Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, September 21, 2010

NGÔ MINH - THƠ CỦA NGƯỜI VÂN KIỀU

Một gia đình người Vân Kiều ở Hướng Hóa. Ảnh từ quangtri.net


Dân tộc Vân Kiều sống trên hai mái Trường Sơn, tập trung ở hai huyện Hướng Hóa, Đakrông ( Quảng Trị ), một ít ở huyện Alưới (Thừa Thiên- Huế) và một số ở Lào ( Tây Trường Sơn ). Người Vân Kiều có tiếng nói mà chưa có chữ viết, nên nói THƠ của người Vân Kiều là tôi muốn nói đến lời những câu hát dân ca của dân tộc này. Nhà văn Mai Văn Tấn (*) sinh thời là sĩ quan bộ đội biên phòng, hàng chục năm ăn ở cùng đồng bào Vân Kiều ở huyện Hướng Hóa, nên ông rất am tường văn hóa của họ . Ông đã sưu tầm và biên soạn hai tập truyện cổ Vân Kiều rất hấp dẫn . Đặc biệt, đầu năm 1980, ở Huế, nhà văn tặng tôi tập Dân ca Vân Kiều do ông sưu tầm, phiên dịch và giới thiệu. Tôi đã đọc say mê và thích thú. Gần đây, trong dịp xếp lại mấy giá sách gia đình, tôi bắt gặp lại cuốn Dân ca Vân Kiều . Đọc lại Dân Ca Vân Kiều tôi nhận ra rất nhiều điều hay mà lúc trẻ mình chưa tường tỏ. Là người làm thơ, tôi nhận được ở trong kho tàng dân ca người Vân Kiều những bài học bổ ích vô giá về thơ, về cách sử dụng ngôn ngữ hình tượng, về thủ thuật cao cường trong liên tưởng, so sánh, ẩn dụ. Theo tôi , những câu dân ca này chính là thơ của người Vân Kiều. Một thứ thơ điêu luyện được hát lên...
Có một bài thơ tình yêu cô đọng đến mức phát lửa. Có thể gọi như các nhà thơ hay gọi: đây là "thơ mi-ni"- thứ thơ đọc lên nghe lạnh cả sống lưng, nghe như có nắng hè chói lóa vào mắt! 

Bài thơ chỉ hai câu, sáu chữ :
Lửa gặp gươm
Chàng gặp nàng

Có thể mở ngoặc đơn thêm một chữ "như" sau câu đầu cho dễ đọc, dễ hát. Nhưng về thơ thì không cần chữ "như" ấy . Đây là câu ca dao Vân Kiều mà người sưu tầm, tuyển dịch xếp thứ tự số 32, mục "ca dao về kinh nghiệm xã hội, về kinh nghiệm xử thế". Có thể anh Mai Văn Tấn đúng vì anh rất rành ngôn ngữ và tập quán Vân Kiều. Nhưng tôi thì tôi thích xếp câu ca dao trên vào những bài thơ tình yêu đôi lứa. Xin đọc lại : Lửa gặp gươm - Chàng gặp nàng . Lưỡi gươm nói cái sắc, cái sáng chói của lửa, mô tả thật sinh động, tài tình "ánh chớp ái tình" khi chàng gặp nàng. Lửa và rơm bắt vào nhau là sự kết hợp không thể khuất phục được. Cũng như chàng với nàng, khi đã bén, đã yêu thì bùng cháy, chớp sáng, mãnh liệt. Sức mạnh như được lũy thừa lên, lộng lẫy hào quang sắc đẹp. Bài thơ ngắn mà có đối, có tỷ, có phú, chí cao, tình thâm, trọn vẹn và hiện đại ! Bài thơ diễn tả thật đắc địa, thần tình cái "chạm" ban đầu trong cõi yêu đương. Người Kinh có câu : “Thấy anh như thấy mặt trời / Chói chang khó ngó, trao lời khó trao” đã ghê lắm rồi. Nhưng "lửa gặp gươm - Chàng gặp nàng" có cái gì đó mạnh mẽ hơn về hình tượng thơ, cô đọng hơn về chữ nghĩa. Lối thơ hàm xúc này làm cho ta say cái rung cảm bồng bột và ám ảnh khó dứt như khi đọc thơ hai-ku của Nhật Bản hay thơ ngắn của đại thi hào Ta-Gor ( Ấn Độ) : Em thế nào cứ thế mà đến / Chớ có loay hoay sửa soạn áo quần!

Lại chuyện tình yêu. Những chàng trai cô gái Vân Kiều đến tuổi yêu đương đã được dân tộc mình trang bị cho những câu hát " tán" thật có hiệu quả. Ví dụ chàng trai hát : Ngủ hay thức hỡi em ! Có nghe tiếng con voi lạc vào bãi bông của em đó / Ngủ hay thức hỡi em ! Có nghe tiếng chân con tê giác dẫm nát nương gai của em đó ? Và nếu cô gái còn "cố tình" thử thách bằng im lặng, tiếng hát lại cất lên nồng cháy, gần gụi hơn :

Khi cây ngô em đang có bắp non, có con sóc muốn xuống ăn hạt
Khi cây lúa em đang thời trĩu bông, có con đồi muốn đến gặm trắt
Và đây là "hồi âm" của cô gái :
Dòng nước anh đã trào đến, con nước anh đã dâng lên
Em muốn đưa tay nhận, em muốn dang tay đón
Thấy anh muốn so ngay ngón tay giữa
Thấy anh, em muốn đọ ngay ngón tay út, anh ơi !

Những hình ảnh "cây ngô", “cây lúa","con sóc","con đồi","con nước", ngón tay giữa", " ngón tay út", .v.v.. trong những câu hát trên là chi tiết thơ ( hay chất liệu thơ ) dùng để chuyển tải các trạng huống tình cảm. Người làm thơ giỏi, thơ hay là trên cơ sở những chất liệu hiện thực đời sống, tạo ra được nhiều hình ảnh thơ sinh động để tăng hiệu quả của liên tưởng, so sánh hoặc ẩn dụ.

Sau khi "bén" nhau rồi thì mong thì nhớ. Người Vân Kiều nhớ mong cũng khắc khỏai ghê gớm lắm . Xin bạn đọc chú ý cách sử dụng hình tượng thơ trong mấy câu sau đây :

Nhớ nhau lòng như con sóng chao
Thương nhau hơn dòng nước Khóng chảy xiết
Yêu nhau núi lở trong lòng...

Cái nhớ thương lay đọng, nghiêng ngả, cuồn cuộn, mài xiết vào tâm tưởng. Đọc câu "Yêu nhau núi lở trong lòng" ta như nghe được cả âm thanh của nối đau tình yêu. Nhà thơ Xuân Diệu có câu thơ " Yêu là chết trong lòng một ít" rất hay, rất thật. Nhưng theo thiển ý của tôi câu thơ Vân Kiều " Yêu nhau núi lở trong lòng" nói được cái thật hơn, dữ dội hơn, nên hay hơn ! Thế đấy. Còn biết bao nhiêu câu thơ tài hoa về tình yêu trên Nguồn Trường Sơn ấy !

Sách Dân ca Vân Kiều của nhà văn Mai Văn Tấn tuyển chọn và dịch đến 196 khúc ca. Ấy là 196 bài thơ, ý thơ đặc sắc của một dân tộc. Thơ người Vân Kiều có thân phận tựa như cây đàn Khlui ( Tiếng kèn tiếng vui, tiếng khlui tiếng buồn). Bài thơ về Thân phận kèn khlui chính là thân phận của người Vân Kiều, được kể với lối ví von hình ảnh, ngôn ngữ cô đọng, hàm súc : Thương kèn khlui / Số phận dập vùi / Từ thuở măng tơ / Có người đến bẻ / Khi thành cây tre / Mưa dập gió dồi / Con voi đi ngang / Xéo lên cành lá / Con chim bay xa / Ngọn tre làm tổ / Chưa khổ hay sao ? / Ai kia ngồi đó / Lại đốn tre về / Dùi tre thành lỗ / Xương thịt quặn đau / Lòng săn rét gió / Ta cất tiếng kêu / Trong ngoài đều rõ...

Học ca dao, dân ca, chính là học cái tinh túy nhất của đời sống , để cho thơ càng gần hơn với đời, với người ,với cuộc sống mỗi ngày biến động...
------------------------
(*) Mai Văn Tấn ( 1931 - 1986) : Tên thật là Mai Văn Kế, người làng Quy Hâụ, xã Liên Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam ( 1985). Đã xuất bản : Quả bầu tiên ( 1975-1976); Truyện cổ Vân Kiều ( Tập 1, Tập 2 1974- 1978) ; Aicum Ai Cloóc ( 1975); Giữa rừng Côpi ( Tập truyện, 1976); Dấu chân chiến sĩ biên phòng ( truyện ký, 1976); Dân ca Vân Kiều ( 1979) ; Đất Ấm ( truyện ký, 1983)

Nguồn: ngominh.vnweblogs.com
READ MORE - NGÔ MINH - THƠ CỦA NGƯỜI VÂN KIỀU

Monday, September 20, 2010

ĐỨC TIÊN - CHÙM THƠ



Làng quê ở Gio Linh. Ảnh từ Flickr



BÂY GIỜ VÀ MÃI MÃI NGÀN SAU


Ta lớn lên đất nước chiến chinh

Khói lửa trùm lên làng quê chiều xuống

Tiếng ì ùm dội vào tâm tưởng

Quán chợ nghèo xơ xác lá bàng rơi

Mãi mê tìm lứa tuổi đôi mươi

Mai xá, Cát sơn, Lễ Môn, An mỹ

Những tên làng nghe sao bình dị

Chất chứa trong ta đắm đuối một thời

Những ngọn dừa xanh mắt em cười

Ta thao thức hình như vô cớ

Sóng vỗ bình minh đò xuôi bến chợ

Mát lựng hồn ta lảng đảng trăng tròn

Trãng cát vàng dấu những chân son

Áo trắng em bay hoàng hôn tím lịm

Tóc em xanh một màu bịn rịn

Tuổi ngói hồng trang vở trắng trong

Những ngày hè ta mãi lông bông

Mẹ nấu cho ta dẽo thơm cơm nếp

Ngõ Đa, ngõ Bè chân ta xì xụp

Cánh đồng làng thơm hạt gạo vàng de

Ơi tuổi thơ ta mãi đê mê

Có giữ lại bóng hình ta ngày nọ

Khi ta hát bài ca ta nhớ

Mái tranh nghèo khăn áo mẹ xanh lơ

Chinh chiến qua rồi làng củ ta qua

Mẹ và em và bạn bè ngày nọ

Ta du lãng trong giấc mơ vò võ

Năm tháng nào ngày củ bâng khuâng

Ơi tuổi thơ ta mãi đi hoang

Tiền kiếp nào xui ta đến vậy

Ta mang theo bóng hình ngày ấy

Để bây giờ và mãi mãi ngàn sau...




CỒN CỎ ƠI !


Cồn cỏ ơi ! Cồn Cỏ ơi !

Đảo xa hun hút chân trời nhớ thương

Cuộc tình nào đã tơ vương

Mà lăn lóc mấy dặm trường đến đây

Một bờ đá một rừng cây

Một triền gió lộng nắng hây hây vàng

Mát xanh dưới tán lá bàng

Mấy anh lính trẻ rộn ràng lời ca

Trắng rừng loài hoa Phong Ba

Bến Nghè khách đợi người xa có về

Bàng vuông vẫn giữ lời thề

Tả tơi rơi rụng bên lề nhân gian

Đã qua nắng nỏ mưa chan

Bến sông Hương vẫn vọng ngàn lời ru

Hè qua kéo cả mùa thu

Lô nhô gềnh đá sương mù giăng giăng

Đêm muôn nghìn ánh sao băng

Mênh mông biển sáng hải đăng đỏ trời

Cồn Cỏ ơi ! Cồn Cỏ ơi !

Một vuông đất mấy cuộc đời buồn vui

Qua rồi lửa khói dập vùi

Thênh thang đường rộng bùi ngùi bước chân

Về thăm đảo nhỏ một lần

Mà ngây ngất mà chồng chềnh trời mây

Thôi thì cũng một lần say

Với Cồn Cỏ với đất này với em...




LỠ HẸN


Huế ơi thôi lỡ hẹn rồi


Đã không về được bên đồi với thông

Đã không về với bến sông

Đã không về với mênh mông đợi chờ

Con đò trôi mãi lững lờ

Ngoái nhìn Thương Bạc sương mờ giăng giăng

Em giờ ngồi bắt bóng trăng

Đợi người trong mộng cầm bằng mà chi

Giữa muôn ngàn vạn bước đi

Giữa muôn màu áo em thì rối ran

Cuộc vui chưa mở đã tàn

Trống không ly rượu trắng ngàn phôi pha

Cung đường nào phải ngái xa

Muôn ngàn lời hẹn cũng là hẹn thôi

Huế ơi ! thì đã lỡ rồi

Cầm mây với gió cho người phong sương

Ta giờ như kẻ tha hương

Nhớ về Bến Ngự ,sông Hương thẩn thờ

Bạn bè vui với vần thơ

Câu thì ngọng nghịu câu xơ xác buồn

Huế ơi đã lỡ cung đàn

Ta xin nửa chén rượu tàn cạn ly ...


Nguồn: ductien.vnweblogs.com
READ MORE - ĐỨC TIÊN - CHÙM THƠ

LÊ QUANG THÁI - ĐỀN THỜ ĐỨC THÁNH TRẦN Ở HUẾ KHAI SÁNG NGUỒN MẠCH TÂM LINH

Ảnh: Trần Đức Anh Sơn . (Click chuột vào hình sẽ xem được hình lớn hơn)


Người Việt Nam tôn vinh Hưng Đạo Đại Vương là Đức Thánh Trần. Ngày nay, có người gọi nơi thờ Đức Thánh Trần là Đền; có người gọi là Điện, thậm chí có người gọi Miếu. Đó là những nơi thờ phượng trang nghiêm, uy linh mà biểu hiện bằng chữ quốc ngữ là Đền thờ Đức Trần Hưng Đạo. Thời vàng son tôn kính, cố đô Huế có đến 24 đền thờ Đức Thánh Trần, chữ xưa gọi là Linh từ hoặc Vọng từ, thường đi kèm theo sau danh từ riêng gồm hai chữ, chẳng hạn: Phú Lộc vọng từ (nay ở địa chỉ số 6 kiệt 91, đường Nguyễn Chí Thanh) ở bên Gia Hội; Tân phẩm vọng từ (số 8 kiệt 36, đường Nguyễn Khoa Chiêm), dưới chân núi Ngự Bình. Nhưng được biết đến nhiều nhất là ngôi đền chính thờ tọa lạc tại số 86 đường Phan Chu Trinh, mặt hướng ra dòng sông An Cựu, nắng đục mưa trong. Ngôi đền rộng hơn 5000m2 được vua Duy Tân ban tặng biển hiệu là Tân phẩm linh từ vào tháng hai năm Giáp Dần (1914). Vị có công khai sáng ra đền thờ là bà Tôn Nữ Thị Ninh. Bà mất năm 1925, con trai là Nguyễn Đình Thuyên, một thanh đồng đệ tử trung kiên, kế tục lo việc thờ phượng.

Để dễ dàng phân biệt giữa đền chính với các đền phụ ở các địa phương, phường xã khác, đền chính gọi là Linh từ; đền phụ gọi là Vọng từ. Rạch ròi của thuật ngữ chữ Hán thật minh bạch, quang minh chính đại. Ngôn từ Việt thật “rắc rối” để diễn tả cho người nước ngoài hiểu mà dịch thuật cho chuẩn xác.
Trải qua 96 năm Tân phẩm linh từ được “sắc tứ” (vua ban tên gọi), đền thờ Đức Trần Hưng Đạo tại địa chỉ nói trên đã bị thời gian, thời tiết và con người làm hư hại. 50 năm sau, năm 1964 tượng Đức Thánh Trần được đúc bằng đồng. Nhưng người Phú Xuân đã khéo kiên trì khắc phục tôn tạo để duy trì một ngôi đền thờ Đức Thánh Trần oai nghi ở khu vực mà ngày xưa đã một thời mang cái tên rất dân dã: Kho Rèn với chiếc cầu bằng bê tông cốt sắt nối liền Kho Rèn với Nhà máy đèn Huế theo lối bờ nối bờ.
Quay đầu là bờ: bờ Bắc nối bờ Nam; bờ quá khứ nối liền với hiện tại đầy triển vọng, thông thoáng cho tương lai vẻ vang của lối cầu nguyện chí thành mong ước “Quốc thái dân an” mở đầu từ ngày 8 tháng Giêng năm Canh Dần tại đền thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông ở núi Ngũ Phong (phường An Tây, thành phố Huế), mà dân gian quen gọi là “xứ Thiên Thai” với cảnh trí giống khác nào “non Bồng, nước Nhược”; ở Cố đô thân yêu trên 700 năm mở cõi nước Đại Việt hùng cường cai quản cả Biển Đông bao la bát ngát nghìn trùng gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày nay, đường Lý Thường Kiệt được phong quang sáng rạng; cầu Kho Rèn bằng bê tông bắc ngang qua sông An Cựu (Lợi Nông) được thay thế bởi chiếc cầu mới đẹp hơn, rộng hơn, tân tiến hơn nhiều so với cầu cũ, đã làm cho cảnh quang của Đền thờ Thánh Vương Trần Hưng Đạo trở trên rõ nét uy nghi, trang nghiêm hơn cho người dân bản địa và du khách phương xa đến viếng thăm, tham quan các quần thể di tích Huế. Cố kinh đang được tôn tạo nên diện mạo và cảnh quang mới để tạo thành sức bật cho “văn hóa nhân văn”, “văn hóa nhân bản” và “văn hóa tâm linh” bừng sáng trổi dậy, làm cho phần hồn của Cố kinh Phú Xuân - Huế thăng hoa. Lễ tế Giao và lễ tế Xã Tắc được phục hồi là những điển hình tiêu biểu.
Để hình thành thiên bút ký này, người viết đã thao thức đắn đo vì “lực bất tòng tâm”. Nhưng vì lòng chí thành và nhất là để tỏ lòng tri ân với đền thờ Đức Thánh Trần ở gần cầu Kho Rèn đã cứu sống và như đã “sinh ra mẹ tôi lần thứ hai” vào năm 1957, để tôi có mẹ từ năm ấy cho đến năm đại hồng thủy 1999. Cách đây 53 năm, mẹ tôi ở tuổi 53, bà đau nặng “thập tử nhất sinh” quằn quại thân xác bên bờ sinh - tử. Các ông nội chú và cha tôi đều là thầy thuốc không đến nỗi tồi ở đất xưa Cổ thành Quảng Trị đành bó tay. Nhưng “còn nước thì còn tát”, cha tôi lúc bấy giờ đã 60 tuổi, “đội đàng than dạ” từ làng quê Quảng Trị vào Huế đến tại đền thờ Đức Thánh Trần ở gần cầu Kho Rèn để khẩn nguyện và được Ngài ban cho “phương dược thần diệu” để cha tôi “lãnh thọ”; rồi tức tốc trở lại quê nhà đưa cho vợ uống trong 3 ngày, để mẹ tôi tỉnh lại và sống thêm được 42 năm nữa.
Thâm ân của Đức Thánh Trần, của các bậc tiền bối lập đền ở Cố đô Huế đối với gia đình và gia tộc tôi như trở bể. Cha tôi luôn luôn dạy con cháu bằng câu nói: “Đức Thánh Trần đã sinh mẹ các con lần thứ hai”.
Diễm phúc thay cho đời tôi, các bậc thiện tri thức xứ Huế đã chỉ bày cho bản thân tôi có dịp lần mối đi tìm các đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo ở cố đô Huế “để viết bài này khả dĩ có được” phục vụ bạn đọc. Bản thân tôi không quản ngại khó nhọc, măn mo đi cầu học, hỏi hăm để lần mối cho ra một số tình tiết liên quan về “văn hóa tâm linh”. Có đến 24 đền thờ Đức Thánh Trần ở cố đô Huế mà tôi không biết, tôi chỉ biết được 7 đền thờ ở khu vực nội thành
và một đền ở làng Thanh Phước (xã Hương Phong, huyện Phú Vang) theo mô thức Linh từ và Vọng từ để có cơ sở khẳng định tính cách linh diệu với lối cấu trúc đền thờ và với khoa nghi tế lễ các nơi đã thờ phượng Ngài Thánh Vương trải qua hơn một thế kỷ ở cố kinh. Đối với bản thân tôi, thì những gì tôi biết được theo lối dây chuyền chỉ bảo của các bậc minh sư là “tâm linh”, “văn hóa tâm linh”.
“Tâm linh” có nội hàm rất chính đại quang minh, không có một chút gì móng niệm là “mê tín dị đoan”. Vì chỉ có trí óc tôi thô thiển, cho nên không thể nào diễn tả nỗi và phạm trù tâm linh ấy cho người khác lãnh hội được. Vì nói đến tâm linh là còn phải nói đến “mệnh”, “duyên”, “nghiệp”, “thọ”, “lãnh”… Cao vời quá, vượt tầm mức hiểu biết của bản thân tôi. Đức tin của tôi còn hạn hữu… Xin quý độc giả rộng lòng chỉ bày và tha thứ. Để hiểu về đức tin, và sự linh diệu của thần thánh, của vũ trụ thì e rằng phải tham vấn các bậc chơn tu, các nhà ngoại cảm giàu linh cảm, có cảm giác thứ sáu, thứ bảy… mà người trần tục không thể nào có được.
Lòng thành kính hướng về đất Bắc, nơi có đền Kiếp Bạc thờ Hưng Đạo Đại Vương và các vị thân vương, hoàng hậu, phò mã, thái tử liên quan. Có điều, người Phú Xuân rất tự hào về truyền thống đánh giặc cứu nước, cứu nhân độ thế, hộ quốc an dân của Thánh Vương “sinh vi tướng, hóa vi thần” mà trải qua gần 700 năm, trên toàn quốc tại các tỉnh miền Bắc và các tỉnh thành lớn của miền Trung và miền Nam đều thiết dựng đền thờ Hưng Đạo Đại Vương như vị một vị thần lớn giữ vai trò lớn: Hộ quốc tì dân, như 4 chữ linh thiêng và linh diệu được kính cẩn thể hiện trên cổ diêm tòa phương đình tọa lạc trong khuôn viên Tân phẩm linh từ thờ Đức Trần Hưng Đạo ở Huế.
Ước gì Tân phẩm linh từ này và các Vọng từ đóng vai trò như những “vệ tinh” thuộc quần thể di tích lịch sử và văn hóa ở đất Phú Xuân văn vật mỗi ngày mỗi được tôn tinh và tôn tạo vẻ vang hơn lên để cho thế hệ trẻ có cơ hội tiếp “học tập bài học tri ân tiền nhân” có công trạng lớn trong sự nghiệp giữ nước mà thế giới đã tôn vinh Đức Trần Hưng Đạo là vị tướng tài của nhân loại.
Một niềm tự hào dân tộc đang dâng trào trong tâm tư của người Việt Nam ở trong nước và kiều bào ở hải ngoại.
L.Q.T
THÔNG TIN DI SẢN- SỐ 5 - 2010




CÙNG TÁC GIẢ:
TƯỢNG ĐỨC QUÁN THẾ ÂM TẠI TRUNG TÂM VĂN HÓA PHẬT GIÀO LIỂU QUÁN
READ MORE - LÊ QUANG THÁI - ĐỀN THỜ ĐỨC THÁNH TRẦN Ở HUẾ KHAI SÁNG NGUỒN MẠCH TÂM LINH

Sunday, September 19, 2010

HỌA SĨ TRƯƠNG BÉ

Mạch nguồn sự sống - tranh sơn mài của họa sĩ Trương bé


Trừu Tượng -tranh của họa sĩ Trương bé



Họa sĩ Trương Bé. Ảnh từ www.tapchisonghuong.com.vn



Họa Sĩ Trương bé- người cầm máy ảnh - Ảnh từ vnthuquan.net/diendan/




Họa sĩ Trương Bé sinh năm 1942.
- Quê quán: Tỉnh Quảng Trị
- Nguyên Hiệu trưởng ĐH Mỹ thuật Hà Nội
- UV Thư ký Ban chấp hành Hội Mỹ thuật VN
- UV Hội đồng Nghệ thuật TW Hội Mỹ thuật VN

CÁC BÀI VIẾT VỀ HỌA SĨ TRƯƠNG BÉ

CÁI ĐỘNG TRONG HỘI HỌA TRỪU TƯỢNG CỦA TRƯƠNG BÉ
ĐẶNG MẬU TỰU


Trương Bé đã chọn nghiệp và anh đi suốt đời mình. Tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội năm 1974, hoạt động mỹ thuật tại Quảng Trị, thực tập tại Budapest 1983 – 1986, công tác giảng dạy tại Đại học Nghệ thuật Huế, nguyên là Hiệu trưởng Trường Đại học Nghệ thuật Huế và hiện là Ủy viên BTK Hội Mỹ thuật Việt Nam nhiệm kỳ 2000 – 2005, và giảng dạy tại trường Đại học Nghệ thuật Huế và một số trường các tỉnh miền Trung.
Tuổi 60 – Hoa giáp của một đời người, cái tuổi có thể nghĩ về sự viên mãn hay câm giận chính mình. Trương Bé ở cái ngưỡng 60, có 30 tuổi nghề, với bao trăn trở, sống và lớn lên ở một miền quê nghèo Quảng Trị, đã trải qua trong chiến tranh, giữa cái sống và cái chết, bao nhiêu lo toan để nuôi sống và gầy dựng một mái ấm gia đình, giữa đời thực và cái ước mơ. Cũng như bao người khác, bao nghệ sĩ khác, họ càng lắm cái trải nghiệm thì trong họ càng có những nội lực thâm sâu chừng ấy, hình như ai cũng có cái hạnh phúc và dằn vặt khổ đau, đã trải qua. Thoắt cái, mới đó mà đã 60 năm. Suy cho cùng, không ai vừa lòng cái mình có, điều ước muốn của người họa sĩ là sống được với nghề, mà sống được với nghề đâu có dễ, mấy ai vẽ tranh và bán được tranh vẽ khi mình đang sống, nhìn hàng đống tranh vừa tự hào vừa chua xót đôi lúc tự hỏi mình là ai. Mâu thuẫn với mình giữa cái mình muốn và cái mình có thực.
Đúng là cái Nghiệp.

Từ năm 1976 anh đã liên tục triển lãm trong và ngoài nước như:
- Đã tổ chức triển lãm cá nhân 1992 tại Huế, triển lãm Cha và con ở Hà Nội.
- Tham gia nhóm tác giả năm 1988 và các cuộc triển lãm chung ở Thái Lan, Pháp, Mỹ, và anh không bao giờ vắng mặt trong tất cả các cuộc triển lãm trong nước và trong tỉnh. Ở anh sự tìm kiếm là thường trực, anh không dừng ở điểm nào, từ hiện thực sang trừu tượng anh đã dám xông vào cái mà người ta còn e ngại trong hoàn cảnh lịch sử lúc ấy. Tranh trừu tượng thì không lạ gì với Huế vì trước đó đã có những họa sĩ đã tổ chức nhiều triển lãm, song anh đi tìm kiếm ở đó một ngữ riêng biệt để nói hết những cái mình muốn nói, và rồi từ đó trong cuộc đời sáng tạo, anh đã dừng tạm thời ở tranh trừu tượng. Từ hiện thực sang trừu tượng, với Trương Bé là cái không hình là cái không có giới hạn để mình gửi gắm những ý tưởng đến nhân gian nhiều nhất, những vệt màu vung lên một cách mạnh mẽ để tạo những mảng lớn hay những nét thả lỏng hững hờ dường như mất hút vào nền vải, những mảng màu khô quánh cào xướt lên mặt tranh hay dịu dàng nhẹ trôi êm ả, cảm xúc trong tranh Trương Bé có khi mạnh mẽ bạo liệt nhưng cũng có khi trầm tĩnh duy lý đến từng phân vuông. Nó luôn biến, sự biến hóa của hình, của màu tạo nên cái động, là cái cốt lõi trong tác phẩm của anh.

Ở giai đoạn này, những tiết điệu như chảy vào các ngõ ngách, dù có khoảng trống cần thiết cho một sự tĩnh lặng, người ta có cảm giác sự đầy ắp bên trong vuông tranh của anh luôn là sự ham muốn vươn tới cái vô cùng, những gam màu sáng, trầm ấm của sơn dầu hay chín sẫm của son tươi và màu cánh gián, rạn vỡ của vỏ trứng và rực rỡ vàng quỳ trong sơn mài, có lúc anh chỉ sử dụng đơn sắc, những thể nghiệm chất liệu, thì tiết điệu trong tranh vẫn là cái mà anh luôn tìm và giữ nó đến tận giờ, anh chọn hướng đi vào cõi bên trong, anh tìm cái thấu đáo, tìm cái Đạo, cái lẽ tự nhiên. Như trong các tác phẩm "sắc không", "mơ diều", "miền hư ảo", "vòng nhân sinh", cùng "sự sống dòng chảy trái đất"... Và màu của anh đã tinh lọc đến tối đa, gần như đơn sắc, gần với hội họa phương Đông với cái mạnh mẽ của nét, nền nã biến hóa của màu và sắc độ, chính cái đơn giản, tính chất ấy mới là sự điêu luyện của nghề. Trong các tác phẩm mới nhất của anh người ta thấy ở loạt tranh trừu tượng đen trắng hoặc đen, trắng, đỏ, một lối ra của anh mới khởi đầu. Cũng như trong "sắc không" và "mơ diều" anh thể nghiệm đơn sắc bằng một chất liệu khác như giấy dó, dây gai là chủ đạo, nhưng người ta thấy ở đó một sự mênh mông và thanh thản đến lạ lùng.
Tuy sơn mài, anh kỳ công trong xử lý, giữa độ sâu của màu và chuyển động của nét cũng đã tạo nên những nhịp điệu rung động và ở đó ta thấy cái mạnh mẽ và mềm mại quyện lại như khí lực của một vũ điệu có cả 2 tính cương, nhu làm cho nó sinh động và biến hóa đến bất tận.
Hội họa Trương Bé và cái tinh chất cô đặc mang tính triết lý, nó không thành tiếng nhưng giai sắc tuôn tràn trong dòng chảy thời gian không gian, những dấu vết cổ tích, niềm đam mê, sự tự vấn luôn làm cho anh thất thường trong lúc sáng tạo và ngay cả đời thường, có lẽ vậy thôi, làm sao nỗi day dứt về một miền lạc phúc ở tương lai hay quá khứ mà một lúc có thể miêu tả vào trong vuông vải hữu hạn, nên chi anh đã miệt mài và cố để không thét lên rằng thời gian thì rất ít mà nỗi đam mê trần thế đến khôn cùng.

Tuổi 60, độ chín của anh đang trên đà cô đặc, tinh chất, nghệ thuật vẫn luôn là cái phải tìm phía trước, hôm nay anh đang thanh thản để gặt hái những gì do tích lũy, và nội lực của anh đang độ sung mãn.
Mong cho anh giữ cái nghiệp mà anh đã chọn và anh sẽ sống được với nghề, cái nghề họa sĩ của mình. Mừng cho anh có cái riêng của mình, người đời nhận diện anh rõ hơn trong đám đông nghệ thuật.
Huế, tháng 10 năm 2002
Đ.M.T
Nguồn: TCSH số 165 - 11 - 2002


“CỘI NGUỒN” TRIỂN LÃM CỦA HỌA SĨ TRƯƠNG BÉ
TRỊNH HOÀNG TÂN

Nghệ thuật của Trương Bé là sự chuyển động và biến hóa đến bất tận, mang tính triết lý, tuôn tràn trong dòng chảy thời gian, không gian, được kết nối bởi những dấu lặng vừa có tính tượng trưng vừa mang một không khí ẩn dụ, huyền bí.
Hai mươi bức tranh trừu tượng của họa sĩ Trương Bé có mặt tại Quảng Trị trong triển lãm cá nhân của ông tạo nên bởi những hòa sắc mang biểu cảm mạnh mẽ. Sự kết hợp giữa đường nét với mảng màu tươi (đỏ, vàng) được bố cục chặt chẽ thể hiện thế giới nội tâm, ước vọng nói lên ý thức hệ, bộc lộ sự nhạy cảm. Trong bức tranh Tích hợp Đông - Tây (sơn mài, 180x360cm) sáng tác năm 2006, 2007, ông dùng những chấm sáng, tối, kết hợp sự biến hóa của đường nét, của mảng màu nhằm dự báo sự sinh hóa kết tinh từ vũ trụ, vạn vật, con người. Đó là sự sinh sôi, hứa hẹn những điều có thể là tốt lành nhưng cũng có thể là bất an của thế giới đầy bí ẩn. “Hỗn độn hài hòa” (sơn mài, 135x273cm), Nhịp điệu giây bí ẩn (sơn mài, 180x360cm) là một mắt xích vĩnh cửu giữa họa sĩ và cội nguồn của mình, và khuynh hướng suy tưởng về trời đất, có tác dụng tạo nên ấn tượng. Sáng tác của họa sĩ Trương Bé là thế giới của mơ mộng, của huyền thoại, của tâm thức được tín hiệu hóa. Người nghệ sĩ đã làm nên một nhịp sống trên tác phẩm, bởi nó là sức sống đây đó của thần trí chúng ta qua nhịp điệu của vạn vật...
Các tác phẩm trừu tượng sơn dầu có kích thước nhỏ hơn của ông màu sắc chủ đạo là xám, trắng, đen, đỏ biểu hiện mối quan hệ biện chứng, nhất là sự vận động của sắc đỏ cảm giác như vô tận khiến người xem phải chú ý hình dung sợi dây kim chỉ nam đó đi về đâu. Người ta có thể thấy gió lướt trên tranh, hơi thở của đời sống, cảm thấy sự tìm kiếm nhịp điệu và bản thể của thiên nhiên.
Bức Mạch nguồn sự sống (sơn mài, 90x120cm) như một cơn gió xoáy nóng, ngổn ngang những nét dày đặc, thưa dần, và có xu hướng tan hòa. Chất hội họa ngồn ngộn. Trong cái rối tung mịt mù ấy là ánh sáng của sự hài hòa và mạch nguồn của sự sống. Chúng có những ý bao hàm về cảm xúc sâu sắc. Suy cho cùng không có tưởng tượng thì không thể có nghệ thuật và cần có trí tuệ hóa cảm thụ để khai triển những hiểu biết. Cái gì là hạnh phúc của người làm nghệ thuật? Đó là được chia sẻ qua tranh, niềm vui cũng như nỗi buồn và luôn mong có được sự đồng cảm, tri âm, tìm mối dây liên kết những người đồng điệu, đồng tâm, nó là cầu nối giữa một tâm hồn này với một tâm hồn khác, là sợi dây tình cảm gắn bó các cá nhân lại với nhau bằng tình yêu và cái đẹp.
Hội họa Trương Bé diễn tả một thiên nhiên khác, sáng tác đi từ một thế giới tưởng tượng bằng những phương tiện của nghệ thuật tạo hình - từ hiện thực đến trừu tượng, giữa độ sâu của màu và sự chuyển động của nét đã tạo nên những nhịp điệu rung động, một ngôn ngữ đầy sức mạnh nội tại.
Hội họa trừu tượng của họa sĩ Trương Bé chỉ lột bỏ lớp da bên ngoài của thiên nhiên chứ không từ bỏ những quy luật đã tạo nên vũ trụ. Đó là cảnh tượng của một thế giới nội tâm đang sục sôi, không thể không gợi nhớ đến một nơi chốn xa vời, đến một thời gian khuất hút vào dĩ vãng bằng những sắc màu của những xung động bởi các ký hiệu tượng hình kỳ ảo lung linh theo từng đổi thay của ánh sáng. Những ký hiệu tượng hình có hình sao, hình tam giác, hình vuông, hình tròn, hình xoắn... cuồng nhiệt bước vào dạ tiệc của màu sắc, tạo ra hình thức của cái vô hình, cuốn xoáy vào siêu thực và trừu tượng. ẩn dụ và tượng trưng trong văn học thông qua ngôn ngữ để đánh thức sự nếm thưởng, sự liên tưởng tư duy hình tượng ở người đọc; hội họa thì cần dựa vào hình tượng tạo hình biến hóa mang tính ẩn dụ và tượng trưng, phiêu diêu và bàng bạc, siêu nghiệm và siêu thoát nhằm kích thích trí tưởng tượng của người xem.
Trong các tác phẩm sơn mài mới nhất của Trương Bé khắp nền tranh màu tối, sáng ẩn hiện lộ ra theo một nhịp hữu cơ để làm sâu thêm cái không gian nội tại và làm cho những dải màu sắc chuyển động.
Nghệ thuật của Trương Bé là sự chuyển động và biến hóa đến bất tận, mang tính triết lý, tuôn tràn trong dòng chảy thời gian, không gian, được kết nối bởi những dấu lặng vừa có tính tượng trưng vừa mang một không khí ẩn dụ, huyền bí. Mạch suy ngĩ ấy ở tiếng vọng vang từ một tâm hồn, hội họa mang hơi thở và dấu ấn cội nguồn, nhắc đi nhắc lại những dòng suy nghĩ về lẽ sống cuộc đời. Mọi hình tượng trong tự nhiên và xã hội đều có thể trở thành hình tượng hội họa, đều có thể góp phần biểu hiện thế giới tâm cảm của người nghệ sĩ trước tự nhiên và xã hội. Và như vậy, vấn đề cơ bản nhất trong sáng tạo nghệ thuật, vai trò đầu tiên và quan trọng nhất của chủ thể sáng tạo nghệ thuật là khả năng sử dụng một cách có hiệu quả nhất, một cách khoa học về sự hòa hợp các màu sắc, đường nét để tạo dựng hình tượng nghệ thuật. Đây cũng là quan điểm nghệ thuật, tình cảm trong mỗi tác phẩm hội họa của họa sĩ Trương Bé.
Triển lãm hội họa “Cội nguồn” của ông là sự trở về quê hương yêu dấu, là sự bày tỏ lòng tri ân và biết ơn mảnh đất yêu thương Quảng Trị.
Trịnh Hoàng Tân - www.vietnamfineart.com.vn - Thứ Hai, 25/06/2007


TRƯƠNG BÉ THỜI KỲ 1996 - 2006
Nhà xuất bản Mỹ thuật - 2007
Đây là một tập tranh mỏng (hiểu theo nghĩa số trang: 45 trang) nhưng lại dày dặn khi ta thỏa sức ngắm nhìn về bút pháp và hiện dần về những điều trong nghệ thuật của một Trương Bé họa sĩ, người đã biết cách lọc đi những công việc, lo toan thường nhật để khi cầm bút sáng tác một cách tự do, tung tẩy, dãi bày trên bề mặt của nền toan, vóc những ngẫm ngợi về con người, về lịch sử và số phận. Tranh trừu tượng ở Việt Nam được hội nhập với thế giới muộn mằn nhưng không vì thế mà mất đi sự cuốn hút. Trong những tác giả tranh trừu tượng ở Việt Nam, Trương Bé có một góc riêng, tự tin, bình tĩnh như viên đá mài trên mặt vóc dần hiển hiện nét và màu, trên nền đen hay đỏ với những nét cắt tung hoành, những mảng lặng và rất nhiều đốm li ti như ánh sao rụng rơi trên nền, khoăn nhặt và phóng túng...
Tranh trừu tượng sơn dầu của Trương Bé có sự bổ sung của những màu lạnh và giàu triết lý như thu lại suy tư của một cõi lòng riêng.
Đến với tranh trừu tượng của Trương Bé là sự phiêu du trong cõi hỗn mang, ở đó, ta có thể và không thể tìm thấy điều mà ta muốn hiểu. Nhưng dù vậy, mà có lẽ vì vậy mà nghệ thuật luôn là sự kiếm tìm giữa thực và hư, giữa hữu hạn và vô hạn trong thời gian trôi nhanh.
Nguồn: www.vietnamfineart.com.vn - Thứ Tư, 16/04/2008 -
READ MORE - HỌA SĨ TRƯƠNG BÉ

Thursday, September 16, 2010

CA SĨ NHƯ QUỲNH


NGHE GIỌNG CA NHƯ QUỲNH:

NHƯ VẠT NẮNG

BUỒN NHƯ PHƯỢNG


Như Quỳnh tên thật Lê Lâm Quỳnh Như, là một ca sĩ người Mỹ gốc Việt, cô rất nổi tiếng tại Việt Nam với CD Chuyện hoa sim và Người tình mùa đông , hiện đang định cư tại thành phố Hungtinton Beach ở Nam California, Mỹ.
Tiểu sử
Như Quỳnh sinh ngày 9 tháng 9 năm 1970 tại Đông Hà, Quảng Trị. Tên khai sinh là Lê Lâm Quỳnh Như quê ở Thôn Ái Tử - Xã Triệu Ái -Huyện Triệu Phong - Quảng Trị. Cô có 2 người em trai là Lê Lâm Tường Duy, mới tốt nghiệp kỹ sư điện toán vào khoảng giữa năm 2000, và Lê Lâm Tường Khuê là một người rất đam mê về ngành thiết kế y phục, từng may nhiều kiểu áo dài cho Như Quỳnh mặc khi biểu diễn.

Sau khi vào Sài Gòn năm 1971, Như Quỳnh cư ngụ trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm và theo học cấp 1 tại hai trường Nguyễn Bỉnh Khiêm và Đinh Tiên Hoàng trước khi học tiếp cấp 2 ở trường Trần Văn Ơn và cấp 3 ở trường Trưng Vương. Cô đạt giải Đặc Biệt (trên cả giải nhất, mà cho đến nay vẫn chưa có ca sĩ nào khác nhận được) Cuộc thi Tiếng hát Truyền hình TP.HCM năm 1991. (Vào năm 2006, nữ ca sỹ Phương Trinh, lúc đó vừa tròn 18 tuổi có thể xem là người thứ 2 nhận giải này với giải Supper Star - giải đặc biệt, trên cả giải nhất. Phương Trinh sau đó vừa trở thành ca sỹ vừa là diễn viên).

Tháng 4 năm 1993, cô cùng gia đình định cư tại Mỹ theo diện HO. Ban đầu cả gia đình Như Quỳnh cư ngụ tại thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania là nơi cha cô đang sống hiện nay với người em trai của cô là Tường Duy sau khi đi đến sự đổ vỡ với mẹ cô. Hai mẹ con cô và một người em khác là Tường Khuê đến cư ngụ tại thành phố Hungtinton Beach ở Nam California. Hiện nay cha cô cùng về sống với cô tại Santana (California).

Năm 1994, người điều hành Trung tâm AsiaTrúc HồThy Vân mời cô sang California thử giọng. Sau lần thử giọng đó, Như Quỳnh được mời ký giao kèo và ngay sau đó đã thu hình nhạc phẩm đầu tiên là Chuyện hoa sim trong chương trình Tác giả và tác phẩm.

Hai năm sau, cô chuyển sang cộng tác cho trung tâm Thúy Nga cùng một lúc với việc điều hành trung tâm nhạc NQ Records với Huy Anh - một người từng được cô coi như thân thiết - và hiện nay là Như Quỳnh Entertainment. Dù tình hình được coi như trì trệ đối với các trung tâm nhạc , nhưng những CD của Như Quỳnh vẫn là một trong những CD bán chạy nhất.

Về cuộc sống riêng tư, Như Quỳnh đã kết hôn với kỹ sư Không gian Nguyễn Thắng hiện đang công tác trong cơ quan chính phủ Hoa Kỳ và họ có một con gái tên là Melody Đông Nghi vào năm 2007.
(Theo vi.wikipedia.org)
READ MORE - CA SĨ NHƯ QUỲNH

Sunday, September 12, 2010

MINH TUẤN - BẢO TỒN NHÀ CỔ HỘI KỲ?

Nhà của bà Dương Thị Hường
Ảnh: Minh Tuấn


Làng Hội Kỳ (xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, Quảng Trị), một ngôi làng cổ gần 500 năm với bề dày truyền thống văn hoá vật thể, phi vật thể. Ngày xưa, làng có khoảng 60 nhà rường, nhà cổ có niên đại hơn 90 năm. Quần thể nhà nằm nghiêng nghiêng bên dòng sông Ô Lâu thơ mộng cùng với sân đình làng rợp mát bóng cây đa đã tạo nên bức tranh sinh động hoài niệm về một thời tổ tiên đến đây khai canh lập xứ.
Thế rồi bom đạn chiến tranh tàn phá, vì thời gian bào mòn, rồi tư nhân mua ra phố thị, nên nhà cổ làng Hội Kỳ đang bị mai một dần. Đến nay, trong làng còn lại khoảng 6 ngôi nhà cổ niên đại hơn 100 năm cùng hàng chục cổ vật giá trị văn hoá đang đứng trước nguy cơ bị hư hại.
Căn nhà cổ của ông Dương Văn Mạnh có tên là Tích Khánh Đường, (tạm dịch là hội tụ niềm vui). Tích Khánh Đường được dựng vào năm 1889 (dưới triều vua Thành Thái), đến nay vừa tròn 120 năm. Ông Mạnh là đời thứ 4 sinh sống và bảo quản, hương khói tổ tiên trong căn nhà này. Nhà có bề ngang 12,3 m, rộng 9,5m, hình chữ đinh. Kiến trúc 3 gian, 2 chái, 4 mái lợp so le 9 lớp ngói liệt với hơn 10 vạn viên.
18 lá cửa ban khoa được chia thành ba cụm tạo sự cân đối. Toàn bộ ngôi nhà được chống đỡ bằng 48 cột gỗ mít nài (mít rừng) có đường kính khoảng 30 cm. Gian giữa làm nơi thờ tự tổ tiên được trang trí bức hoành phi ghi chữ Tích Khánh Đường bằng Hán tự, trên bàn thờ còn đầy đủ những tự khí cổ như đỉnh đồng, bát nhang, chân đèn và bình hoa, chò tử quả.
Hai bên có 4 bốn bức liễn ghi Hán tự mang tính giáo dục cháu con đời sau: Lâm thượng chất hào vạn cổ thư hùng tưởng duyên/Quang tầm khoát hậu thiên thu đậu thư hinh hương/ Hiếu hữu môn phong minh đức kỳ lai dã viễn hỉ/ Thi thư thế phùng hiển thừa lưu xạ tùng nhân tư (nghĩa là: Con cháu xây dựng phúc ấm vĩnh cữu/Để tiếng thơm lưu truyền cõi thiên thu/Sống có hiếu mang đức sáng truyền lại/ Thi thơ vẹn toàn xứng danh gia tộc).

Ông Mạnh cho biết: “Năm 1889, thời vua Thành Thái, cụ cố của tôi là Dương Văn Vĩ làm chức quan Chánh tổng phủ An Thư (An Thơ). Cụ đã huy động 12 tay thợ mộc lành nghề lao động miệt mài trong 3 năm mới hoàn thành ngôi nhà này. Hiện nay, tôi vẫn còn bảo quản hơn 20 cổ vật và các bút tích sắc phong của vua Thành Thái”.
Cách nhà ông Mạnh không xa, nhà bà Dương Thị Hường có tên là Đức Lưu Quang (tạm dịch là lưu truyền đức sáng). Niên đại ghi rõ: Tân Mùi niên trọng thu tạo (nghĩa là dựng vào năm Tân Mùi (năm 1931). Nhà hình chữ nhất, cấu trúc 1 gian 2 chái trên diện tích khoảng 60 m2. Cân xứng giữa gian thờ là hai câu đối khảm bằng chữ Hán: Đức thừa tiên tổ tứ đại đồng đường thiên niên thạch/ Phúc ấm nhi tồn bát tuần song thọ vạn thế vinh (Tạm dịch là: Hưởng đức tổ tiên 4 đời cháu con thịnh vượng/ Nhờ phúc thọ ấm song thân gia tộc mãi mãi hiển vinh).
Hiên nhà có những mảng điêu khắc theo tuồng Mai - Lan - Trúc - Cúc sống động. Trên các khuôn bông, kèo hiên chạm khắc Long - Lân - Quy - Phượng được cách điệu khéo léo thành nhưng linh vật đang vươn ra đỡ mái hiên nhà. Trong nhà treo bức hoành phi viết bằng Hán tự là: Tứ đại đồng đường (Bốn thế hệ sống trong một nhà).
Theo quan niệm người xưa, ngôi nhà trải qua 4 thế hệ kế tiếp sinh sống thì dòng họ đó được coi là có phúc. Chúng tôi đến thăm nhiều nhà cổ và thấy rằng, nhà nào chưa đạt đến “Tứ đại đồng đường” hoặc “ Tam đại đồng đường” đều có trưng chữ “An” bằng Hán tự. Đối với nghĩa tượng hình của người Trung Quốc thì chữ “An”, trong an lạc, an bình, an sinh...gồm bộ Nữ (người phụ nữ) viết dưới bộ Miên (mái nhà).
Luận rằng: Có người phụ nữ tần tảo dưới mái nhà chung thì đó là sự an bình. Phải chăng, ngày xưa, ông cha ta đã thấy rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể để giáo dục con cháu luôn hướng về cội nguồn mà “Xây dựng phúc ấm vĩnh cữu/ Để tiếng thơm lưu truyền cõi thiên thu”.

Hiện nay, nhà cổ làng Hội Kỳ đang đứng trước nguy cơ bê tông hoá hoặc thay đổi kết cấu thành nhà Rội, nhà đơn sơ. Nhiều nhà nguyên gốc 3 gian gian 2 chái do bị xuống cấp đã được chủ nhân rút gọn lại thành 1 gian 2 chái đơn giản, hoặc lưu lại một căn nhỏ làm kỷ niệm.
Đặc biệt kiến trúc không ít nhà bị thay đổi hoàn toàn vì chủ nhân không có điều kiện tu bổ. Ông Mạnh thật thà: “Để giữ nguyên hiện trạng nhà cho đến hôm nay, tôi đã cho trùng tu 2 lần với chi phí tốn kém. Thấy vậy, nhiều người đến đây trả giá ngôi nhà này hàng trăm triệu đồng nhưng tôi kiên quyết không bán đi”.
Trao đổi với chúng tôi, ông Cáp Xuân Tá, Trưởng Phòng VHTT huyện Hải Lăng cho biết: “Trên địa bàn huyện Hải Lăng chỉ duy nhất làng Hội Kỳ còn lưu giữ nhiều nhà rường, nhà cổ và cổ vật có giá trị văn hoá cao. Đáng buồn vì mặc dù người dân rất ý thức trong việc giữ gìn giá trị văn hoá kiến trúc cổ của tổ tiên để lại, nhưng phần lớn họ không có điều kiện tu bổ và phương pháp lưu giữ tối ưu nên kiến trúc văn hoá bị ảnh hưởng không nhỏ”.
Theo chúng tôi, đưa một làng cổ đầy đủ các tiêu chí vào diện quy hoạch bảo tồn văn hoá vật thể là điều tất yếu. Nhà nước đã và đang có chính sách khuyến khích bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống của dân gian. Vấn đề là làm sao khai thác giá trị văn hoá gắn với việc phát triển đời sống kinh tế xã hội mới là điều đáng lưu tâm.
Bên kia sông Ô Lâu, làng cổ Phước Tích, tỉnh Thừa Thiên Huế được Nhà nước công nhận di tích cấp Quốc gia. Mỗi năm Phước Tích thu hút hàng trăm lượt khách du lịch đến tham quan, nghiên cứu, góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành du lịch. Mới đây, UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế lại tiếp tục đưa làng chạm khảm Mỹ Xuyên, làng gốm Phước Tích vào quy hoạch bảo tồn.
Chúng tôi cho rằng, làng cổ Hội Kỳ nếu được khảo sát đánh giá và đầu tư đúng mức thì có thể trở thành một tour du lịch lý tưởng trên tuyến hành lang kinh tế Đông-Tây, hoặc một điểm dừng chân của tour du lịch Thánh địa La Vang- trằm Trà Lộc- bãi tắm Mỹ Thuỷ. Thạc sĩ Lê Đức Thọ, Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh băn khoăn: “Đến nay, vẫn chưa có một cuộc khảo sát rốt ráo về thực trạng di sản văn hoá trên địa bàn tỉnh, nên công tác bảo tồn còn gặp nhiều bất cập. Theo tôi đây là một việc cần triển khai kịp thời”.
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Bình, Phó Giám đốc Sở VHTT&DL cho biết: Bộ VHTT&DL có chương trình “Mục tiêu bảo tồn các làng, bản cổ”. Sau khi xét đủ các tiêu chí, chương trình sẽ cấp kinh phí để trùng tu bảo tồn những giá trị văn hoá dân gian. Hiên nay, Sở đang lập đoàn khảo sát để tổng kiểm tra di sản văn hoá dân gian trên địa bàn toàn tỉnh. Sau đó sẽ lập Hội đồng khoa học đánh giá và phân loại các giá trị văn hoá cần bảo tồn để lập đề án đưa vào chương trình.
Chiêm ngưỡng các công trình kiến trúc văn hoá, người ta có thể đọc được hành trình lịch sử của mỗi dân tộc. Làm thế nào để bảo tồn và giữ gìn những giá trị văn hoá là trách nhiệm không chỉ của cá nhân mà của toàn cộng đồng. Khi chia tay, người dân làng cổ Hội Kỳ hứa như đinh đóng cột: “Nếu được Nhà nước quan tâm đầu tư, làng chúng tôi và con cháu nguyện sẽ gìn giữ nếp nhà của tổ tiên bằng mọi giá”.
Minh Tuấn
Nguồn: www.baoquangtri.vn
READ MORE - MINH TUẤN - BẢO TỒN NHÀ CỔ HỘI KỲ?

Thursday, September 9, 2010

NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - TÍM CẢ CHIỀU HOANG



TRUYỆN NGẮN

Nhà thơ Hữu Loan , tác giả của bài thơ Màu tím hoa sim" đã vĩnh viễn ra đi vào lúc 19h ngày 18.3. Và Màu Tím ngắt lòng của Hữu Loan ở mãi cùng chúng ta.

lần tôi hỏi nhà thơ thích bản nhạc nào trong hai bản phổ nhạc bài thơ Màu Tím Hoa Sim. HL trần ngâm rồi trả lời, Bài của Dzũng Chinh hợp với tâm trạng của ông hơn. Hình như đoạn hành khúc hùng tráng trong bài Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà của Phạm Duy không hợp với cái buồn da diết trong thơ HL.

Tôi thuộc bài thơ MTHS từ nhỏ. Vậy mà đến khi đi cắt tranh ở Ái Tử mới thấy Những Đồi Hoa Sim vùng trung du Quảng Trị. Khi viết truyện về vùng đất này tôi không ngần ngại đặt tựa đề là : Tím Cả Chiều Hoang.



Tôi dân thành thị, về làng cũ cùng gia đình làm ruộng hợp tác xã. Cha mạ tôi vốn gốc nông dân, tôi lại chưa quen nghề nông, làm việc gì cũng vụng về, khó nhọc. Ba mạ thương con nhưng biết làm sao, có ta có mình con à, đừng buồn, vài năm ổn định con lại đi học. Mạ tôi hay khuyên con mà môi mạ giật giật, muốn khóc. Có lúc tôi buồn, nhớ bạn bỏ vô Huế chơi mấy ngày. Những đứa bạn cùng lớp tôi ở thành thị cũng chẳng hơn gì, tụi nó cũng đi thủy lợi, thanh niên xung phong đâu hết. Những Socrates , Sartre, Heidegger, những thuyết hiện sinh, nhân vị… ở phân khoa triết chúng tôi nào có ích gì với cuộc sống mới cuồn cuộn, đói rách nhưng hồ hởi này. Ai cũng giải thích với tôi là “cực chừ sướng sau…”, tôi thì nhiều khi chán nản, không tin cái sướng sau là mấy. May mà có anh Nợ.

Anh Nợ là tù binh được tha, được sung vào đoàn vận tải trong chiến dịch mùa xuân năm bảy lăm, anh về làng với bộ đồ bộ đội, nón cối hẳn hoi. Lần đầu cùng anh đi gặt lúa tôi có thiện cảm với anh ngay. Anh chân tình chỉ bảo, không khe khắt như những lão nông cùng đội, họ luôn coi tôi là thứ ăn bám, trí thức nửa mùa. Mấy mùa rồi tôi cố gắng lắm cũng chỉ được năm điểm, có nghĩa là ngày công của tôi chỉ bằng nửa những lão nông, mà suốt buổi họ chỉ đi lòng vòng hoặc giả vờ đi tiểu. Buổi chiều trên đường gánh lúa về anh Nợ dặn: “Chú mua một gói thuốc Tam Đảo, mời mấy cụ mỗi người một điếu. Tui nói chi kệ tui, thế nào chú cũng được nâng điểm”. Thế mà tôi được nâng bảy điểm, nhờ cách đề nghị khôn ngoan có tình có lý của anh. Bài học đầu tiên về lao động tập thể là thế, tôi xem anh Nợ như sư phụ của tôi. Anh lại quý tôi như đứa em có học mà ngây ngô, tội nghiệp. Có lần tôi bảo: “thèm xôi quá” khi ngang qua một thửa ruộng nếp đang chín, anh Nợ nói tỉnh bơ, “mai qua nhà tau ăn xôi nếp mới”. Chạng vạng tối, anh ra dấu tôi theo anh, đến bờ ruộng nếp, anh bảo tôi đứng canh, có ai ngang qua cứ đằng hắng. Loáng một cái anh đã có một bao nếp chẹn. Hôm sau tôi đến nhà đã nghe nồi xôi thơm phức. Anh dạy tôi, tập thể là rứa đó, mấy năm ở tù anh học được nhiều điều hay lắm. Anh bảo, “chú mày bỏ cái thói trí thức sĩ diện đi, hạt cơm rất vô tình, chỉ vào chén những người khôn khéo”. Uy tín với bà con nhờ vào tính bộc trực tháo vát bên ngoài của anh Nợ, trong sâu xa bà con lại trọng anh vì một lẽ khác: Cái chi anh cũng biết, kể cả những bài chính trị mấy cô cán bộ phổ biến. Có lần anh chỉnh cán bộ vì phổ biến chính sách đường lối không chuẩn. Anh bảo bảy năm cải tạo ngày nào không học chính trị, anh thuộc còn hơn ông Lại hò quẻ.

Anh Nợ, mạ anh đặt tên chơ có ai khác, thiệt ra anh có nợ ai đâu, chỉ nợ một tấm lòng, một người, vợ anh, chị Nần.

Chị Nần người đâu trên vùng Cam Lộ, vùng đất cực tây của Quảng trị. Nghe nói hồi vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở, sau khi bị Pháp bắt, cung phi mỹ nữ chạy tán loạn, có người lấy chồng rồi sinh con đẻ cháu. Bà nội bà cố là cung phi chắc phải đẹp nên vùng Cam Lộ con gái đẹp nổi tiếng!?

Anh Nợ hai mươi tuổi đăng lính bộ binh (chế độ cũ). Đáng lẽ là con một, cha mẹ trên sáu mươi tuổi được hõan dịch vì lý do gia cảnh, nhưng nhà nghèo, chiến tranh loạn lạc, ở vùng nông thôn thanh niên không theo bên này cũng phải theo bên kia. Trong một lần đóng quân ở vùng Cam Lộ anh gặp chị Nần. Cô nông dân đem lòng yêu thương chàng lính gốc nông dân. Họ cưới nhau rồi chị theo anh về quê chồng, thay anh phụng dưỡng cha mạ. Ăn ở với nhau chưa bén hơi, anh Nợ trở lại chiến trường, trong trận Khe Sanh anh bị bắt làm tù binh, thời đó gọi là mất tích.

Chị Nần góa chồng, được ăn lương quả phụ. Mười chín tuổi, da thịt trắng ngần, mang khăn tang đi làm sổ tử tuất, bao con mắt hau háu chọc ghẹo, bao lời ngon ngọt dụ dỗ, chị vẫn sắt son ở vậy, chăm sóc gia nương, chờ chồng. Nhưng số phận oan nghiệt, cuộc đời không tha cho, xóm làng đồn chị có ý tình với lão Lại hò quẻ.

Lão Lại làm nghề thầy bói, mỗi quẻ được đặt tiền, lão cầm đồng tiền vân vê rồi hò:

“ Như ri tui cũng đã biết rồi, chồng o xuống suối lên đồi tội chưa”.

Giọng hò của lão Lại trầm, ấm, tha thiết lắm, ai nghe cũng mủi lòng. Vậy là quá phụ khóc tức tưởi. Lão lại cầu cho hồn người chồng nhập vào xác …chính lão. Thế rồi quẻ vận vào trong lời hò, vong xưng anh anh em em ngọt xớt. Lão lại hò:

“ Hơ.. hơ…, âm dương cách trở, đêm ở ngày đi / Thiếp với chàng gần gụi như ri mà răng không chộ / hơ… hơ không chộ nên dạ cứ bổi hổi bồi hồi / hay là thiếp lạc lòng xiêu dạ theo ai rồi cũng nên…”

Những bà quá phụ sụp xuống lạy, khóc lóc minh oan. Lão Lại vờ như tha lỗi, vừa hò vừa sờ sẩm âu yếm các bà quá phụ. Các bà tưởng vong linh của chồng về, mắt lim dim tận hưởng hơi chồng qua bàn tay lão Lại. Có bà ở lại với lão vì theo quẻ, theo lời yêu cầu của vong linh chồng nhập vào trong lão đòi hỏi như thế. Chị Nần thương chồng có ở lại với lão mấy đêm cho …thỏa tình những ngày âm dương cách trở. Chị có mang với …vong linh chồng, chị hằng tin tưởng điều ấy . Bà con làng xóm lại cho chị là đàn bà hoang dâm, chồng chưa biết sống chết thế nào mà chửa hoang. Buồn tình chị về quê mẹ sinh đẻ nuôi con thờ chồng. Người ta đồn rằng có người chồng chết ngủ với lão Lại, đẻ con ra giống chồng như đúc. Lại có người bảo, có cô lấy chồng còn nhớ người yêu cũ, do đêm ngày mơ tưởng rồi đẻ con giống hệt người tình xưa, bị chồng ghen tương hất hủi, oan ức tự tử.

Hằng tháng chị Nần vẫn bồng con về thăm ông bà nội (chị luôn nghĩ thế). Thằng bé càng lớn càng giống anh Nợ. Năm bảy hai chị lại bồng con về thăm, trong bom đạn chị dắt díu cả nhà sơ tán ra Vĩnh Linh, ông bà cụ trúng bom chết.

Từ ngày về làng chưa bao giờ nghe anh Nợ nhắc đến chị Nần, ai nói tới là anh trừng mắt bảo “có rảnh không đó” rồi nhìn đi chổ khác, mắt buồn và dữ. Có người ra Đông Hà về bảo chị Nần làm công nhân lâm trường, có gặp chị dắt con đi chợ, mặt thằng bé giống anh Nợ như đúc. Anh nghiêm mặt hỏi, “giống thiệt không, không giống thì đừng có trách”. Anh cầm cây rựa nhứ nhứ, “từ nay tôi nói với bà con lần chót, ai nhắc đến chuyện của tui là đừng có trách”.

Mỗi ngày không gặp anh Nợ tôi thấy như thiếu cái gì đó. Tôi và anh hay nhận đạp nước đêm, trong tiếng lá xe cuộn nước lào xào nghe anh kể chuyện. Chuyện đời anh đã trải qua, chuyện lính tráng, chiến tranh, chuyện ở tù ngoài Bắc, chuyện lần đầu anh ngủ đò với gái... Anh kể mạch lạc, hấp dẫn. Ấn tượng nhất là chuyện tù binh đi củi rình con gái nông trường tắm. Anh nói con c... là kỳ diệu nhất, đói khát thế mà đứa nào thấy phụ nữ trần truồng cũng ngóc đầu lên hết. Nói xong anh sờ tôi, cười ha hả, “thằng nhỏ mày cũng nhạy dữ”. Có hôm trong mạch chuyện kể về vùng Cam Lộ, anh hứng chí kể luôn chuyện tình anh với chị Nần. Anh bảo con gái đứa mô cũng mê nhạc và lãng mạn. Thấy chị Nần đẹp quá không biết làm sao quen, một hôm đi ngang đồi sim anh bèn bẻ một cành hoa, gói trong bản nhạc màu tím hoa sim(1) đem tặng. Chị Nần thích lắm, mắt long lanh nhận quà. Hôm sau anh đến, mượn theo cái đàn ghita của tay đại đội phó. Anh không biết đàn cũng quẹt lung tung, đàn một đường hát một nẻo, mắt cứ mơ màng như người chồng hát về mối tình tang thương với cô vợ trẻ. Chị Nần cứ tròn xoe mắt ra nghe anh hát, rồi mê anh. Từ yêu đến chuyện đó mau lắm, anh gật gừ bảo thế. Con gái nhà quê nhút nhát nhưng khi đã thương ai rồi còn bạo hơn dân thành thị. Anh thở dài rồi phán một câu “đàn bà nó hứng lên rồi thì ai cũng không chừa”. Anh buồn rầu bảo “nghỉ, đi uống rượu’. Đêm đó anh say, đi liêu xiêu dưới trăng hát lè nhè “ Áo anh sứt chỉ đường tà, vợ anh chết sớm mẹ già chưa khâu”.(2)

Mùa gặt xong. Đội họp phân công người đi tranh. Anh Nợ lên kế hoạch rồi xung phong dẫn xã viên đi cắt tranh trên Trấm. Người đầu tiên anh chọn là tôi và ba người nữa, đặc biệt có Hoài. Hoài mới về làng mấy tháng chưa quen việc đồng áng, khi nào đội đi làm xa thường cử Hoài đi theo nấu ăn. Hoài ít nói, đôi mắt khi nào cũng buồn buồn ươn ướt. Hoài cũng sinh viên văn khoa năm thứ nhất, được chuyển qua học cao đẳng sư phạm được mấy tháng, theo bạn bè vượt biên bị bắt rồi bị đuổi học. Tôi có biết Hoài nhưng chưa quen. Anh Nợ nói nhỏ với tôi, “con Hoài đẹp dữ, chú tán đại đi”, tôi cười mơ ước.

Mỗi người chuẩn bị bảy ngày ăn, mang theo liềm và đòn xóc. Ngày thứ tám toàn đội lên Trấm gánh tranh về. Anh nợ phổ biến nhanh gọn kiểu quân đội.

Chúng tôi khởi hành từ bốn giờ sáng, tờ mờ đã đã vượt qua quốc lộ một. Lần đầu tôi đi về hướng tây xa như thế, dù quê tôi từ rừng xuống biển có nơi chưa đầy hai mươi cây số. Tuổi thơ tôi nhìn về trường sơn lờ mờ mây khói, ở đó đôi khi vọng về những trận bom rền như sấm đất.

Dưới nắng trưa, gió nam Lào thổi hừng hực qua những đồi trọc lưa thưa lau lách. Tôi chỉ xuống thung lũng hỏi anh Nợ có phải cây cỏ tranh không, anh cười bảo “công tử ơi đi một đoạn nữa, cây tranh không thích những nơi đất trũng, tù túng. Nó bần hàn mà cao sang. Chỗ triền giốc tranh mới sạch, mới săn. Đời cũng rứa chú à. Như chú thì đàn bà sẽ đè đầu cưỡi cổ”. Vượt giốc lần thứ ba anh chỉ lên đồi, “Đó, tranh đó, tranh và sim thường mọc với nhau, từ lưng chừng đồi trở lên. Dưới thung lũng cũng có cây sim nhưng không có hoa trái, chỉ chặt về làm củi. Sim sinh ra để đơm hoa kết trái, không để làm củi. Những nơi ẩm thấp cũng có đôi bụi tranh mọc không thành vạt, cây tốt nhưng không dùng được, mối mọt ăn liền”. Anh giải thích “Đi cắt tranh đói bụng khát nước thì hái sim ăn, cho nên có câu: “Đói lòng ăn nửa trái sim…”. Hoài cãi “nhưng mà đi tìm người thương chơ có phải đi cắt tranh đâu”. Anh Nợ nói vu vơ: “Ai có người thương thì đi tìm, ai không có thì... lo mà cắt tranh”. Tôi và Hoài nhìn nhau nháy mắt, lần đầu tôi thấy Hoài cười.

Những đồi sim chạy theo con đường ngoằn ngoèo ký ức tuổi thơ và câu hát, màu tím hoa sim tím cả chiều hoang biền biệt . Những đồi tranh phơ phất bông trắng lẫn vào những bụi sim tím ngắt lòng. Anh Nợ ti tỉ hát “áo anh sứt chỉ đường tà, vợ anh chết sớm…”. Từ làng đến nơi cắt tranh đi hết non một ngày đường, ngang qua bao đồi hoang, những hố bom nở toác miệng đỏ bầm bên màu trắng bông tranh, bên màu tím hoa sim còn tươi rói màu đất.

Chúng tôi dừng nghỉ chân trong một lán trại của ai đó bên bờ suối, trước sân có mấy bụi chuối xanh tốt. Ở đây có những vạt sắn của các đội sản xuất hoặc của lâm trường, lán trại được họ dựng sẵn tạm đủ tiện nghi. Bên kia suối, chếch phía thượng nguồn có tiếng người í ới, léo éo. Anh Nợ bảo chỗ nào nghe toàn giọng đàn bà con gái là nông hoặc lâm trường, rồi anh nhìn tôi đùa “đẹp trai như chú thì đừng có léng phéng qua bên nớ, coi chừng bị bắt cóc”. Hoài cười cười “biết đâu anh Thương thích bắt cóc cũng nên”. Lần đầu Hoài gọi tên mình, tôi quay mặt đi, sướng rơn!

Ăn trưa bằng những gói cơm độn khoai mang theo. Xong anh Nợ bảo: “Chiều ni đi tìm tranh, mai sáng bắt đầu làm việc. Chú Sa với tui đi một hướng, chú Thương với bác Lễ đi một hướng. O Hoài ở nhà lo cơm tối”. Hoài dẫy nẫy lên: “ Em không ở nhà mô, sợ lắm”. Anh Nợ ỡm ờ “rứa thì o đi với chú Thương, bác Lễ ở nhà. Nhớ tìm ra vạt tranh tốt, không thì tôi trừ điểm cả hai”.

Tôi và Hoài đi theo hướng Nam, băng qua một ngọn đồi toàn lau lách, lội xuống một thung lũng đủ loại cây dại cao quá đầu cũng chẳng thấy tranh đâu.

Má rớm máu vì lau lách cắt, mắt Hoài tròn, vòng tròn đen thẳm nhìn lên nói như reo: “ Hoa sim tề, tranh tề…” Chúng tôi níu tay nhau chạy lên đồi tranh. Vạt tranh lào xào gió, gợn những đợt sóng lao xao ôm quấn quýt thân Hoài. Những bụi sim lúp xúp, hoa tím ngắt lung lay, trái chín đen mọng dưới tàn lá.

Chúng tôi ngồi xuống trên đỉnh đồi, bên một bụi sim rậm trĩu quả. Chiều xế đi trên dãy trường sơn. Dãy núi lờ mờ phía tây, u hoài sương khói. Trên cao, nhìn về hướng đông, nơi có xóm làng quê cha đất tổ, mồ mả mênh mang bao đời cát trắng. Ngoài xa, biển Đông, lơ mơ một chân trời. Cha ông mình không sợ biển, sao con cháu sợ biển thế. Tôi hỏi Hoài có sợ biển không, Hoài bảo không sợ gì hết, chỉ sợ tình người ly tán.

Hoài hái đầy nón lá những trái sim mọng nước, miệng hai đứa tím ngắt màu sim. Chúng tôi theo đường cũ về lán, trời nhá nhem tối.

Sáng hôm sau Hoài vẫn không chịu ở nhà nấu ăn, đòi theo cắt tranh. Chúng tôi chọn vạt tranh tôi và Hoài tìm ra hôm qua. Nắng tháng năm buổi sáng đã nóng hầm hập, ngồi xuống cắt tranh bốn bề khuất gió, mồ hôi như tắm. Mặt hoài đỏ lơ đỏ lớn, anh Nợ bảo, “chưa ăn thua đâu, gần trưa rồi biết mặt”. Hoài cười khúc khích: “Không sợ, chỉ lo công tử thôi”. Chúng tôi dàn hàng ngang từ dưới đồi cắt lên. Anh Nợ bảo “tranh sạch và săn, chú thím vậy mà được việc”. Sa và anh Nợ cắt nhanh, còn xếp ngay hàng thẳng lối. Tranh vướng vào mặt xót rát rất khó chịu, tôi và Hoài chưa quen cắt chậm rì, dùng dằng như gà mắc tóc. Hoài ngừng cắt, chăm chú nhìn kỹ những động tác anh Nợ, nói nhỏ, “anh Thương này, nhìn tề, anh không cắt sát gốc như mình, cắt cao lên một chút. Mà nữa, anh để ý đi, anh cắt đầy tay thường là bảy đến mười lát mới quay đằng sau rải xuống. Được chưa, chừ thì coi ai nhanh hơn nghe”. Chúng tôi cắt từ chậm đến nhanh, nói cười ríu rít, đến trưa vẫn hăng hái thi đua. Nhìn áo Hoài đẫm mồ hôi, đóng váng một đường viền bạc trắng như bản đồ châu Úc sau lưng, tôi chạnh lòng: “Mệt lắm không Hoài”. “Mệt mà vui, muốn ngon thì ăn cỗ, muốn khổ thì đi tranh mà”. Tôi đùa “Muốn khổ thì yêu…”. Cả hai cười buồn.

Anh Nợ ngạc nhiên nhìn những hàng tranh chúng tôi rải ngay ngắn, cười: “Có đôi có cặp làm việc chi cũng nên”. Trưa ăn qua loa mấy cái bánh sắn. Chúng tôi làm việc đến chiều, nhìn lui một khoảng trống rộng lởm chởm gốc tranh, trên đó là những vạt tranh phơi đều thẳng tắp. Anh Nợ bảo năng suất vậy là tốt, công lớn thuộc về chú thím.

Đến ngày thứ tư số lượng tranh cắt được theo tính toán của anh Nợ là vừa đủ hai mươi gánh. Chú Lễ và Sa về trước để ba ngày sau tranh khô dẫn đội viên lên gánh về.

Buổi tối. Trăng thượng tuần sáng lắm. Tôi và Hoài ngồi trước sân ngắm trăng nói chuyện. Anh Nợ đem chai rượu đế ra nhâm nhi. Anh mời tôi một ly, Hoài bảo “chỉ uống một ly thôi, tối nay anh Thương phải ngâm thơ cho Hoài nghe. Hồi ở trong trường văn khoa Hoài đã nghe anh ngâm thơ rồi’. Anh Nợ thở dài, ực một ly rượu “thơ với nhạc chỉ dụ dỗ được phụ nữ nhưng không cầm chân họ được. Thơ ca hò vè dễ làm cho con đàn bà ngoại tình lắm. Nghe hò nghe hát có ngày mang họa như chơi. Chú Thương có nhớ cái bài chi đó có câu “Vô tình để gió hôn lên má…”(3), gió hôn mà cũng bẽn lẽn huống chi người. Tâm địa đàn bà…” anh ngưng đột ngột, ực thêm một ly.Yên lặng. Hoài ư ư trong cổ một làn điệu thơ nào đó không rõ như đệm nhạc. Tôi ngâm theo:

Trăng nằm sóng soải trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi

Hoa lá ngây tình không muốn động

Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi

……..

tình để gió hôn lên má

Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm

Em sợ lang quân em biết được

Nghi ngờ đến cái tiết trinh em…

Gió xao nhẹ tàu lá chuối dưới trăng rách bươm như…cành liễu.

“Thấy chưa, thấy chưa, ha ha “ Anh Nợ cười ha hả đứng lên, đi theo đường mòn lên đồi. Tôi và Hoài ngồi nhìn theo cái bóng xiêu vẹo khuất dần. Trong xạc xào gió cơ hồ vẳng lại tiếng hát nghẹn ngào: “à ời, à ơi áo anh sứt chỉ đường tà…”, tiếng hát anh Nợ nhỏ dần, lẫn vào gió trăng.

Nghỉ trưa xong anh Nợ rủ tôi xuống suối tát cá. Hoài ở nhà đọc Thép Đã Tôi Thế Đấy.(4) Tôi nhìn Hoài nheo mắt, “ chào nữ Paven. Hoài cừ thiệt, định luyện đến bao giờ mới thành thép, nhớ chừa lại trái tim nghe’. Hoài ư ư, gấp sách nhìn tôi bảo; “Đi mau về nghe, Hoài ở một mình sợ lắm”.

Con suối bắt nguồn từ những đồi phía tây, chảy ngoằn ngoèo qua các thung lũng đồi tranh đổ ra sông Thạch Hãn. Mùa khô, những đìa nước lẫn dưới lau lách lạnh tanh. Anh Nợ be bờ bamội thì bịt lại. Khoảng hai tiếng, nước cạn dần. những con cá giếc cáa mại bắt đầu nổi lên. Anh Nợ bắt cá thành thạo, cầm con cá giếc to tràn cả bàn tay la lên: “Chú có lần nào bụm cá giếc chưa, sướng vô cùng tận. Nhớ bụm con Hoài một cái cho nó sướng, sướng cả hai, hà hà”. Tôi bắt con nào cũng sẩy, anh Nợ bảo: “Bắt cá tràu mới khó mà tụi đàn bà con gái còn bắt được, chú mày không xong”.

Được vài cân cá. Anh Nợ bảo lên bến lâm trường tắm. Anh cười hì hì, “giờ này tụi lâm trường xuống tắm, mình đi tắt lối này tụi nó không để ý. Hôm qua tau xem địa thế rồi, có cây mưng rậm trên bờ, mình leo lên ngồi chờ, hướng quan sát tốt, đi” Tôi theo anh như cái đuôi. Anh rẽ lau lách đi băng băng, tôi xách oi cá chạy theo hụt hơi. Đến gần gốc cây mưng anh nhẹ nhàng như mèo leo lên, cầm tay tôi kéo theo, ngồi khuất trong nhánh lá, ở chạc ba cây mưng.

Bến nước trong vắt, vắng hoe. Mặt trời sắp lặn mà chưa thấy ai xuống tắm. Tôi nghĩ đến Hoài. Hoài mà biết tôi thế này chắc khinh ghét lắm, lòng cứ mong là đừng có ai xuống tắm. Tôi thờ thẩn nhìn về hướng lán trại, có Hoài trong đó, chắc giờ này cũng… tắm. Anh Nợ nói nhỏ, “lạ thiệt, không nghe tụi nó la réo như mọi ngày, à chết rồi, hôm nay chủ nhật chắc tụi nó về nhà hết rồi. Thôi về”. Chúng tôi chuẩn bị tụt xuống thì nghe tiếng hát từ sau đám lách, tiếng hát lớn dần theo đường mòn: “ Tím cả chiều hoang đây tím cả chiều hoang…Vào chuyện ngày xưa nàng yêu hoa sim tím khi czaòn tóc búi vai…”. Mặt anh Nợ căng lên, cằm bạnh ra nhìn về hướng tiếng hát. Có tiếng trẻ con, “ mạ ơi, chiều ni bến vắng, mạ con mình tắm thích hỷ’. Anh Nợ cầm tay tôi dằn lại cứng ngắt, căng mắt về hướng tiếng hát: Thiếu phụ dắt tay đứa bé trạc bốn tuổi xuống bến. Tôi nói nhỏ vào tai anh Nợ: “Chị Nần tề, thằng nhỏ sao giống anh quá, hay là…” Anh càng siết mạnh tay tôi đau điếng, thì thào “chú về đi, nhẹ thôi, theo lối này’ Anh chỉ tay về hướng có Hoài.

Kết 1

Tôi xách oi cá lủi đi , xăm xăm leo giốc. Những gốc tranh tua tủa nhói buốt gan bàn chân đau điếng. Tôi lặng đi, ngẫn ngơ nhìn về hai phía, phía anh Nợ và phía Hoài. Hoài ám ảnh tôi từ chiều hôm qua, từ lúc Hoài dừng liềm cắt tranh, hơi ưỡn người ra phía trước, đưa cườm tay lên quệt mồ hôi trán. Từ ngực áo Hoài, cái mùi gì thơm thơm ngây ngất như mùi đứa trẻ còn hơi sữa mẹ, quyện trong mùi nắng hanh vàng, vừa gay gắt ngai ngái, vừa gợi lên những vực thẳm mê hồn mà rùng rợn, chơi vơi. Nhớ lúc ấy, tôi đã vội vàng cúi gằm mặt xuống, nghiến răng, tránh cái nhìn hồ hởi vô tư lự của Hoài, tưởng đôi mắt dao cau ai đó cắt ngang lưng.

Hoài đang làm gì trong mái tranh khuất sau bụi chuối kia, tôi trân người tưởng tượng hoài đang nằm ngữa đọc sách, hai chân dang ra, hay đang trần truồng tắm. Từng đợt gió ào tới xé te tua những tàu lá, chấp chới mái tranh. Hai bên thái dương tôi nóng bừng, giần giật. Toàn thân tứa ra chất gì như mồ hôi, quyện lại khô đi, tan đi. Cảm giác cồn cào nhồn nhột chỗ bụng dưới, ùa lên đầu váng vất, thôi thúc điên cuồng rồ dại: Tôi muốn vồ lấy Hoài mà nghiến mà ngấu ngay tức khắc. Cào cắn, ngụp lặn trong cái mùi hương huyễn hoặc ấy cho đến chết thì thôi.

Tôi, thằng con trai hai mươi mốt tuổi chưa hề biết tới nụ hôn. Chẳng biết anh Nợ ở lại chỗ bến ấy làm chi, cho tội! Anh có lại gần chị Nần và đứa bé, rồi nói gì với chị hay không? Có chửi mắng chị không? Hay anh sẽ đập chị một trận cho thỏa nỗi ghen tuông của thằng đàn ông thất chí, vô tình bị phản bội? Hay là…

Không kịp suy nghĩ gì, tôi để oi cá xuống, chạy băng băng ngược lại chỗ bến tắm. Tôi lủi nhẹ nhàng dưới lau lách, dừng lại bên bờ suối, núp dưới bụi lau. Có tiếng khỏa nước, tiếng con nít cười rúc rích và thỏ thẻ những gì không rõ. Da mặt tôi rần rần như bị kim châm, tai lào phào gió thổi. Thằng cu con cởi truồng đứng nghênh dưới suối chờ mạ khỏa nước lên mình cho. Người thiếu phụ vận nguyên bộ bà ba đen ướt sũng, hằn rõ những đường nét cơ thể nở nang căng tràn, nút áo trể xuống lộ mảng ngực trần trắng ngần. Tôi như chết điếng, không thể rời mắt qua chỗ khác. Nước bọt ứa ra đầy miệng, tôi mân mê dương vật đang căng cứng, thao tác từng nhịp từng nhịp, nghe đau thắt hai tinh hoàn, rồi nghe dật dật từng nhịp hoan lạc vỡ òa trên tay chất nước sền sệt. Tôi rùng mình ứa nước mắt thương Hoài cay đắng.

Tôi ngững lên, bên kia suối, trên cái "đài quan sát" của chúng tôi, anh Nợ đang ngồi bó gối, xo xụm sần sì như một đụn gốc cây bị đốn lâu rồi. Lưng anh sụm xuống, hai tai như đang vểnh ra, như níu chặt lấy cái gì đó tự bên trong mình. Níu chặt. Không cho mình đứng dậy hay làm bất cứ một cử chỉ nào khác. Gương mặt cháy nắng xam xám của anh như ươn ướt, cơ hồ nước mắt giàn giụa nhểu ra lấp đầy hốc má, chảy tận xuống cằm. Hình như anh đang cố nén những tiếng hức hức…, chực chờ bật ra khỏi lồng ngực rắn đanh đang thổn thức của chính mình, với mình…

Kết 2:

Tôi xách oi cá lủi nhanh qua lau lách, ngược về hướng cũ. Hoang mang nghĩ ngợi nên đi lạc, sẩm tối mới về đến lán. Cửa lán sập kín. Tôi gọi Hoài ơi, ngủ hả, dậy đi, cá nhiều lắm. Không nghe tiếng trả lời, chỉ tiếng gió ào qua những tàu lá chuối tơi tả. Tôi gọi lần nữa, lắng nghe, có tiếng ư ư rất nhỏ như tiếng chó con đang vòi mẹ. Tôi áp tai vào khe hở, vẫn tiếng ư ư yếu ớt. tôi nghĩ đến chuyện Hòai đang ân ái với thằng vô lại nào chăng. Máu nóng dồn lên mặt, nghe nhói đau lồng ngực, tôi kéo mạnh cửa, chống lên. Dưới ánh sáng lờ mờ, một thân hình lõa lồ dang chân tay nằm dính bất động trên chiếc sạp tre. Tôi kêu lên Hoài ơi. Chiếc sạp tre lung lay cùng tiếng ứ ứ giọng mũi. Tôi đến gần, chạm tay vào chân Hoài, nơi có sợi dây lạt buộc vào thành giường. Tôi lúng túng kéo tay từ dưới lên trên, qua đùi và háng nhầy nhụa, qua bụng qua ngực rồi đến cằm miệng. Một nùi giẻ có dây, hình như là áo ngực của Hoài nhét chặt miệng. Tôi dật mạnh nùi giẻ, Hoài nấc lên: “Anh Thương…”. Tay tôi run rẫy mở từng nút lạt, tay trái tay phải và hai chân của Hoài. Hoài ngồi bật dậy co rúm úp mặt lên đầu gối. Tôi mò được cái áo phủ lên vai Hoài, đôi vai rung lên từng nhịp tiếng khóc tức tưởi. Tôi châm ngọn đèn dầu, dưới ánh sáng vàng vọt chao đảo, Hoài ngước lên, đôi mắt thất thần dàn dụa đưa tay ra trước mặt tôi. Bàn tay trắng xanh, bầy nhầy những vệt máu.

Tôi chạy ra sân, đưa tay làm loa kêu lớn về phía bến tắm “Anh Nợ ơi, ơi…ơi…” Tiếng kêu lẫn trong tiếng ào ào của gió Nam Lào thổi ngược.

READ MORE - NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - TÍM CẢ CHIỀU HOANG

Wednesday, September 8, 2010

NHẠC SĨ TRẦN QUANG LỘC

Ảnh từ trang my.opera.com/tranquangloc


Nhạc sĩ Trần Quang Lộc sinh năm 1945, tại Quảng Trị, theo học âm nhạc tại Trường Quốc gia âm nhạc Huế năm ông 20 tuổi. Một thời gian ông sống ở Đà Nẵng
Bắt đầu sáng tác cuối thập niên 60. Tuyển tập đầu tiên của ông có tựa: "Hát trong dòng sông xưa", xuất bản năm 1970. Trần Quang Lộc viết và phổ nhạc những bài hát mang sắc thái tình người, tình quê hương, như bản "Về Đây nghe em", "Em còn nhớ Huế không", "Có phải mùa thu Hà Nội", "Chợt Nghe Em Hát", "Định Mệnh" . ...
Hiện sống tại phường Long Toàn, thị xã Bà Rịa, là hội viên Hội VHNT Bà Rịa Vũng Tàu.


NGHE CA KHÚC CỦA TRẦN QUANG LỘC VÀ NHỮNG BÀI VIẾT VỀ ANH, XIN
BẤM VÀO ĐÂY

MỘT CHIỀU LẠ VỚI TRẦN QUANG LỘC
Lê Thanh Trường
Một chiều Sài Gòn khoảng 8, 9 năm trước, tôi đến thăm gã bạn thơ. Trong căn phòng yên ắng khan khan vài ly rượu đưa hứng, giữa câu chuyện văn nghệ lai rai, bạn tôi bật máy mở nhạc: "Mày nghe thử bài này, mới!"
Và tôi nghe... "Đã hết rồi... những giấc mơ đầu, chiều hoàng hôn hoa khế rụng đầy sân..." - giọng hát Thanh Lam day dứt... - "có những chiều nghe rất lạ, một mùi hương xa vắng ngày xưa, quyện vào hồn thơm những đêm mưa..."
Tôi ngạc nhiên thật tình. Ngày đó Làn sóng xanh đã bắt đầu "bỏ rơi" Hà Nội, đang đi sâu vào lối "thị trường", một bài "hot" đứng đầu bảng xếp hạng tuần này, qua tuần sau đã không ai còn nhớ... Vậy mà tự dưng trên kệ đĩa xuất hiện một tâm trạng tế nhị và đầy đặn đến thế...
Trước vẻ ngơ ngáo của tôi, gã bạn buông gọn: "Trần Quang Lộc!"
- À, thì ra là Trần Quang Lộc!
Nhắc tới nhạc sĩ Trần Quang Lộc, lớp trung niên sẽ nhớ ngay đến "Về đây nghe em" - một bài hát đã được hát đi hát lại từ những thập niên 1960 với những giọng ca hàng đầu: Thái Thanh, Ý Lan, Quỳnh Giao, Tuấn Ngọc... và được hàng triệu người yêu thích vì lời gọi mộc mạc mà tha thiết về với những giá trị dân dã ngọt ngào. Còn giới trẻ hơn lại thường nghĩ đến ca khúc "Có phải em mùa thu Hà Nội" - bài hát được xếp vào top 10 ca khúc hay nhất viết về Hà Nội và từng được Hội nhạc sĩ Việt Nam trao giải. Hai ca khúc của nhạc sĩ Trần Quang Lộc nổi tiếng cách nhau gần 30 năm thực ra đều được viết trong thời gian rất gần nhau, khi tác giả đang ở tuổi 18, 20...
Có lần nghe tin nhạc sĩ Trần Quang Lộc chuyển về sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu và sinh hoạt trong Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh này. Một ngày tháng 9, tôi có dịp về ngang Vũng Tàu, bèn đi tìm ông. Đi tìm mà trong tay không có một dòng địa chỉ. Hôm ấy lại nhằm ngày thứ bảy, các cơ quan đều nghỉ làm việc, chỉ còn cách gọi 1080. Hỏi trụ sở Hội VHNT, trả lời: không có thông tin. Hỏi địa chỉ và điện thoại nhạc sĩ Trần Quang Lộc, vì không biết ông ở phường nào xã nào, nên nhận được 8 số điện thoại của 8 ông có cùng tên trên toàn tỉnh. Đành nhắm mắt cầu may, bấm từng số hỏi thăm coi ông nào là nhạc sĩ Trần Quang Lộc. Lần này thì may thật. Gọi số thứ nhất: không liên lạc được. Số thứ hai. Bắt máy là một giọng phụ nữ thuần Huế: "Đúng rồi em, đây là nhà nhạc sĩ Trần Quang Lộc!"
Sau khi trình bày ý định đến thăm nhạc sĩ, tôi được phu nhân của ông (người tiếp điện thoại) hướng dẫn tỉ mỉ đường đến nhà. Té ra, nhà ông ở tuốt một góc xa của phường Long Toàn, thị xã Bà Rịa, cách TP. Vũng Tàu ngót 30km.
Cơn mưa chiều vừa xong, cây lá mới được tắm gội, nắng ngả hồng vàng tở mở... Đến Long Toàn, sau một hồi tới lui lẫn lộn và gọi thêm mấy cuộc điện thoại, cuối cùng tôi cũng vào đến nhà nhạc sĩ - căn nhà nhỏ nằm cuối một nhánh đường xương cá, sát bên vườn cây ngậm bóng chiều còn nặng trĩu nước mưa.
Nhạc sĩ đón tôi bằng nụ cười giản dị. Tôi sẽ không nói Trần Quang Lộc là một vị "trung cận lão niên" tuổi U60 có hàng ria mép bạc, hơi đậm người và bước đi hơi nghiêng, vì ông đã từ chối khi tôi xin phép chụp hình, "thôi, mình già rồi, không đẹp đâu, đừng chụp!"
Căn nhà nhỏ xíu dành hẳn một gian ngoài cho mấy hàng bàn ghế như một lớp học, những cây guitar treo dọc tường và những giá để nhạc đủ gây một không khí văn nghệ nhẹ nhàng. Nhạc sĩ mở lớp dạy đàn cho bọn trẻ tại địa phương. Những đứa nhỏ đến học và chơi đùa với "thầy Lộc" có lẽ không biết, không ngờ những tác phẩm của thầy đã được hát và được yêu thích hàng chục năm qua, từ trong nước đến hải ngoại. Chúng học đàn với "thầy" để chơi những bài nhạc trẻ, đại khái "chiều hôm qua em đã cất bước ra đi nơi xa bởi vì em không còn yêu anh nữa"... đương nhiên nhạc của thầy phải xa lạ và... khó nghe!
Cuối phòng khách là một bàn mix và ô cửa kính ngăn một phòng thu nhỏ xíu. Trần Quang Lộc sở hữu cái studio tí hon này "để lâu lâu thu chơi vài bài cho vui!" - như ông giải thích.
Vào cuối thập niên 1960, Trần Quang Lộc đang học trung học Phan Chu Trinh, Đà Nẵng, sinh hoạt trong nhóm sinh viên, học sinh và tập tành sáng tác. Ban đầu chỉ viết những bài hát để "hát cho bạn bè nghe". Trong số những bài ông viết đoạn này có "Gõ đàn hát chơi", chỉ cần ngồi gõ thùng đàn giữ nhịp và hát. Bài hát viết cho những người không biết đàn, viết mà chơi cho đã cơn phấn hứng tuổi trẻ, nhưng đã mang những ý tứ già dặn, có thể nói là "bất quy tắc", như một định mệnh của người "du ca" không chịu được khuôn khổ ràng buộc: "Ta mua cho ta một phận nghèo, thương thay thương thay nợ áo cơm... Về ngồi trên đồi cao, gõ đàn hát chơi... chân nhảy nhót một mình, bên chiếc bóng lung linh... bên nấm mồ xanh xanh..."
"Về đây nghe em"cũng ra đời từ những ngày tuổi trẻ ấy, rồi thoát khỏi khuôn khổ "hát cho nhau nghe", trở nên quen thuộc với nhiều lớp người nghe gần 40 năm qua. "Về đây nghe em... về đây mặc áo the đi guốc mộc... chở hồn mình trở về quê hương, chở thật thà vào lòng dối trá..."
Vài năm trước, báo chí và dư luận ồn ào một dạo về tác quyền của phần lời "Về đây nghe em". Những chuyện không vui tưởng chẳng nên nhắc lại. Có điều là trong những lần xuất bản sau 1975, Trần Quang Lộc đã châm chước lại vài đoạn cho phù hợp với yêu cầu của cơ quan văn hóa, chẳng hạn câu "này thịt xương ta chưa mang theo, khi ngã xuống miên man tủi hờn, và về đây nghe nhau thở dài trong đêm..." được thay bằng "nụ cười tươi trên môi em thơ, là tiếng hát hân hoan cho đời, và về đây cho nhau nụ cười tương lai...", những lời trơn tru hơn, đẹp đẽ hơn nhưng thiếu mất cái tự nhiên của tuổi trẻ vốn nhiều tưởng tượng và ham muốn dấn thân...
Nhạc Trần Quang Lộc thường có những biến đổi bất ngờ, khiến cho cảm xúc không xuôi chiều mà luôn ngầm chứa những mầm mống nổi loạn, phá cách. Nhưng những bất ngờ ấy không gây náo động, có lẽ vì bản tính nghệ sĩ thường xúc cảm nhiều hơn hành động. Dù sao, nghe những bài hát của chàng học sinh trung học Trần Quang Lộc thuở ấy, người ta có thể nhận ra cái tài hoa đang nảy nở, và quả thật nó đã tạo ra một tên tuổi rất riêng trong nền tân nhạc Việt Nam thời bấy giờ và những năm sau này.
Nói về bài hát khiến tôi "rắp tâm" tìm ông - "Có những chiều rất lạ" - Trần Quang Lộc tâm sự giản dị như một chiều "đốt thuốc nghe mình". Cái tuổi trẻ một đi không về với những yêu ghét trong trẻo của nó bao giờ cũng gây thương nhớ trong con người, chỉ khác nhau là người này thương mến lắng nghe, người khác rộn ràng không để ý... Và những phút, những niềm cô đơn khó bày tỏ cứ tích tụ, rồi một buổi chiều xuất thần, thấy tất cả dồn lên hối hả, và nhạc, và lời... Cho nên những chiều lạ vì không giống mọi chiều khác, khi con người được sống trọn vẹn với hoài niệm và ý thức tình yêu đời! Vì vậy bài hát nghe vừa thiết tha tiếc nuối vừa yên ổn dịu dàng, một tâm thế vững chãi và đầy cảm xúc.
Ca khúc "Có phải em mùa thu Hà Nội", được nhạc sĩ Trần Quang Lộc phổ năm 1972 ở Đà Nẵng từ bài thơ của người bạn Tô Như Châu. Nhưng bài hát cũng chỉ được truyền tụng trong bạn bè với nhau, mãi đến khi "Làn sóng xanh" dậy lên giữa thập niên 1990 với hàng loạt bài hát về Hà Nội, người yêu nhạc mới được nghe qua giọng hát ngọt ngào của Hồng Nhung, sánh cùng những "Hoa sữa" của Hồng Đăng, "Chiều phủ Tây hồ" của Phú Quang ... những bài hát đều được viết từ thập niên 1970. Rồi được Hội nhạc sĩ trao giải A cho ca khúc viết về Hà Nội hay nhất, năm 1997. Điều đặc biệt là ngày ấy, cả nhà thơ Tô Như Châu và nhạc sĩ chưa ai từng đặt chân đến Hà Nội. Theo lời bộc bạch của nhạc sĩ Trần Quang Lộc, thời ấy trong xóm nhà ông bên bờ biển Sơn Trà, Đà Nẵng có nhiều thiếu nữ Hà Nội di cư. Các chàng trai mới lớn như Tô Như Châu và Trần Quang Lộc vì hâm mộ các giai nhân nói giọng Hà Nội mà mơ tưởng đến thủ đô ngàn năm văn hiến thanh lịch. Vả lại, tên thu Hà Nội mà cảnh thu thì rõ ràng là bờ dương trút lá ven biển Sơn Trà đẹp và đầy chất thơ, những lớp lá dương "mùa thu sang anh lót em nằm" đã làm rung động hàng triệu trái tim của người yêu nhạc thời bấy giờ ...
Sau 1975, nhóm bạn bè văn nghệ như Trần Quang Lộc đều đang tuổi thanh niên mới vào đời, tứ tán bốn phương. Phải nói đây là thế hệ chịu khủng hoảng tư tưởng sâu sắc nhất của một thời bom đạn vừa đi qua. Người viết nhạc tiếp tục viết nhạc, người làm thơ vẫn làm thơ, nhưng cơ hội họp nhau chia sẻ những sáng tác mới không còn nhiều. Năm 1981, nhà thơ Vũ Hữu Định người được biết đến nhiều qua bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc"Còn chút gì để nhớ" - "Phố núi cao phố núi đầy sương... em Plây-cu má đỏ môi hồng..." - bị tai nạn chết ở Đà Nẵng. Trần Quang Lộc viết bài khóc bạn "Mộ trăng": "Đêm không trăng của phố núi cao, em Plây-cu má đỏ môi hồng, có thật đã ngủ yên trên ngọn núi cao kia?... Đêm không trăng đào mộ chôn, giữa chập chùng sương hoa đỏ, linh hồn xa đời nhưng lòng chẳng kêu van, trong bóng tối ôi lạnh quá đôi chân trần..." Bài hát tỏ một nỗi riêng tư trên âm hưởng cồng chiêng Tây Nguyên, nơi nhà thơ Vũ Hữu Định rất yêu mến và nhiều năm gắn bó với phố núi cao này. Nhiều người vẫn quen nghe những bài hát Tây Nguyên hoang dại và mạnh mẽ, nhưng âm hưởng ấy lại phản chiếu vào trong khúc hát tế bạn của Trần Quang Lộc một cách tha thiết và đau thương, qua giọng hát dã dượi của tác giả, nghe càng u uẩn như linh hồn khuất lấp tâm sự giữa sương núi gió rừng...
Trần Quang Lộc còn viết rất nhiều ca khúc mang âm hưởng dân ca 3 miền. Những năm gần đây trong các album của ca sĩ Hương Lan, Ngọc Sơn, Quang Linh, Vân Khánh, Quang Dũng... vẫn xuất hiện đều đặn các sáng tác của ông. Nhạc sĩ cho biết, con số ca khúc của ông đã lên đến trên 600 bài. Cũng như bất cứ nghệ sĩ nào, ông viết như là nghiệp dĩ, như con tằm có tơ phải nhả. Ông không quan niệm quá cầu kỳ trong việc trau chuốt ca từ, nên tâm sự cứ tuôn theo ý nhạc. Dù thế, nếu nghe kỹ thì trong các bài hát của Trần Quang Lộc, phần ca từ vẫn có nét tao nhã riêng, ít nhiều không bị lẫn lộn với "thị trường lời nhạc" hơi bị cẩu thả bây giờ. Có lẽ cái riêng ấy cũng từ quan niệm sáng tác của ông: cảm xúc không thật - không viết! Và có lẽ từ một nguyên do nữa: các nhạc sĩ lớp trước sử dụng ca từ "chuẩn mực" hơn những người trẻ hôm nay.
Trong buổi chiều gặp gỡ, Trần Quang Lộc mở cho tôi nghe một số ca khúc ông tự thu ở studio của mình, những bài quen thuộc và cả những bài chưa từng nghe, quả thật ông có một giọng hát rất ngọt, rất ấm và tràn trề những cảm nghiệm khó diễn tả. Giọng hát không phải rèn luyện bằng kỹ thuật mà được tôi luyện qua thời gian và những thăng trầm trong cuộc sống, những chuyện ông "không muốn kể lại làm gì"...
Nhạc sĩ Trần Quang Lộc bây giờ sống nhẹ nhàng và lặng lẽ như một ẩn sĩ với người bạn đời cũng lặng lẽ nhẹ nhàng, với vài đứa học trò và một phòng thu tí hon. Tuy vậy, trong câu chuyện rả rích lúc ngày tàn, hơn một lần nhạc sĩ đã bày tỏ ý muốn ngày nào đó sẽ tự mình thực hiện một album tuyển những ca khúc đắc ý nhất. Cũng là lẽ thường vậy thôi, một người sáng tác dù đã lui về vui với mấy cây huệ góc vườn, dù đã mệt mỏi bao nhiêu với những chen lấn thời cuộc, thì cái khao khát trình bày những đứa con tinh thần của mình trước công chúng vẫn không hề suy giảm. Trần Quang Lộc là một trong số ít nhạc sĩ có thể hát rất hay những bài hát của mình, thì việc ấy không phải quá khó. Vấn đề có lẽ chỉ là khi nào cái "ca hứng" đủ lớn để lôi ông bước ra khỏi chốn ẩn cư nhàn hạ, xa cách thị phi này, để người yêu nhạc được thỏa lòng thưởng thức những bài hát trải dài 40 năm cuộc đời, với giọng ca chất chứa cũng chừng đó thời gian nỗi niềm của người sáng tạo.
*Đã đăng trên Tạp Chí Đàn Ông số tháng 11-2007
READ MORE - NHẠC SĨ TRẦN QUANG LỘC