-tát. (Thiền sư D.T. Suzuki) – (Nghiên Cứu Kinh Lăng Già; D.T. Suzuki; dịch giả: Thích Chơn Thiện, Trần Tuấn Mẫn).

* Tùng Duyệt, toạ chủ chùa Đâu Suất, thường đặt ra ba câu hỏi sau đây để khảo nghiệm sở kiến của môn nhân đối với đạo lí của Thiền. 1) Ông bái phỏng từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ cốt là để thấy tánh; vậy, ngay lúc này, tánh của ông ở đâu? 2) Biết được tự tánh mới có thể thoát khỏi sinh tử; nhưng khi ông chết rồi làm sao thoát? 3) Thoát khỏi sinh tử là biết chỗ đến của mình; vậy khi tứ đại tan rã, chúng ta đi về đâu?

  “Tôi là gỉ?” “Tôi ở đâu?” “Tôi từ đâu đến?” “Tôi đi về đâu?” Tất cả chỉ là một vấn đề, được hỏi khác nhau. Hiểu được một sẽ giải quyết tất cả còn lại. “Tôi là gỉ?” là một nghi vấn dò vào tự tánh của thực tại, căn cơ của mọi sự vật chủ quan và khách quan. (…)

  Trên phương diện tâm lí, trả lời cho cái “ở đâu?”, cho thấy thái độ tâm lí căn bản của ta đối với thế giới khách quan một cách tổng quát, và ở Thiền câu hỏi này thường khoác dưới hình thức “ở đâu đến?”, nhờ đó thiền sư mong thấy tăng chúng tìm ra nơi trú ẩn tâm linh của họ nằm ở đâu. Toàn bộ sự đào luyện của Thiền tông, có thể nói, cốt ở sự đặt để này, cũng gọi là tìm tòi hay đào xới. (…) “Từ đâu?” và “Đến đâu?”, những ai có thể trả lời đích đáng, những vị ấy quả là đã tỏ ngộ.

  (…) Đạo Phật, là một lối luyện tập tâm linh thực tiễn, dù có những lời nhằm phô diễn thẳng về kinh nghiệm, không cho phép có sự can thiệp của lối giải thích trí năng hay siêu hình nào ở đây. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Thiền Luận - quyển hạ, luận I; D.T.Suzuki; dịch giả: Tuệ Sỹ).

* Tất cả tâm ý thức đều từng phần, cục bộ, tù hãm, trong  khi chú tâm toàn vẹn là bao trùm ý thức với những giới hạn của nó; do đó chú tâm có khả năng xoá bỏ biên cương và giới hạn. (…) Thấy biết cái giả như giả là chú tâm, nhưng cái giả sẽ không được thấy là giả khi còn có ý kiến, phán đoán, lượng giá, trói buộc… Mọi thứ này là hậu quả của sự không chú tâm. Chú tâm toàn vẹn là quán chiếu vào mọi cơ cấu của sự không chú tâm. Tâm có chú tâm là tâm rỗng rang. (…) Chỉ có chú tâm tỉnh giác với một trung tâm chú tâm, nơi đó cội gốc của tư tưởng biến mất, không bạo lực, thật tự nhiên, thật dễ dàng. (Thiền sư J. Krishnamurti) – (Bút Hoa; J. Krishnamurti; dịch giả: Ẩn Hạc).

* Thiền, cốt yếu nhất là nghệ thuật kiến chiếu vào thể tánh của chúng ta; nó chỉ con đường từ triền phược đến giải thoát. (…) Bấy giờ, ta nhận ra ý nghĩa cuộc sống, ta biết rằng đó không phải là một nỗ lực mù quáng, mà cũng không phải là trường thao diễn những bạo lực vô tri; nhưng dầu không thấu hiểu được những ý nghĩa tối hậu của kiếp người, vẫn có cái gì đó khiến ta vui không cùng để mà sống, và qua mọi cuộc thăng trầm ta vẫn thảnh thơi mà an thân lập mệnh, không thắc mắc, không hoài nghi, không bi quan yếm thế. (Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki) - (Thiền Luận - quyển thượng, luận I; D.T.Suzuki; dịch giả: Trúc Thiên).

                                                          Tuệ Thiền (Lê Bá Bôn) sưu tầm
lebabon04@gmail.com

READ MORE - TÌM LẠI CHÍNH MÌNH (Bài văn vần & thiền ngôn) - Tuệ Tiền (Lê Bá Bôn) sưu tầm