Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, March 19, 2012

CHÙM THƠ ĐƯỜNG NHÂN NGÀY LỄ TÌNH YÊU - Sông Thu, Võ Làng Trâm, Văn Thanh, Thu Vân, Như Thiền


Cáo lỗi: Chùm thơ Đường nhân ngày Tình Yêu do anh Lê Sông Thu gởi đến đã bị lạc vào hộp Spam  đến nay tình cờ mới tìm thấy. Xin anh Lê Sông Thu và các bạn thứ lỗi.

HÃY SỐNG VÀ YÊU            
         (Nhân ngày Tình Yêu 2012)

Hãy sống và yêu,các bạn ơi
Ngày xuân ngắn ngủi sắp qua rồi!
Bao lâu còn được,thì vui hưởng
Đến lúc lực tàn,mới phải xuôi!
Tràn ngập mến thương,lòng rộng mở
Xả buông hờn giận,dạ luôn tươi.
Tình nhân đâu chỉ khi son trẻ
Hạnh phúc dành cho khắp mọi người.
                                          Sông Thu

Bài họa

            MÃI NHỚ

Hỡi chàng thi hữu mến thương ơi
Nhắc nhở làm chi biết quá rồi !
Khuynh quốc nghiêng thành bao đứa bám
Dung tàn nhan nhạt mấy ai xuôi ?
Vô duyên đeo mãi thêm đời héo
Có nợ cam đành vẫn sống tươi
Tình nghĩa một thời bao luyến ái
Làm sao giữ trọn đạo làm người  . . .
                                   Võ Làng Trâm


LỜI CUỐI CHO TÌNH YÊU
                     
Tình yêu cuộc sống hỡi tình ơi?
Ảo ảnh phù du héo hắt rồi
Lá thắm chồi xanh thay nếp mới
Cành khô, hoa úa rụng buông xuôi
Thương cho, phận bạc lòng hiu quạnh
Đau xót, hồng nhan mặt kém tươi
Chẳng oán buồn than ai đàm tiếu
Chê bai gièm xiểm thị phi người...
                                        Thu Vân

NGÀY TÌNH NHÂN

Tình yêu liều lỉnh lắm ai ơi
Dẫu biết yêu nhau chết tí rồi
Mấy kẻ si tình mà tránh khỏi
Bao người dang dở phải đành xuôi
Hẩm hiu số phận gan dù héo
Trắc trở tình duyên dạ cố tươi
Trần thế cuộc vui đâu mấy chốc
Tình Nhân ngày đẹp của bao người
                                     Văn Thanh 

CA NGỢI TÌNH YÊU

Tin ở tình yêu,bạn quí ơi,
Dẫu thời thơ mộng đã xa rồi.
Xưa còn sức trẻ,mê say đắm
Nay lúc tuổi già, chớ bỏ xuôi!
Ngày tháng bên nhau,lòng rộn rã
Phút giây xa bậu,dạ không tươi.
Sắt son,chung thủy,đời luôn đẹp
Hạnh phúc thăng hoa tại cõi người.
                                      Như Thiền

READ MORE - CHÙM THƠ ĐƯỜNG NHÂN NGÀY LỄ TÌNH YÊU - Sông Thu, Võ Làng Trâm, Văn Thanh, Thu Vân, Như Thiền

MỘT PHIÊN TÒA ĐẶC BIỆT - Nguyễn Thanh Xuân


Truyện kiều có ba vụ án. Vụ thứ nhất: Vương Ông bị vu oan phải chịu tội. Vụ thứ hai: Thúc Ông kiện con trai và Kiều. Vụ thứ ba: Kiều xử Hoạn Thư trong cuộc báo ân, báo oán.

Vụ thứ nhất được xử êm thấm bằng ba trăm lạng. Sau này cụ Tam Nguyên Yên Đổ hạ một câu thế sự: “Có tiền việc ấy mà xong nhỉ/ Ngày trước làm quan cũng thế a?”. Cụ Nguyễn Tiên Điền và cụ Nguyên Yên Đổ nhắc lớp sau này đừng xử kiểu như thế nữa. Vụ thứ ba, Kiều xử Hoạn Thư. Giữa họ có nhiều ân oán. Ân ít, oán nhiều, nhưng cái tâm, cái đức của con gái nhà “thường thường bậc trung” lại lớn hơn cái tâm, cái đức của con gái quan Thượng thư Bộ Lại nên Hoạn Thư được tha bổng. Vụ án thứ hai quả là một vụ xử án đặc biệt ly kỳ, đặc biệt kịch tính, tôi xin đề cập vụ án thứ hai.

Cụ Nguyễn ơi! Lời đầu tiên xin chúc mừng Cụ là Cụ đã có được ông quan tài ba, lỗi lạc. Tình cũng đậm mà tâm cũng dày.

Ta thử xem diễn biến của phiên tòa. Một quan tòa chính trực oai nghiêm, mặt sắt đen sì (thiết diện) ngồi ghế chánh án. Ông ngồi ngay ngắn, chỉnh tề. Hai bên nha lại sẵn sàng đợi lệnh. Quan liếc nhìn bị cáo đi vào, họ đi song song, dáng đi uyển chuyển, thong thả gắn bó nhau, tự tin không chút sợ hãi đến trước sân quỳ lạy. Họ không cúi đầu gầm mặt mà bình thản ngẩng nhìn quan tòa. Quan nhìn rõ bị cáo và như bị thôi miên, quan lúng túng muốn nói một câu gì đó nhưng không cất nên lời. Người mà ta sắp xử họ là thế này ư? Ông nghĩ. Để giữ lại vi thế cân bằng, quan liền “Lập nghiêm trước đã ra uy nặng lời”. “Lập nghiêm trước đã” cũng cho ta hiểu, sau đó sẽ bớt nghiêm, hoặc không cần nghiêm nữa, “ra uy nặng lời” trước đã, sau đó có thể không cần “uy”“nặng lời” nữa.

Xưa nay, công đường vốn là nghiêm và uy, sao hôm nay quan tòa phải “lập nghiêm”“ra uy”? Phải chăng bị cáo đã hớp hồn ông? Nếu không lập được nghiêm, ông sẽ không ngồi nổi trên ghế chánh án. Nặng lời với bị cáo (Kiều) “Mà còn người thế”. “Uy nặng lời” mà nghe như tiếng thương tâm, tiếc nuối, đau xót cho con người hồng nhan bạc mệnh. Chỉ bốn tiếng “mà con người thế” cũng đủ cho ta thấy con mắt tinh đời của vị quan tòa. Tuy mới gặp lần đầu và thời gian ngắn ngủi, ông đã thấy ở họ giá trị đích thực của tình yêu nên đã dành cho họ những nhận xét sâu sắc và ân tình. Thúc Sinh yêu Kiều là thế, sống hết mình và đậm tình với Kiều là thế, mà khi đứng trước linh sàng bài vị thờ Kiều cũng chỉ gào lên “con người thế ấy, thác oan thế này”, phải chăng đó cũng là lời tiếc thương của quan tòa hôm xử án.

Ông quan tòa tài ba này chỉ cần suy và luận để đưa ra hình phạt mà không cần cao giọng căn cứ điều này, khoản nọ, mục kia. Ông thấy bên nguyên đang ở trong tình trạng khó xử “bề nào thì cũng chưa yên bề nào”, nghĩa là bắt chúng cắt đứt quan hệ cũng chưa dứt khoát, mà cho chúng lấy nhau cũng chưa hẳn. Ông lại luận về phép công (phép chứ không pháp – pháp luật), rồi tuyên bố có hai cách giải quyết. Ông khẳng định hai chứ không một cũng không ba.

Ơ! Lạ lùng chưa: quan tòa lại giao cho bị cáo chọn một trong hai hình phạt một cách thoải mái và tin cậy “muốn sao mặc mình”. Sao quan tòa lại gọi bị cáo là “mình”? Thân thiết đến mức ấy ư? Đến đây, ta thấy ông không “nghiêm” nữa rồi. Phải chăng, quan tòa mơ hồ muốn dính một tý gì đó với giai nhân? Giữa công đường ban ngày ban mặt mà bạo gan riêng tư đến vậy, quả là: “Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”

Mình” chọn rồi “ta” nghe theo thôi. Ông quay lại dạy cho sai nha thi hành. Dạy chứ không phải lệnh. Sai nha hiểu ý quan, ngầm bảo: nhẹ tay thôi. Ta thấy ông ngẩn ngơ: Rồi ta sẽ cho họ sum vầy bằng cách nào đây nếu Thúc Ông không đồng ý? Giá như ta có điều xử thứ ba là cho ai đó lấy Kiều làm vợ mà không ai kiện tụng. Không, không thể được, vì họ yêu nhau đến thế kia mà! Đầu óc ông rối bời, trống rỗng không thấy gì, nhớ gì. Giữa cái ồn ào huyên náo của pháp đình, văng vẳng bên tai ông (hay chính lòng ông) tiếng kêu oan cho bị cáo. Ông bình tĩnh gạn hỏi kỹ càng. Ông cho dừng hình phạt và bỗng nghe tiếng ông cười. Quan tòa cười. Tiếng cười nhẹ nhàng, sảng khoái làm cho không khí pháp đình trong trẻo, sáng sủa như sau cơn bão. Sau đó, pháp đình trở thành nơi bình thơ xướng họa. Quan tòa và bị cáo như đôi tri kỷ. Ông nâng thi phẩm Kiều sánh vai cùng Lý Bạch, Đỗ Phủ (đời Đường). Có lẽ ông muốn chứng tỏ cho Thúc Ông tự hào có người con dâu tài sắc vẹn toàn, làm cứu cánh cho ông mở đường lay chuyển nguyên cáo thay đổi mà cho chúng kết nghĩa Châu Trần.

Tâm lý ông vừa được giải tỏa, nhân lúc vui vẻ, ông lựa lời vừa tình vừa lý, vừa sử dụng kiến thức âm nhạc sành điệu để phân bua, dàn hòa và cả áp đặt:

Thôi đừng rước dữ cưu hờn
Làm chi lỡ nhịp cho đờn ngang cung
Đã đưa đến trước cửa công
Ngoài thì là lẽ song trong là tình
Dâu con trong đạo gia đình
Thôi thì dẹp nổi bất bình là xong”

Rồi không đợi Thúc Ông có phản ứng, ông quyết định một việc “động trời” là xuất công quỹ làm lễ vu quy cho Kiều thật quý phái:
Kíp truyền sắm sửa lễ công
Kiệu hoa cất gió đuốc hồng điểm sao
Bày hàng cổ xúy xôn xao
Song song đưa tới trướng đào sánh đôi”

Thật to gan! (1) và thi đàn sôi nổi được chuyển làm hôn trường ấm áp tình thương.

Vừa nể lời quan phủ có lý, có tình, vừa thương vì hạnh, trọng vì tài mà Thúc Ông quên phéng đi uy quyền của quan Lại Bộ Thượng thư – thông gia của ông, để cho:

Huệ lan sực nức một nhà
Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa”

Cụ Nguyễn ơi! Cụ viết hai câu cuối này lúc mấy giờ đêm? Chắc đã quá canh ba và Cụ không ngủ nữa!


Tôi muốn nói về chữ “mình” mà quan tòa xưng hô với bị cáo. Tuy chưa đọc nguyên tác bằng chữ Hán của Thanh Tâm tài nhân, nhưng chắc chắc tác giả dùng chữ (nỉ – tiếng Trung Quốc; nhĩ – tiếng Việt) để chỉ ngôi thứ hai. Quan tòa ngôi thứ nhất, bị cáo ngôi thứ hai. Dịch giả dịch ra vị thư như thế nào tùy thuộc thái độ của tác giả với nhân vật. ở trường hợp này, bị cáo là phái yếu. Nếu giận thì gọi là “mày”, lịch sự một chút thì gọi là “bà”, thương cảm với cô gái trẻ trung thì gọi là “nàng”, nhưng ở đây, Cụ cho quan tòa gọi Kiều là “mình”. “Mình” đã hóa thân thành “ta”. Ngôi thứ hai biến vào ngôi thứ nhất. Xin chịu Cụ!

Tôi có đại ngôn không khi cho rằng vụ án này có một không hai trên thế giới từ xưa đến nay? Thật vậy, ông quan tòa độc diễn vụ án, tôi tin trăm phần trăm không ăn hối lộ bên nguyên cũng như bên bị và cũng hết sức công tâm. Thế mà ông cho ta đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Bên nguyên, bên bị đều hân hoan, phấn khởi. Ông quan tòa có lúc đa tình, những đã nhanh chóng nhường chỗ cho tình yêu chân thật. Một bị cáo đáng thương trở thành một cô dâu sáng giá.

Nguyễn Thanh Xuân
nhuxuan29@gmail.com
READ MORE - MỘT PHIÊN TÒA ĐẶC BIỆT - Nguyễn Thanh Xuân

HÃY CỨU LẤY TRÁI ĐẤT - Nguyễn Nguyên An


Càng chạy càng tìm càng mất
Mệt bã người đứng lặng im
Và, thấy một điều rất thật
Điều cần tìm phía không tìm
(N.N.A)


Tất cả mọi người, mọi loài, mọi thứ trên hành tinh này đều đi về phía chết, phía không tìm, phía mà khi đang sống không mấy ai quan tâm. Trái đất không là ngoại lệ dù nó to lớn đến đâu và quay đều như thế, cho dù sự đi về của nó vượt ngoài thời gian hạn hẹp, ngoài phạm vi hiểu biết của con người nhưng nó cũng phải đi về trên hành trình, quy luật của nó, không mảy may sai khác.

Loài người không sinh ra trái đất nhưng có thể hủy hoại, giết chết trái đất. Loài người cũng có thể cứu sống trái đất, giúp trái đất trường thọ hơn, như đứa con hiếu thảo giúp bà mẹ vĩ đại của mình vượt trở ngại, ốm đau, bệnh tật; giúp trái đất xanh hơn, của để dành tươi tốt, ấm cúng yên bình, chốn dung thân các thế hệ kế tiếp của hằng ngàn ngàn sau. Đừng là những đứa con hư, cướp bóc, tàn phá mẹ mình đến khánh kiệt sức lực, tàn úa vì dục vọng hư huyễn, nhu cầu thái quá của chính mình.

Phía chết là phía không tìm, nhưng nó vẫn hiện hữu một cách bất di dịch, bất khả tư nghị, bất khả chối từ, bất khả buông bỏ, nó lừ lừ đến với tất mọi người, mọi loài, nhanh chậm, quằn quại đau khổ hay bình yên tự tai đều do nghiệp quả của chính họ. Ta phát lòng yêu thương rộng khắp, ta sẽ có một cuộc đời sau đẹp hơn cuộc đời nầy. Bảy tỷ người trên trái đất này đều phát lòng yêu thương chúng sinh, ươm trồng, gìn giữ chỉ một cây xanh cho mỗi năm, cho một người, trong mười, hai mươi năm, ba mươi năm trái đất rực rỡ lộng lẫy đích thị là thiên đường hạ giới không phải chạy tìm đâu xa. Nữ Oa vá trời trong truyền thuyết Trung Hoa, chúng ta cũng có thể vá tng zone đang thâm thủng vì hiệu ứng nhà kính, vì những nhu cầu, tiện nghi quá hiện đại thừa mứa của thế kỷ này, vì chiến tranh, vì lòng thù ghét, đố kỵ...

Nếu như mỗi ngày, bảy tỷ người ghen ghét nhau, thù hận nhau, tìm cách giết hại nhau, sẽ phát ra bảy tỷ ý niệm xấu làm vẩn đục hư không, bao phủ trùm trái đất một lớp sương mờ u ám, trái đất sẽ buồn! Sẽ ra sao? Câu trả lời đã hiện hữu từ những trận hồng thủy, lũ lịch sử, những trận động đất kinh hồn, càng về sau càng mạnh mẽ và khủng khiếp, chiến tranh càng ác liệt, tinh vi, sức hủy diệt bọc nhung nhưng tàn khốc, rộng lớn hơn nhiều. Giả dụ, bạn đi vào một hội trường, trong hội trường ấy hàng ngàn người đang muốn giết bạn, tôi tin, bạn sẽ choáng, sẽ bất tỉnh khi chưa tới cửa, bạn không thể vào hội trường bởi hàng ngàn ý niệm muốn cấu xé bạn, không cần bạn có giác quan thứ sáu, bạn sẽ cảm nhận như vậy. Ngược lại, khi bạn đến với một nhóm người yêu thương bạn, bạn sẽ hưng phấn, yêu đời, linh hoạt hơn nhiều.

Trước đây, những khi tôi mệt, tôi thường vào nhà trẻ, chụp ảnh, cho quà và chơi với các em, tôi khỏe lên. Ngay cả những trẻ thơ trong sáng, ngây thơ, vô ưu cũng giúp chúng ta nhiều hơn chúng ta giúp trẻ. Chỉ cần một người mỗi ngày gieo vào trái đất một niệm thiện, biết tiết kiệm năng lượng, dùng đủ nhu cầu cần thiết, niệm thiện ấy và sự tiết kiệm ấy bay quanh trái đất với màu sắc tươi sáng, phủ trùm trái đất một hạnh phúc mênh mông, trái đất xanh hơn, trường thọ và sẽ bao bọc nuôi dưỡng chúng ta bình yên mạnh khỏe hơn.

Đừng nghĩ rằng trái đất là một quả cầu vô tri. Trái đất biết lắng nghe, biết thở dài, biết cự quậy... Trái đất đang sống, đang thở, đang thương yêu, giận dữ... đang thiết tha chung sống với chúng ta trong một tổ ấm tràn đầy không khí hòa bình, thiện nguyện. Chúng ta hãy gìn giữ tổ ấm của mình. Hãy cứu lấy trái đất bằng khả năng sẵn có, góp phần giúp trái đất biêng biếc ngàn tỷ năm...

Mọi hoài bão trên đời, dẫu có đạt đến, sẽ chỉ là tro bụi nếu không cứu lấy trái đất không gì thay thế này.

Huế, 11 tháng 11 năm 2011
N.N.A

READ MORE - HÃY CỨU LẤY TRÁI ĐẤT - Nguyễn Nguyên An

Lê Cảnh Biểu - THƠ VIẾT ĐẦU TAY



Lê Cảnh Biểu
Quê quán: Triệu Đông, Triệu Phong
Đơn vị công tác: Trường THCS Triệu Thành.




NHỚ MÙA HOA CẢI

Một buổi chiều đông, nắng ngả mềm
Anh về quê ngoại, chuyến tàu đêm,
Rét buốt bầm da, lòng ấm lại,
Dặm đường xa ngái, giọng hò êm.


Thao thức bên thềm, tóc bạc phơ
Mẹ ngồi tựa cửa mắt mong chờ
Đăm chiêu nhìn bóng đêm sâu thẳm
Đêm cuối năm hay mắt mẹ mờ?


Trời bổng mưa, mắt mẹ tuôn mưa,
Nhớ lại ngày xưa, khổ quá lưa
Gánh gạo nuôi con, nghèo một kiếp
Nhớ mùa hoa cải, mẹ muối dưa


Gánh nặng bờ vai buổi sáng mai,
Bước thấp, bước cao dặm đường dài,
Tần tảo gánh dưa đi Chợ Tỉnh,
Mẹ khổ vì con, vì kế nhai.


Một sáng mai xuân, đi chợ Đình,
Lầy lội đường trơn, đất úng sình
Tim con sống lại miền ký ức
Cái thuở ngày xưa sống nhục vinh.


Nhớ hình bóng mẹ, lưng cõi còm
Xới đất tỉa mầm buổi sớm hôm,
Gắng để cho đời thêm thắm mãi,
Cuộc sống hồi sinh, đất trường tồn.


Nhân thương khó thì có quả lành
Hoa cải non tơ thắm màu xanh
Mân mê cành lá, hương đồng nội,
Phơi phới niềm vui với công thành.


Cho con, cho đời, cho tất cả,
Chỉ một trái tim, túp lều tranh,
Câu chuyện cổ tích đời của mẹ,
Là mùa hoa cải, là mầm xanh.


Bích La-Tháng 12/ 2008




NGÀY XƯA ẤY

Cái rét ngày đông tím bầm da,
Đất trời mãi đẹp nét xuân qua.
Đó đây sơn thủy hữu tình lạ,
Say đắm nhìn đời em ngỡ hoa,


Cái rét chiều đông xứ Bích La,
Dòng sông, bến nước cứ ngân nga,
Lòng người chạnh nhớ ngày xưa ấy,
Một cỏi đi về dưới mưa sa.


Cái rét đêm đông lạnh lòng ta,
Chăn gối đơn sơ một mái nhà
Chiếu thời một mảnh không đủ ấm,
Nhớ mãi khó khăn, thuở mẹ cha.


Cái rét ngày xưa, tấm áo hoa
Mẹ ngồi với dáng vẻ hiền hòa
Đường kim khâu vội manh vải rách
Mắt nhìn sâu thẳm phía trời xa…


Viết xong ngày 23.11.2011
Lê Cảnh Biểu
lebieutt@gmail.com

READ MORE - Lê Cảnh Biểu - THƠ VIẾT ĐẦU TAY

Sunday, March 18, 2012

TÌNH CA - Chùm thơ xướng họa của Nguyễn Hồng Trân, Châu Thạch, Võ Làng Trâm và Thu Vân.

Nhạc sĩ Hoàng Việt

 Nhân dịp 55 năm ra đời bài hát TÌNH CA của nhạc sĩ  Hoàng Việt, chúng tôi xin gửi đến các thi hữu những vần thơ Đường luật xướng họa để quý vị gần xa xem cho vui và tưởng nhớ đến người nhạc sĩ tài ba, một liệt sĩ anh hùng.
Nguyễn Hồng Trân

BẢN TÌNH CA
Nguyễn Hồng Trân (Đại học Huế)

Người hát tình ca để tặng ai?
Mà sao tha thiết vọng xa hoài!
Nốt thăng réo rắc xoay tâm trí
Nốt giáng thâm trầm quyện gái trai
Xúc cảm yêu thương ôn quá khứ
Tâm tình khát vọng hẹn tương lai
Bài ca thấm đậm tình nhân nghĩa
Khúc nhạc trong tim mãi kéo dài…
                                            NHT

Bài họa 1:
LỤY CA
Châu Thạch (Đà Nẵng)

Bài ca một bản nhớ thương ai
Gởi đến trăng sao mối cảm hoài
Những tưởng đời chia nào bận trí
Ngờ đâu lối rẽ xót lòng trai
Để rơi dòng lệ trong trời khứ
Mà thắt con tim đến cõi lai
Biết có còn không tình chút nghĩa,
Mà sao thao thức mãi đêm dài?
                                           CT

Bài họa 2:
HỒN TÌNH CA
Thu Vân (Biên Hòa)

Thơ phổ tình ca tặng những ai?
Tâm tư lắng đọng luống u hoài
Lời ca se sắt lời chinh phụ
Ý nhạc tràn dâng dậy chí trai
Phảng phất thời gian còn dấu ấn
Ai vang ngày tháng có trùng lai!
Trăm năm khắc khoải lời thề hẹn
Một kiếp cưu mang nợ kéo dài…
                                           TV

Bài họa3:
BI CA
Võ Làng Trâm (Nha Trang)

Chập chờn giấc ngủ bởi chăng ai
Trăn trở thâu canh cứ nhớ hoài
Tỉnh giấc tìm đâu ngọc phỉ thúy
Mơ màng thấy mãi chuyện liêu trai
Người đi dứt bỏ tình lưu luyến
Kẻ ở mong chi duyên tái lai
Khóc hận trang thơ sầu đẫm lệ
Chất chồng năm tháng tiếp thêm dài . . .
                                                  VLT
READ MORE - TÌNH CA - Chùm thơ xướng họa của Nguyễn Hồng Trân, Châu Thạch, Võ Làng Trâm và Thu Vân.

Saturday, March 17, 2012

TIẾT THANH MINH VÀ PHONG TỤC VIẾNG MỘ CÔ HỒN CỦA LÀNG VĂN QUỸ XÃ HẢI TÂN - Lê Đăng Mành

     Làng Văn Quỹ xã Hải Tân là một miền quê có truyền thống và nguồn gốc lâu đời cho nên nhiều PhongTục, Lễ Hội mà đến nay vẫn còn bảo lưu, ấn tượng và mang nặng nghĩa tình nhất là lễ Thanh Minh :

Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh*


Chính điện đình làng Văn Quỹ


     Cũng vậy, tiết Thanh Minh đã trở thành phong tục làm nên lễ hội Thanh Minh tảo mộ ở quê này mà các miền vùng phụ cận không có.Từ Kẻ Lạng (Lương Điền) đến Câu Nhi,  Kẻ Văn (Văn Qũy), Kẻ Vịnh (Hưng Nhơn) và An Thơ, Phú Kinh thì cũng có các Làng tổ chức Tế Lễ như Hưng Nhơn Tế Đông Chí, Làng AnThơ tháng mười hai Tế đóng cửa rừng và tháng giêng Tế mở cửa rừng. Không những miền Ô LÂU quặn đau với những thiên tình sử mà còn là mạch nguồn của Lễ Hội ! Rất riêng cho Làng Văn Quỹ kể từ khi lập Làng đã trải qua trên năm thế kỷ.Tên gọi của Làng Văn Quỹ do Ngài KHAI KHẨN, KHAI CANH đã trích từ chữ :"XA ĐỒNG QUỸ THƯ ĐỒNG VĂN", nghĩa là "xe đi cùng một đường, sách viết cùng một thứ chữ",  nói lên sự đoàn kết đồng tâm hiệp ý trong mọi việc làm, mà có tên gọi VĂN QUỸ cho đến bây giờ (pham vi hạn hẹp của bài viết nên chúng tôi chỉ lướt qua để giới thiệu tên Làng)
   
    Có lẽ khi Thi Hào Nguyễn Du (1765-1820) phóng tác  Kim Vân Kiều truyện của Trung Quốc “Thanh Tâm Tài Nhân” bằng văn xuôi,  Cụ đã chuyển ngữ thành truyện Kiều (1813) với ngôn ngữ và thể thơ lục bát dân tộc và văn tế thập loại chúng sinh càng bổ sung cho lễ hội thêm trang nghiêm ngày càng phong phú nhằm tô đậm nét bản sắc văn hóa của xã hội làng quê vốn đã có từ lâu đời.

   Tiết thanh minh trời lấm tấm rã rích mưa xuân,lất phất hơi rét giêng hai,lúa ngoài đồng vào kỳ thai nghén là nền văn hóa lúa nước cho nên tục ngữ thường nhắc:

Đói thì ăn môn ăn khoai
Chớ thấy lúa lổ giêng hai mà mờng***

   Vì vậy lịch thời vụ gieo cấy phải bố trí lúa trổ sau thanh minh mới bội thu,tiết trời bắt đầu trong sáng và nắng ấm cho vùng Trị Thiên.Trong thời điểm này bà con nông dân tất bật với công việc chăm sóc phòng trừ dịch bệnh sâu hại cho cây lúa và rau màu để đến kỳ Thanh Minh cho được rảnh rang mà lo việc xóm,việc làng.

   Hằng năm lễ Thanh Minh sắp xếp chương trình cụ thể hẳn hoi, được tổ chức hai ngày :

 - Ngày đầu: Buổi sáng tập trung tảo mộ, chạp mả. Buổi chiều Lễ cáo (và tiếp nhận lễ vật của bà con hảo tâm  dâng cúng.)

- Ngày thứ hai: Chánh lễ với nghi thức cổ truyền tại Đàn Âm Hồn.

Cồn mã

   Đàn Âm Hồn nhưng từ lâu trong tiếng gọi dân dã của quê nhà vẫn hai tiếng ngắn gọn chứa chan niềm kính ngưỡng mà linh thiêng là NHÀ ÂM, nơi đây bao truyền thuyết về sự cảm ứng mà muôn đời vẫn ghi nhớ truyền tụng, dẫu cho người chọc trời khuấy nước, cứng đầu ương ngạnh có lỡ bước đi ngang đều phải gập mình nhẹ nhàng lần bước mắt không dám nhìn tiền hậu tả hữu mà chỉ lấm lét như người có tội. Làng Văn Quỹ có bốn xóm, với tên gọi hiền hòa tha thiết: Thượng an,Thái Hòa, Phú Thọ và Đông An.

   Có hai tôn giáo: Phật Giáo và Công Giáo nhưng sống đoàn kết chan hòa trong tình làng nghĩa xóm.

   Ban tổ chức gồm quý vị đại diện cho các Họ gọi là Hội Đồng Tộc Trưởng và bầu một vị Hội Chủ để điều hành việc Làng lo tế tự xuân thu nhị kỳ: Kỳ An, Kỳ Phước, Xuân Thủ,Yến Quân, Điền Bạn,Thanh Minh**** và Giỗ Tổ quý Họ cùng bốn vị đại diện bốn Xóm “Trùm Xóm”để điều hành trong khu vực của mình.

   Ngày đầu dân các xóm tập trung Tảo Mộ trong địa phận xóm mình, được ban tổ chức phân hương đi thắp những ngôi mộ để cung thỉnh chư vị cô hồn, đa số các mộ phần không có người chăm lo hương khói sóc vọng.Vì thế vừa tảo mộ vừa đắp mới những ngôi mộ bị xói mòn theo thời gian cũng như bị lũ lụt hằng năm quét trôi mất nấm.

   Không phân biệt lương giáo mọi người đều tâm niệm  mổi năm chỉ được một lần dâng hương tảo mộ người khuất mặt, biết đâu đây cũng là huyết thống của Tổ Tiên mình bị thất lạc mộ phần thành ra không nơi nương tựa. Nhìn những nắm đất“sè sè”*****Như mộ Đạm Tiên” bên những lăng mộ bề thế kiêu sa Long Lân Quy Phụng ngự chầu mà nghĩ phận người chui rúc trong những lều tranh dột nát bên những biệt thự cao sang thì Âm Dương đâu có cách xa…!

    Có lẽ trong ký ức của người khách lữ xa quê vẩn đau đáu khát khao được trở về thăm, cùng bà con xóm giềng vác cuốc ra đồng dảy mả một lần cho thỏa nguyện ước ao cháy bỏng, hằng ôm ấp ngày về quê cũ mà đặt chân trên những địa danh mà tên gọi mộc mạc nhưng chan chứa yêu thương vỗ về như lời ru từ thuở nằm nôi:

Lè tè nắm đất nhỏ nhoi
Đất thánh, cồn cợi, cồn soi, cồn đùng
Cồn chứa, cồn hóp, cồn dương
Đầu cầu đàng đá, bên đường gởi thân
Luân hồi bao kiếp trầm luân
Phải chăng huyết thống tiền nhân của mình ******


 Hội đồng Tộc Trưởng làng Văn Quỹ

   Việc tảo mộ thường được thực hiện trong buổi sáng và Lễ cáo cung thỉnh tại Miếu Đường của từng Xóm.Buổi chiều toàn dân tập trung tại nhà Âm lo việc đã được phân công,các ban ai lo việc nấy khoảng 16 giờ là lễ cáo với chinh cổ nhạc lễ ,   Suốt đêm quý cụ chức sắc thay phiên nhau túc trực dâng hương .

   Ngoài ra trong đêm các bà các chị trong ban ẩm thực trai soạn sắm sửa trai bàn,bánh trái,phẩm vật,mâm cỗ để sáng ngày dâng cúng. Cứ một năm làm cỗ mặn năm tiếp theo làm bánh chưng bánh tày và quả phẩm.
  Tờ mờ sáng Chánh Lễ, đường làng nhộn nhịp hẳn lên, Nam thanh Nữ tú đúng là” Ngựa xe như nước, áo quần như nêm” (Truyện Kiều)

   Quý cụ chức sắc, quan viên trong lễ phục áo dài xanh thụng có hoa văn,dân làng thì khăn đen áo dài chỉnh tề lần lượt tập trung về nơi hành Lễ, nghi Lễ được cử hành theo nghi thức cổ truyền,ban hương đăng bắt đầu làm việc Sau ba hồi chiêng trống nhị vị gia lễ vào hàng, xướng :   

 - Khởi chinh cổ  (đánh chiêng trống)
 - Các tư kỳ sự  (ai làm việc nấy )
 - Nhạc sanh tựu vị  (nhạc vào hàng)

 Nhạc bắt đầu tấu khúc cung đón vừa dứt gia lễ xướng tiếp :

Chánh bái tựu vị : Chủ Tế và các vị Tộc Trưởng đứng vào vị trí của mình, khói trầm hương nghi ngút hòa quyện với âm thanh nhạc cổ chơi vơi ai oán trong không khí trang nghiêm ấm cúng âm hưởng của bài văn tế bi ai não nùng nhằm bày tỏ lòng tri ân trước vong linh chư vị cô hồn Vị Quốc Vong Thân, nạn nhân chiến tranh hoặc cây trời hơi gió,dịch bệnh đói khát, lạc chợ trôi sông,oan hồn uổng tử vất vưởng lênh đênh không nơi nương trú.

Dịch bệnh uổng tử thương vong
Cúi đầu phụng thỉnh tỏ lòng dương gian

  Với đạo lí uống nước nhớ nguồn, Lễ Thanh Minh đã đi vào truyền thống và ăn sâu trong tiềm thức trở thành tập quán của quê hương như vậy đã bao đời nay, là bản sắc vốn quý của làng quê Văn Quỹ. Chắt chiu tài sản tâm linh mà Tổ Tiên đã truyền lại cho hậu thế,là tấm gương khuôn vàng thước ngọc cho thế hệ hôm nay và mai sau biết huân tập lòng từ ái mở vòng tay yêu thương xoa dịu những mảnh đời côi cút giữa cuộc thế vô thường và biết kế thừa chăm sóc những nắm mồ vô chủ nhằm an ủi HỒN XIÊU PHÁCH LẠC cho vong linh kẻ khuất mặt biết hướng đến bến bờ…

   Nơi đây không chỉ Lễ Thanh Minh mà biết bao phong tục đã đi vào nề nếp như Đám Tang, việc cử hành Tang Lễ không ăn uống rình ràng giết hại trâu bò, gà vịt, không lấy câu "ăn no to đám" mà chỉ chay tịnh trong lúc hiếu sự.

      Những giá trị đạo đức cao đẹp truyền thống trên đây là thừa hưởng tinh hoa bao đời sàng lọc giữ gìn lại. Càng coi trọng giá trị văn minh vật chất bao nhiêu e luân thường đạo lý càng mai một và băng hoại bấy nhiêu. Cho nên những phong tục tập quán thường được sanh ra và nuôi dưỡng bảo lưu từ miền quê chơn chất phác thực hiền hòa.

   Thành tựu những giá trị văn hóa này cũng là nhờ công sức toàn dân đoàn kết xây dựng và phát huy thế mạnh. Nên  năm 2000 Làng Văn Quỹ vinh dự được Nhà Nước công nhận là Làng Văn Hóa. Duy trì phong tục tập quán là nét đẹp của làng quê là nguồn cội sức sống của dân tộc.

   Là hàng hậu duệ dù sống trong thời đại văn minh trên mọi miền Đất Nước vẫn luôn luôn trân trọng nhằm giữ gìn và khai triển nền văn hóa ấy mãi tuôn chảy dạt dào trong lòng mỗi người dân LÀNG VĂN QUỸ ./.


                                          TIẾT THANH MINH

                                       4/3/2012 (12/2/Nhâm Thìn)




Ghi chú:

*THƠ NGUYỄN DU
**Thiên Trung dung sách LỄ KÝ:kim thiên hạ xa đồng quỹ thư đồng văn.
***mờng là mừng,lổ là trổ (TỤC NGỮ)
****TÊN GỌI :GIỖ,LỄ CỦA LÀNG
*****sè sè nắm đất bên đường
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
(NGUYỄN DU viết về mộ của ĐẠM TIÊN)
****** CHỮ IN đậm là tên cồn MẢ của LÀNG


   THANH MINH 


XuânTrời chuyển tiết thanh minh
Mưa lất phất tiếp anh linh cô hồn
Vật vờ nương ngọn đông phong
Lập lòe cồn mả ruộng đồng phất phơ
Hằng năm Làng lễ phụng thờ
Chiêu đàn cung thỉnh tinh mơ thượng đường
Ngày đầu bốn Xóm dâng hương
Lễ cáo Tảo Mộ toàn Phường Kẻ Văn
Cáo nghinh chư vị thăng đàn
Cổ truyền chánh Tế rạng đàng quê hương
Tháng ba xuân nhật niên thường
Tri ân hào kiệt chiến trường mạng vong
Dịch bệnh uổng tử long đong
Đê đầu phụng thỉnh tỏ lòng dương gia
Chức sắc Thôn, Hợp ,Họ Làng
Quan viên thức giả doanh nhân xóm giềng
Duy trì bản sắc thiêng liêng
Phủ phục dâng lễ đàn tiền Âm linh
Nguyện cầu Quốc Thái Dân Yên
Hạnh thông nghề nghiệp muôn miền ấm no.

                                                                  TIẾT THANH MINH NHÂM THÌN- 2012
                                                                                  
Lê Đăng Mành    


   
READ MORE - TIẾT THANH MINH VÀ PHONG TỤC VIẾNG MỘ CÔ HỒN CỦA LÀNG VĂN QUỸ XÃ HẢI TÂN - Lê Đăng Mành

Hoàng Yên Lynh - QUẢNG TRỊ - KHÚC TÌNH CA

 Hoàng Yên Lynh





  • Gởi Đông-Hà và NH... ngày xưa.



  •  "Mẹ thương con ra cầu Ái-Tử
    Vợ trông chồng lên núi vọng phu ..."
    Câu hò quê hương theo tôi quãng đời xa xứ
    Quảng-Trị quê mình dải đất buồn hiu .
    Tôi lớn lên từ bão gió Trường-Sơn
    Từ khoai sắn bên đồng khô ruộng cạn .
    Tôi lớn lên trong nhọc nhằn nắng hạn
    Trong đạn bom chinh chiến tự thuở nào
    Quê hương ơi khổ đau từ giọng nói
    Tan tác , chia lìa , phiêu bạt khắp nơi .
    Ơi câu hò lắng sâu trong nước mắt
    Ru tôi ngậm ngùi từ thuở nằm nôi
    Nắng lửa hướng tây bão cát biển đông
    Giá rét mưa dầm quanh năm gió lộng .
    Quảng-Trị ơi cực chi mà cực rứa
    Tự bao đời dồn dập những tai ương
    Con sông nào ,bến nước Hiền Lương
    Mà chia cắt hằn nỗi đau đất nước .
    Quảng-Trị ơi ngày biệt ly cất bước
    Pháo trên trời và máu nhuộm ven sông
    Tôi ra đi lòng ước hẹn với lòng
    Ngày trở lại tắm trên dòng sông Hiếu
    Đời bể dâu tháng năm qua biền biệt
    Vẫn chưa về tìm lại bến sông xưa
    Nợ áo cơm đời tha phương xứ lạ
    Đêm ngậm ngùi dõi mắt ngóng sao xa
    Nơi cố xứ còn ai thương ai nhớ
    Còn bạn bè ...
    phố nhỏ ... quán mưa bay ...
    Ngôi trường cũ ... nhớ tôi ngày tuổi nhỏ .
    Quảng-Trị ơi gọi tên trong da diết
    Đất với trời sao tràn đầy oan nghiệt
    Người với người khổ đau và ly biệt
    Cả một đời chưa trọn nghĩa thương yêu .


    ***

    Tôi ra đi lúc đầu xanh tuổi trẻ
    Đếm thời gian tóc đã trắng sương chiều
    Đã bao lần tôi hỏi với lòng tôi
    Đời xa xứ nhớ quê sầu vời vợi .
    Đời xa xứ ... vẫn là tôi Quảng-Trị
    Vẫn ngày xưa ... từ giọng nói lời ru
    Đêm mơ về quê cũ mái nhà xưa
    Đêm bình yên vọng chuông chùa xa vắng .
    Đêm gió đùa xao xác những hàng tre
    Dõi bước chị về áo bạc chân quê
    Và giọng ầu ơ ... ru con trưa nắng hạ
    Tôi hỏi bến sông xưa , hỏi người cố quận
    Hỏi những con đường còn nhớ tôi không
    Biết bao điều tôi thầm ước thầm mong
    Ngày trở lại ... vẫn quê xưa Quảng-Trị .


    ***

    Quảng-Trị ơi mấy mươi năm xuôi ngược
    Nợ với đời và nợ cả quê hương
    Nợ bát cơm khoai nợ ân tình bè bạn
    Nợ mắt ai buồn ... đẫm lệ nhớ thương .
    Quảng-Trị ơi hơn nửa đời làm thân xa xứ
    Đời chông chênh bao dấu hỏi quê người
    Xin một lần tôi gặp lại tình tôi
    Đời đẹp quá không hận thù chinh chiến
    Không ly biệt để người trông kẻ đợi.
    Tôi trở về vầng trăng xưa còn đó
    An-Lạc ân tình vào trang viết thơ tôi
    Con phố buồn tìm lại dấu chân quen
    Hàng phượng đỏ áo thư sinh hò hẹn .
    Tôi trở về ... biết ai chờ ai đợi
    Dõi mắt buồn thầm gọi cố nhân ơi.
    Tôi trở về ... mòn mỏi kiếp tha hương
    Và em nữa ... nhớ gọi tôi người Quảng-Trị .

    Hoàng Yên Lynh
    hoangmylinh@live.com


    READ MORE - Hoàng Yên Lynh - QUẢNG TRỊ - KHÚC TÌNH CA