Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, January 27, 2011

VÕ THỊ NHƯ MAI - ĐÓN TẾT


Bố và anh Hai lên đường về quê

đêm cuối năm Đà Lạt lạnh quá chừng quá đỗi

gió thốc mái tôn gió gào gió dỗi

luồn vào khớp Mẹ nghe nhức nhối trong con


mùa xuân này con đón Tết online

đón Tết qua phone nghe tiếng Mẹ ấm trong hơi thở

đọc thơ bạn đó đây yêu mùa xuân lách khách cười hớn hở

con trai con hồn nhiên chưa biết Tết quê mình


hoa Đà Lạt rực rỡ tỏa hương xa

rau củ tươi non mang về quê làm quà chúc Tết

Mẹ đùa rằng Bố khuân cả Đà Lạt ra quê trông cũng khoẻ ra phết

chị Dâu và anh Tư lo giúp mẹ thắp nhang cúng kiếng ở trong nhà


bao lâu rồi mọi người đón Tết ở phương xa

riết rồi cũng quen xem như nơi đâu cũng là quê là nhà Mẹ nhỉ

ba ngày Tết chỉ ước gì cả nhà mình cùng bên nhau hoan hỉ

các Cháu nhận lì xì, con trai con tha hồ cười tít mắt vì vui


Đà Lạt mùa này dập dìu du khách đến từ muôn nơi

xin Mẹ đừng buồn

đừng ngóng tìm tụi con trong đoàn người rảo chân trên phố

rồi tụi con sẽ về

dẫu mùa xuân đã qua

rồi mình cùng hội ngộ

rồi tụi con sẽ về ôm lấy mẹ của con


bao năm rồi con đón Tết online

may mà vẫn còn nghe nàng xuân khều lanh canh trong trí nhớ

may mà vẫn còn nghe hơi ấm của mẹ qua phone trong từng nhịp thở

bên khung cửa xứ người lặng lẽ một nụ mai

bên khung cửa xứ người nỗi nhớ xẻ làm hai


vtnm

28/11/2011

READ MORE - VÕ THỊ NHƯ MAI - ĐÓN TẾT

Saturday, January 22, 2011

LỮ THƯỢNG THỌ - CHÙM THƠ XUÂN



ĐÊM CUỐI NĂM


Gác lạnh chiếu chăn thừa thải nhớ

Thời gian trôi ta đốt thuốc tìm em

Hương phấn cũ ngày xưa em để lại

Biến thành thơ trong tuyệt lộ vô cùng.


12 / 1993



ĐÊM XUÂN


Ngập cả mùa xuân giữa biển hồng

Mây về cho tóc xoã bên sông

Chiều gom nét mực dìu hương ngát

Khuya rải câu thơ góp rượu nồng

Một khúc vấn vương nghìn nuối tiếc

Bao cung e ấp bấy chờ mong

Bước chân nhẹ quá đêm dài quá

Bút nhớ sầu ai lạnh tiếng lòng


15 / 02/ 1985



DU TỬ NGÀY XƯA


( Tặng Thanh Phong )


Xuân lại tới, ta duỗi người ngồi ngóng

Em ở đâu? Mây khó tựa trăng rằm

Vết rêu cũ trên nền xưa đã úa

Mà bóng người hun hút mãi xa xăm.

Ta trở lại ngồi bên bờ sông cũ

Em chợt về trong nỗi nhớ mông lung

Từng bóng nước, là ngàn trang kỷ niệm

Nét chữ xưa còn mãi giữa vô cùng.

Con thuyền nhỏ tuổi thơ còn dậy sóng

In bóng hình trên mặt nước lung linh

Ta lãng đãng làm thân người xa xứ

Đêm cô đơn, ôm nhớ một mối tình.

Ta rao giảng giữa phận đời nghiệt ngã

Em vô tư với giấc mộng ngoan hiền

Ta dốc ngược bầu khô ly rượu cạn

Cười nói riêng mình như một gã điên.

Và chiều nay mùa xuân lại tới

Bóng mây qua anh lại nhớ em nhiều

Anh lại nhớ thủơ em là thiếu nữ

Cuối đường về áo trắng nón che nghiêng.

Đã qua đi thời khăn mềm áo lụa

Giữa dòng đời ta ngơ ngác tìm nhau.


L.T.T

READ MORE - LỮ THƯỢNG THỌ - CHÙM THƠ XUÂN

LINH ĐÀN - TỔNG LƯỢC HỌ NGUYỄN NHẤT THÔN CẨM PHỔ - HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ


Mộ ông khai khẩn làng Cẩm Phô



I. KHÁI NIỆM LỊCH SỬ:

Đời nhà Trần phần đất Châu Ô, Châu Rí (Quảng Trị Thừa Thiên Huế ngày nay) của Chiêm Thành thuộc về Đại Việt 1307,. Sang đời nhà Hồ (Hồ Hán Thương 1402) đất nước ta được mở mang đến Chiêm Động và Cổ Lũy (Quảng Nam – Quảng Ngãi ngày nay) các triều đại người Nam đặt nền móng cai trị và Tổ Tiên ta lần lượt xuống khai khẩn miền đất mới nhưng vẫn còn thưa thớt. Mãi hơn hai trăm năm sau, Triều Lê suy vong. Tình hình chính trị thời bấy giờ, bên ngoài giặc ngoại xâm quấy nhiễu, bên trong nội bộ thanh toán lẫn nhau, Trịnh Kiểm càng ngày càng lộng hành. Và muốn tận diệt Nguyễn Hoàng, vì thế Nguyễn Hoàng nhờ người cậu ruột bí mật tìm đến nhà tiên tri Trình Quốc Công Nguyễn Bĩnh Khiêm (một danh sĩ thời Lê Mạt) bái yết để xin hiến kế, Ngài chỉ lối đến phương Nam lập nghiệp, cơ đồ sự nghiệp về sau sẽ được vững bền “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (Nghĩa là một dải đất từ đèo Ngang vào, sẽ dung thân đến muôn đời sau).

Mua đông Mậu Ngọ (1558) Nguyễn Hoàng cùng các danh thần, nghĩa dõng thân tín và người đồng hương đặt chân lên Cửa Việt, rồi đóng dinh thự tại làng Ái Tử, mở đầu cho cuộc di dân có tính quy mô lớn.

Nguyễn Hoàng là người khôn ngoan, nhân hậu biết trọng dụng hào kiệt, thu dụng người tài. Nên dân chúng ngưỡng mộ theo bước tiến của Nguyễn Hoàng, lần lượt xuống trấn đất Phương Nam phần đông là người Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh (thuộc Châu Diễn thời bấy giờ)

Đất Phương Nam đã được khai phá (?) Nguyễn Hoàng nghiễm nhiên trở thành chúa Nguyễn ở Đàng Trong, lấy sông Gianh (Quảng Bình) làm ranh giới, Đàng ngoài thuộc về chúa Trịnh. Cả hai chúa đều dưới sự trị vì của Triều Lê, nhưng thật ra Nhà Lê chỉ còn là hư vị.







II. THÀNH LẬP LÀNG:



Đình Làng Cẩm Phô

Vào khoảng năm Canh Tý (1540) Tổ Tiên của chúng ta đã đến lập nghiệp ở phường Cẩm Phổ (Cẩm Sơn thuộc Hói Cụ ngày nay). Trước những khó khăn ban đầu, thủy thổ và khí hậu không thuận lợi cho việc sinh sống, cùng với cuộc Nam tiến của Nguyễn Hoàng, Tổ tiên ta rời Phường Cẩm Phổ về định cư trên đất Giang Phố. (Miền Hạ Bạn ngày nay).

Lúc ban đầu khai phá đất đai, Chúa Nguyễn lấy mười hai người lập thành một Bộ (?) chia ranh giới để canh tác, đứng đầu mỗi bộ là một vị khai khẩn, mười một người còn lại là khai canh, sau này căn cứ theo tục lệ đó trở thành làng xã, qua nhiều thời đại vẫn giữ được địa giới của mỗi làng. Suy tôn các bậc tiền nhân có công khai phá, Triều Đình ban chức tước và sắc phong, nên hàng năm có lệ tế cẩn quân, làng nào cũng thế, mỗi kỳ tế cờ lộng lỗ bộ rước sắc thật long trọng.

Thập Nhị Tiền Hiền hay Thập Nhị Tôn Phái là mười hai vị khai phá ban đầu, vì điều kiện thích nghi cho mỗi người, có người ở lại làm ăn, có người về lại quê cũ, có người đi nơi khác và cũng có người vô tự.

Thôn Cẩm Phổ chúng ta còn lại sáu Họ, nhưng bốn Họ phát đinh chịu gánh vác cho sự tồn tại mãi tới nay. Trong bốn Họ đó có hai Họ Nguyễn, hai Họ Lê, thông lệ theo thứ tự từ xưa tên gọi cho mỗi Họ là Họ Nhất, Họ Nhì, Họ Ba, Họ Bốn.

Thật là

“Dấu chân phá thạch chân Giao Chỉ,

Dòng máu Khai nguyên máu Lạc Hồng.”

( Thơ Thiếu Khanh)



III. THÀNH LẬP HỌ NGUYỄN NHẤT:

Nhà thờ họ Nguyễn Nhất xưa



Ngài Thỉ Tổ họ Nguyễn Nhất là Ngài khai khẩn làng Cẩm Phổ. Mặc dù trong gia phả không ghi rõ quê quán xứ sở của ngài Thỉ Tổ trước khi lập nghiệp tại Cẩm Phổ, nhưng căn cứ theo dòng lịch sử nêu trên thì chúng ta có thể̉ phán đoán Thỉ Tổ ta là một trong những danh thần, nghĩa dõng thân tín hoặc người đồng hương của chúa Nguyễn Hoàng từ Thanh Hóa vào mở mang bờ cõi.

Ngài Thỉ Tổ của Họ Nguyễn Nhất là Ngài Nguyễn Văn Cù Đại Lang.

Danh bà là Nguyễn.

* Ngài sinh hạ được ba phái:

1. Phái Nhất là Ngài Nguyễn Công Lượng.

Danh mụ Nhất tịnh bà, Sinh hạ một Chi.

2. Phái Nhì là Ngài Nguyễn Công Lập.

Bà là Tương Quý Nương.Sinh hạ hai Chi.

3. Phái Ba là Ngài Nguyễn Công Khán.

Bà tên là Lê Thị Cồn, Sinh hạ hai Chi.

-Bốn họ của làng Cẩm Phổ Họ Nhất phát đinh hơn cả.

-Ba Phái của Họ Nguyễn Nhất, Phái Ba phát đinh hơn cả.



Nhà thờ họ Nguyễn Nhất cũ


IV. CÔNG LAO CỦA TIỀN NHÂN:

Qua nhiều Triều Đại, Họ Nguyễn Nhất có những quan tước như sau:

-Một Ngài Quang Tiến Vĩnh Lộc Đại Phu Văn Thuộc Chí Đức Nam (1). Nguyễn Quý Công .

-Một Ngài Đặc Tấn Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Cẩm Y Vệ Đô chỉ huy sứ, Ty đô chỉ huy sứ chánh Đề đốc, kiêm khám lý Liêm Hầu(2). Nguyễn Quý Công.

-Một Ngài Đặc Tấn Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Cẩm Y Vệ Đô chỉ huy sứ, Ty Tráng tiết Trung Lương đội trưởng, Đằng Long Hầu(2). Nguyễn Quý Công.

-Một Ngài Đặc Tấn Phụ Quốc Thượng Tướng Quân cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ, cai tri tham tướng Thuộc Đội Nghị Đức Tử(3). Nguyễn Quý Công.

-Một ngài Y Phu Đại Tướng Cẩm Y Vệ Lãnh Binh.

Họ Nguyễn Nhất của chúng ta cũng có công lao lớn đối với đất nước và dân tộc hồi bấy giờ.

Chú thích:(1) , (2) , (2) , (3) tước có 5 bậc: Công, Hầu, Bá,Tứ, Nam.


Nhà thờ họ Nguyễn Nhất mới


V. TỔ CHỨC HÀNH CHÁNH:

Tổ chức hành chánh qua nhiều triều đại:

-Thời nhà Trần đất Châu Ô, nửa phía trên được đổi tên là Thuận Châu (1307-1402).

-Thời nhà Hồ (Hồ Hán Thương) đất Giang Phố thuộc về Phú Xuân lãnh địa (1402-1558).

-Thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) đất Giang Phố thuộc về Cát Dinh trong đó có làng Bào Phố tức là thôn Cẩm Phổ ngày nay.

-Thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687) đất Bào Phố thuộc Tổng An Mỹ huyện Minh Linh.

-Thời Tây Sơn (1788 - 1802) đất Giang Phố thuộc về trấn Hiền Lương.

-Triều Gia Long (Nhâm Tuất 1802) xã Cẩm Phổ thuộc về huyện Minh Chánh (?).

-Triều Tự Đức Mậu Thân 1848, xã Cẩm Phổ, huyện Minh Linh, phủ Thừa Thiên (?).

-Triều Tự Đức thứ 32 Kỹ Mão 1879, xã Cẩm Phổ, huyện Địa Linh, tỉnh Quảng Trị (?).

-Triều Thành Thái thứ 9 Đinh dậu 1897 đến Bảo Đại Ất Dậu 1945, xã Cẩm Phổ thuộc Tổng Xuân Hoà, phủ Vinh Linh, tỉnh Quảng Trị.

-Sau Cách Mạng Tháng Tám 1945 đến năm Giáp Ngọ 1954. Trong thời Việt Minh được đổi tên thôn Cẩm Phổ xã Vĩnh Liêm, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.

-Năm 1954 đất nước bị chia đôi lấy vĩ tuyến 17 (sông Hiền Lương) làm mốc được đổi tên: ấp Cẩm Phổ, xã Trung Giang, quận Trung Lương, tỉnh Quảng Trị.

-30/4/1975 sau ngày Giải Phóng Miền Nam thuộc huyện Bến Hải, tỉnh Bình Trị Thiên, Đến nay thuộc phần đất huyện Do Linh, tỉnh Quảng Trị.


VI. NHỮNG CUỘC DI DÂN TIẾP THEO:

Trong thời kháng chiến Việt-Pháp 1945-1954 thôn Cẩm Phổ ở hoàn toàn trong vùng Việt Minh, nên đa số đi theo kháng chiến. Sau hiệp định đình chiến Genève 20/7/1954, người theo kháng chiến tập kết ra Bắc. Hai mươi năm chia cắt đất nước họ lập gia đình có vợ con từ Vĩnh Linh đi ra rãi rác ở các tỉnh phía Bắc. Những người ở lại quê hương, vì đất hẹp dân đông nên họ vào định cư ở Cẩm Đường, Dầu Giây (tỉnh Đồng Nai bây giờ). Một số đi lập nghiệp ở Cẩm Sơn phường Cẩm Phổ thuộc Hói Cụ, phần đất Do Linh ngày nay.

Năm 1967 chiến tranh càng ngày càng khốc liệt (Việt-Mỹ), hàng rào điện tử Namara được hình thành với một phòng tuyến bạch hoá (san bằng) hai quận Trung Lương và Gio Linh hết sức tàn khốc, do đó dân chúng phần chạy ra Bắc, người chạy vào Nam định cư tại Tân Tường Cam Lộ.

Năm Nhâm Tý 1972 “Mùa Hè đỏ lửa” cuộc chiến Quảng Trị trở nên ác liệt hơn bao giờ hết, đa số dân chúng chết vì bom đạn. Do đó lại phải bỏ Tân Tường chạy tán loạn, người thì ra Hồ Xá phần đông chạy vào tạm cư ở Đà Nẵng, như Hoà Khánh, Hoà Cường, Phù Đổng, Hắc Kin, Non Nước, Chu Lai vv... Lấy sông Thạch Hãn làm ranh giới, vì thế dân chúng đi theo chương trình khẩn hoang lập ấp, nên đa số tập trung tại khu Động Đền, Hàm Tân Bình Tuy cũ Bình Thuận ngày nay.

“Bởi nước bởi nhà xa Quảng Trị

Vì con vì cháu náu Bình Tuy.”

Năm Ất Mão 1975 thống nhất hai Miền Nam Bắc cũng có người định cư trên nước Mỹ, nước Pháp, số người ở Hàm Tân cũng lần lượt xuống ở các miền như ở Tà Lú Căn cứ Ba, Núi Le, Suối Cát, Vùng Ven, Sông Rây, Bàu Lâm, Hoà Bình, Hoà Hội, Xuyên Mộc, Cẩm Đường, Dầu Giây, Phú Cường, Suối Tre, Long Khánh, Bảo Chánh, Đà lạt, Đắc Lắc, Tây Nguyên, thị xã Bà Rịa, thành phố Vũng Tàu, Sài Gòn, Phú Quốc. Cũng có người định cư riêng lẻ như Ninh Thuận, Sông Pha, Phan thiết.vv... Hiện nay có thể nói tỉnh nào cũng có tộc họ ta sinh sống, nhiều nơi chưa kiểm chứng hết.


VII. TỰ ĐƯỜNG, HƯƠNG HỎA VÀ NGHI LỄ:

1/ Tự đường:

Từ sơ khai rồi trải qua nhiều triều đại khác nhau vấn đề cúng bái rất được tôn trọng trong sinh hoạt cộng đồng dân cư, mỗi làng đều có chùa, đình, miếu để thờ Phật, Thánh, Thần. Song song với việc xây dựng đình chùa, bốn ngôi Tự Đường của bốn Họ thuộc thôn Cẩm Phổ cũng được tôn tạo.

Ngôi Tự Đường họ Nguyễn Nhất chúng ta cũng là một công trình văn hoá khá tiêu biểu trong thời đại bấy giờ, cột kèo làm bằng gỗ mít, kèo công trính lận chạm trổ tinh xảo công phu, mái lợp ngói. Trên nóc có Lưỡng Long Triều Nguyệt, trước sân có bình phong tạc hình con hổ, hai trụ biểu có cặp Kỳ lân chầu, trên đôi trụ biểu có đôi dòng câu đối bằng chữ Hán:

Ngưỡng chi di cao môn địa trường lưu ba biểu ngật.

Xác hồ bất bạt giang sơn vĩnh đối thạch thành kiên.

Cặp đối này tác giã là cụ khoá Triền người trong Họ sáng tác.

Chính Điện là bàn thờ ngài Thỉ Tổ và Tam Phái, tả hữu thờ các bậc tiền liệt, sau bàn thờ Tổ là bàn thờ Tổ Tiên chung. Trên có hoành phi, hai bên có liễn đối sơn son mạ vàng trong thật trang nghiêm, nhưng trong thời chiến tranh đã bị phá huỷ hoàn toàn. Sau năm 1975 họ hàng trở về xây dựng lại, tuy không được như xưa nhưng cũng khá trang nghiêm.

Câu đối sau này do Ông Nguyễn Cảnh sáng tác:

Trong Điện gồm hai câu:

- Tiên Tổ lưu truyền, thiên niên hưng thịnh.

- Tử Tôn kế thế, vạn đại bình an.

Hai trụ hiên gồm hai câu:

- Thiết niệm tài bồi, tri ân Tổ Đức.

- Quang thuỳ tái tạo, trọng ngãi tôn công.

Đều viết bằng chữ Hán.

2/ Hương hỏa:

Ngày xưa mỗi Tự Đường đều có ruộng hương hỏa, để lo việc tế tự, con dân trong họ khỏi phải đóng góp. Về sau do hoàn cảnh di cư xa xứ không có tự đường cho nên việc thờ tộc họ của các tỉnh phía Nam đều thờ tại tư gia, đóng góp bằng tiền mỗi năm ba kỳ để thờ cúng.

3/ Nghi lễ:

Phong tục cổ truyền, mỗi họ có một bài văn tế, xuân kỵ thu thường và kỳ chạp mả, hằng năm được ấn định vào ngày 15 tháng chạp âm lịch (sau này đổi lại ngày 13, tránh ngày rằm trai chay không sát sanh, đổi trên 40 năm), đều có lễ, khi đại lễ có tam sanh, có nghi thức theo nghi thức Bộ Lễ, xướng tế có đại cổ tiểu cổ. Đại cổ gồm có kiểng chiêng và trống lớn; tiểu cổ gồm có trống con, kèn đàn nhị vv...Tiểu cổ thường hoà nhịp các bài Nam Bình Nam Ai, Tứ Đại cảnh để thổi vào các ngày lễ tế. Xướng tế thì có thầy văn áo rộng, đội mũ theo nghi văn Tô Đông Pha, chủ tế gồm có ông Trưởng Tộc. Vị tộc trưởng áo mũ theo nghi thức Bộ Lễ Nguyễn Triều, hai bên tả hữu gồm các vị tộc biểu hay trưởng phái khăn đen áo rộng chỉnh tề, mỗi lễ tế thường theo nghi tam hiến. (Dâng ba tuần). Sau ba hồi kiểng là ba hồi chiêng trống, kế tiếp trống con điểm ba hồi kèn nhạc được thổi lên hoà với tiếng trống tiếng chiêng nhịp nhàng, cùng tiếng xướng tế của thầy văn hoà quyện với khói hương trầm thơm ngát, cờ lộng nghi vệ hai bên liễn đối chói ngời như lạc vào giữa trung đình oai vệ, trên hai tiếng đồng hồ cho một lễ tế, thầy văn và các vị Tộc Trưởng tộc biểu không được rời vị trí của mình. Ngày xưa “trọng nam khinh nữ” nên đàn bà con gái không được dự lễ tế và không được vào họ, con trai đủ mười sáu tuổi mới được vào họ và mười tám tuổi mới được vào làng. Sau này các địa phương trong Nam, mỗi lần kỷ niệm cúng họ dâu rễ con gái cháu ngoại cũng được tham dự như nhau.


VIII. TRUYỀN THUYẾT, PHONG TỤC - TẬP QUÁN VÀ CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ:

1/ Truyền thuyết:

Làng nào xưa kia cũng muốn tạo cho địa phương mình có một truyền thuyết thật thần kỳ vì vậy có rất nhiều câu chuyện người xưa kể lại rằng:

a) Ông khổng lồ gánh đất bên Lào về lấp biển Đông để mở mang bờ cõi, một chân bước vào địa phận làng Lan Đình là giếng Phục Cá ngày nay Còn giống cái dấu chân), một chân bước xuống Bàu Ao tức là Bàu Hói (Cẩm Phổ) thì gẫy đòn gánh, do đó để lại hai cái núi đất, đó là núi Cồn Tiên và núi Cồn Cỏ ngày nay.

b) Tương truyền Cẩm Phổ có chín mươi chín cái cồn, ngày xưa bầy hạc của bà Nữ Oa có một trăm con hạc bay về đậu xuống chín mươi chín cái cồn, còn thiếu một cái cồn cho con hạc đầu đàn đậu, nên bầy hạc đó bay vào đất Thuận Hoá, sau này là kinh đô của Nhà Nguyễn. Nếu đủ một trăm cái cồn thì Cẩm Phổ là đất kinh đô rồi.

c) Tương truyền rằng: Nhà vua cử một phái đoàn gồm các quan đại thần và thầy địa lý đi tìm địa cuộc để lập kinh đô, khi đến địa phận làng Cẩm Phổ, xét thấy phong thổ có thể lập được nên sai lính đóng mộc bài, sau khi kiểm tra nguồn nước tại Xóm Nương có một cái giếng bị mặn gọi là giếng Cựa, nên phái đoàn bỏ đi nơi khác. Có người kể lại rằng: Có một vị bô lão sợ nhà vua lấy mất đất làm ăn, tối cho người đổ muối xuống giếng.

d) Miếu Ông nổi tiếng thiêng nhất trong vùng, ngôi miếu ấy gần đình, dân địa phương muốn cầu khẩn gì đến đó cầu cũng được, kể cả bệnh tật cũng lành. Sau khi Cẩm Phổ bị bạch hoá, tất cả đều đổ nát bởi bom đạn. Riêng Miếu Ông vẫ sừng sững với phong ba bão tố. Lính ở đồn pháo binh Dốc Miếu kể rằng: Nhắm tọa độ pháo là Miếu Ông, nhưng pháo cả trăm lần Miếu Ông vẫn không sập.

e) Tương truyền làng An Mỹ muốn lấn đất Cẩm Phổ, nên đem tre trồng vào xóm Kiệt Cảm, nhưng vào một đêm mưa to gió lớn cục đá Thiền Thần được cắm vào địa giới cũ nên làng An Mỹ không lấn được đất nữa. Cục đá ấy nay vẫn còn. -Truyền thuyết này có người kể cách khác: Có một bà tên Là Lê Thị Lụa bà lấy chồng An Mỹ. Nhân khi đi chợ Bạn thấy cả làng An Mỹ hỳ hục khiêng cục đá để cắm ở Kiệt Cảm. Bà ấy một tay nách rổ, một tay nắm trên đầu cục đá xách trở lại thì cục đá rơi vào chổ cũ. Nên làng An Mỹ không thể lấn địa phận được, cục đá ấy có năm dấu tay trước đây vẫn còn, nhưng nay năm dấu tay đã bị đập mất vì người ta tưởng rằng trong đó có châu báu. Nay cục đá ấy được dân địa phương tô chân cho đứng trở lại, ngày xưa có miếu thờ Bà Họ Lê. (Chùa Bà giáp giới An Mỹ).

2/ Tập quán và phong tục:

-Quăng hòn:

Hàng năm ba ngày tết đi lại thăm nhau, bảy ngày xuân thì mở “Hội quăng hòn” thông lệ hòn được tổ chức đôi vào chiều ngày mùng bảy tết hàng năm, hòn làm bằng gốc chuối sứ, nặng chừng bốn cân (kg) mỗi kỳ ba quả, gọt tròn như quả bóng. Người ta đan hai cái rọ, cột vào hai cây tre cắm ở hai đầu sân, người ta chia ra làm hai đội Nguyễn - Lê, Ao Vô - Ao Ra để cướp hòn. Hòn được tế sau ba hồi trống lệnh, ông Hội chủ mang hòn ra cho hai đội tranh tài, hễ đội nào đôi vào rọ đội kia là đội ấy thắng, người giữ rọ cầm cây tre rung cho hòn khó vào rọ, được tổ chức trên động cát, người đi xem thật đông, nào là thanh niên nam nữ, ông già bà già trẻ con các làng xa cũng về xem “hội đôi hòn” cảnh vật vui nhộn lạ thường, những cuộc tranh tài quyết liệt, đôi khi hòn chạm mạnh vào mặt người, có khi té chồng lên nhau, thế mà kỳ nào cũng bình yên vô sự “đôi hòn” hay “quăng hòn” là một môn chơi thể thao thật bổ ích, ngoài ra còn môn bịt mắt bắt heo hay đánh đu cũng không kém phần lý thú. Khác với các làng lân cận tổ chức đánh, “bài chòi”, “cờ chòi” có hại cho tinh thần và tiền bạc.

-Cướp ngọ:

Ngày xưa có một nhà phú hộ không có con, ông bà phú hộ xét thấy tiền của nhiều mà không có người nối dõi tông đường, nên hàng năm vào trưa ngày rằm tháng tám âm lịch mang tiền đồng lên động cát đôi cho mục đồng cướp, do đó để lại tục lệ đến mãi sau này, ai có tiền thì đôi tiền, nếu không có tiền thì lấy xôi đùm vào trong lá hoặc bánh trái gói vào lá chuối đem đôi ngọ, nếu ai không đôi thì trâu bò bị bệnh, tục lệ còn đến bây giờ.

3/ Cộng đồng dân cư: Sống trong làng nào đều có nét đặc biệt riêng của làng đó, làng Thuỷ Khê ở dưới liền với đất Cẩm Phổ nhưng tiếng nói và sinh hoạt cũng không giống nhau, làng An Mỹ cũng liền địa giới mà tập tục cũng khác nhau.

Người Cẩm Phổ vốn có tính thật thà, không khoác lác, chuộng sự thật và công bằng, tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau làm nhà ở thường người ta làm vàn cho nhau rất tận tụy mà không lấy tiền. Khi có đám ma họ cũng hết sức nhiệt tình trong tinh thần không cầu lợi, về cưới hỏi Cẩm Phổ cũng có những nét riêng, ít rườm rà hơn các làng khác, những cặp vợ chồng đời xưa sống rất hạnh phúc, cha mẹ định vợ gả chồng vấn đề hôn nhân gia đình tuy không có quy ước, nhưng phần đông tin vào tam hạp tuổi tác nên chẳng bao giờ trái mệnh cha mẹ, đa số người trong làng lấy vợ gả chồng đều trong bốn họ, ngoài ra cũng có người lấy chồng khác xứ và cũng có người lấy vợ khác làng .

Trai tráng Cẩm Phổ có thể lực rất tốt nên có câu ca: “Nhất lúa Đồng nai, nhì trai Cẩm Phổ”.

Sự học hành ngày xưa đa phần học chữ Hán, để viết được văn khế, chúc thư và đọc được sách. Song song với chữ Hán là chữ Nôm, trong làng cũng có người học thông họ làm thầy dạy học và thầy thuốc. Thời Pháp thuộc trong giai đoạn chuyển ngữ cũng có nhiều người học chữ Quốc Ngữ và có một số người thông thạo tiếng Pháp. Sau năm 1954 , cũng có người học cao và làm việc nhà nước. Đến nay sự học hành được phát triển rộng lêm và có rất nhiều Tú tài đại học xuất sắc và có nhiều người có địa vị quan trọng trong xã hội.


IX. NHỮNG KHÓ KHĂN KHI THỰC HIỆN GIA PHẢ:

Qua công trình nghiên cứu thật kỹ lưỡng nhưng phần gia phả Họ Nguyễn Nhất của chúng ta thật sự không dễ dàng một chút nào. Ngay từ ngài Thỉ Tổ sinh hạ ba Phái thì ai cũng biết và biết thế thôi, vì người xưa bởi một lẽ nào đó mà không ghi đời, không ghi Phái. Nhiều khi cháu mất trước ghi trước, ông mất sau ghi sau, nên phần gia phả chung cả họ phải giữ nguyên bản cũ. Riêng những ngài có quan tước cũng chỉ ghi chức tước mà không ghi tên, chỉ để Nguyễn Quý Công Đại Lang. Về phần gia phả, nếu tập trung hết tất cả các phái các chi các nhánh về ai rồi từ đó phân thứ tự từng đại mới hy vọng phần gia phả được hoàn hảo hơn.

Kết luận: Nói tóm lại: vài nét khái quát về Cẩm Phổ, chúng tôi tin chắc rằng còn rất nhiều thiếu sót vì không đủ tư liệu, nhất là về niên đại không được rõ ràng.

Về phương diện truyền thuyết chúng tôi dựa theo lời kể lại, chứ không hư cấu để phù hợp với ý nguyện chung.

Riêng về Họ Nguyễn Nhất các bậc cao niên cũng không còn nhớ hết. Ông Nguyễn Cảnh có ghi lại mấy câu đối và một bài văn cúng họ bằng chữ Hán, ông Nguyễn Thơ điều chỉnh về truyền thuyết và các vị có quan tước.

Chúng tôi tin tưởng có những đóng góp quý báu của các bậc thúc phụ cao minh để lần tái phụng tu được hoàn chỉnh hơn.

Tự tôn phụng tự ông Nguyễn Văn Vinh

Tự tôn Tộc Biểu ông Nguyễn Trọng

Tự tôn Tộc Biểu ông Nguyễn Cảnh

Tự tôn Tộc Biểu ông Nguyễn Thú

Tự tôn Tộc Biểu ông Nguyễn Oai

Tự tôn Tộc Biểu ông Nguyễn Thơ

Tự tôn Tộc Biểu ông Nguyễn Toản

Tự tôn Tộc Biểu ông Nguyễn Ngoãn

Tự tôn Tộc Biểu ông Nguyễn Tể

Tự tôn Tộc Biểu ông Nguyễn Liệu

Tự tôn Tộc Biểu ông Nguyễn Nam

Tiết Thanh Minh Năm Kỹ Mão1999

Đồng Bổn Tộc Cẩn Chí (*)

Tác giả bài viết nhà thơ họa sĩ Nguyễn Hữu Kiểm

Bút hiệu Linh Đàn

(Là nghĩa tế phái 3)


BÀI VĂN TẾ XUÂN THU

Viết

Cung duy Tiên Tổ

Thiết niệm Tiên Linh

Nhân sanh hồ Tổ

Mộc bổn Thuỷ Nguyên

Tổ đức huy truyền. Tải vật chi công tối hậu

Hàm hoằng quảng đại, bách thế chi đức cư tiên

Khắc xương quyết hậu

Hữu khai tất tiên .

Ngưỡng bách niên tích khách chi cơ đức ân vĩ vĩ

Dũ thiên tải bồi nhân chi chỉ, qua điệt miên miên,

Miến kê cổ lễ vu quang thuỳ diễn,

Hựu tải tân văn phát diệm do uyên

Dịch xúc quần tâm vu hưng khởi

Nhân cơ ngãi hiếu hạnh gia truyền

Phú như thọ, thọ như tảng, vĩnh bão như sơn như hải

Tử dự tôn, tôn dự điêt, trường ca tư ức tư thiên

Tư nhân xuân tiết, thiết lễ kỳ an,

Nguyện kỳ giáng lâm, giám thủ vi kiền

Ngưỡng lại tổ đức phò trì chi đại huệ giã

Cẩn cáo


DIỄN ÂM BÀI VĂN TẾ HỌ NGUYỄN NHẤT

Công Tiên Tổ tô bồi thuở trước.

Tưởng Tiên linh nhờ phước người xưa

Công lao trải mấy nắng mưa

Lập nên sự nghiệp kế thừa đến nay

Ơn cao cả như cây Núi Thái

Nghĩa bao la như nước Biển Đông

Khó khăn nào có quản công

Cơ đồ hưng thịnh non sông vững bền

Con với cháu kế truyền mãi mãi

Hiếu với trung tiếp nối đời đời

Làm sao đúng mực con người

Nên trang lịch sự nên người nghĩa nhân

Trai xứng đáng học hành chăm chỉ

Gái giữ gìn tính nết đoan trang

Nhân ngày xuân kỵ thu thường

Cầu ơn Tiên Tổ mười phương chứng lời

Nguyện gia hộ cho đời hưng thịnh

Nguyện phước từ nối cảnh bình an

Ơn xưa Tổ Đức gia quang

Đến nay dòng dõi vẽ vang lưu truyền

Phò trì chi gia huệ giã

Cẩn Cáo


Phụng bút Linh Đàn


Hình trên bài này do anh Nguyễn Sanh (ngphi@vnn.vn) cung cấp.


READ MORE - LINH ĐÀN - TỔNG LƯỢC HỌ NGUYỄN NHẤT THÔN CẨM PHỔ - HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

Friday, January 21, 2011

HOÀNG CÔNG DANH – NÉN NHANG NGÀY TẾT



Hỏi ngày tết, người ta nhớ về cái gì đầu tiên? Có thể anh chị sẽ không trả lời, hoặc vô tình hoặc cố ý; nhưng chắc chắn trong thẳm sâu tiềm thức và bật dậy trước nhất phải là một nén nhang thắp lên ngọn khói thiêng liêng. Tôi đang ở xa quê, đôi khi muốn cố ý quên đi để giấu cái nhớ lắng xuống, nhưng ngọn khói kia cứ lôi tôi dậy. Và không thể nào quên được, mãi mãi, tôi tin thế!

Ông nội đã dạy cho tôi cách thắp nhang từ rất sớm. Khi đó tay tôi vói chưa tới cái lư hương trên bàn thờ, phải kê thêm cây ghế mới được. Nhưng mà thích, không hiểu vì sao thích, chỉ biết mỗi lần cắm cây nhang vào lư là như thấy mình được lớn thêm vậy. Mới đầu phải đi khắp ba cái bàn thờ để đếm số lư hương. Lần sau thì đã nhớ, cứ rút thẻ nhang mười chừa lại một cây là vừa. Tất thể nhà mình có tám lư hương, thêm ngoài trời một cây nữa là chín.

Cuối năm có lệ phải thay cát trong bát nhang. Cát trắng từ Rú Tường Vân người ta đem lên bán rất nhiều ngoài chợ Thuận. Cuối năm đi chợ chơi, thích đứng nhìn những mủng cát trắng đặt dọc đường; bâng khuâng nhớ cái truyện ngắn "Chú bé bán cát" của Hoàng Thái Sơn, hồi nhỏ nghe được qua Radio. Mua cát về, thỉnh lư hương xuống lau chùi sạch sẽ. Dùng một mẩu bìa cát-tông khoanh tròn bằng miệng lư, ở giữa cắt thủng một lỗ nhỏ để cắm hương. Chân nhang thắp quanh năm nhiều, phải nhổ đi bớt, chỉ chừa lại ba chân, số còn lại đem phát hoả.

Sáng ba mươi tết, anh em tôi vác cuốc chổi xuống cồn Mai để dọn dẹp quét tước lại lăng mộ tổ tiên. Người ta sống, cứ thích trang trí nhà cửa cho đẹp cho sang để đón tết, nhưng đôi khi lại quên đi việc làm ý nghĩa hiếu đạo này. Sau bữa cơm tất niên cuối năm, ông nội dắt tôi xuống cồn đất làng để thắp nhang. Con đường men qua những ngôi mộ cỏ may thiu thiu buồn, hình như cỏ may cũng đang đứng nghiêm làm nhang cho những ngôi mộ vô chủ. Cứ đến ngôi mộ nào ông cũng nói về người nằm ở dưới; đây là cụ Cố, hay chữ lắm; kia là cụ Cao, đức độ tài trí... Dòng họ Hoàng Công nhà mình xưa thông minh sáng dạ chăm học, nhưng do chiến tranh lưu lạc nên sau này thất học cả. Ông nói, năng đi thắp nhang sẽ được tổ tiên phù hộ cho đường học hành. Từ đó việc đi thắp nhang dưới cồn, ngoài việc hiếu đạo còn là để cầu mong ông bà phù hộ. Đi với ông độ ba lần là tôi thuộc hết vị trí mồ mả nhà mình. Những lần sau ông uỷ thác việc này cho tôi đi cùng với mấy đứa em.

Ngày nhỏ chúng tôi rất nghịch nên nhiều lần dùng nhang để đi doạ ma, tiếng Quảng Trị gọi là đi trến ma. Ban đêm, thắp một cây nhang rồi núp trong bụi. Thấy người nào đi tới thì đưa đầu nhang đỏ lửa vào miệng, cắn hai hàm răng vào cây nhang rồi khừ một tiếng cho hơi trong cổ phát ra. Khi đó ánh lửa đầu nhang đỏ rực lên tạo thành một cục lửa hồng, cùng với tiếng kêu gió y hệt là ma. Đêm ba mươi tết trời tối như bưng mà doạ ma là người ta khiếp hồn khiếp vía, cứ tưởng cuối năm ma về ăn tết.

Sắp đến giao thừa, mệ nội bày mâm ra giữa trời, đặt lên đó hoa quả, ít bánh trái và một chén muối. Đại ý chén muối là để cầu mong anh em trong nhà bà con làng xóm sống mặn mà với nhau, như câu "đầu năm mua muối cuối năm mua vôi".

Một chén gạo dùng làm bát nhang. Khi đó ông nội mặc áo dài đen chít khăn đóng, rút một thẻ nhang thắp lên đỏ rồi đứng giữa trời mà khấn thầm những lời mời tổ tiên về ăn tết cùng con cháu, lời cầu mong sự ấm êm trong năm mới... Tôi đứng bên hầu nước, ngọn gió giao mùa thổi nhẹ làm khói nhang bay vào mắt xao xuyến!

Ba ngày tết bàn thờ rạng đèn, nhang khói không được để lạnh ngắt một phút nào. Vậy nên ngày tết nhất thiết phải có người ở nhà tiếp khách và trực nhang trên bàn thờ. Sáng mùng một, thức dậy thắp hết một lượt nhang ở nhà, tôi lại cùng ông mệ nội lên chùa. Đầu năm lên chùa gọi là mừng tuổi Phật. Cắm nhang lên bàn thờ Phật xong, bác chủ lễ thỉnh một hồi chuông cho mọi người vía các Ngài. Ở chính giữa là Đức Bổn Sư Thích Ca, bên phải là Ngài Địa Tạng, bên trái là Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát... Đầu năm lên chùa gặp bác chủ, lễ bao giờ tôi cũng được nghe những câu chuyện hay và ý nghĩa, chuyện đời chuyện đạo...

Cạnh chùa làng có o Sương làm nghề hương. O Sương bị điếc, ai nói chi chẳng nghe, cứ cặm cụi suốt ngày nhồi bột cưa lăn lăn ra những cây nhang nhỏ rồi đem phơi ở sân chùa. Ngày nhỏ tôi thích lên nhà xem o làm nhang. O bày cho cách lăn nhang quanh nan tre, nhưng chẳng bao giờ tôi làm được. Thế là chỉ biết ngồi nhìn và phụ o dán bao giấy xung quanh ốp nhang thôi. Những lần đó hai bàn tay đỏ kè vì màu giấy bọc nhang thấm ra, nhưng mà thích lắm! Sân chùa vào tháng chạp rợp kín những tấm phiên kê lên tầm ngực, trên đó rải nhang vừa lăn xong. Mùi bột hương lan khắp xóm. Nghe đâu làm nghề nhang cũng ảnh hưởng đến sức khoẻ vì cái mùi bột rất độc. Tôi chẳng cần biết nó đúng đến đâu, nhưng trông o Sương vẫn mạnh khoẻ như thường. O nói làm nghề nhang là làm việc hiếu đạo, ông bà phù hộ chớ răng mà độc hại được.

Sau này có nhang điện, chẳng hiểu vì sao bà con ta lại mua thứ đó về cắm lên bàn thờ, không có khói có mùi gì cả. Ai thắp cứ thắp, nhưng nhà tôi nhất quyết không dùng. Tại sao lại cứ phải hiện đại (?) khi mà tổ tiên ta bao đời nay dùng nén nhang khói thơm để thể hiện lòng thành. Nhẽ nào đến cả tấm lòng cũng phải...hiện đại hoá?

Tết năm ngoái ở bên này, chúng tôi đi chợ của người Việt, mua được xấp giấy tờ vàng mã và nén nhang, mừng hơn cả được tiền. Đêm gần tết nấu xôi chè, kê bàn học làm mâm cỗ, thắp nén nhang như để vọng tưởng về quê nhà tổ tiên xa xôi. Trong phòng có cái máy phát hiện khói thuốc lá, vậy là chúng tôi gỡ ra, khoá phòng lại và thắp nhang. Ở xa nhìn nén nhang bùi ngùi lắm! Năm nay lại không về được, thêm một cái tết Cổ truyền xa nhà. Chợt có ngọn khói nào bay về từ những ngày xưa...

Minsk 12.2008

HOÀNG CÔNG DANH

* Bài đăng trên Đặc san Sở Thông tin và Truyền thông Quảng Trị - số tết Canh Dần 2010

READ MORE - HOÀNG CÔNG DANH – NÉN NHANG NGÀY TẾT

Thursday, January 20, 2011

ĐỨC TIÊN - LỘC XUÂN



Ta đã bao mùa hái lộc non

Những nụ xanh tươi những nét son

Mới chớm- rùng mình cơn nắng gió

Đã làm ta bãi hoãi mê hồn


Ơi những nụ chồi xanh biếc ấy

Có còn thắm lại nét tươi nguyên

Hay đã xanh xao màu héo úa

Tháng năm không giữ nỗi hoa huyền


Ta nhớ năm xưa cùng dạo ấy

Hoa tươi lộc biếc những xuân thì

Dâng hiến vô ưu theo ngày tháng

Ta hái lộc xuân cứ vô vi


Năm nay Xuân tới ta nhớ lắm

Đời ta thêm tuổi vẫn sung hồn

Nhớ buổi lộc lên xanh mướt mát

Hò hẹn ta về hái lộc non


Có lẽ giờ đây rừng đã cạn

Bao màu hoa tàn rũ tháng năm

Tìm kiếm hương xưa giờ đã vãn

Ta ước ao hoài chốn xa xăm


Lộc biếc bây chừ có còn chăng

Một rừng hoa tím đỏ giăng giăng

Ta kiếm hương thì trong mộng ảo

Thì thôi xin hẹn chốn mơ mòng...


Đ.T.

READ MORE - ĐỨC TIÊN - LỘC XUÂN

Wednesday, January 19, 2011

GIÓ PHƯƠNG NAM - GIÓ VỀ MIỀN TRUNG



Có một ngày Gió về miền Trung
mùa lũ qua trên đồng vàng lúa
nghiêng sườn đông mưa giăng mắc nhớ
chướng theo về rét buốt mùa thương

Ta sẽ qua góc phố con đường
nơi Thành Cổ khép rồi nhật ký
Đông Hà ơi hương người đất dậy
Bến Hải Cửa Tùng nối nhịp Hiền Lương

Ngút mắt nhìn màu xanh cao nguyên
nép vào nhau nghe chừng hơi ấm
bãi cát dài đùa vui ngập nắng
biển quê hương non nước hữu tình

Trên boong tàu về thăm đất đảo
Viên Ngọc Đỏ cháy giữa Biển Đông
em xin nâng bàn tay nho nhỏ
thả hồn hoa sóng bủa chập chùng

Mai xa rồi quê hương Đất Quảng
mùa xuân về nối những vòng tay
ở nơi anh hai mùa mưa nắng
gửi về nhau thương nhớ vơi đầy...

(11/2010)
READ MORE - GIÓ PHƯƠNG NAM - GIÓ VỀ MIỀN TRUNG

Monday, January 17, 2011

VÕ VĂN HOA - SLOW CÙNG XUÂN



Tay trong tay, slow cùng xuân.

Bỏ khoảng xa đi cứ lại gần

Điệu thức đến rồi mây vần vũ

Em có bao giờ giọt mắt ngân!

Anh slow cùng xuân

Bến phố còn hương chiều tóc biếc

Gặp em cả đời anh nuối tiếc

Ước còn chi, mãi slow cùng xuân !

Anh muốn một ngày,

một ngày thôi

Cho qua mùa hè buồn, mùa đông giá !

Cho qua những ngày tất tả

Để slow cùng xuân.

Tay trong tay, anh slow cùng xuân

Và Đất nước và tình người rộng mở

Và còn đây: vũ điệu nồng hơi thở ...

Slow cùng xuân !


V.V.H

READ MORE - VÕ VĂN HOA - SLOW CÙNG XUÂN

ĐỨC TIÊN - BÓNG XUÂN



Chừng như đông đã tàn phai

Bóng xuân thấp thoáng hiên ngoài nắng lên

Nụ đào nhen lửa qua đêm

Vườn tươi sắc lá xanh thêm đợi mùa

Chợ làng đông kẻ bán mua

Quanh gốc đa cổ gió lùa áo bay

Thơm từng cọng lá trầu cay

Quả xanh vàng đỏ nhuộm say môi hường

Quê ơi một nhớ mười thương

Dáng em nghiêng nón để vương tóc chiều

Giữ hồn năm tháng mà yêu

Ai về phố thị dập dìu mặc ai

Em dầu nắng sớm mưa mai

Cành quê lá trỗ hình hài cũng quê

Hương xuân nhè nhẹ theo về

Đượm trong ánh mắt câu thề bờ vai

Năm dài thì tháng thêm dài

Đời tươi như thể hoa nhài tinh sương

Em đi nắng ngập con đường

Đồng quê lúa ngậm làn hương lên ngày

Rượu làng thơm chút men cay

Ủ bao năm tháng để say đất trời

Gió xuân cất tiếng gọi mời

Tình quê ấp ũ trọn đời với quê !


Đ.T

READ MORE - ĐỨC TIÊN - BÓNG XUÂN

VÕ VĂN LUYẾN - NÕN XUÂN


Bừng thức sau giấc đông dài

Hàng cây nẩy chồi nhú lộc

Tóc xanh hết mình của tóc

Mắt môi biếc nụ hoa cười


Con đường như dòng sông chảy

Muôn hồng nghìn tía thập thành

Gió xuân ngập ngừng sau cửa

Tiếng chim lên màu bức tranh


Sớm mai cõng mùa về tuổi

Nhốt hương hong khói đẫm chiều

Mẹ già ngồi canh bánh tết

Lửa cười giãn nếp nhăn nheo


Các em đẹp như ngày cưới

Thong dong gót ngọc kinh kỳ

Mùa xuân cũng vừa mang tới

Nụ hôn chín mọng dậy thì


V.V.L

READ MORE - VÕ VĂN LUYẾN - NÕN XUÂN